Trường phái phê bình mới: xưa và nay (3)


Willingham, John R.

Winters khó lòng có thể được gọi là “nhà hình thức hoàn chỉnh” do yêu cầu của chính mình là một nhà phê bình buộc phải phát hiện ra “các bài thơ hay nhất” của mọi thời, rằng nhà thơ phải tỉnh táo để tránh các bí quyết mang tính kỹ thuật như của Eliot hoặc Hopkins. Hơn nữa, như Hart Crane đã từng khó chịu phát hiện, Winters xem nhiệm vụ của nhà phê bình là phát hiện và vạch trần các xu hướng “trái luân lý” của một nhà thơ.

Còn Empson, vốn là học trò của Richards tại Cambridge và hào hứng với tác phẩm của Robert Graves và Laura Riding có nội dung phân tích các bài thơ tiếng Anh mang tính “kết hợp từng từ một” được viết ra từ năm 1918, thì trở thành một lối phân tích cực kỳ tỉ mỉ mà chúng ta có thể thấy trong Seven Types of Ambiguity (1930) trong đó ông, quả là thiên về hình thức, tìm tòi mâu thuẫn giữa từ ngữ và tìm tòi các dấu hiệu của cấu trúc. Tuy nhiên, sau đó, Empson lại thấy các vấn đề của Marx và Freud đưa ra cũng hấp dẫn như các vấn đề hình thức. Và cả Winters lẫn Empson, không ai trở thành tư liệu của lớp học. F.R.Leavis đôi khi được gọi là nhà Phê bình mới, nhưng ông luôn thực sự là riêng trong cách phê bình thực tiễn, và phong cách riêng của ông có thể do nhiệt tình của ông đối với Lawrence và mối ác cảm của ông đối với Joyce. Thực chất thì chúng ta còn đó với các nhà Phê bình mới là nhóm Nashville và các môn đệ xuất sắc nhất của họ, là cả giáo viên và sinh viên.

Ngày nay – kể từ thập kỷ 1970 – thì chủ nghĩa hình thức, đặc biệt là trường phái Phê bình mới, thường được nhắc đến và thỉnh thoảng bị bông đùa. Nó đã từng bị tuyên bố là thơ ngây về tri thức và không hiệu quả về mặt phương pháp luận. Mối ác cảm vốn có của nó đối với các khả năng không cơ hữu, bên ngoài văn bản trong việc soi sáng tác phẩm văn học (sự công kích cũ về việc loại lịch sử và tiểu sử trong các thập niên 1930 và 1940); sự thờ ơ đối với tác giả và độc giả; tinh hoa mang tính cách phi dân chủ và sự bảo vệ của người giáo viên trước những sinh viên không may; cuộc vận động không ngừng để chứng minh tính thống nhất hữu cơ; “ban đặc quyền” cho thơ ca trữ tình thời kỳ Elizabeth, siêu hình và tân thời; việc sử dụng các từ ngữ bí hiểm, khó hiểu (như cấu trúc, xung đột, thanh điệu, bố cục) – tất cả các điều công kích này được san bằng và hoàn chỉnh. Có lẽ tệ hại nhất, trường phái Phê bình mới đã bị gọi là “nhàm chán” vì nó bị cột chặt vào một cách lý giải, làm nản lòng các sinh viên không cảm thấy hay không quan tâm đến một cách “đọc đúng đắn” hoặc quá trình đọc một cách trách nhiệm, để đi tìm kiếm sự châm biếm, tính mơ hồ và nghịch lý ở những chỗ không đáng có. Nó làm nản lòng sinh viên vì yêu cầu đọc cho thật kỹ. Và nó không tạo điều kiện để độc giả đọc “một cách sáng tạo”.

Những đóng góp to lớn, có vẻ rõ ràng, của các nhà Phê bình mới cho nghiên cứu văn học đang ngày càng bị phủ nhận hoặc đơn giản là không được nhắc tới. Có lẽ nhiều người ủng hộ các quan điểm khác đơn giản là không thấy rằng chỉ sau khi trường phái Phê bình mới rộ nở ra thì các cơ sở học thuật về “văn học” – các khoa tiếng Anh, các ngôn ngữ hiện đại, văn học đối chiếu, nghiên cứu phụ nữ, nghiên cứu người da đen, ngay cả nghiên cứu Kinh Thánh – mới có được một trình độ đáng kể nào đó về học thuật văn học nẩy nở, và trở thành các đế chế mạnh mẽ về học thuật tại các trường đại học. Cái khí hậu tạo điều kiện cho sự sinh sôi nẩy nở các hiệp hội học thuật, các tạp chí văn học, các hội, và các khoản trợ cấp hỗ trợ các học giả văn học và vô tận các dự án nghiên cứu phần lớn chính là di sản của trường phái Phê bình mới, nó còn có thể giúp hình thành loại tư duy và nghiên cứu văn bản nổi lên với tư cách là chủ nghĩa cấu trúc, là phản hồi của độc giả và phân tích cấu trúc. Nếu như yêu cầu của họ về trách nhiệm trong việc đọc và lý giải được xem là độc đoán, thì những nhà Phê bình mới có thể công bằng được gọi là “phi dân chủ”, nhưng cũng vậy có thể đối với bất kỳ quy luật phê bình nào đòi hỏi phải có sự chú ý căng thẳng đối với từ ngữ và mối tương tác thường xuyên là khó hiểu của chúng.

