Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
236 lượt xem

Viết bài tập làm văn số 1 lớp 9

Bạn đang quan tâm đến Viết bài tập làm văn số 1 lớp 9 phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Viết bài tập làm văn số 1 lớp 9

Bài văn mẫu lớp 9: Bài văn 1 (Đề 1-4) bao gồm dàn ý và 114 bài văn mẫu từ Bài văn mẫu lớp 9 Đề 1-4, giúp bạn có thêm nhiều ý tưởng hơn, bạn đã hoàn thành bài viết đầu tiên của mình với kết quả cao.

qua đó, các em cũng tích lũy thêm vốn từ vựng, biết cách trình bày cũng như diễn đạt để đạt kết quả cao trong bài viết số 1. 1 của lớp 9. Chính vì vậy mà mời các bạn cùng theo dõi bài viết tiếp theo của lớp học này nhé. .vn:

bài văn số 1 lớp 9 chủ đề 1: thuyết minh về cây lúa

title: giải thích về gạo Việt Nam.

tóm tắt thuyết minh về cây lúa nước

i). giới thiệu:

– Từ bao đời nay, cây lúa đã gắn bó và là một phần không thể thiếu của người dân Việt Nam

– cây lúa cũng trở thành tên gọi của một nền văn minh: nền văn minh lúa nước.

ii) nội dung:

1. tóm tắt:

– gạo là loại ngũ cốc quan trọng nhất.

– Là cây lương thực chính của người dân Việt Nam nói chung và Châu Á nói riêng.

2. chi tiết:

a. đặc điểm, hình dạng, kích thước:

– lúa là cây một lá mầm và nhiều rễ.

– những chiếc lá bao quanh thân cây, với những phiến mỏng dài.

– có 2 vụ lúa: chiêm, mùa.

b. cách trồng lúa: trải qua nhiều giai đoạn:

– từ hạt lúa nảy mầm thành cây con.

– sau đó bắt đầu gieo hạt trên ruộng

– các cánh đồng phải được cày, xới và bón phân.

– ruộng phải ngập trong nước.

– Khi lúa đẻ nhánh thành bụi, cần phải xới xáo, bón phân và diệt sâu bọ.

– người nông dân cắt lúa, tuốt hạt, phơi khô và xay thành hạt gạo …

c. vai trò của cây lúa và hạt gạo:

– vấn đề chính của việc trồng lúa là cho hạt lúa, hạt lúa.

– Có nhiều loại gạo: gạo tẻ, gạo nếp (dùng để làm bánh chưng, bánh dày)…

* Gạo nếp được dùng để làm bánh chưng, bánh dày hoặc các loại xôi.

* Gạo nếp non được dùng để làm cốm.

– Gạo có thể làm nhiều loại bánh như: bánh tráng, bánh đúc, chả giò, bánh đa, phở, cháo,…

Nếu không có gạo thì rất khó tạo nên một nét văn hóa ẩm thực đặc sắc của Việt Nam.

d. hiệu lực:

– Đến nay, cả nước ta đã lai tạo được hơn 30 giống lúa được công nhận là giống lúa quốc gia.

– Việt Nam từ một nước nghèo đã trở thành quốc gia đứng thứ hai trên thế giới sau Thái Lan về sản lượng lúa gạo.

– cây lúa đã đi vào thơ ca, nhạc họa và đời sống tinh thần của người dân Việt Nam

iii) kết luận:

– cây lúa rất quan trọng đối với đời sống người Việt Nam

– Cây lúa không chỉ mang lại cuộc sống ấm no mà còn trở thành một nét đẹp trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam.

thuyết minh về cây lúa nước – mẫu 1

mỗi quốc gia, dân tộc hay mảnh đất đều có những cây cỏ quê hương của mình. và ở nước ta, cây lúa dân dã, bình dị đã trở thành cây nông nghiệp gần gũi và gắn bó nhất trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. cây gạo ấy đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều nhà văn, nhà thơ khi viết về cảnh đẹp quê hương đất nước.

“Việt Nam là đất nước có biển lúa mênh mông, nơi bầu trời đẹp hơn những cánh cò bay lượn trong làn mây mù sương phủ trên đỉnh núi trượng phu trong một sớm một chiều.”

>Cây lúa là loại cây ưa nước, có rễ chùm. cây lúa phát triển qua các thời kỳ khác nhau, qua quá trình chăm sóc, tưới tiêu cẩn thận, cần mẫn của người nông dân mới lúa xoăn vàng. cây gạo khi còn là một đứa trẻ trông thanh lịch như một thiếu nữ duyên dáng và thanh lịch trong bộ áo dài màu xanh lá mạ. lá lúa dài như lưỡi kiếm, thỉnh thoảng có gió thổi qua như những chiến binh múa kiếm.

Thân lúa mỏng, nhỏ, gồm nhiều lớp dày bên ngoài bao bọc lấy nhau, giống như những cánh tay ôm ấp để che chở cho bên trong. cây lúa khi trưởng thành đã có bộ cánh mới, không còn là màu xanh non mập mạp, sinh động mà có màu vàng óng, thoang thoảng mùi sữa non. cây gạo luôn mang một mùi rất riêng, đó là mùi của đồng quê, của tâm hồn mộc mạc, thân thương, của tấm lòng cần cù, chịu thương chịu khó, quanh năm bán mặt cho đất, lưng cho trời. . .

khi chín, cơm được bao bọc bởi lớp vỏ vàng ruộm, bên trong là hạt cơm tròn trịa, căng mọng rất đẹp mắt. hạt gạo trắng ngần ấy là tinh hoa của mồ hôi, công sức và nước mắt của những người dân lao động gom góp để dâng hương lên trời. nên mùi cơm lúc nào cũng vậy, thơm lắm, béo ngậy, thơm lắm.Có nhiều loại lúa khác nhau, phù hợp với từng vùng miền và khí hậu. các loại gạo thường gặp nhất là gạo nếp, gạo tẻ, gạo việt, gạo trộn, gạo tám… mỗi loài có cách chăm sóc, tưới tiêu và công dụng khác nhau nhưng nhìn chung đều rất tốt, hữu ích và không thể thiếu. nguồn thức ăn cho nông dân.

Gạo có rất nhiều công dụng. Trước hết, nó là cây lương thực chính của nước ta, đồng thời cũng là thương hiệu, đưa nước ta trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới. Hơn nữa, các phương pháp chế biến khác nhau mang lại cho gạo nhiều lợi ích khác nhau. Hạt gạo trắng là nguyên liệu để làm bún, phở và các loại bánh tráng. các loại cơm, cơm cháy, bánh đa, nước vo gạo rất tốt cho sức khỏe.

Gạo cũng là nguyên liệu chính để làm bánh chưng, bánh giầy, một món ăn truyền thống trong mỗi dịp lễ, tết ​​ở Việt Nam. hay món quà là những hạt lúa non đã được nhà văn thach lam trân trọng và tự hào đặt trên trang văn của mình.

Nhưng để có được gạo trắng thì cây gạo phải phát triển khỏe mạnh nên đòi hỏi người nông dân phải chăm sóc tỉ mỉ và cẩn thận. đặc biệt là tưới nước, vì là cây ưa nước nên việc cung cấp đủ nước cho cây là rất quan trọng, ngoài ra bà con cũng nên thường xuyên theo dõi cây lúa xem có dấu hiệu bất thường nào khác không. thời gian chính xác. Làm ra hạt gạo để nuôi sống con người không phải là điều dễ dàng, vì vậy hạt gạo càng phải được trân trọng hơn bao giờ hết.

Cây gạo thật đẹp, một nét đẹp mộc mạc tinh túy của dân tộc Việt Nam. cây lúa đã trưởng thành và phát triển cùng với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. trải qua bao nhiêu cuộc chiến đấu gian khổ, cây lúa đã gắn liền với sự hy sinh chiến đấu, là lương thực giúp anh em vơi bớt cái đói để giữ vững vũ khí. có lẽ dù trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay và tương lai, cây lúa vẫn không bao giờ mất đi vai trò quan trọng của nó.

thuyết minh về cây lúa nước – mẫu 2

Nhắc đến Việt Nam, người ta thường nghĩ đến những địa danh đẹp như tranh vẽ như Vịnh Hạ Long, Hồ Hoàn Kiếm với truyền thuyết trả gươm thần, hay những sản phẩm đặc trưng như nón lá lụa. Nhưng đặc biệt điều mà du khách nước ngoài tại Việt Nam cảm thấy thích thú nhất chính là thú vui ẩm thực: phở, bún chả hay bánh chưng, bánh giầy vào những ngày Tết. có thể dễ dàng nhận thấy những món ăn đó đều được làm từ gạo. hạt gạo trắng đó là sản phẩm của cây lúa, một loại cây không thể thiếu trong đời sống của người Việt Nam.

Để có được cây lúa, người nông dân phải làm việc vất vả hàng ngày: từ trồng, cấy, chăm sóc và ươm cây. lúa được trồng ở các châu thổ có phù sa bồi đắp. Giống như đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn của Việt Nam. tuy nhiên, không chỉ ở đồng bằng, lúa còn được trồng ở vùng cao với những ruộng bậc thang xanh mướt.

Cây lúa đặc biệt thích nghi với khí hậu nhiệt đới của Việt Nam trong hai mùa: mùa mưa và mùa khô. phần lớn nông dân vẫn sống dựa vào cây lúa. Đây là hình thức sản xuất nông nghiệp phổ biến và dễ thấy ở Việt Nam. Gạo đã đưa Việt Nam từ một nước đói kém sau chiến tranh trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới. Tuy là cây nông nghiệp nhưng nó không thể thiếu trong đời sống của người Việt Nam.

