Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
60 lượt xem

Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ tràng giang

Bạn đang quan tâm đến Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ tràng giang phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ tràng giang

Video Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ tràng giang

phân tích vẻ đẹp cổ điển và thể hiện điều đó trong bài thơ trang giang de huian. Sau đây là tuyển tập những bài văn mẫu về vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ hay và chi tiết sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho các bạn.

  • 8 mẫu phân tích 2 khổ đầu của bài thơ được chọn
  • 4 mẫu để cảm nhận 2 khổ đầu của bài thơ đã chọn

1. tổng hợp vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong đoạn thơ

1. giới thiệu tác giả, tác phẩm

Bạn đang xem: Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ tràng giang

– Huian là nhà thơ đi đầu trong phong trào Thơ mới.

– Trang giang (sáng tác năm 1939, in trong tập Lửa thiêng) là bài thơ nổi tiếng và tiêu biểu nhất về cuộc chạy trốn trước cách mạng tháng Tám. p>

2. phân tích khổ thơ

a. khổ thơ 1

nhan đề và lời tựa đã gợi lên cảm xúc chủ đạo của bài thơ: thương tiếc trước vũ trụ bao la.

Bài thơ mở đầu bằng dòng sông bên ngoài, đó cũng là dòng sông của tâm hồn, nỗi buồn trải theo từng lớp sóng. khác với trường giang hồ ly hùng hùng tráng, sóng gió, sông huy gần đó êm đềm (sóng gợn, thuyền xuôi mái) nhuốm màu chia ly (thuyền về quê, trăm hướng buồn) . một số dòng củi và cành khô đã mất là hình ảnh đời thực, gửi gắm nỗi niềm của tác giả đối với thân phận con người.

b. câu 2

Đối mặt với thiên nhiên rộng lớn này, nhà thơ hy vọng sẽ tìm thấy những nơi tập trung đông người (thị trấn, chợ, bến tàu) trong khung cảnh hoang vắng và hiu quạnh. chạy trốn học được từ bài thơ dịch theo tiểu khu (bến, gió thổi mấy gò) mà thêm một từ dâm (thơ nhỏ, gió sầu) khiến cảnh càng thêm hiu quạnh. câu thơ Nơi xa chợ chiều nói lên âm thanh nhưng làm nổi bật sự tĩnh lặng.

(lưu ý: có thể chấp nhận 2 cách hiểu: có và không có âm thanh chợ chiều)

nếu khổ 1 mở rộng về chiều rộng và chiều dài, thì khổ 2 sẽ mở rộng về chiều cao. những công trình kiến ​​trúc nhìn lên mặt trời, sông dài, trời rộng càng nhấn mạnh ấn tượng không gian rộng mở cả ba chiều. kết hợp độc đáo giữa chiều sâu của vũ trụ với chiều sâu của vũ trụ. các từ được lặp lại ở đây, làm nổi bật sự cô đơn.

c. khổ thơ 3

Stanza 3 thể hiện rõ nét phong cách thơ miêu tả cảnh tình yêu bằng hình ảnh quen thuộc và giàu sức gợi. cảnh nghèo đói chen chúc giữa bờ xanh êm đềm và bãi vàng cũng là hình ảnh của những kiếp người trôi nổi và đầy bất trắc.

nhà thơ muốn tìm một mối duyên, một sự gắn bó nhưng trước mắt chỉ là không gian bao la, không bến phà, không cầu nối. mọi người cảm thấy bất lực, đơn độc trong thế giới không có sự gần gũi.

d. khổ thơ 4

nỗi cô đơn càng thấm thía vào lúc hoàng hôn. Lấy cảm hứng từ bản dịch thơ Đỗ phủ (xứ sở mây án cửa xa), huy cận đã tạo nên hình ảnh hoàng hôn hùng vĩ với những lớp mây cao chiếu bóng núi bàng bạc. cánh chim quen thuộc trong thơ ca về hoàng hôn dù ở sát chân trời cũng mang những nét mới: phần nhìn thấy của cánh chim nhỏ nghiêng xuống để lộ cái vô hình của bóng chiều nặng trĩu; đôi cánh của cánh chim trên bầu trời rộng lớn gợi lên một cái “tôi” đơn độc, choáng ngợp trước vũ trụ, trước cuộc đời.

huy cận nghĩ đến an thần viết hai câu cuối khói sóng trên sông như một điềm buồn, còn huy cận không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà đã luôn thường trực trong lòng tác giả.

3. vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại của bài thơ. chủ đề, nguồn cảm hứng

trangjiang mang nỗi đau của một lứa tuổi con người nhỏ bé và hữu hạn trước thời gian, không gian vô hạn, vô tận.

Trang giang đồng thời thể hiện “nỗi buồn thế hệ” của một “cái tôi” thơ mới trước cảnh nước mất nhà tan “không thấy đâu mà ra”.

b. chất thơ

trong trang giang, ta tìm thấy nhiều hình ảnh quen thuộc trong thơ cổ (trang giang, bãi vắng, cánh chim trong ánh chiều tà …), nhiều hình ảnh, câu thơ chờ đợi trong thơ cổ.

Mặt khác, trang giang cũng không thiếu những cảnh sắc và âm thanh chân thực của đời thường, dung dị (củi khô, tiếng chợ chiều, tiếng bèo …)

c. thể loại và phong cách

Phong cách cổ điển trang giang thông qua việc sử dụng nhuần nhuyễn thể thơ 7 chữ với cách ngắt nhịp, gieo vần, cấu trúc song song; bút pháp tả cảnh ngụ tình gợi nhiều sức gợi hơn những từ Hán Việt cổ (trang giang, lẻ loi …).

Tuy nhiên, trang giang cũng rất mới mẻ qua khuynh hướng bộc lộ trực tiếp thông điệp buồn của cái “tôi” trữ tình, trăm phương buồn, hoàng hôn không khói và niềm khao khát …), qua những ngôn từ sáng tạo nên dấu ấn riêng của tác giả. cảm xúc (sâu lắng, thân mật, nhấp nhô …).

4. kết luận

Trang giang của huy cận ‘không chỉ là một bức tranh phong cảnh mà còn là một “bài thơ về tâm hồn”. bài thơ thể hiện nỗi buồn cô đơn trước vũ trụ và cuộc đời.

Từ chủ đề, cảm hứng, chất liệu đến giọng điệu, lối viết, bài thơ vừa mang phong vị cổ điển vừa hiện đại, đây cũng là một nét đặc trưng của phong cách tiên cảnh.

2. vẻ đẹp cổ điển và hiện đại ở bai trang giang – mẫu 1

nếu như xuân điểu được mệnh danh là thống soái của dòng tây và nguyễn binh là thống soái thì nhà thơ huang được coi là thống soái của dòng tang. Sinh thời, một trong những gương mặt nổi bật của trào lưu thơ mới hay còn gọi là “hồn ảo não” cũng tự nhận mình đã chịu ảnh hưởng không nhỏ của thơ cổ điển, đặc biệt là thơ Đường. vì vậy, các sáng tác của anh luôn có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố cổ điển và hiện đại. Bài thơ Tràng giang ra đời năm 1939, in trong tập Lửa thiêng đã thể hiện xuất sắc một cái tôi đa sầu, đa cảm qua màu sắc nghệ thuật đặc trưng ấy.

cổ điển và hiện đại là sự kết hợp giữa hai màu sắc nghệ thuật vô cùng đặc sắc trong sáng tác của các thi sĩ tài hoa. đối với nhà thơ chạy trốn, sự kết hợp của hai gam màu này chính là yếu tố định hình nên phong cách nghệ thuật cho thơ ông. bài thơ trang giang có sự kết hợp sáng tạo giữa hai yếu tố này tạo nên một ấn tượng rất riêng để khẳng định cái tôi buồn cô đơn đối diện với cuộc đời qua nguồn cảm hứng vô tận với không gian vũ trụ bao la.