Vào cuối những năm bắt đầu “lu mờ”, trường phái Phê bình mới đã được bảo vệ, một cách hiệu quả và hợp lý, bởi người phát ngôn kiên trì nhất, chính là Brooks. Như trong bất kỳ tuyên ngôn Phê bình mới đáng kính nào, nhà phê bình này (không như đa số các nhà cấu trúc và hậu cấu trúc khác) nhanh chóng quay khỏi lý thuyết sang giải thích. Mặc dù tuyên bố mình viết để biện hộ cho cái gọi là trường phái Phê bình mới (mà ông đã tự nhận là sai), quan điểm của Brooks cuối cùng là phụ thuộc vào việc chứng minh thành công cho một tập quán thuần túy – việc đọc một cách bài bản “Channel Firing” của Hardy – để chứng minh làm cách nào mà các nhà Phê bình mới thông thường và đơn giản là cố đạt được “một trọng tâm đặc biệt về tác phẩm văn học phân biệt với trọng tâm về tác giả và độc giả.”(iv) Rất nhanh chóng, ông nhận diện bối cảnh đầy cảm xúc này – ngữ cảnh, bối cảnh về thời gian và không gian, mức độ và nhịp điệu đối thoại: Người chết trong một nghĩa địa nào đó bình luận một cách đầy châm biếm về bộ máy đầy kinh dị của các chiến binh trong Đệ nhất thế chiến. Brooks đã phát hiện ra rằng hiệu quả của bài thơ phụ thuộc vào tính châm biếm, cả về lời lẽ lẫn kịch bản; điều lý giải chính xác nhất có thể có được về ảo giác trong thời gian và không gian – Stonehenge, Camelot, Stourton; ý nghĩa có thể có của cái tên Parson Thirdly về phát ngôn; những điều vang vọng có thể có của Swift và Kinh Thánh (ngay cả khi chọn trích tiếng cười của Chúa đối với chiến tranh hiện đại thay vì tiếng “Không, không” ít cảm xúc hơn trong phiên bản trước đó của bài thơ); mối quan hệ giữa mô hình nhịp điệu và biến thể để có được “hiệu quả trang nghiêm”; và các khả năng về chủ đề giới hạn vào bố cục và trình tự của bài thơ.

Hơn nữa, Brooks chứng miuh các xem xét “từ bên ngoài” – các phép chuyển nghĩa thông thường (ví dụ: to đến nỗi người chết phải nhổm dậy, sự nghèo nàn của các chú chuột trong nhà thờ); các yếu tố lịch sử; các cứ liệu sự kiện lịch sử (Mad as Hatters); việc bà Hardy nhận ra một nghĩa trang, nhà thờ Stinsford, đúng là nằm gần Porstmouth, Stonehenge và Camelot; các thay đổi về văn bản – là hoàn toàn tương thích với việc phân tích văn bản một cách thuần túy. Những điều này chỉ cần đến sự kiên nhẫn của nhà học giả, suy xét mang tính tri thức, và liên tưởng một cách thích đáng. Vốn đã dẫn dắt độc giả đi suốt việc xem xét và tổng hợp mọi chi tiết, Brooks đi đến kết luận công việc của mình. Ông từ chối cho độc giả biết cách họ phải đánh giá bài thơ, vì, như ông nhận xét, những độc giả nào quan trọng hóa ý nghĩa từ ngữ và cân nhắc về cấu trúc tu từ, thay đổi về thanh điệu, mối quan hệ giữa nhịp điệu và “hiệu quả tổng thể”, sẽ chắc chắn biết cách tự đánh giá bài thơ. Do đó Brooks dẹp bỏ các mối công kích đối với bản thân mình và các nhà Phê bình mới khác.

Nếu như quan điểm của họ có vẻ luôn tạo ra “đặc quyền” cho văn bản, để mong muốn độc giả nào cẩn trọng thì sẽ luôn có cùng cách lý giải, và để thấy văn học là phức tạp hơn mà vẫn chính xác hơn ngôn phong hàng ngày hoặc lối viết của các nhà báo, thì các nhà Phê bình mới đã không đề xuất được gì khác hơn. Dù sao, thì họ vẫn chỉ dạy rằng văn học đòi hỏi và xứng đáng được đọc một cách trách nhiệm và có phản hồi xứng đáng từ phía độc giả.

Nguyễn Công Lý dịch từ nguyên bản tiếng Anh:
The New Criticism: Then and Now của J.R.Willingham

—————–
Thư mục tham khảo chọn lọc của tác giả:

Bradbury, John M., The Fugitives: A Critical Account. Chapel Hill: University of North Carolina Press, 1958.