Câu hỏi đặt ra ở đây là: tại sao cây lúa lại có vai trò quan trọng như vậy đối với đời sống của người Việt Nam? Có thể thấy, ngay từ khi mới sinh ra, con người đã gắn bó với cây lúa, hạt giống. Lúa gạo không chỉ là cây nông nghiệp mà còn là lương thực chính của con người. có khi thấy người ta ăn cơm lâu, muốn đổi khẩu vị đã tìm đến các quán phở, quán phở. đó là một cách thay đổi hương vị hay đúng hơn là cơm đã được biến đổi bằng một cách chế biến khác.

hay ở nông thôn, thậm chí ở thành thị, người ta vẫn thường quen với tiếng rao: nào bánh chưng, bánh nếp, bánh giầy, bánh khoai làm sao! quá quen thuộc nhưng thật đơn giản. những chiếc bánh thơm ngon đó cũng được làm từ những hạt gạo. đặc biệt là gạo nếp. lúa tạo ra gạo. Đặc biệt, cơm lam còn được chế biến thành nhiều món ăn, phục vụ nhu cầu ăn uống của người Việt Nam.

Chúng ta biết rằng khi lúa chín và trổ bông, người ta thu hoạch và đập lúa. và sau đó thu được cơm và lớp ngoài màu vàng nhạt. đó là cái vỏ. đi bộ về vùng quê Việt Nam ngày nay vẫn còn những gian bếp nhỏ nấu trấu, trấu cũng rất hữu ích để làm thức ăn cho chim và cho vào lồng ấp.

phần cây lúa sau khi thu hoạch không bị thừa. nó khô, chất thành đống rơm cao ngất ngưởng. rơm rạ cũng được sử dụng làm chất đốt ở các vùng nông thôn. Ngoài ra, rơm còn được dùng để trồng nấm làm thức ăn cho người Việt Nam. Đặc biệt, người ta còn dùng tranh để lợp nhà rất tiện lợi và rẻ.

Như vậy, cây lúa đã trở thành cây trồng gắn bó mật thiết với người dân Việt Nam: trong sản xuất, trong đời sống, đặc biệt là nhu cầu sinh hoạt. Không chỉ vậy, cây lúa còn có giá trị văn hóa tinh thần sâu sắc.

với vị trí quan trọng như vậy, nói đến Việt Nam là người ta nói đến một nền văn minh lúa nước. Cây lúa đã đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam, trở thành một nét đặc trưng của văn hóa Việt Nam. một tính năng có thể khó bị mất hoặc mờ. lúa đã được trồng, nó đã được xếp vào hàng quốc tế do chất lượng và số lượng riêng của nó. người dân đã biết đến một Việt Nam không chỉ là một đất nước anh dũng, kiên trung trong chiến đấu mà còn là một dân tộc kiên trung, cần cù trong lao động sản xuất. và bây giờ họ nhìn vào số lượng gạo xuất khẩu: hàng triệu tấn mỗi năm từ Việt Nam để đánh giá và nhận xét.

không chỉ vậy, gạo còn đóng vai trò quan trọng không thể thiếu trong mâm cỗ cúng gia tiên. Những món ăn thơm lừng đó thể hiện rất rõ nét ẩm thực và tính cách của người Việt Nam. nó thể hiện tấm lòng hiếu thảo và lòng thành kính của con cháu đối với tổ tiên. đặc biệt là trong các dịp Tết Nguyên Đán, bánh chưng, bánh giầy không bao giờ thiếu trong mâm cỗ của mọi nhà. Tết trung thu với bánh dẻo, bánh nướng làm cho đêm trung thu của trẻ em thêm rộn ràng … những món quà ngon được làm từ gạo ngày càng gắn bó với người dân Việt Nam.

Gạo là biểu tượng của Việt Nam, một loại cây không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người Việt, cả ẩm thực và lễ hội. có lẽ vì vậy mà cây lúa cũng trở thành đề tài của nhiều nhà thơ, nhà văn. tran dang khoa có một bài thơ (Hạt gạo làng ta) được phổ nhạc:

“Hạt gạo làng ta có vị phù sa của sông kinh thay hương sen trong hồ đầy nước, có lời mẹ hát ngọt ngào hôm nay”…

tran dang khoa đã rất tinh tế khi viết về gạo trắng thơm. có gạo, có gạo là công sức của biết bao con người, là sự hòa quyện của nhiều hương vị: phù sa, sen thơm, bài ca của mẹ. những ca từ trong trẻo của bài hát ấy cứ vang lên, thể hiện tính cách của người Việt Nam: tuy sống vất vả nhưng vẫn cần mẫn với cây lúa.

Ngoài ra, cây lúa còn tô điểm thêm vẻ đẹp của đất nước:

“đứng cạnh ni đồng nhìn con tê tê to lớn đứng cạnh đồng mà nhìn bạt ngàn ni đồng”. (bài hát đơn)

Bài hát nổi tiếng thể hiện một đất nước Việt Nam tươi đẹp và sôi động với màu xanh ngút ngàn của lúa. những cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay đã khắc sâu vào tâm trí những người con xa quê. gạo vốn đã gần gũi nay lại càng gần hơn. có thể nói nó không thể thiếu trong đời sống của người Việt Nam cả về vật chất lẫn tinh thần.

làm cho mọi người cảm thấy thoải mái và vui vẻ hơn sau một ngày làm việc mệt mỏi với bát cơm thơm. Mỗi khi cầm trên tay đĩa cơm thơm, được nấu bằng những hạt cơm trắng, lòng chúng ta lại xúc động nghĩ về quê hương, về những con người đã đổ mồ hôi, sôi nước mắt để làm nên hạt gạo.

khi được lựa chọn, có lẽ tất cả chúng ta vẫn chọn cây lúa là cây lương thực chính, một biểu tượng của văn minh và văn hóa vẻ đẹp của Việt Nam.

bài viết số 1 lớp 9 đề 2: thuyết minh về một loại cây

chủ đề 2: cây … ở quê em. (Đây là một chủ đề chưa hoàn thiện, để giáo viên và học sinh lựa chọn, bổ sung. Phải chọn đối tượng thuyết minh cụ thể, sát với thực tế của từng địa phương)

câu chuyện bằng tre

Có lẽ đối với mọi người Việt Nam, cây tre đã trở thành một phần của cuộc sống. nhất là đối với mỗi người khi ra đi, hình ảnh lũy tre xanh đã ăn sâu vào tiềm thức nên dù đi đâu về đâu họ vẫn luôn nhớ về lũy tre xanh như nhớ về những kỉ niệm thân thương nhất. và đó là niềm tự hào của họ tre chúng tôi.

Sự gần gũi, thân thiết của họ tre nhà ta được thể hiện qua việc dù đi đâu, đồng bằng hay miền núi, bạn cũng sẽ thấy chúng ta tựa mình trên những lối đi hay trong những cánh rừng. họ tre của chúng ta rất đông, nào là: tre đồng nai, trúc mai, trúc việt nam, trúc lam sơn, rừng trúc bạt ngàn ở điện biên, rồi dang, rồi vọng, và cả những lũy ​​tre thuộc miền thượng của thị trấn. . ..

Không giống như những loài cây khác, ngay từ khi sinh ra chúng ta đã thể hiện sự chính trực, điều này bạn có thể nhận thấy ngay khi thấy cây măng mọc thẳng và ở bất cứ môi trường nào, chúng ta vẫn vươn lên sống mạnh mẽ và xanh tươi. thân mỏng và rỗng bên trong, màu xanh lục, đậm dần về phía gốc. Tôi kiên trì và không dễ gục ngã trước gió mưa. hơn nữa trên người em còn có nhiều gai nhọn như kim giúp em tự vệ, bảo vệ tính mạng trước những bàn tay ác độc dám chém em vô cớ. lá me giòn, xanh non với những đường gân lá song song như những chiếc thuyền nan phấp phới trong gió nhẹ. Rễ tôi là loại rễ chùm, mảnh và cằn cỗi, nhưng chúng bám rất chắc vào mặt đất giúp tôi không bị ngã trước những cơn gió dữ.

vào những ngày cực kỳ nóng và khô. Cả nhà mình đung đưa trong gió, xòe cành trúc che bóng mát cho đàn con yêu quý. Trong thời kỳ mưa bão, chúng tôi xây dựng một pháo đài dày để cố gắng chống gió và ngăn mưa. chính nhờ đặc điểm này mà chúng ta có thể sống ở nhiều vùng khí hậu khác nhau, nơi gần nước hoặc nơi xa nước. Đó là lý do câu này ra đời:

“muôn nơi tre vẫn xanh, dẫu nền vôi bạc màu” …

Trong lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc, chúng ta luôn cùng nhân dân đấu tranh giành độc lập, tự do. tuy nhiên, từ lâu, dân tộc Việt Nam chúng ta đã so sánh với phẩm chất quật khởi của một dân tộc từ ngàn đời nay. Những ngày đầu Việt Nam chúng ta đã giúp nó đánh bại những kẻ xâm lược tàn bạo, đem lại hạnh phúc cho muôn dân. sau đó, trong cuộc chiến chống quân Hán phương nam trên sông Bạch Đằng, chính ta đã đánh chìm tàu ​​giặc khiến chúng sợ hãi thua cuộc. khi đất nước chưa có vũ khí hiện đại như bây giờ thì chúng ta là vũ khí lợi hại nhất để tiêu diệt kẻ thù. và trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, chúng ta cũng tích cực tham gia kháng chiến bằng việc góp một phần sức lực nhỏ bé của mình làm nên những mũi nhọn sẵn sàng tiêu diệt kẻ thù. Vì sự kiên trung trong chiến đấu, tôi đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng bất khuất.