Chính nhà thơ chạy trốn đã từng tâm sự rằng ý định ban đầu là một bài thơ Đường theo thể thất ngôn bát cú bảy chữ tám. bởi tình cảm của một thời sinh viên buồn, nỗi nhớ da diết đã biến anh thành những câu thơ lục bát mang âm hưởng của đôi bờ thi. Có lẽ chính vì lẽ đó mà ngay từ nhan đề ca từ và xuyên suốt bốn khổ thơ, màu sắc cổ điển của bài thơ đã hiện lên như một nguồn kết nối, tạo nên âm vang ngân vang cho giai điệu trầm buồn, ảo giác rất đặc trưng của hồn thơ.

Thực tế, đặc điểm cổ điển của bài thơ được gợi lên trực tiếp từ nhan đề “trang giang”. nếu nó được đặt thành “buổi chiều trên sông” như ban đầu, bạn sẽ không nhận được điều đó. “Trang giang” là một từ Hán Việt, có nghĩa là sông dài, với vần “ang” tạo nên một sắc thái cổ kính, trang nghiêm và âm vang rộng hơn. do đó, chủ đề khiến người đọc có cảm giác giống như tên của một bài thơ tang tóc nào đó. ngoài ra còn có nhan đề trời rộng sông dài, một câu thơ vẽ cảnh cũng thật nên thơ. đó là cảm giác buồn cô đơn của con người trước một không gian sông trời bao la mà ta thường bắt gặp trong thơ của một thi nhân xưa. Màu sắc cổ điển ngay từ đầu đã dẫn dắt cảm xúc của nhân vật trữ tình, khơi nguồn cảm hứng vẽ nên một cảnh đẹp bao la, chất chứa nỗi đau nhân gian của nhà thơ.

và như vậy, phong cách cổ điển của trang giang tiếp tục được khơi nguồn từ việc nhà thơ sử dụng chất liệu, hình ảnh, phong cách miêu tả, ngôn ngữ, giọng điệu … trong bài thơ. Huian đã vận dụng và sáng tạo những nguồn thơ cổ để tạo nên sắc thái riêng cho tác phẩm này. Những hình ảnh như: Tràng giang, sóng biển, con thuyền, bến cô đơn, lũa, mây, cánh chim, bóng hoàng hôn … không hiếm trong thơ cổ. trước hết, nó gợi lên khung cảnh thiên nhiên bao la nhưng vắng lặng, hiu quạnh. chắc hẳn những người yêu thơ cổ sẽ hơn một lần cảm nhận được khung cảnh quen thuộc như thế này:

những con sóng đau đớn lăn tăn qua làn sóng của con tàu đi xuống vùng nước song song

hay

thơ cồn nhỏ.

những lớp mây cao đùn lên những ngọn núi màu bạc, những con chim cánh nhỏ: bóng tối.

không nói đến sóng, thuyền trôi, bến vắng, nhưng cảnh gió hiu hiu gợi cho ta liên tưởng đến câu thoại: “gió thổi mấy gò” trong bài thơ. ngay cả hình ảnh những tầng mây cao nhô ra những ngọn núi bạc cũng được khơi nguồn từ ý thơ về cảm xúc mùa thu của nhà thơ: “xứ sở mây bay ngoài cửa”. hình ảnh đám bèo trôi quá đỗi quen thuộc trong thơ ca xưa thường gợi lên những số phận trôi nổi, bấp bênh, bất trắc trong dòng đời. ý nghĩa đó trong bài thơ này vẫn được giữ nguyên. hay ở đoạn cuối bài thơ cũng gợi lên nỗi nhớ của nhà thơ về bài thơ tứ tuyệt trong tòa lâu đài hạc. Dù không cần khói lửa, sóng sông nhưng cảm giác vui sướng cũng bắt nguồn từ những ý thơ đời Đường. Có thể nói, việc sử dụng những hình ảnh, tư liệu thơ cổ trong thơ cổ đã tạo nên một sắc thái cổ điển rất riêng cho bài thơ này.

Xem thêm: Soạn bài Lượm siêu ngắn | Ngữ văn lớp 6

và một yếu tố khác tạo nên phong cách cổ điển điển hình là phong cách mô tả. từ nghệ thuật tương phản, cách ngắt câu cho đến cách gợi sự tĩnh lặng của cảnh trong bài thơ, mọi thứ đều thuộc về âm hưởng của thơ cổ. người đọc thường thấy sự đối lập giữa những thứ nhỏ bé, đạm bạc với không gian bao la, vô tận của sông trời. ngay trong khổ thơ đầu tiên, một dòng sông bao la và vô tận hiện ra qua những điều nhỏ nhặt mà nhà thơ đã chạm đến như: sóng nhỏ lăn tăn, con thuyền lênh đênh trên mặt nước, cành củi khô. người ta chợt thấy đồng điệu trong cảnh cũng nhỏ bé, hiu quạnh mà nỗi buồn cứ miên man, lan tỏa khắp không gian. sự tương phản giữa cảnh và cảnh là sự kết nối với trái tim của nhà thơ. đây là dư vị gợi lên của thơ cổ.

hơn nữa, phong cách hào nhoáng, rất đặc trưng của thơ tang, cũng được tác giả sử dụng để thể hiện cái rộng lớn vô biên của ngoại cảnh. trước khi thấy cảnh: trời thấp nắng cao, sông dài trời rộng, nhà thơ đã kịp vẽ qua ngọn gió hiu quạnh và bến tàu hiu quạnh. hay ở đoạn cuối bài thơ, khung cảnh hùng vĩ, tráng lệ của bức tranh bầu trời hoàng hôn chỉ hiện lên qua vài đường mây cao vời vợi núi bạc, chim khẽ nghiêng cánh, bóng hoàng hôn. ánh hào quang của khung cảnh chỉ có trong một số bức phác họa như vậy và làm nổi bật một khung cảnh mây trời, sông nước mênh mông như đang mở rộng ra trong ba chiều vô tận và vô tận.

trang giang càng lớn càng biệt lập, vắng lặng và hiu quạnh. một phần do hình thức miêu tả qua biện pháp nhân hóa như: buồn điệp điệp, nước song song, buồn trăm phương, lạc lối mấy dòng, bến cô đơn, bờ xanh êm đềm bên bãi vàng… những điều tưởng chừng như không có. mối quan hệ kết nối, kết nối, chỉ để làm sâu sắc thêm sự im lặng đau lòng. nhưng cũng một phần vì đã hạn chế tối đa âm thanh và chuyển động của sự vật trong bài thơ. nếu bạn nói dòng sông, nó gần như tĩnh lặng bởi vì không có một âm thanh nào là rất đúng. từ sóng đến thuyền, đến gió, đến mây, đến chim chóc … mọi thứ đều bình lặng và buồn. Có hay không có tiếng làng chợ chiều thì vẫn chưa chắc chắn, vì nó đang ở trong tình trạng nghi vấn. Phải chăng khi ấy là chuyển động đứt gãy, tách rời của con thuyền trở về mặt nước, mặt trời lặn trên bầu trời lên thăm thẳm, sự khẩn trương trong hoàng hôn mây cao núi bạc, cánh chim vỗ cánh bay. ? nhỏ: bóng hoàng hôn… cách gợi ra một không gian rộng lớn nhưng hoàn toàn tĩnh lặng là cách mà thơ ca cổ thường làm. bởi những ý nghĩa tượng trưng của cảnh sẽ đánh thức nỗi buồn, nỗi cô đơn của nhân vật trữ tình.