Đây là một tài liệu bổ sung tốt cho tài liệu của Louise Cowan về lịch sử của nhóm Fugitive, cho phương pháp phân tích của Bradbury về ý tưởng và tuyên ngôn phê bình của nhóm này. Sách duy trì sự cân đối giữa khen và chê.

Cowan, Louise. The Fugitive Group: A Literary History. Baton Rouge. Louisiana State University Press, 1959.

Sách hàng đầu về biên niên sử và tiểu sử của nhóm nhà thơ – nhà phê bình Nashville từ giai đoạn còn là sinh viên cổ xúy về sáng tạo và tư duy cho đến khi trở thành các nhà thơ và nhà lý thuyết tân thời. Cowan đã tận dụng nguồn tàng thư tại Vanderbilt và mối quan hệ bè bạn của mình với chính các đối tượng nghiên cứu.

Elton, WilliamA Glossary of the New Criticism. Chicago. Modern Poetry Association, 1949.

Thoạt tiên được xuất bản hàng kỳ trong tờ Poetry từ tháng 12/1948 đến tháng 02/1949, và được tái biên rồi biến thành một loại cẩm nang, sách này ngày nay có vẻ hơi lạ và nhiều tham vọng, nhưng việc sách xuất hiện và được tái bản cho thấy mối quan tâm thực sự rộng rãi về tầm hiểu biết các từ ngữ do nhóm Phê bình mới đưa ra vào cuối thập niên 1940. Nay sách vẫn là một nguồn tham khảo hữu ích cho những ai muốn nghiên cứu trường phái này.

Handy, William J.Kanr and the Southern New Critics. Austin: University of Texas Press, 1963.

Đây là một trong các nỗ lực hiếm hoi khi lần tìm lại các lý thuyết của Ransom, Tate và Brooks – “ảnh hưởng trực tiếp của tư tưởng phát sinh của Kant”, vốn nhấn mạnh “việc biểu dương kinh nghiệm định tính của loài người”. Sách chú ý đến ý tưởng hơn thực hành.

Karanikas, AlexanderTillers of a Myth: Southern Agrarians as Social and Literary Critics. Madison: University of Wisconsin Press, 1969.

Đây là sách lịch sử bổ sung tốt cho tác phẩm của Cowan bằng cách tập trung vào khoảng cách giữacthời kỳ của nhóm The Fugitives và trường phái Phê bình mới. Rất nhiều điểm chú thích về tiểu sử cho phép độc giả tìm hiểu những cuộc tìm tòi của nhóm Nashville vào các cuộc bút chiến xã hội, kinh tế, chính trị và biện minh cho “phong cách miền Nam” và việc tạo ra các huyền thoại về sau để củng cố cho việc họ quay lại tập trung vào văn học từ giữa thập kỷ 1930 trở đi. Chương cuối đưa ra biểu đồ về sự quá độ từ trường phái Agrarian sang một trường phái Phê bình mới đã lớn mạnh.

Ransom, John Crowe, Beating the BushesSelected Essays, 1941-1970. New York: New Directions, 1972.

Các bài tiểu luận hay điểm qua cả 30 năm gồm lúc Ransom làm biên tập cho tờKenyan Review và có cả những bài thỉnh thoảng viết về sau. Cái bài viết này cho thấy những điểm khác biệt giữa Ransom và các nhà Phê bình mới khác cũng như nhiều chỗ tương đồng. Sách có bài không thể thiếu là: “Wanted: An Ontological Critic”(1941), xác định các mối quan tâm của trường phái Phê bình mới vừa trổi dậy, và bài tiểu luận chưa hề đăng tải, muộn màng của Hegel: “The Concrete Universal” (1970).

Schorer, Mark. Technique as Discovery. Hudson Review 1 (Spring 1948)” 67 – 87.

Đây là tuyên ngôn rất súc tích, nhiệt thành, và minh bạch về ý nghĩa trung tâm của trường phái Phê bình mới và là việc ứng dụng tương đối hiếm hoi vào các phương pháp tiểu thuyết. Schorer dự báo tính tiên quyết của tiểu thuyết đấy “bề dày và tiếng vang” (tức là dòng tiểu thuyết của Henry James) so với Fielding, Defoe và H. G. Wells.

Simpson, Lewis P. ed. The Posssibilities of Order: Cleanth Brooks and His Work. Baton Rouge: Louisiana State University Press. 1976.

Đây là các cuộc đối thoại được ghi âm giữa Warren và Brooks, các bài tiểu luận và hồi ức đầy cảm động giữa bạn bè cũ, và các đánh giá phê bình của các học giả lỗi lạc (kể cả Walter J. Ong, René Wellek, Thomas Daniel Young, và Monroe K. Spears) được Simpson tập hợp lại để vẽ lại sự nghiệp của Brooks, vai trò chủ yếu của ông là người phát ngôn của trường phái Phê bình mới (đặc biệt là với cộng đồng học thuật), và sự bền bỉ trong công việc của ông sau thập kỷ 1950.

—————–
Chú thích:

(iv) Brooks, “In Search of the New Criticism,” trang 47.

Leave a Reply