Không chỉ trong công cuộc đánh giặc bảo vệ đất nước, loài tre của chúng ta còn rất hữu ích trong đời sống hàng ngày. Mỗi khi bạn đến thăm một thị trấn, một thị trấn, bạn sẽ thấy những cánh tay của chúng ta dang rộng ra, ôm lấy chúng ta và tỏa bóng mát cho cả thị trấn. trong vòng tay của chúng ta, những ngôi nhà được làm mát, những chú trâu mới có bóng mát gặm cỏ. vào những buổi tối mùa hè, chúng tôi hạnh phúc khi nhìn thấy khuôn mặt của những đứa trẻ đang ngủ ngon trên chiếc võng kẽo kẹt dưới rặng tre. Hơn thế nữa, chúng tôi còn là nguyên liệu để mọi người làm nhà, những ngôi nhà được làm bằng tre rất tươi và sạch.

Dưới bóng của chúng tôi là một nền văn hóa lâu đời được trân trọng và gìn giữ từng ngày. trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta cũng làm ra những vật dụng thân thuộc với mỗi người: đôi đũa, cái chõng tre, cái chõng tre. Đối với mỗi gia đình nông dân, cây tre là một người bạn vô cùng thân thiết. ngoài ra cây tên một trong các họ mẫu giáo còn giúp bà con phân chia buộc nhà, cây nứa giúp kê cột làm giàn để ghép bầu với quýt. Cây tre cũng gắn liền với tuổi già, cho họ cái điếu để hút cho vui.

Đối với trẻ em vùng quê, chơi xếp tre cũng có thể là một trò chơi thú vị và bổ ích. dưới những cánh đồng rộng thênh thang che hết nắng hè, các bạn tha hồ vui chơi thỏa thích. Con gái chơi bóng chuyền bằng gậy tre còn gì vui hơn? trong khi lũ trẻ vừa chạy vừa hò reo theo tiếng sáo thổi trên cánh diều làm bằng tre. những cánh diều đó sẽ mang ước mơ của bạn đến những nơi xa xôi.

Cây tre của chúng ta còn tạo nên những bản nhạc du dương với sáo trúc, sáo trúc, xoa dịu nỗi vất vả của những người nông dân chân lấm tay bùn.

Ngày nay, loài tre của chúng ta còn vươn xa hơn nữa. có một vị giáo sư là người Việt Nam ở nước ngoài sống ở Pháp đã đưa anh chị em chúng tôi về trồng thử trên đất Pháp. Tuy nhiên, ở nơi đất khách quê người, chúng tôi vẫn vững vàng sống. Trong tương lai, dù đất nước ta có hiện đại hơn, loài tre chúng ta vẫn sẽ ngay thẳng, trung thành, dũng cảm tôn vinh đức tính của những bậc hiền nhân – đức tính Việt Nam.

tường thuật về cây dừa

Dừa là loại cây dễ trồng ở nước ta. Xu hướng sử dụng đồ mỹ nghệ từ đuông dừa ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới. các sản phẩm từ dừa có tiềm năng xuất khẩu lớn, mang lại nhiều ngoại tệ cho đất nước.

Dừa được trồng rải rác khắp các vùng quê Nam Bộ, đặc biệt là ở Bến Tre, tỉnh Bình Định. Tiềm năng sản xuất và xuất khẩu cây dừa là rất lớn, công nghệ chế biến đã được hình thành: tẩm chất chống mối mọt, tạo mẫu, đánh bóng, phủ nilon chống thấm trên bề mặt sản phẩm.

xu hướng sử dụng hàng thủ công từ cọ dừa: túi, đĩa, cốc, lọ, ly, tăm, khay, hộp. ở các nước phương Tây ngày càng phổ biến.

Nhiều thứ có thể được làm từ dừa: thân dừa, gọt lá, đan túi, làm chổi; gáo dừa làm than hoạt tính, làm chén, đĩa, tô, thân dừa già làm đũa, làm cột nhà, gáo dừa làm dây thừng an toàn. vào mùa khô, nước dừa là một món ăn vặt sạch và bổ dưỡng tuyệt vời. Cùi dừa già được dùng làm nguyên liệu để chế biến các món ăn, thức uống, nấu với dầu dừa, làm xà phòng. nước ta chế biến được nhiều sản phẩm như: bánh dừa, kẹo dừa, mứt dừa và nhiều món ăn dân tộc truyền thống làm từ dừa: bánh tét, chuối nếp nướng.

Đặc biệt, nước dừa được sản xuất thành sản phẩm thông qua quy trình công nghệ sinh học. Nước dừa cung cấp cho nấm men Saccharomyces để sản xuất một loại protein đơn bào, là nguồn bổ sung protein thực vật cho con người. dấm hoặc các sản phẩm nước giải khát từ nước dừa lên men, chẳng hạn như đồ uống đóng chai, nước dừa có ga. nước dừa còn được chế biến thành rượu với hương vị đặc trưng. nước cốt dừa tạo ra nước cốt dừa đóng hộp, sản phẩm được chiết xuất từ ​​dừa nạo được chế biến thành sữa đặc có đường. gần đây, các nhà khoa học còn sử dụng vi khuẩn để tạo thạch dừa.

Thạch dừa là một đặc sản dai và giòn, góp phần cải thiện chất xơ giúp cơ thể bài tiết, kích thích tiêu hóa và gây cảm giác sảng khoái.

<3, giỏ, lọ và nhiều loại: chén, cốc, đĩa, khay trà và các đồ trang trí nội thất khác như: voi, ngựa, gà và tranh treo tường.

<3 ngăn đựng trái cây, bàn ghế nhỏ, đến dụng cụ văn phòng: hộp đựng viết, khay giấy, hộp đựng card visit, giá sách, giá để đĩa CD nhạc. Mỗi tháng, cơ sở trường ngan sản xuất ít nhất 30 sản phẩm từ cây dừa già, mang về cho khách hàng nước ngoài rất nhiều tiền.

tường thuật về cây bàng

dù đi ngược xuôi, từ nam chí bắc, tôi chưa từng thấy cây nào có kinh và to như cây bàng đầu ngõ của mình. thân hình to lớn, phải hai ba vòng tay người lớn mới ôm được. và tán của nó rộng, bao phủ cả một khoảng hiên rộng với diện tích hàng trăm mét vuông. khi chú tôi còn sống có nói: cây bàng to dễ thương này đã sống cả trăm năm, đáng gọi là cây bàng cổ thụ.

thời thơ ấu của tôi gắn liền với cây sồi già. Tôi nhớ những lần tôi trốn nắng, che mưa trong những tán cây bao la che chở, những lần tôi thưởng thức hương vị ngọt ngào hấp dẫn của trái bàng chín, những lần tôi nhấm nháp hương vị bùi bùi khó tả của hạt nhục đậu khấu và tôi nhớ tất cả. những lần chúng đi bắt ve, những lần chơi trốn tìm quanh cây bàng. tất cả đều cho tôi ý tưởng về một ý tưởng độc đáo về những đứa trẻ đường phố của tôi.

Tôi thích tiết trời se lạnh của tháng 2 âm lịch hơn, theo cách phân chia mùa đông của ông cha ta: tháng Giêng lạnh, tháng Hai lạnh, tháng Ba lạnh. khoảnh khắc ấy, những chồi non chớm nở như rủ nhau, rủ nhau mọc, rủ nhau mọc để che cành đầu hè. Lá cây (giống như một số cây khác thuộc họ xoan) có thể nói là biểu hiện rõ ràng nhất của sự chuyển mùa, nếu chịu khó quan sát sự sinh trưởng, héo úa và chuyển màu của lá. có lẽ vì vậy mà từ bao đời nay, trẻ em thường cất vài câu thơ trong ca từ của một số bài hát: mùa đông lá đỏ, mùa hạ xanh lá … như một điệp khúc chào đón mùa hè (khi đó tôi không biết rằng điều này là phần mở đầu của lời một bài hát của nhạc sĩ Hoàng Văn viết cho thiếu nhi những năm 60 – 70 của thế kỷ trước). có một nhà thơ khi nhìn mùa đông, nhìn màu đỏ của lá bàng đã viết một bài thơ thật xúc động: vẫn gió bắc ghét / trời vẫn mưa bụi mịt mờ / vẫn lá bàng quăn cháy / đỏ rực như khi còn. tạm biệt thiên đường / Em không còn biết yêu anh nữa / khi mùa đông đến gần….

nhưng cho đến nay, cây sồi già đó đã biến mất. bởi vì họ đã lấy trái đất để sống, họ đã phá hủy nó. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, anh lại đứng trên mảnh đất từng gắn bó với cây bàng cổ thụ mà lòng không khỏi ngậm ngùi, tiếc nuối. Chợt thấy lòng mình trống trải, nhớ nhung …

bây giờ mỗi khi nhìn thấy những chiếc lá bàng đỏ sau khi hoàn thành công việc của mình, để trở lại như ban đầu, trong thời khắc chuyển mùa, tôi vẫn nhớ cây bàng năm xưa. vâng, vì nó là một phần không thể thiếu trong tuổi thơ và những khoảnh khắc đáng nhớ của chúng ta.

XEM THÊM:  Bài văn viết về mái trường thân yêu

câu chuyện về chuối

Nói đến Việt Nam không thể không nhắc đến hình ảnh trái chuối. Chuối là một loại cây rất quen thuộc và gần gũi trong đời sống của con người. nhìn từ đâu ta cũng có thể bắt gặp hình ảnh lá chuối xanh mướt. Cây chuối có vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người.