và một trong những nét đặc sắc của phong cách cổ điển của bài thơ là cách sử dụng ngôn ngữ, thể thơ và tiết tấu nhịp nhàng. bài thơ dễ gợi tâm hồn xưa vì nhà thơ chạy trốn đã sử dụng và sáng tạo nhiều từ lóng. có hơn mười từ lóng trong mười sáu dòng: điệp khúc, song song, cẩu thả, đờ đẫn, oai nghiêm, khổng lồ, im lặng, nhiều lớp, hay thay đổi. Chưa nói đến tác dụng của chúng trong việc tạo nên sắc thái ý nghĩa trong bài thơ, nhưng những từ ngữ ấy đã tạo nên những cảm xúc buồn sâu lắng đúng như cách mà thơ cổ chúng ta thường gặp. thể thơ lục bát và nhịp 4/3 quen thuộc đã mang chất cổ điển trực tiếp vào giai điệu và nhịp điệu của bài thơ.

tuy nhiên, thành công nổi bật của cổ trang là tác phẩm có sự pha trộn nhuần nhuyễn và sáng tạo giữa yếu tố cổ điển và hiện đại. màu sắc hiện đại thực sự mang lại những ý nghĩa và giá trị sâu sắc cho bài thơ. Có thể thấy, Tràng Giang sử dụng rất nhiều chất liệu thơ cổ, nhưng chúng ta cũng nhận thấy rằng bài thơ cũng có rất nhiều hình ảnh và âm hưởng rất đời thường, dung dị. những cành củi khô, tiếng chợ chiều hay khúc gỗ lũa là những thứ hiện đại rất khác với thơ cổ. lần đầu tiên trong thơ, một cái gì đó đã mất đi sức sống nhưng lại có ý nghĩa khắc họa nỗi niềm của một tâm hồn bơ vơ, lạc lõng và bất an trước cuộc đời có ý nghĩa như một cành củi. Bản thân Huian cũng nói rằng anh ấy đã rất cẩn thận trong việc sử dụng hình ảnh này, nhưng cuối cùng nó vẫn hiện đại và rất hiệu quả trong việc thể hiện cảm xúc của cái tôi trữ tình. hoặc chỉ coi đó là chất liệu thơ quen thuộc, nhưng ở đây nhà thơ không dùng một cánh mà là hàng trên hàng đàn vịt trời không rõ tung tích. huy gần không gợi lên một thân phận, một kiếp người mà là cả một thế hệ con người thời bấy giờ. Có bao nhiêu nghệ sĩ như anh sống nổi, lênh đênh giữa đất nước lạc loài này? cái thực, cái hiện đại được thể hiện trong anh ta. vì vậy, trước khi gửi gắm nỗi niềm của một cái tôi “ngang trái nhưng bơ vơ”, chúng đã được nhà thơ gợi lên bằng một vẻ đẹp rất đỗi bình dị, đời thường. giữa cái nền bao la, bát ngát của non sông, người ta vẫn thấy vẻ đẹp của quê hương, quê hương thật gần gũi, thân thương. nên nỗi nhớ không cần đánh thức bởi khói sóng hoàng hôn mà tự nó đã là nỗi nhớ thường trực, bất tận trong lòng nhà thơ.

tính hiện đại của bài thơ còn được nhà thơ thể hiện qua những cảm xúc chân thành nhất của “một tâm hồn bé nhỏ / mang một nỗi sầu muộn”. cái tôi đơn độc, nhỏ bé, lạc lõng trước dòng đời xô bồ đã được nhà thơ thể hiện một cách trực tiếp, thẳng thắn. anh đã tái hiện một khung cảnh vũ trụ bao la, rộng lớn dưới sông để tìm nơi nương tựa cho bản ngã của chính mình. hơi thở của thời hiện đại đến từ nỗi niềm bất lực của cả một thế hệ đương thời trước cảnh mất nước. tất cả những thứ đó đều được dồn vào những điều nhỏ bé của sông nước mênh mông. cái tôi ấy gửi riêng từng làn sóng buồn, nỗi buồn trăm phương, vài hàng củi khô, cồn nhỏ gió hiu quạnh, bến tàu hiu quạnh và những hàng bèo… chẳng thể hướng về bầu trời rộng dài. những dòng sông nỗi buồn cứ thế trải dài vô tận, chiếm cứ cho đến khi không có hồi kết. lòng nhà thơ chợt rung lên cảm giác cô đơn, hụt hẫng. mọi thứ trôi nổi, bấp bênh, không chắc chắn, không thiếu những tri kỷ của kiếp người. nên cái tôi mới trỗi dậy với lòng khao khát, khao khát quê hương khi đứng ngay trên đất mẹ. lời tâm sự ấy là dấu ấn của cái tôi đương thời, tình yêu quê hương đất nước thầm kín. cái tôi ấy không lẫn vào đâu được trong tinh thần chung của thơ mới.

XEM THÊM:  Phan tich bai tho mua thu cau ca

Không nghi ngờ gì nữa, một phần giá trị to lớn của trang giang nằm ở phong cách nghệ thuật vừa cổ điển vừa hiện đại. Phong cách nghệ thuật đặc biệt của Huian được phản ánh trong bài thơ Tràng Giang nói riêng và nhiều bài thơ trước cách mạng khác của ông nói chung, điều này thực sự làm tăng thêm sự phong phú, sáng tạo và độc đáo của phong trào Thơ mới. huy cận không chỉ gợi cho ta một “hồn thơ ảo”, mà còn là thi nhân của phong cách nghệ thuật cổ điển và hiện đại này.

3. vẻ đẹp cổ điển và hiện đại ở bai trang giang – mẫu 2

“Trang giang” là một trong những bài thơ hay, tiêu biểu hơn cho phong cách thơ trốn chạy trước cách mạng tháng Tám. bài thơ được viết vào mùa thu năm 1939, in trên Lửa thiêng. cảm xúc thơ chủ yếu được gợi lên bởi cảnh sông nước mênh mông đỏ hồng sóng nước… với một phong cách nghệ thuật độc đáo, tác giả đã vẽ nên một bức tranh thơ với vẻ đẹp đan xen giữa cổ điển và hiện đại, đồng thời bộc lộ ở cùng thời gian. cái tôi cô đơn, tình yêu cuộc sống, lòng yêu nước thầm kín nhưng nghiêm túc.

Tên bài hát “trang giang” xuất phát từ nghĩa Hán-Việt. “trang” có nghĩa là dài, “jiang” có nghĩa là sông, kết hợp với “trang giang” có nghĩa là “sông dài”. nhưng tại sao nhà thơ không đặt nhan đề bài thơ là “sông dài” mà là “trang giang”? Vì “trang giang” mang âm hưởng cổ kính, thanh thoát nên vần “ang” gợi lên sự mênh mông, mênh mông của sóng nước, tình cảm của nhà thơ cũng mênh mông, vô định. hai chữ “trang giang” như gợi cho ta một màu buồn cổ điển. “than thở trời rộng, nhớ sông dài” không chỉ toát lên cảnh mà còn là tình. cảnh “trời rộng sông dài” và tình người “xót xa”. hơn nữa câu tiêu đề còn gợi ra giọng điệu của bài thơ. Vẻ đẹp cổ điển của Tràng Giang hiện lên qua hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ nhưng mang trong mình nỗi buồn sâu lắng: “sóng lăn tăn trùng điệp buồn”. hình ảnh đẹp phảng phất dòng chữ “buồn điệp điệp” ở cuối câu thơ cho ta cảm giác bùi ngùi bao trùm. hình ảnh: “mây cao che phủ đùn núi bạc” vẽ nên cảnh đẹp thiên nhiên tráng lệ, hùng vĩ nhưng không xóa nhòa nỗi buồn. dòng cuối của bài thơ: “không khói, hoàng hôn, nhớ nhà quá” được gợi lên từ hai dòng thơ hoang hạc lau của các thi sĩ triều đại, do nhà thơ tan da dịch: “Tổ quốc khuất bóng hoàng hôn – trên con sông”. khói sóng làm ai buồn. ”do đó diễn tả nỗi buồn xa quê, nỗi buồn đau lo toan càng da diết, ý thơ sâu sắc hơn, thơ tình êm đềm hơn.

Cùng với vẻ đẹp cổ điển, vẻ đẹp hiện đại trong trang giang cũng được nhà thơ thể hiện rất rõ với phong cách nghệ thuật điêu luyện. những hình ảnh thơ rất bình dị, rất đời thường, tưởng chừng như vô nghĩa nhưng lại rất ý nghĩa: “con thuyền trên dòng nước song song” đã tô đậm nỗi cô đơn, cũng như chia ly, nỗi ám ảnh về kiếp người lênh đênh, lưu lạc: “mấy hàng củi. và một cành khô bị mất ”. hình ảnh thơ: “cồn nhỏ lặng lẽ – nơi tiếng người xa – mặt trời thấp – sông dài, trời rộng, bến một mình”, không gian như mở rộng và đẩy cao hơn, cảnh vật càng thêm tĩnh lặng, nhà thơ lắng nghe âm thanh của cuộc sống mà chỉ cảm thấy đó là âm vang hoang vắng của lòng người. tác giả khẳng định sự có mặt của con người nhưng chỉ để phủ nhận nó, chỉ còn lại thiên nhiên tươi đẹp và cô đơn. hình ảnh: “em đi về đâu – mênh mông không tàu qua lại” đã khắc sâu nỗi buồn chia tay, vương vấn. “cánh chim nhỏ: bóng xế chiều” tượng trưng cho cái tôi nhỏ bé, cô đơn đối diện với cuộc đời ảm đạm, không niềm vui. vẻ đẹp hiện đại của bài thơ với tất cả những hình ảnh tưởng chừng như vô nghĩa ấy đã tạo cho “trang giang” một nét đặc trưng khôn nguôi trong hình ảnh thiên nhiên ảm đạm, ảm đạm, đẹp đẽ nhưng quá đỗi buồn tẻ. .

Sự kết hợp giữa hai vẻ đẹp cổ điển và hiện đại đã tạo nên một “trang giang” đẹp, rộng lớn, bao la và hùng vĩ. Bằng cách này, họ chạy trốn để lộ nỗi buồn của một cái tôi cô đơn đối diện với thiên nhiên trinh nguyên nhưng thấm đẫm tình người và lòng yêu nước thầm lặng.

4. vẻ đẹp cổ điển và hiện đại ở bai trang giang – mẫu 3

Nhà thơ huy quan tên thật là cu huy can, với giọng thơ riêng đã khẳng định tên tuổi của mình trong phong trào thơ mới 1930-1945. Ông sinh năm 1919, mất năm 2005. Trước cách mạng tháng Tám, thơ ông mang nỗi buồn nhân sinh và tôn vinh vẻ đẹp của thiên nhiên, tạo vật với những tác phẩm tiêu biểu như: Lửa thiêng, Bài ca vũ trụ, Lời nguyện cầu. nhưng sau cách mạng tháng Tám, hồn thơ của Người trở nên lạc quan, hứng khởi với cuộc sống đấu tranh và xây dựng đất nước của nhân dân lao động: trời lên đèn mỗi ngày, đất nở hoa, thơ trường sinh … Vẻ đẹp thiên nhiên của nỗi sầu muộn của thế gian, một nét thơ Huian tiêu biểu, được thể hiện khá rõ ràng trong bài thơ Tràng Giang. Đây là một bài thơ hay, tiêu biểu và rất nổi tiếng từ cuộc chạy trốn trước cách mạng tháng Tám. bài thơ là một đoạn trích trong Lửa thiêng, được sáng tác khi huy đang ở gần bờ nam bến sông đỏ, nhìn cảnh mênh mông sóng nước, lòng đầy xót xa, ngậm ngùi cho kiếp người nhỏ bé, lênh đênh giữa dòng đời. một cuộc sống vô định. . Với nỗi niềm ấy, bài thơ vừa mang vẻ đẹp cổ điển vừa hiện đại, mang đến cảm xúc và tình yêu cho người đọc.

Tôi thở dài giữa trời, tôi nhớ sông dài, sóng, buồn điệp điệp, hoàng hôn không khói, tôi cũng nhớ nhà.

Từ đoạn thơ, nhà thơ đã khéo léo gợi lên vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của bài thơ Tràng giang, đó là một cách viết đầy sáng tạo của thể loại trốn chạy. hai nửa song hành đã gợi lên cho người đọc cảm giác về dòng sông không chỉ dài vô tận mà còn rộng lớn vô hạn. hai chữ “trang giang” trong thơ Đường thi, một dòng sông vĩnh hằng, một dòng sông suy tư.

Những bài thơ ba trang giang mang đặc điểm cổ điển như những bài thơ cổ: nhà thơ thường che giấu cái tôi của mình. nhưng nếu như các thi nhân xưa nhìn thiên nhiên với hy vọng hòa nhập, đồng cảm, ngưỡng mộ thì lại hướng về thiên nhiên để giãi bày nỗi lo, nỗi buồn cho kiếp người nhỏ bé, cô đơn trước vũ trụ bao la. đó cũng là vẻ đẹp quyến rũ của tác phẩm, ẩn chứa tinh thần hiện đại.

Câu chủ đề tuy đơn giản, ngắn gọn vỏn vẹn bảy chữ nhưng đã khơi gợi được cảm xúc chủ đạo của cả bài: khóc trời bao la, nhớ sông dài. Đối diện với trời rộng, sông dài và sự bao la của thiên nhiên, lòng người khơi dậy bao nỗi niềm nhớ nhung da diết. từ sầu được sử dụng rất hay, nó diễn tả tâm trạng của chủ thể trữ tình, buồn, sầu, cô đơn, lạc lõng. và dòng sông dài miên man ấy, miên man nghe tít tắp, cứ va chạm không ngừng trong suốt khổ thơ, sự sống sinh thành trong lòng nhà thơ khiến trái tim người đọc loạn nhịp.

và ngay từ khổ thơ đầu tiên, người đọc đã bắt gặp những làn sóng lo lắng và buồn bã như thế:

sóng nhấp nhô buồn buồn, thuyền xuôi dòng song hành, thuyền về ruộng buồn, mấy dòng lạc cành khô.