Chuối thuộc họ thực vật, là một loại cây ăn quả đã được thuần hóa từ lâu đời. Chuối có nguồn gốc từ Đông Nam Á. Cho đến nay, ước tính có khoảng 300 giống chuối được trồng và sử dụng trên khắp thế giới. Cây chuối ở Việt Nam có nguồn gốc từ giống chuối dại. Cây chuối được trồng nhiều ở nông thôn và rất ưa nước nên người ta thường trồng bên cạnh ao, rừng, ven suối, hoặc các thung lũng. Chuối được phân thành nhiều loại. về cơ bản có chuối cho quả, chuối cho lá. Ở Việt Nam có một số loại chuối phổ biến như chuối tiêu, chuối tây, chuối ngự, chuối ngự, chuối sứ, chuối bom, chuối quạ, v.v. một số loại chuối nhập khẩu từ nước ngoài như chuối Laba (Pháp), chuối Dacca (Trung Mỹ)…

Chuối là một cây dưới đất. phần thân chính nằm trên mặt đất gọi là củ chuối. phần trên chỉ đơn giản là giả hành thẳng đứng, tròn trịa, cấu tạo từ nhiều lớp bẹ xếp khít nhau, bên trong hơi xốp, bề mặt nhẵn bóng. lá chuối mọc trong thùng lớn, lớn. lúc đầu lá chuối còn xanh, sau đó lá dần ra có màu xanh đậm hơn. Khi chúng già đi, lá dần chuyển sang màu vàng đất và rụng đi để nhường chỗ cho sự tươi mới. khi cây chuối trưởng thành bắt đầu ra hoa. mỗi cây chuối một buồng, mỗi buồng gồm nhiều nải, mỗi nải có nhiều quả. chuối cam mọc từ thân hoa. Giữa những tán lá xanh tươi, những bông hoa chuối như những đốm lửa hồng soi cả vòm lá xanh mướt. nhiều hoa chuối có thể lên đến gần 20 nghìn chiếc. hoa xếp thành hai dãy xoắn lại tạo thành chùm chuối. sau đó vỏ rụng dần khi xuất hiện những quả chuối nhỏ. chuối khi còn xanh có màu xanh đậm và khi chín có màu vàng.

Trong đời sống của người Việt Nam, chuối là loại cây có ích từ thân, lá đến hoa và quả. chuối cung cấp lượng đường cần thiết cho cơ thể hoạt động. chuối rất dễ tiêu, sáng da, tốt cho da, giúp da luôn tươi sáng, mịn màng. thân chuối có thể dùng làm thức ăn cho trâu, bò, lợn rất tốt. Thân và củ ấu có thể thái nhỏ ăn với ốc, lươn để khử vị tanh giúp món ăn ngon và đa dạng hơn. lá chuối có thể dùng để gói bánh, gói xôi,… lá chuối khô có thể dùng làm chất đốt. người ta có thể dùng hoa chuối đã nở hết để làm nộm hoặc luộc. chuối là loại quả để thắp hương trong các dịp lễ, tết. Vào ngày rằm hay mùng một, người ta dùng chuối chín. Chuối là loại quả cần thiết trong mâm ngũ quả ngày Tết.

Cây trồng khá dễ sống, ưa đất phù sa, đất ven sông. Quá trình sinh trưởng của cây chuối không kéo dài khoảng một năm. Mỗi cây chuối chỉ ra hoa một lần, sau khi thu hoạch, người dân chặt bỏ gốc đào để cây con phát triển. một chuối mẹ có thể sinh nhiều chuối con và sau đó là nhiều chuối con, phát triển rất nhanh. Do dễ trồng lại và ra quả nhanh nên nông dân ưa chuộng chuối. Nếu chuối không may có sâu, bạn có thể ngắt lá và bắt sâu. nếu chuối ra buồng cần chống đổ cho cây. Vào thời điểm thu hoạch cần cẩn thận để tránh bị ngã đổ.

Ngoài những loại cây lân cận như trầu bà, cau, dừa … thì cây chuối cũng là biểu tượng của làng quê bình dị, thanh bình. Cây chuối đã có từ hàng nghìn năm trước. cung cấp tất cả những gì đẹp nhất của nó cho mọi người. Chuối là vẻ đẹp thanh bình của thiên nhiên, của quê hương, vùng quê Việt Nam.

tường thuật về cây vải

Nếu đặc trưng của mùa xuân là mưa phùn se lạnh, hoa đào, mai nở rộ thì đặc trưng của mùa hè là hương thơm ngào ngạt của trái cây. đó là hoa phượng đỏ rực cả một góc trời, bằng lăng tím biếc áo trắng, là vị ngọt của dưa hấu hay vị ngọt của khoai lang. Mùa hè đến cũng là mùa vải thiều: Vải thiều chín từ cái nắng gay gắt của khí hậu nhiệt đới đã trở thành đặc sản không thể thiếu của vùng đất Việt Nam.

Vải thiều là một loại cây thân gỗ, thuộc họ xà cừ, có nguồn gốc từ miền nam Trung Quốc. Được nhập khẩu vào Việt Nam, vải thiều được trồng rộng rãi ở huyện thanh hà, tỉnh hải dương hoặc huyện lục ngạn tỉnh bắc giang. Trung bình một cây vải cao từ 5 đến 10 mét. Lớp vải xanh mướt, phủ kín gốc cây. Lá vải hình lông chim, hai phiến lá hơi gấp so với gân chính, mọc so le trên từng cành. hoa vải có màu trắng lục nhạt, mọc thành từng chùm và nổi bật giữa muôn vàn tán lá. dưới cái nắng hè gay gắt và chói chang, từng bó hoa dần trở thành một bó hoa kết trái. Quả non của vải thiều có màu xanh, vỏ sần sùi. vải thiều khi chín chuyển dần sang màu đỏ sẫm và da cũng mềm hơn. Hạt vải có màu đen tuyền, phủ một lớp cùi trắng mềm, mọng nước. vải thiều chín có vị ngọt rất riêng

cho những trái vải tươi ngọt, hấp dẫn từ người già đến trẻ em. sau mỗi bữa ăn, vải thiều được dùng làm món tráng miệng. Vào những ngày hè nóng nực, vải thiều se lạnh như một món ăn giải cơn khát. bằng cách tách hạt, chúng cũng có thể được kết hợp với hạt sen để làm trà. ở một số nơi, vải thiều còn được coi là một loại cây cảnh góp phần tạo nên màu xanh cho ngôi nhà. tuy nhiên, đặc tính vải thiều vốn có vị hăng, khi ăn với số lượng nhiều có thể gây nhọt da hoặc loét miệng. do đó, khi ăn vải thiều, bạn nên ăn vừa đủ để thưởng thức hết hương vị đặc trưng của quả vải.

Vải chín vào đầu mùa hè, vì vậy vụ thu hoạch vải thiều thường bắt đầu vào mùa xuân. giữa tháng Giêng và tháng Hai, một vụ thu hoạch mới đã được chuẩn bị. giữa tháng 3, vải thiều đã bắt đầu trổ bông và dần kết trái. Vải thường được thu hoạch vào cuối tháng 8 hoặc tháng 9, khi vải đã chín hoàn toàn và có vị ngọt như sắt.

Giống như các loại cây khác, vải thiều cũng cần được chăm sóc riêng. khi trồng cần đào một hố nhỏ, sâu khoảng 20 cm, đặt cây con vào giữa hố rồi lấp đất lại. điều quan trọng nhất là phải dùng tay để lấp đất và lấp đất tốt. sau đó rào kỹ để các tác nhân bên ngoài không ảnh hưởng đến cây. thời kỳ cây sinh trưởng cần chú ý tưới tiêu, bón phân, phun thuốc đúng thời điểm và liều lượng.

Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển, vải nhanh chóng trở thành một trong những mặt hàng nông sản có thương hiệu, được bày bán rộng rãi trên khắp cả nước. Quả vải thiều, đặc biệt là giống vải thiều nổi tiếng Thanh Hà, có giá trị kinh tế lớn, giúp một số hộ thoát nghèo, mang lại lợi nhuận và danh tiếng cho vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng, cho ngành nông sản Việt Nam nói chung. Ngoài ra, với sự cải tiến của khoa học kỹ thuật, giống vải thiều trưởng thành, hạt nhỏ, cùi dày, phòng trừ sâu bệnh tốt đã thu hút được nhiều khách hàng quốc tế, đưa vải thiều Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc, Pháp và các nước Đông Nam Á.

Không tồi khi nói: vải thiều là loại trái cây đặc trưng trong bữa tiệc mùa hè thơm ngọt. Cây vải thiều đã trở thành loài cây gần gũi, thân thuộc, gắn bó với đất nước Việt Nam nắng chói chang, là món quà mà mỗi người con xa xứ trở về đều làm quà. hy vọng trong thời đại khoa học công nghệ ngày càng phát triển, bà con sẽ cho ra đời nhiều giống vải thiều ngon, ngọt, hấp dẫn, để vải thiều đến gần hơn với mọi người, mọi nhà và có thương hiệu. thương hiệu vải Việt Nam sẽ lan rộng trên toàn thế giới.

tường thuật về cây xoài

trái cây rất tốt cho sức khỏe của chúng ta. Trên đất nước Việt Nam xinh đẹp này, có vô số loại trái cây tốt tươi: mận, lê, táo, dưa hấu. loại quả nào cũng tốt cho con người và loại cây ăn quả đó đã quen thuộc với chúng ta từ lâu và đặc biệt có một loại cây ăn quả là cây xoài.