Vẻ đẹp cổ điển của bài thơ được thể hiện khá rõ ngay từ bốn dòng đầu. hai chữ được dùng để chép nguyên điệp, song song ở cuối hai câu thơ mang đậm âm hưởng cổ xưa của đường thi. và không chỉ có vẻ đẹp đó mà nó còn chứa đầy hình ảnh, gợi nhớ như sóng cứ trải dài, trải dài, trùng điệp, nước chảy đến đâu, bất tận. trên dòng sông gợi sóng, dòng nước song song là con thuyền trên nóc, lênh đênh. trong cảnh cũng có chuyển động như vậy mà sao chỉ thấy tĩnh lặng, thiên nhiên bao la, một dòng suối dài mênh mông vô tận.

dòng sông dài vô tận, vô tận, nỗi buồn của con người cũng đong đầy trong lòng.

con đò trên đường về buồn hiu quạnh, mấy dòng lạc một cành tàn.

con tàu và nước vốn có mối liên hệ với nhau, con tàu di chuyển qua dòng nước chảy xiết, nước va vào con tàu. Tuy nhiên, anh ta bỏ chạy và thấy thuyền và nước đang ngăn cách, anh ta tách khỏi thuyền và trở về nước, rất buồn khi nghe điều đó. chính vì vậy mà nó gợi lên trong lòng người những nỗi buồn. từ chỉ số nhiều trăm tương ứng với từ chỉ số thổi trong câu thơ Nỗi buồn vô hạn.

linh hồn của chủ đề trữ tình được bộc lộ trọn vẹn hơn qua câu thơ đơn: “Vài hàng củi, cành khô lạc trôi. Người ta chạy trốn được sử dụng một cách khéo léo phép đảo ngữ kết hợp với những từ ngữ chọn lọc để diễn tả nỗi cô đơn, lạc lõng trước mặt của anh vũ trụ bao la, gợi chút đau khổ, nhỏ bé, cành khô gợi một sức sống khô héo, kiệt quệ, lạc lõng với một nỗi buồn vô định, trôi lững lờ trôi theo dòng nước mênh mông của thiên nhiên, cành củi khô ấy đi về đâu, bức tranh đơn giản, không tô vẽ nhưng đầy rùng rợn, khiến trái tim người đọc cảm thấy trống trải và cô đơn.

Vẻ đẹp cổ điển trong cách diễn tả cảnh ngụ ngôn điêu luyện và tài hoa của tác giả đã gợi lên một nỗi buồn man mác, u uất như một làn sóng sẽ tiếp tục vỡ òa trong những khổ thơ còn lại để người đọc cảm nhận, thấu hiểu tâm trạng chung. đặc điểm ở các nhà thơ mới. nhưng thêm vào đó chúng ta còn thấy một vẻ đẹp hiện tại rất thơ của khổ thơ. đó là cách nói rất đặc biệt Củi là cành khô, không chỉ khơi gợi cảm xúc của mọi người cùng khổ mà còn bộc lộ tâm trạng của nhân vật trữ tình, cảm giác cô đơn, mất mát.

cảm giác ấy càng được bộc lộ qua hình ảnh cô đơn giữa không gian lạnh lẽo:

thơ nghiêng mình trong cồn nhỏ, gió điếc nơi tiếng phố thị xa chợ chiều.

hai từ thơ và sầu được tác giả sắp xếp trong cùng một dòng thơ đã vẽ nên một khung cảnh êm đềm. dửng dưng gợi nỗi khổ, đứa nhỏ lẻ loi gọi cô đơn. giữa cảnh cồn nhỏ, gió hiu quạnh, một cảnh lạnh lùng tàn phá ấy, con người trở nên lẻ loi, choáng ngợp đến mức thốt lên tiếng vọng xa chợ chiều. chỉ là một câu thơ mà nhiều sắc thái, gợi ra đâu đây âm thanh xa vắng, không rõ ràng, có lẽ là một câu hỏi như một nỗi niềm, khao khát của nhà thơ về một chút sinh hoạt, thanh âm của kiếp người. nó cũng có thể là hư vô, một sự phủ định hoàn toàn, không có gì sống động ở đây để làm tiêu tan nỗi cô đơn của thiên nhiên.

Đôi mắt trữ tình của nhân vật dõi theo mặt trời và dòng sông:

Mặt trời lặn, trời thăm thẳm, sông dài, trời rộng, bến vắng.

mặt trời ở bên dưới, bầu trời ở trên gợi ý chuyển động, nó mở rộng trong không gian và gợi ý sự tách biệt: bởi vì mặt trời và bầu trời tách biệt nhau. chiều sâu hùng vĩ là một khung cảnh thể hiện sự chạy trốn đầy sáng tạo và mới mẻ, mang một vẻ đẹp hiện đại. con mắt của nhà thơ không chỉ dừng lại bên ngoài trời đất, mà còn xuyên thấu cả vũ trụ, không gian bao la, vô tận. cõi thiên nhiên ấy thật là bao la với sông dài, trời rộng, nhưng những gì thuộc về con người thì thật nhỏ bé và hiu quạnh: bến cô đơn.

vẻ đẹp cổ điển của các khổ thơ hiện lên qua những chất liệu thơ tang thi quen thuộc như: dòng sông, bầu trời, mặt trời, cuộc đời và con người chán ngán, chán chợ chiều, vạn vật tan rã, ra đi.

Nhà thơ quay nhìn dòng sông, nhìn quanh, chờ đợi một điều gì đó quen thuộc mang hơi ấm cho tâm hồn chìm trong lạnh lẽo, cô đơn. nhưng thiên nhiên đã đáp lại mong muốn đó bằng những hình ảnh hiu quạnh và hiu quạnh hơn:

bạn sẽ đi đâu, chèo hết hàng này đến hàng khác, không ngừng vượt thuyền, không yêu cầu một chút riêng tư, lặng lẽ từ bờ xanh đến bãi vàng.

Hình ảnh đám bèo trôi sông là hình ảnh thường được sử dụng trong thơ ca cổ điển, nó gợi lên cái gì đó bấp bênh, trôi nổi của kiếp người vô định giữa dòng đời. nhưng trong thơ chạy trốn không phải chỉ có một hai cánh bèo, mà là hàng này đến hàng khác. hàng bèo tấm khiến lòng người xao xuyến trước thiên nhiên, để lòng thêm xót xa, cô đơn. cạnh những hàng bèo tấm có chiếc ghế dài xanh ngắt sau bãi vàng, như mở ra một không gian vô cùng vô tận, thiên nhiên thuận theo tự nhiên, dường như không có con người, không có hoạt động của con người, không có sự giao hòa, kết nối:

rộng mà không cần qua thuyền, không yêu cầu bất kỳ quyền riêng tư nào.

tác giả đưa ra cấu trúc phủ định … không … không phủ nhận hoàn toàn các mối liên hệ giữa con người với nhau. trước mắt nhà thơ không còn bất cứ thứ gì gợi ra sự gần gũi để thoát ra khỏi sự tịch mịch vây lấy mình, chỉ là thiên nhiên bao la, bát ngát, cây cầu hay con đò, phương tiện giao tiếp của nhà thơ. , dường như đã bị thiên nhiên nuốt chửng, đang trôi dạt vào một nơi nào đó.

thân yêu vẽ nên một cách khéo léo vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của bầu trời:

những lớp mây cao tạo nên những ngọn núi màu bạc, những chú chim nhỏ có cánh trong bóng tối.

Những nét vẽ mây cao đùn lên những ngọn núi xếp lớp màu bạc đã khiến người đọc hình dung ra những đám mây trắng lấp lánh dưới ánh mặt trời như ánh bạc. hình ảnh mang vẻ đẹp cổ điển trữ tình và càng thơ mộng hơn khi được khơi nguồn cảm hứng từ một tứ thơ tang cổ du fu:

mặt đất được bao phủ bởi những đám mây.

huy cận đã khéo léo sử dụng động từ đùn, làm cho mây chuyển động như chuyển động, có nội lực, hết lớp này đến lớp khác mây cứ đùn ra. đây cũng là một nét thơ hiện đại, vì nó đã được vận dụng một cách sáng tạo từ lối thơ cổ điển quen thuộc.

và hiện đại được bộc lộ rõ ​​nét hơn qua hai điểm tình trong đoạn thơ sau. hai điểm này gợi ra mối quan hệ giữa con chim và bóng chiều tà: con chim nghiêng đôi cánh nhỏ soi bóng, rủ nhau xuống mặt sông, hay chính bóng hoàng hôn đè nặng lên đôi cánh của con chim nhỏ, nghiêng tất cả các cách. bài thơ gợi tả không gian nhưng gợi thời gian vì sử dụng cánh chim và bóng hoàng hôn, là những hình ảnh thẩm mỹ để miêu tả cảnh hoàng hôn trong thơ cổ điển.

Tham khảo: BÀI ĐỒNG DAO MƯỜI CHÚ THỎ CỦA TRẺ EM TQ VÀ ÂM MƯU HIỂM ĐỘC PHÍA SAU  – Blog M

nhưng giữa khung cảnh cổ điển ấy, người đọc lại thấy mình đang ở trong tâm trạng hiện đại.

<3

cẩu thả là một từ nguyên sáng tạo của sự chạy trốn, chưa từng thấy trước đây. cụm từ này tương ứng với cụm từ “cho nước” thể hiện một nỗi buồn cô đơn trong lòng đất nước. cảm giác đó là nỗi nhớ quê hương khi đứng giữa quê hương mà quê hương không còn. đây là tâm trạng chung của các nhà thơ mới bây giờ, đau đầu vì nước mất nhà tan.

Bên cạnh tâm trạng hiện đại ấy, có một câu thơ cổ điển được gợi lên từ câu thơ: Bên sông khói sóng làm em buồn. kiếp trước, dấu cần ở trong sóng để buồn nhớ, còn gần huy thì buồn không ngoại cảnh, vì bản thân nỗi buồn ấy đã rất sâu. Chính vì vậy tôi mới biết tình yêu quê hương đất nước của nhà thơ ngày nay sâu sắc đến nhường nào.

Toàn bộ bài thơ vừa mang vẻ đẹp cổ điển vừa hiện đại, vẻ đẹp cổ điển được thể hiện qua thể thơ bảy chữ được cách điệu theo lối thơ tang, cách dùng từ và cách dùng thơ lục bát. Những chất liệu cổ điển quen thuộc như mây, sông, cánh chim và hơn hết là việc sử dụng các câu thơ cổ điển, gợi lên không khí cổ kính và tĩnh lặng của thơ Đường.

XEM THÊM:  Soạn bài văn bản tiếp theo lớp 10 ngắn nhất

Vẻ đẹp hiện đại trải dài qua những cụm từ sáng tạo và độc đáo của nhà thơ như chiều sâu chót vót, hai điểm tình tứ. nhưng vẻ đẹp đọng lại cuối cùng là tâm trạng nhớ nhung khi đứng giữa quê hương, tâm trạng hiện đại của người trí thức muốn cống hiến sức mình cho đất nước nhưng đành bất lực, không làm được gì. >

Bài thơ sẽ luôn đi vào lòng người với phong cách điển hình rất hùng tráng, vừa mang vẻ đẹp cổ điển, tao nhã sâu lắng vừa mang vẻ đẹp hiện đại với tấm lòng yêu nước, yêu quê hương đất nước.

5. nét cổ điển và hiện đại ở trang giang – mẫu 4

Trong phong trào thơ mới, chúng ta không chỉ nhắc đến xuân điểu với những vần thơ tình lãng mạn, mà còn phải nhắc đến Huian, một thi sĩ của vạn người mê. nếu trong phong trào thơ mới ai cũng hăng hái đổi mới, cách tân, đổi mới, tìm hướng đi riêng thì ông vẫn điềm tĩnh kết hợp hài hòa chất cổ điển và hiện đại trong thơ mình. Tràng giang là bài thơ hay nhất thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa hai tư tưởng đối lập là cổ điển và hiện đại.

Phẩm chất cổ điển ở đây có thể hiểu là sự tiếp nối những phẩm chất, đặc điểm vốn có của văn học trung đại. hiện đại được hiểu là sự tiếp thu những cái mới trong văn học phương Tây. dung hòa hai yếu tố này trong một tác phẩm không phải là điều dễ dàng.

Trước hết, về chất cổ điển của bài thơ Tràng giang, tinh thần cốt lõi của tập thơ Lửa thiêng không phải là phủ nhận quá khứ, với tập thơ này, nó chủ trương kết hợp và vận dụng những tinh hoa. của văn học truyền thống trong các bài thơ của ông. Vì vậy, không chỉ Tràng Giang mà tất cả các bài thơ trong tập thơ này của ông đều mang màu sắc của văn học cổ điển. Với tác phẩm này, nét kinh điển đầu tiên nằm ở chủ đề và cảm hứng mà bài thơ đề cập đến. đề tài đứng trước sông rộng, trời cao, nhận ra sự nhỏ bé, hữu hạn của con người là đề tài thường thấy trong văn học trung đại. phẩm chất cổ điển ấy thể hiện ở nhan đề bài thơ, tuy là tác phẩm sáng tác trong trào lưu thơ mới nhưng lại có cái tên rất cổ điển: trang giang. Trang là cách phát âm khác từ trường: long, giang là từ chỉ tên chung của các con sông. ngay từ nhan đề, người đọc đã nhận thấy không gian cổ kính của bài thơ, với không gian bao la, choáng ngợp trải dài trước mắt. kết hợp với tiêu đề, tên tác phẩm cũng đậm chất cổ điển:

Tôi nhớ sông dài

“Trời rộng sông dài” gợi lên sự bao la và vô tận của vũ trụ. trong không gian ấy con người trở nên cô đơn, nhỏ bé, đầy ám ảnh. đây là tâm trạng của nhiều thi nhân xưa nay, có thể ví như tấm lòng phong trần:

“Tiền của người xưa, người không thấy trời, không thấy đất.

Dường như trước sự bao la và vô tận của vũ trụ, con người ta bỗng thấy mình thật đơn độc và nhỏ bé, nỗi sầu muộn càng hiện rõ. huy gần không thoát khỏi tâm trạng chung đó, từ “buồn” đã diễn tả tâm trạng lạc lõng, u uất của nhân vật trữ tình trước sóng nước mênh mông.