Xoài là một loại cây ăn quả nhiệt đới, nguồn gốc chính xác của cây này vẫn chưa được biết rõ nhưng có tài liệu cho rằng nó là cây có nguồn gốc ở miền đông Ấn Độ và các vùng lân cận như myanmar, việt nam, malaysia. Cây xoài có bộ rễ ăn sâu, chắc, thường tập trung ở dưới đất cách gốc chừng hai mét, thích nghi với đất cát ẩm. Cây xoài là loại cây thân gỗ to, khỏe, cao, màu nâu sẫm. lá đơn, nguyên, mọc xen kẽ, phiến lá xoài hình thuôn dài, có mùi thơm, màu xanh tươi tốt. xoài ra hoa rất tốt, hoa kết thành chùm kép ở đầu cành, chùm hoa dài khoảng 30 cm, trên cành có 200-400 bông xen kẽ với xoài xanh. mỗi chùm thường có 2 loại hoa: hoa lưỡng tính và hoa đực. những bông xoài vàng li ti với những búp xanh. mỗi hoa có năm lá đài nhỏ, mặt ngoài có lông. Có lẽ bộ phận đáng chú ý nhất của cây xoài là quả xoài. Xoài có ba lớp, lớp vỏ mỏng bên ngoài có thể gọt hoặc ăn không cần thiết vì phần này vẫn ăn được, phần thịt bên trong dày, bên trong có hạt hình bầu dục màu trắng. khi còn xanh, trên cây xoài có màu xanh, khi ăn có vị chua, chua nhiều hay ít tùy theo độ chín của xoài. nhưng khi xoài chín, vỏ ngoài của xoài đã chuyển từ màu xanh sang màu vàng tươi nổi bật, khi ăn không còn vị chua mà ngọt và tươi. xoài một năm có thể ra quả từ ba đến bốn lần tùy theo giống, tuổi cây, khí hậu và tình hình dinh dưỡng cũng như cách chăm sóc, tưới tiêu của bà con. Xoài có nhiều loại: xoài cát chu, xoài cát hòa lộc, xoài tứ quý, xoài tứ quý, xoài thanh ca, xoài tím (xoài da tím), …

cây xoài trong cuộc sống của con người đã trở nên gần gũi và không thể thiếu. xoài xanh có thể làm xoài ngâm chua, một món trái cây ngon. ăn xoài xanh còn có tác dụng chữa viêm họng và hơn hết đây là loại quả mà bà bầu những tháng đầu thai kỳ rất ưa thích khi thèm chua. còn xoài chín thì được dùng nhiều hơn, có tác dụng bổ não, ích trí cho người làm việc trí óc, suy nhược thần kinh, giúp tăng sức đề kháng, kháng viêm, phòng chống ung thư, tiêu mỡ, cải thiện hệ tiêu hóa, tiêu hóa, giúp hạ huyết. cholesterol, hạ huyết áp, ngăn ngừa bệnh tim mạch vành nên các chị em thường chọn xoài chín cho gia đình mỗi khi đi chợ. mùa hè mà xoài chín mọng để làm sinh tố thì không còn gì ngon bằng, vừa mát vừa bổ. Chúng ta vẫn thường thấy quả xoài xuất hiện trên mâm ngũ quả ngày Tết như một biểu tượng của sự no đủ, đủ đầy. Ngoài ra, vỏ xoài có thể dùng để chữa ho, viêm họng, đau răng, tẩy giun, sát trùng, lá xoài có thể dùng để chữa viêm da, viêm họng.

Tuy là một loại trái cây tốt nhưng dùng quá nhiều xoài cũng có những hạn chế nhất định như tiêu chảy, nhọt, sưng mủ. Cần lưu ý không nên ăn xoài, nhất là xoài xanh khi đói, dễ bị cồn ruột, người bị sốt, thương tích không nên ăn xoài chín sẽ mang lại hậu quả đáng tiếc.

Cây xoài đã trở thành một loại cây rất quen thuộc với chúng ta, mang lại cho con người nhiều lợi ích đáng kể. Ở nước ta không chỉ có cây xoài mà nhiều loại cây khác cũng rất quý, biết được điều này chúng ta càng tự hào về cảnh đẹp núi non của mình.

bài viết số 1 lớp 9 chủ đề 3: thuyết minh về một con vật nuôi

chủ đề 3: giải thích về động vật hoặc vật nuôi ở quê hương của bạn

tường thuật về con chó

Con chó là một loài động vật rất hữu ích đối với con người. anh ấy trung thành, dễ gần và là một người bạn của người đàn ông. có lẽ vì vậy mà người ta gọi nó là “linh cẩu”. có nhiều loại chó và do đó người ta đặt tên cho chúng. nó được cho là một trong những loài động vật được thuần hóa đầu tiên. con chó trung bình nặng từ một đến tám mươi kg.

chó là loài động vật thuần hóa đầu tiên được con người thuần hóa cách đây 12.000 năm trong thời kỳ đồ đá. Tổ tiên của loài chó bao gồm cáo và sói (một loài động vật có vú giống chồn sống trong hốc cây cách đây khoảng 400 triệu năm). và con chó, như chúng ta thấy ngày nay, được phát triển từ một con chó nhỏ, màu xám.

lúc mới sinh chó con chưa có răng nhưng sau 4 tuần tuổi có thể có 28 chiếc răng. bộ hàm hoàn chỉnh của con vật này là 42 cái. Mắt của chó có tới 3 mí: một mí trên, một mí dưới và một mí thứ 3 nằm ở giữa, hơi hướng vào trong, giúp bảo vệ mắt khỏi bụi bẩn. tai của chúng cực kỳ nhạy cảm, chúng có thể thu nhận 35.000 rung động chỉ trong một giây. khứu giác của anh ấy cũng rất tuyệt vời. con người có thể ngửi thấy mùi thức ăn ở đâu đó trong nhà bếp, nhưng chó có thể phân biệt mọi loại gia vị trong nồi, thậm chí chó săn có thể tìm thấy nấm sâu trong rừng, vì chúng có thể phân biệt gần 220 triệu mùi.

Chó phân biệt các vật thể trước tiên bằng chuyển động, sau đó là ánh sáng và cuối cùng là hình dạng. vì vậy tầm nhìn của chúng rất kém, vào mùa đông lạnh giá chúng ta có thể nhìn thấy, đôi khi chó hay bịt đuôi che mũi ướt do đó giữ ấm. Những chú chó có tới 2 lớp lông: lớp ngoài như chúng ta đã thấy và lớp lót bên trong giúp giữ ấm và khô ráo vào những ngày mưa, thậm chí còn có nhiệm vụ “hạ nhiệt” trong những ngày nắng nóng. .

Con chó là động vật bốn chân, mỗi chân đều có móng vuốt sắc nhọn nhưng khi đi lại bị cong. chó có bộ não rất phát triển, hàm cứng. Đặc biệt, tai và mắt của chó rất nhạy cảm và nhạy cảm vào ban đêm. chó vẫy đuôi để thể hiện tình cảm. chó là loài động vật có cơ quan tiêu hóa rất tốt.

chó có đặc điểm là chạy rất nhanh bằng bốn chân, tăng tốc khoảng bảy mươi hoặc tám mươi km một giờ. Ngoài ra, chó cũng đánh hơi rất giỏi. Hiện nay, chó hoang vẫn tồn tại, nhưng chó thuần hóa, chẳng hạn như chó nhà và chó nhà, phổ biến hơn.

Những con chó được thuần hóa có nhiệm vụ chăm sóc và duy trì ngôi nhà và thường nặng từ mười lăm đến hai mươi kg, tuổi thọ trung bình từ mười sáu đến mười tám năm. loại chó chuyên bắt tội phạm được gọi là chó gián điệp, thường rất to, cao, tai vểnh, nhanh nhẹn, linh hoạt và thông minh. chúng được nuôi dạy tốt. một số loại chó khác như chó săn thường rất thông minh. Chó cứu hộ được sử dụng để cứu nước ở các bến cảng, sân bay, nơi xảy ra sự cố.

Ở một số nước trên thế giới, chó còn được chuyên dùng để kéo ô tô. nhưng chẳng những không ích gì, lại còn rất dễ mắc bệnh là “bệnh dại”. bình thường lần đầu bị chó rất bình thường, ít người phát hiện ra để đề phòng. khi bị chó dại cắn mới thấy nguy hiểm đến tính mạng con người. do đó, cần tiêm phòng cho chó thường xuyên và định kỳ để phòng bệnh cho chó.

chó là loài động vật rất hữu ích trong mọi lĩnh vực. Chó còn là bạn với con người do sự thông minh, lanh lợi, trung thành và có nhiều tác dụng. Chó được coi là loài động vật rất quan trọng và giúp đỡ con người một cách hiệu quả.

chú chó luôn ở bên cạnh chúng ta dù giàu có cũng như lúc nghèo khó, lúc khỏe mạnh và lúc ốm đau. ngủ yên trên nền đất lạnh giá, dù là mùa đông lạnh giá hay bão tuyết, miễn là được ở gần chủ nhân của nó.

tường thuật về con thỏ

Với thị hiếu và nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của con người ngày nay, nhiều loại động vật hoang dã được đưa vào nuôi nhốt và khai thác. Không ngoại lệ, thỏ đã được con người sử dụng để phục vụ cuộc sống do những đặc điểm chung và hữu ích của chúng.

Thỏ là loài động vật có vú phổ biến, dù được nuôi nhốt, nuôi nhốt hay sống tự do trong rừng. thỏ có bộ lông mao dày, thích hợp sống ở những vùng khí hậu ôn hòa. Con người lần đầu tiên biết đến thỏ ở Châu Âu vào khoảng năm 1000 trước Công nguyên. Thỏ được phân thành bảy loại, điển hình là thỏ châu Âu, mèo mỏ vịt, mèo rừng, … Thỏ có tuổi thọ từ 4 đến 10 năm, thời gian mang thai là 31 ngày. thỏ nhà thường yếu hơn thỏ rừng, được thuần hóa và nhốt trong lồng lớn để tránh bị săn đuổi bởi những kẻ săn mồi.

Về cấu tạo, thỏ là động vật có bốn chi, chạy nhanh, có bộ lông dày, mềm, ấm, thường có màu trắng, đen hoặc nâu vàng. hai tai thỏ dài, bắt tín hiệu rất tốt. Khi săn mồi, thỏ thường dỏng tai lên để lắng nghe tiếng động. khi nghỉ ngơi, tai thỏ gập dọc theo thân. mắt thỏ thường có màu đỏ, đen hoặc nâu, nhìn rõ trong điều kiện ánh sáng bình thường, có tuyến lệ hoạt động mạnh, thích hợp sống trên cạn. Mũi của thỏ nhỏ và có khả năng ngửi. răng nhọn với hai răng cửa là răng chính, nhọn, và dài do thói quen gặm nhấm. thỏ thường có tập tính đào hang làm tổ để đẻ và sinh sống.