Chất cổ điển trong trang giang còn được thể hiện qua hệ thống thơ thất ngôn tứ tuyệt. Một số chất liệu thơ cổ được sử dụng trong bài thơ: bến vắng, con thuyền, dòng sông, cánh bèo, cánh chim là những hình ảnh thường thấy trong thơ cổ như: “gió ngàn ban mai mang đi chim mỏi” (mrs. .. quan), “co chu lep lap lanh. / khói đơn hang giang tuyet” (liễu tông nguyên) … mọi thứ trong thơ ông đều ở trạng thái héo úa, héo úa, tan rã: hàng nối với không khí. một chút liên hệ với nhau, những cảnh trôi dạt, cũng như số phận của những con người trôi nổi trong xã hội ấy; con tàu vượt sông không một chuyến, bến vắng một mình, một mình,… không gian hoang vắng, im lìm, dẫu cố tìm hơi thở cuộc sống, có lẽ người chỉ huy đã hoàn toàn thất bại, một mình ”trong lặng lẽ, bờ xanh gặp bãi vàng Hình ảnh mây trắng, cánh chim ở cuối bài thơ: lớp mây cao chiếu núi bạc / Chim nghiêng cánh trong bóng chiều, cũng là một hình ảnh thường thấy trong văn học cổ như vậy. như câu thơ vương vấn bột: “con cò bay sông xanh / trời xanh ngắt một màu trời”. ở đây huy cận đã vận dụng linh hoạt lối ngắt câu, chỉ một chấm nhỏ đã vẽ nên một không gian bao la, rộng lớn với những “tầng lớp”. núi chồng lên nhau, hệt như mây trong thơ phú: “lầu mây xa cửa” không gian mở rộng theo chiều cao, và trong không gian ấy con chim hay chính con người cũng trở nên đáng thương. nt nhỏ. bóng chiều quá nặng làm cánh chim rũ xuống, cánh chim nhỏ bé, đáng thương đến đáng thương. đặc biệt ở câu thơ cuối: “sông chảy nước biếc / sương khói hoàng hôn cũng hoài”, chạy trốn đã thấm thía chất thơ của văn học Trung Quốc: nhất du quan hà xu thị / yên ba giang thương chuyện buồn. để bày tỏ nỗi cô đơn, niềm khao khát tha thiết và khắc khoải của tôi đối với quê hương vào lúc chết.

nghệ thuật đối kháng cũng là một phong cách phổ biến trong văn học cổ đại. trong văn bản chạy trốn, hàng loạt hình ảnh được sử dụng kết hợp rất uyển chuyển, uyển chuyển: sóng cho thuyền, mặt trời trên cao, sông dài mây trời, … tất cả những hình ảnh đối lập ấy đã thể hiện sự bao la và sự bao la của vũ trụ và sự nhỏ bé và hữu hạn của con người. hơn nữa, hệ thống từ vựng cũng góp phần tạo nên âm hưởng cổ điển cho văn bản. Từ đầu đến cuối bài thơ, Huian đã sử dụng từ láy: lặng lẽ, mênh mông, sừng sững, tầng tầng lớp lớp, v.v., điều này càng làm rõ hơn dấu ấn của tác phẩm.

Mặc dù, tiếp thu những tinh hoa của văn học cổ điển, trang giang vẫn là một bài thơ mang đậm dấu ấn hiện đại. cái hiện đại ấy đan xen, được thể hiện chính xác trong chất cổ điển của bài thơ. còn chủ đề cảm hứng là nỗi đau của con người khi đứng trước thiên nhiên bao la, rộng lớn, nó không chỉ dừng lại ở nỗi buồn chung chung mà trốn chạy nó còn là nỗi buồn rất riêng, nỗi buồn riêng trong cuộc sống, trong thời gian mà đất nước mất chủ quyền, nhân dân sống trong nô lệ, xiềng xích.

Chất liệu bài thơ còn có sự vận dụng nhuần nhuyễn nghệ thuật thư pháp hiện đại với những hình ảnh sáng tạo rất chân thực:

“cành khô vài hàng củi” “lặng lẽ bờ xanh gặp bãi vàng”

hình ảnh củi khô, chợ chiều, bờ xanh bãi vàng là hiện thực đời thường, ở đây không có bút pháp ước lệ, không có nét chấm phá chuẩn mực của cuộc thi mà là toàn bộ “hiện thực sống động” của đời sống. có lẽ lần đầu tiên trong văn học, hình ảnh “củi” xuất hiện trong thơ, đó là một điểm rất mới, rất thực trong thơ chạy trốn. từ “củi” được đảo ngược ở đầu cầu nhấn mạnh sự vô dụng của nó, không chỉ rằng nó là một nhánh gỗ chết vô hồn. “lạc một vài dòng” gợi lên sự vô vọng, bấp bênh, thiếu phương hướng, không biết sẽ đi về đâu. đó vừa là số phận của con người Việt Nam, vừa là số phận bơ vơ của cái tôi thơ mới lạc lõng trước cuộc đời. một bức tranh tồi tàn, tồi tàn là hiện thực cuộc sống ảm đạm, u ám của chính người dân Việt Nam lúc bấy giờ. đồng thời, hình ảnh đó cũng gợi lên một quê hương rất đỗi gần gũi, thân quen đối với mỗi người Việt Nam.

Trong sự đơn độc tột cùng, Huy tìm kiếm gần đó một khoảng thời gian nghỉ ngơi, một tri âm của cuộc đời, nhưng chỉ nhận được: “tiếng lành đồn xa chợ chiều còn đâu?”. đó là âm thanh nhỏ và vang khiến người nghe không thể nhận biết rõ được âm thanh phát ra từ đâu, âm thanh tưởng chừng như làm cho hình ảnh bớt cô đơn, buồn bã thì giờ đây nó còn u uất hơn cả nỗi cô đơn, vắng vẻ của người vô định. khoảng lặng của không gian. ở hai dòng cuối của bài thơ, tuy chịu ảnh hưởng của dòng bút danh nhưng cảm xúc của nhân vật không bị che giấu mà bộc lộ trực tiếp: “không khói hoàng hôn cũng khát khao quê nhà”.

Ngoài ra, những cách kết hợp từ ngữ mới như: điệp ngữ buồn, chiều sâu hàm súc đã làm tăng tính hiện đại cho bài thơ. từ “buồn” kết hợp với từ “điệp” làm cho nỗi buồn mênh mang, lan tỏa và kéo dài vô tận. từ cao nhất cũng là một từ sáng tạo đặc biệt, cao nhất vốn chỉ dùng để chỉ độ cao, nhưng lại được kết hợp với từ sâu khiến câu thơ như mở rộng ra nhiều chiều khác nhau, càng nhấn mạnh vào giữa bao la của vũ trụ.

Cuối cùng, tính hiện đại được thể hiện ở thể thơ. huy cận sử dụng hình thức tam ngôn tứ tuyệt, nhưng ở đây phân rõ ràng, không giống như thơ cổ, thơ lục bát dài không phân chia. và những con người xuất hiện trong tác phẩm không bị gò bó bởi thiên nhiên, mà vẫn bộc lộ một cách mạnh mẽ và trực tiếp cái tôi, suy nghĩ và cảm xúc của chính mình.

trang giang ‘là bài thơ có sự kết hợp hài hòa giữa chất thơ cổ điển và chất hiện đại của trào lưu thơ mới. không phải là “bình mới rượu cũ” mà là sự kế thừa và tiếp thu rất tinh tế của nó. Với bài thơ này, ta thấy được một người anh hùng có học thức uyên thâm, nội lực dồi dào. đằng sau những vần thơ ấy ẩn chứa một tấm lòng yêu nước sâu sắc nhưng không kém phần sâu sắc.