Thỏ là động vật ăn cỏ. Nhu cầu dinh dưỡng của thỏ bao gồm nước sạch và các loại thực vật như bắp cải, bông cải xanh, và các loại trái cây xanh khác Trái với suy nghĩ của nhiều người, thỏ thường không ăn cà rốt vì cà rốt có quá nhiều đường và quá dai. họ thường dùng cà rốt như một công cụ để mài răng cửa. thỏ là loài ưa lạnh, chúng sống ở nhiệt độ mát mẻ, 10-25 độ là nhiệt độ thích hợp nhất để thỏ sinh trưởng và sinh sống.

Thỏ đóng một vai trò quan trọng trong cả công nghiệp chế biến và công nghiệp thời trang và dược phẩm. thỏ bị săn bắt hoặc nuôi để lấy thịt. Lông thỏ được sử dụng để làm quần áo hoặc phụ kiện như mũ và khăn quàng cổ. lông thỏ được đính trên trang phục để tăng vẻ sang trọng cho người mặc. chất thải của thỏ cũng là một loại phân bón tốt cho cây trồng. sữa thỏ được dùng làm thuốc hoặc chế biến thành các món ăn bổ dưỡng. thịt thỏ dùng làm thức ăn hoặc ngâm rượu. các món ăn chế biến từ thịt thỏ rất hấp dẫn và bổ dưỡng, có giá trị kinh tế cao. Hơn nữa, trong y học, thỏ được dùng làm vật thí nghiệm cho vắc xin hoặc mẫu mỹ phẩm. tuy nhiên, hành động thử nghiệm động vật này đang bị lên án là quá vô nhân đạo và gây bất lợi cho số lượng thỏ sinh sản tự nhiên trong môi trường.

Về giá trị tinh thần, thỏ là loài động vật đẹp, có bộ lông mềm mại, đó là lý do chúng thường được nuôi làm thú cưng trong các vườn thú hoặc nuôi trong gia đình. Trong văn hóa Trung Quốc, thỏ là một trong mười hai con vật thuộc cung hoàng đạo tượng trưng cho mười hai tuổi. thỏ tượng trưng cho sự nữ tính, mềm mại và dịu dàng nên thường được các bé gái đặt những hình ảnh cách điệu để làm quà tặng hoặc trang trí. tuy nhiên, thỏ là loài gây bệnh cũng như phá hoại mùa màng do tập tính gặm nhấm. Ở Úc, người ta bẫy và giết thỏ để tránh ảnh hưởng xấu đến môi trường

Con thỏ vẫn là một loài động vật quen thuộc bị khai thác để phục vụ nhu cầu của con người. nuôi nhốt, kiểm soát số lượng thỏ là cách tốt nhất để duy trì sự sống của loài vật này, đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực của thỏ đến môi trường tự nhiên.

tường thuật về con mèo

mỗi ngày trôi qua, cuộc sống sẽ thật buồn tẻ biết bao nếu chúng ta không có những người bạn động vật nhỏ bé bên cạnh. Tôi yêu mèo và luôn tìm hiểu về chúng. mèo đã là vật nuôi trong gia đình từ thời xa xưa.

Con mèo là một loài động vật có vú bốn chân. được bao phủ bởi lớp lông dày và mềm mượt. mèo nhà là hậu duệ của mèo hoang. Những con mèo đầu tiên được nuôi ở Châu Phi, sau đó chúng được nhân giống ở Châu Âu và các nước khác. Trong thời đại phát triển ngày nay, người ta đã lai tạo ra nhiều giống mèo mới, chẳng hạn như mèo tam thể. mèo lông xù, mèo mướp, mèo mun, … trên mặt mèo có bộ ria mép, là trợ thủ đắc lực của mèo.

Khi đuổi chuột, chuột chạy vào hang, mèo muốn đuổi thì ria mép không được chạm vào miệng hang, còn ria mép chạm vào thì mèo cũng không đuổi được, vì độ dài của ria mép giống hệt nhau. với chiều rộng ước tính. Đặc biệt, tai mèo rất nhạy và mắt mèo rất tinh. tai mèo có thể nghe thấy mọi chuyển động của chuột, dù là nhỏ nhất. mắt mèo có cấu tạo đặc biệt, nó có thể giãn ra, ban ngày mắt mèo co lại, ban đêm mắt mèo giãn ra và có thể nhìn được trong bóng tối. điều đó giải thích tại sao mèo thường săn chuột vào ban đêm.

mèo rất sợ lạnh, vì vậy chúng thích ngủ ở những nơi ấm áp, chúng thích cuộn tròn và vuốt ve bộ lông của chúng. do đó, vào mùa đông, mèo thường ngủ bên bếp, giấu mình dưới chăn ấm. Vào những ngày nắng, mèo thường nhảy lên mái bếp hoặc nằm ngoài hiên để sưởi nắng. lông mèo rất đặc biệt, khi sáng lên sẽ tổng hợp thành vitamin d, mèo lấy vitamin bằng cách liếm lông, chúng ta thường lầm tưởng là mèo tự vệ sinh. Dưới chân mèo là lớp đệm thịt dày, dù có nhảy lên nhảy xuống cũng không phát ra tiếng động. thức ăn chính của mèo là chuột, ngoài ra mèo còn ăn cơm, cá và rau. Móng mèo có móng vuốt đàn hồi, bình thường móng rút lại, khi phòng thủ hoặc vồ mồi, móng vuốt dài ra.

truyện trâu

Nếu đã từng đi qua các vùng quê Việt Nam, bạn không thể không bắt gặp những chú trâu cần mẫn cày ruộng hay thong thả gặm cỏ. Con trâu là người bạn thân thiết của con người và đã gắn bó với nhau từ hàng nghìn năm nay. và được coi là biểu tượng của người nông dân Việt Nam.

trâu đến từ trâu rừng. lông trâu thường xám đen, thân hình vạm vỡ. có cặp sừng nhọn, uốn cong như lưỡi liềm. Chúng được con người sử dụng làm đồ trang sức. Trâu là một loài động vật thuộc lớp thú. trâu được nuôi chủ yếu để cày. trung bình một con trâu đực cày được 3 đến 4 sào và một con trâu cái có thể cày được 2 đến 3 sào.

Vào thời kỳ trước, trâu còn được dùng để kéo xe, chở hàng và có thể kéo những vật có khối lượng từ 400 đến 500 kg. con trâu cũng có thể kéo củi và hàng hóa. trâu cung cấp cho chúng ta một lượng lớn thức ăn và sản lượng sữa. việc bán thịt trâu cũng tạo ra thu nhập đáng kể. Người ta thường trồng xen kẽ với các loại cây ăn quả, phân trâu hoai mục là loại phân bón tốt nhất cho cây. trâu là tài sản nên mọi người chăm sóc cẩn thận.

Hình ảnh con trâu thản nhiên gặm cỏ non xanh và trên bầu trời có những cánh diều bay cao đã khắc sâu vào tâm trí người Việt Nam. Chăn thả diều là một trong những trò chơi của trẻ em ở nông thôn, một thú tiêu khiển thú vị. Trên lưng trâu có nhiều trò chơi như đọc sách, thổi sáo … những đứa trẻ ấy lớn lên, mỗi người một vẻ, nhưng chúng sẽ không bao giờ quên được những ngày thơ ấu.

Ngoài ra, trẻ trâu gắn liền với các lễ hội truyền thống như chọi trâu. hội chọi trâu hải phòng nổi tiếng nhất việt nam. Hải Phòng là vùng đất có truyền thống văn hóa với nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh đặc trưng miền biển. Trong số các di sản văn hóa đó, nổi bật là lễ hội chọi trâu, một lễ hội đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Lễ hội nói chung là một hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, nghệ thuật truyền thống phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng trong quá khứ. Lễ hội chọi trâu đã được khôi phục hơn 10 năm và được nhà nước xác định là một trong 15 lễ hội cấp quốc gia, bởi lễ hội này không chỉ có giá trị văn hóa tín ngưỡng, văn hóa đặc sắc mà còn là một điểm du lịch quan trọng. du lịch hấp dẫn có sức hấp dẫn đối với tất cả mọi người. Trong dân gian vẫn có câu thành ngữ “cả làng cùng đánh, cả làng cùng thờ” để cho rằng hội chọi trâu ra đời cùng với việc trở thành vua của làng.

XEM THÊM:  Văn 8 bài dấu ngoặc đơn và dấu hai chấm

tìm hiểu về nguồn gốc đó để thấy rằng lễ hội chọi trâu có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống của người dân sơn hà từ xưa đến nay. Ngoài nhu cầu vui chơi, học hỏi, thông qua lễ hội, người dân ghi nhớ công ơn của các vị thần, giữ vững kỷ cương của nhân dân, cầu mong “nhân dân an khang thịnh vượng”.

người dân vùng biển đã dồn hết tinh thần và ý chí vào những cuộc “đấu khẩu” giữa các “chú trâu”. Việc mỗi “trâu” thắng thua trên sân như thế nào sẽ thể hiện được tài năng của chủ trâu và của xóm, xã. vì vậy, việc “đấu trí” giữa các ông trâu đã trở thành nghệ thuật, mang tính biểu tượng sinh động, thể hiện bản sắc văn hóa. Như vậy, chọi trâu nói lên tính cách của người dân vùng biển, được hình thành từ lâu đời với nội dung phong phú bao hàm nhiều yếu tố văn hóa dân gian, là sự kết tinh lành mạnh của cả một vùng văn hóa miền biển mà các dân tộc xưa. vùng chưa bao giờ họ có thấy trước bức tranh là trung tâm. Đây là lễ hội độc đáo của đồng bào Đô Sơn, gắn với tín ngưỡng thờ thủy thần với nghi lễ chọi trâu hiến sinh, có sự giao thoa giữa yếu tố văn hóa nông nghiệp đồng bằng và văn hóa cư dân miền biển. / p>

Con trâu đã gắn bó với những người nông dân Việt Nam. nó không chỉ mang lại cho người dân Việt Nam về vật chất mà cả tinh thần. con trâu còn gắn liền với những lễ hội đặc trưng của người Việt Nam. Nó đã là biểu tượng của con người Việt Nam và đất nước Việt Nam.

tường thuật về chiếc lều

Việt Nam có nhiều loại cá, nào là cá chuối, cá rô, cá rô, cá trôi … đừng quên cá chép. Đây là loài cá có nhiều chất dinh dưỡng và là một món ăn ngon đối với người dân nước ta. Một lần thưởng thức cá chép chắc chắn bạn sẽ không thể nào quên được hương vị của nó. Vậy, nó có những tính năng gì khiến nó trở nên phổ biến đối với người dân của chúng ta?

ngay từ đầu về vị trí và nguồn gốc của nó. Cá chép là loài cá nước ngọt, thường sống ở sông, hồ, hoặc sinh sản ở đầm, ao … Cá chép có mặt ở nhiều nơi trên thế giới. người phương đông coi cá chép là loài cá quý… vì là loài cá nước ngọt, rất gần gũi với đời sống của nhân dân ta nên nó cũng được nhân dân ta rất ưa chuộng làm thực phẩm. chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy nó trong các mương sâu của ruộng. cá chép được người dân sở hữu hoặc nuôi trong ao, đầm. cá chép nuôi trong đầm sẽ có kích thước cơ thể lớn hơn.

hai là do đặc điểm màu sắc của nó có màu đen vàng, sau đó đậm dần về phía sau. Màu sắc của nó thực sự rất đẹp, bạn chỉ cần nhìn qua một lần là có thể nhận ra. hôm nay có thêm cá chép vàng đỏ rất đẹp. Vảy cá chép rất to và đều, thon dần về phía đuôi, xếp đều nhau như những viên ngói đen vàng khỏi mưa gió.

Cả thân và vây, nó đều có thân dài, không dài quá như cá chuối nhưng đủ dài nên gọi là dài. nó có một hình dạng mỏng. đầu với các bộ phận giống như các loài cá khác nhưng trên hết nó có đôi mắt to và sáng hơn. nó có một cái miệng nhỏ và mang màu hồng nhạt rất đẹp, và nó cũng có hai râu trên miệng. Cá chép có các vây giống như vây ngực, vây hông đều, còn vây lưng và vây hậu môn không có cặp. những chiếc vây nhỏ đó giống như xương được bao phủ bởi một lớp da mỏng khiến nó giống như mái chèo cho phép cá bơi. Sử dụng vốn vay từ cá, con người chúng ta có thể tạo ra các thiết bị bơi trông giống như cá. vây đuôi uốn quanh số tám để đẩy cá về phía trước. có thể nói nó có nhiệm vụ làm con cá định hướng cho việc bơi lội của cá. tất cả các vây này có nhiệm vụ duy trì sự cân bằng của cá. đặc biệt nhiệm vụ quan trọng là giúp cá tiến hoặc lùi, rẽ trái hoặc phải.

Cách thức kiếm ăn của cá chép là chúng sống ở đáy hoặc giữa mặt nước để tìm thức ăn ở đó. Cá chép ăn tạp nên ăn được nhiều thứ như giun, ốc, bọ gậy, sâu bọ, cỏ thủy sinh. trong ao, cá chép còn ăn phân xanh, cám, bã đậu, thóc lép. Không chỉ vậy, cá chép còn là loài rất dễ nuôi vì ít bị dịch bệnh.

Cá chép được sử dụng rộng rãi làm thức ăn cho con người. Đặc biệt bà bầu thường ăn cá chép để bồi bổ. Thịt cá chép dai và ngon, có thể chiên nước mắm tỏi hoặc nấu canh cà, nấu dưa …

Không chỉ là món ăn ngon mà cá chép còn có những truyền thuyết. đó là sự tích cá chép hóa rồng vượt thác, tượng trưng cho sự sống xuất hiện của con người. Đặc biệt trong ngày Tết, cá chép được kết hợp với trung cung táo để cúng trời. Đó là lý do tại sao người Việt thường mua cá để cúng tổ tiên vào dịp lễ ông Táo, sau đó thả xuống sông hồ.

để chúng ta có thể thấy các đặc điểm nổi bật của lều. truyền thuyết và chất dinh dưỡng của nó. đó là lý do tại sao chúng ta phải bảo vệ loài cá này khỏi các hóa chất độc hại để có thể cung cấp thức ăn tươi ngon cho cá chép.

tường thuật về con lợn

Từ xa xưa, con lợn là con vật gắn bó thân thiết với người dân Việt Nam, nó là đặc trưng của vùng lũ, là con vật được thuần hóa và được nuôi phổ biến trong nhà. đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nông dân nghèo.

Trong ngành chăn nuôi, lợn là động vật mang lại lợi ích kinh tế cao. Ở Việt Nam hiện nay có nhiều giống lợn được người dân chăn nuôi như lợn sữa, lợn đen, lợn mán, lợn cắp nách. trong đó loại lợn con được nuôi nhiều nhất, phát triển mạnh ở đồng bằng Bắc Bộ. Chúng có thân màu đen, hoặc đen trắng, lông thưa, mõm ngắn, bụng hóp khiến lưng chùng xuống, bốn chân nhỏ, thấp nên chúng di chuyển khá chậm chạp, lười lao động và làm việc nặng. lợn mán sau 7 – 8 tháng nuôi sẽ đạt trọng lượng 60 – 70 kg. khi lợn đạt trọng lượng tiêu chuẩn, người dân có thể xuất bán hoặc tiếp tục nuôi cho lứa lợn sau. mỗi lứa, lợn nái thường đẻ hàng chục con và nuôi con bằng sữa mẹ.

Lợn là loài động vật rất dễ nuôi, khẩu phần ăn của chúng chủ yếu là bèo, bần hoặc cám và các loại rau như rau lang, rau muống, bắp chuối. chúng ăn nhiều, vừa ăn vừa ngủ, đặc điểm của chúng khá dễ dàng kể cả ăn và ngủ, chúng không có những đặc điểm giống các loài động vật khác. Thịt lợn rất ngon, nạc mềm, da mỏng nên được nhiều người ưa chuộng, dần trở thành loại thực phẩm được ưa chuộng trên thị trường thực phẩm Việt Nam nói riêng và thị trường nước ngoài nói chung. trong các gia đình nông thôn, các hộ thường nuôi hai lứa lợn, mỗi lứa vài chục con, không chỉ để lấy thịt, phân của họ còn được dùng để bón cho cây trồng.

Ngoài lợn sữa ở đồng bằng Bắc Bộ, còn có nhiều giống lợn khác phân bố ở các tỉnh miền núi phía Bắc như: lợn rừng, lợn sữa cắp nách, lợn cái. lợn ở miền núi thường được nuôi thả rông, thân hình nhỏ, mõm dài, lông cứng, nặng từ bảy đến hơn chục ký. Khi chúng đủ lớn, người ta đưa chúng đến chợ địa phương để trao đổi và mua chúng.

Hiện nay, khi Việt Nam đang tập trung phát triển ngày càng nhiều đàn gia súc, với sự kết hợp của các nhà nghiên cứu và người dân, nhiều giống lợn được nhập về và chăn nuôi theo phương pháp mới, với quy mô lớn. nhiều trang trại chăn nuôi lợn hơn, tăng lợi ích kinh tế cho người dân. . Ví dụ, giống lợn Anh có thân hình màu trắng hồng, lông mượt, đầu nhỏ và tai dựng, thân dài với bụng mỏng và bốn chân cao. trọng lượng của một con lợn trưởng thành có thể lên đến 100 kg, thân hình khá săn chắc do tiêu chuẩn chăn nuôi được cải tiến và đổi mới. giống lợn này hiện nay hầu như đáp ứng được nhu cầu của mọi người tiêu dùng trên thị trường, từ thịt lợn đó người ta có thể chế biến ra nhiều món ăn bổ dưỡng như: bò quay, lợn luộc, thịt ba chỉ, thịt nạc vai băm nấu canh, hầm hoặc xào. trứng, .. con heo hầu hết xuất hiện hàng ngày trong các bữa cơm gia đình đến giỗ chạp, tết, .. ngoài ra heo còn xuất hiện trong các bức tranh .. đồng hồ của các họa sĩ vẽ tranh, mang một nét đẹp giản dị trong đời sống của người dân Việt Nam. .

con lợn là con vật gia đình, mang lại nhiều lợi ích cho con người, gắn bó mật thiết với người nông dân, làng quê, miệt vườn và quê hương đất nước Việt Nam.

tường thuật về gà

bức tranh làng quê việt nam là một bức tranh đầy màu sắc rực rỡ nhưng cũng rất đỗi yên bình, ở đó có ước mơ của người nông dân, có cây sung, giếng nước, mái đình, con trâu, v.v. nhưng điều gần gũi nhất với mỗi gia đình có lẽ là đàn gà chạy trước cửa nhà.