6. vẻ đẹp cổ điển pha lẫn hiện đại ở bai trang giang – mẫu 5

“Thơ mới” xuất hiện trên diễn đàn văn học Việt Nam như một điệp khúc buồn và đa cảm với cái “tôi” của riêng nó. và trong cái hộp nhiều cảm xúc ấy, chạy trốn được biết đến với chất thơ buồn đến “não lòng”. tác giả hoai thanh cũng viết về điều này: “… chúng tôi buồn trở về lánh nạn” (“Thi nhân Việt Nam”). “trang giang” là một trong những bài thơ hay và thể hiện rõ nhất nỗi buồn của huy. trong bài thơ, cái cổ điển và cái hiện đại hòa quyện qua từng câu từ, câu thơ, hình ảnh và ý thơ làm nổi bật một tâm hồn chan hòa với vũ trụ, mang nỗi buồn trần gian xen lẫn tình người, tình yêu quê hương thầm kín. / p>

Phong cách cổ điển của bài thơ trước hết được thể hiện rõ nét qua nhan đề “trang giang”. tác giả đã sử dụng từ hán việt để tạo nên một sắc thái cổ kính, trang nghiêm làm cho dòng sông như chảy từ ngàn xưa trong lịch sử và thấm đẫm chất thơ cổ. Đặc biệt, tác giả nói “trang giang” thay cho cách nói “long giang” thông thường, tạo cảm giác con sông dài hơn, rộng hơn và mênh mông vô tận, do sự lặp lại của tiếng “ang”, một dòng sông rộng mở. . âm tiết có hồi âm.

Xuyên suốt bài thơ, vẻ đẹp cổ điển và hiện đại hòa quyện tinh tế trong từng khổ thơ, được thể hiện rõ nét trong từng câu chữ, hình ảnh và chất liệu thơ. Ở khổ thơ đầu, tác giả đã sử dụng ý thơ của các đạo sĩ và những hình ảnh quen thuộc trong thơ cổ để làm nổi bật hình ảnh “trang giang” mang màu sắc cổ điển:

“Sóng lăn tăn sông buồn, thuyền chìm theo dòng nước, nhưng thuyền về ruộng buồn, mấy dòng lạc một cành khô”

Ngay từ câu thơ đầu, ta có thể thấy được phong cách cổ điển qua hình ảnh “gợn sóng” gợi liên tưởng đến những vần thơ của Đỗ Phủ, “thánh thơ” của nền văn học Trung Quốc Việt Nam. bài đăng “được xuất bản nhiều”:

“cắt xén không giới hạn, cắt xén, tiêu, đình trệ vô tận”

<3

(trích từ “dang cao” – do phu)

Nếu như bài phú miêu tả thiên nhiên qua sự đối lập giữa sóng nước chảy trong không gian của rừng sâu thì tác giả huy cận lại sử dụng nghệ thuật đối xứng của “điệp ngữ buồn” – “song nước”. những từ láy như điệp điệp, song song gợi tả tiếng sóng nước sông khơi gợi lòng người, được đặt một cách tinh tế ở cuối mỗi câu thơ khiến âm hưởng thêm ngân vang, thấm thía. “trang giang” với muôn vàn con sóng nhỏ, nỗi buồn vô hình của nhà thơ đã mượn sự chuyển động của từng con sóng để hiện lên. “tàu” và “nước” vốn là hai khái niệm quy ước gần gũi trong thơ cổ, được nhà thơ sử dụng và miêu tả đối xứng: con tàu “xuôi mái” trôi trên sông, sóng không vỡ. thuyền nhưng “vùng nước song song”. tác giả đã vận dụng linh hoạt nghệ thuật tương phản của thơ tang, tạo nên sự cân đối, nhịp nhàng. nhờ đó, cảnh vật hiện ra trong tĩnh lặng mang đậm phong cách cổ điển. và ở hai câu thơ sau, ngoài vẻ đẹp cổ điển, đoạn thơ còn thể hiện nét hiện đại của thơ mới qua hình ảnh “mấy câu thơ lạc cành khô”. Nếu thơ cổ đề cao vẻ đẹp mê hồn của “phong, hoa, tuyết, nguyệt”, huy, gần thì lại thả một thanh củi khô xuống sông, một chi tiết vô cùng hiện thực thường thấy trong thơ hiện đại. . biện pháp đảo ngữ đã được tác giả sử dụng một cách tinh tế để tạo nên một cách diễn đạt độc đáo: “cành củi chết mất mấy dòng” thay cho cách nói thông thường: “cành củi chết khô vài dòng”. . nhấn mạnh trạng thái khô héo, khô héo, thiếu sức sống của cành đào, đồng thời nhấn mạnh sự khan hiếm bằng cách dùng điệp từ “một”, từ đó người đọc thấy được tâm trạng cô đơn của nhà thơ giữa dòng “giang hồ”. trong không gian ba chiều, nó vô cùng rộng lớn và bao la.

và ra khỏi dòng sông, đôi mắt nhà thơ đã nhìn ra toàn cảnh dòng sông:

“Mặc kệ cồn nhỏ, gió điếc nơi đâu tiếng phố thị xa chợ chiều”

Màu sắc cổ điển tiếp tục xuất hiện trong các bức tranh về thiên nhiên thông qua thơ ca, hình ảnh và ngôn từ. trong cồn cát nhỏ có những cơn gió “buồn” mang theo tâm trạng của nhân vật trữ tình. tác giả đã khéo léo sử dụng từ “tẻ nhạt” xuất hiện trong bản dịch “Chinh phụ ngâm” khi miêu tả không gian thê lương, thê lương của chiến trường: “Cô đơn trăng treo / Bến tàu gió thổi mấy gò”. việc thơ huyễn gần chịu ảnh hưởng của thơ cổ không chỉ mang phong cách cổ điển, có tác dụng tả cảnh ngụ tình mà còn hàm chứa, mang tâm trạng của nhân vật trữ tình.

Sự pha trộn giữa cổ điển và hiện đại được thể hiện rõ nhất ở khổ cuối của bài thơ. khung cảnh được gợi lên trong phong cách nghệ thuật quen thuộc của thơ ca cổ bằng cách miêu tả những cánh chim lúc chiều tà

“tầng mây cao nhô ra núi bạc, chim nghiêng cánh trong bóng chiều”

Trong thơ cổ, cánh chim là chất liệu thơ dùng để tô điểm cho hình ảnh thiên nhiên lúc xế chiều. chúng ta đã từng bắt gặp hình ảnh cánh chim qua các câu ca dao hay nhiều tác phẩm văn học trung đại nổi tiếng:

“chim bay về núi”

(tiếng lóng)

“chim bay về rừng”

(truyện của chị kieu)

Trong thơ cổ, nỗi buồn cô đơn được gợi lên bằng cách lấy không gian để miêu tả thời gian. Trong thơ Huệ Năng, ta còn thấy không gian bầu trời chiều tà và những cánh chính mang hương vị cổ điển và gợi nhớ đến câu thơ của vị vua thời Đường: “Lạc cô nguyệt khí phi” (mặt trời chiều với cánh) cò đơn đang bay). cánh chim như giọt nắng chiều rơi mang theo bao tâm trạng của thi nhân.

vì vậy, bài thơ “Tràng giang” miêu tả hình ảnh thiên nhiên sông nước gần gũi, thân thuộc, chứa đựng hình ảnh tâm trạng với nỗi sầu thiên cổ, sầu vũ trụ, sầu trần thế. tất cả đều được thể hiện thông qua sự kết hợp giữa hương vị cổ điển và nét hiện đại, mới mẻ.

Mời các bạn cùng tham khảo những thông tin hữu ích khác tại chuyên mục tài liệu – tài liệu hoatieu.vn.

Tham khảo: Bài giới thiệu bản thân bằng tiếng anh khi đi phỏng vấn

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ tràng giang. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.