Đối với người nông dân Việt Nam, gà nhà luôn là con vật gần gũi và thân thuộc nhất trong nhiều loài gà khác nhau. Gà là vật nuôi quan trọng nhất của con người để lấy thịt và trứng. Đặc điểm chung của gà là cánh ngắn tròn, toàn thân có lông. Để thích nghi với cuộc sống đào bới kiếm ăn, từ xa xưa, gà đã được ban cho một cặp móng to, cùn và cứng, phủ đầy vảy sừng mịn màu vàng, mỏ ngắn và khỏe. Gà nhà ngay từ đầu không được sinh ra mà tổ tiên của chúng là gà rừng đã được thuần hóa nên không biết bay. phần lớn thời gian chúng dùng chân để chống đỡ cơ thể trên mặt đất. do đó, cơ hồng của gà chủ yếu tập trung ở chân, cơ ngực, các bộ phận khác là cơ trắng.

trẻ em vẫn có một bài hát rất ngọt ngào về loài vật này: con gà mái không biết gáy là mẹ của gà con. gà mái không hót là vợ của cha. đi quanh hiên nơi có đàn gà mái ”. chỉ vài dòng đơn giản như vậy đã cho chúng ta thấy một gia đình gà. Gà trống được coi là gà bố mẹ, bố mẹ như vậy có dáng người uy nghiêm, cựa nhọn, bộ lông sáng và bóng, nổi bật bởi bông hoa màu đỏ tươi trên đầu mà người ta vẫn gọi là mào gà. con gà trống có tiếng gáy vang dội, từ lâu đã được coi là đồng hồ báo thức của người nông dân. gà mái tơ hay gà mái giống mẹ, thuần hóa hơn và ngoại hình chậm lớn hơn, bộ lông không sặc sỡ như gà trống. nhưng bù lại, với “thiên chức” của một người mẹ, gà mái có khả năng ấp trứng và nở ra những chú gà con rất đẹp – gà mái đẻ 10 – 20 trứng mỗi con. đa số gà mái sau khi đẻ trứng thường “kêu”. đó là sự thể hiện niềm phấn khởi của con gà mái, hay có thể nói đó là niềm vui của con gà mái mẹ, một “người mẹ” có tình mẫu tử bền chặt. Những chú gà con vừa nở ra như một nắm nhưng chúng còn sống, nhỏ bé trong bộ lông vàng óng mượt. gà con mới nở có thể theo mẹ đi tìm thức ăn ngay.

đối với gà, hạt gạo và lúa mạch … có thể được coi là hương vị của nó. nhưng ngay cả khi họ ăn những thứ đó hàng ngày, họ vẫn thích mổ xẻ đông tây, tìm sỏi và hạt cát. Trên thực tế, vì chúng không có răng nên gà cần phải dựa vào một thứ khác để nghiền thức ăn và tận dụng sỏi để tiêu hóa thức ăn của chúng. thịt và trứng gà là những thực phẩm rất bổ dưỡng cho con người.

Không chỉ từ xưa mà cho đến ngày nay và không chỉ đối với người nông dân mà đối với tất cả người Việt Nam, thịt gà đã giữ một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa, ẩm thực. Có thể nói, gà đã đi vào tín ngưỡng và đời sống văn hóa tâm linh của người dân Việt Nam. là một trong mười hai con giáp của cung hoàng đạo, vẫn được biết đến với cái tên trìu mến là “gà trống”. “con gà trống” là biểu tượng của tất cả cuộc sống. Ai đã từng đến đất nước Việt Nam, từng tìm hiểu và yêu mến văn hóa dân tộc Việt Nam chắc hẳn không thể quên được những bức tranh đồng hồ đậm đà bản sắc Việt Nam với hình ảnh thể loại phong phú, màu sắc cách điệu nhưng cũng vô cùng giản dị, với những bức tranh như: “vinh hoa phú quý”, “gà trống hồng ”,“ gà rút xương ”… trong mắt người Việt, một loài gà quý và được yêu quý như thế. Từ lâu đã có tục lệ gà là một phần không thể thiếu trong bất kỳ lễ hội, ngày giỗ truyền thống nào của người Việt Nam. Vào đêm giao thừa, thời khắc chuyển giao, gia đình sẽ bày biện mâm cỗ trước nhà để cầu may mắn, hạnh phúc cho năm mới. Tất nhiên, món ăn không thể hoàn chỉnh nếu thiếu thịt gà. gà luộc được bày trên một cái đĩa lớn giữa mâm, trên miệng có một bông hồng. nó là biểu tượng của sự bình an và may mắn mà gia đình mong đợi. Vốn dĩ gà trống được ví như linh vật của người Việt, tượng trưng cho sự may mắn bình yên, hạnh phúc, luôn rất thiêng liêng đối với con người, gà trống còn đi vào văn học và những câu ca dao, tục ngữ của dân tộc. có những cụm từ chỉ kinh nghiệm trong văn hóa ẩm thực như: “gà kho lá chanh” nhưng cũng có những cụm từ để răn dạy con người như:

phản ứng khôn ngoan với người lạ, đừng lúc nào cũng đánh nhau

Gần đây, dịch cúm gia cầm hoành hành khiến thực phẩm Việt Nam ít món gà hơn. mọi người cảm thấy như thiếu một thứ gì đó, đặc biệt là vào mỗi thời khắc giao thừa.

Con gà là biểu tượng của sự sống, niềm hy vọng và hòa bình của người dân Việt Nam. Mong rằng đại dịch cúm sẽ nhanh chóng được đẩy lùi để đàn gà có thể hồi sinh trở lại, trở về bên người nông dân, trở lại miếng ăn hàng ngày, gắn bó với người dân Việt Nam.

mục số. 1 lớp 9 Đề 4: Thuyết minh một nét đặc sắc trong di tích danh lam thắng cảnh quê em

chủ đề 4: thuyết minh một đặc điểm độc đáo trong các di tích và danh lam thắng cảnh của quê hương em. tuyển chọn những bài văn thuyết minh hay nhất về di tích, danh lam thắng cảnh.

tóm tắt thuyết minh về nét độc đáo của các di tích quê em

i. mở đầu

giới thiệu chung về các di tích, danh thắng của quê em (vị trí, đặc điểm chung của các di tích, thắng cảnh).

ii. nội dung bài đăng

1. xuất xứ

– Khu di tích được phát hiện và xây dựng khi nào?

– các sự kiện lịch sử, câu chuyện gắn liền với sự ra đời của di tích.

2. các tính năng đặc biệt

– mô tả các đặc điểm độc đáo và kỳ lạ nhất (kiến trúc, ẩm thực, lễ hội…)

– về cảnh quan thiên nhiên xung quanh

3. vai trò và ý nghĩa trong đời sống tinh thần của địa phương

– khía cạnh vật chất

– khía cạnh tâm linh

iii. kết thúc

cảm xúc của tôi đối với nơi đẹp như tranh vẽ đó.

giải thích các đặc điểm của di tích quê hương bạn – mô hình 1

“Ai về huyện đông anh hãy ghé thăm cảnh quan vua loa kèn trưởng thành. Cây mướp có hình dáng khác thường, qua năm tháng, con đường vẫn tiếp tục đến đây.”

Mỗi khi nghe bài hát nổi tiếng này, tôi không khỏi tự hào khi nghĩ về quê hương mình. Chắc hẳn, là người Việt Nam, các bạn đều đã từng nghe đến truyền thuyết về vua An Dương Vương, người đã xây thành cổ với sự giúp đỡ của thần Kim Quy. Trải qua bao nhiêu năm tháng, thành cổ vẫn lưu giữ được những giá trị văn hóa lịch sử.

Thành Loa được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. c., dưới thời trị vì của An duong vuong, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Cao ho. thành nằm ở địa thế đồi núi nằm ở tả ngạn sông vàng, là phụ lưu lớn của sông đỏ. vào thời kỳ au lac, vị trí của bà la cà ngay tại vùng tam giác châu thổ sông Hồng, nơi giao nhau của đường thủy và đường bộ. đây được coi là vị trí có thể khống chế cả vùng đồng bằng và vùng núi nên được chọn làm kinh đô.

có lẽ, nếu đây là nét độc đáo nhất của thành cổ thì ai cũng phải công nhận rằng nó nằm ở kiến ​​trúc của thành. theo truyền thuyết, thành tế bào bao gồm chín hình xoắn ốc. tuy nhiên, dựa trên những gì còn sót lại, các nhà khoa học phát hiện ra rằng bức tường chỉ có ba vòng. trong đó thành nội có lẽ được làm muộn hơn, dưới thời nhà ngoại trị. chu vi ngoài 8 km, vòng giữa 6,5 ​​km, vòng trong 1,6 km, diện tích trung tâm lên tới 2 km². thành được xây dựng theo phương thức đào đất, đào hào đến đó, đắp đến đâu, xây đến đó. bên ngoài tường dốc thẳng đứng, bên trong mềm đánh vào, bên trong dễ đánh. tường cao trung bình từ 4m – 5m, có nơi lên đến 8m – 12m. chân tường rộng 20 m – 30 m, mặt tường rộng 6 m – 12 m. khối lượng đào đắp ước tính khoảng 2,2 triệu mét khối.

Thành gồm ba phần: tường trong, tường chung và tường ngoài. thành trong có hình chữ nhật, cao trung bình so với mặt đất là 5 m, mặt trước của tường thành rộng từ 6 m đến 12 m, chân rộng từ 20 m đến 30 m, chu vi là 1.650 m và có cửa trông trong tòa kiến ​​trúc “ngu tiêu di quy”. tiếp theo là tòa thành xây thành tròn không có hình đối xứng, dài 6.500 m, đỉnh cao 10 m, rộng trung bình 10 m. thành có năm cửa ở phía đông, nam, bắc, tây bắc và tây nam, với cửa đông thông ra sông màu vàng. tường ngoài cũng không còn hình thù rõ ràng, dài hơn 8.000 m, cao trung bình từ 3 m – 4 m (có nơi hơn 8 m). mỗi thành đều có hào bao quanh bên ngoài, chiều rộng trung bình của hào từ 10m đến 30m, có nơi còn rộng hơn. các chiến hào được kết nối với nhau và với dòng sông màu vàng.

Bên trong thành có các long đình và đền thờ gồm: Đền Thượng (Đền An Dương Vương) được xây dựng trên khu đất rộng 19.138,6m2. Ở lối vào cổng trung tâm của chùa có đặt đôi rồng đá, mang phong cách nghệ thuật thời kỳ le-lạt. Năm tấm bia đá và năm mươi ba hiện vật có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa và khoa học vẫn còn được lưu giữ trong chùa. kiến trúc của đền gồm tiền tế theo kiểu ba gian, hai chái. hệ thống khung kết cấu gỗ, mái ngói. ở hệ thống mái có dao cong và tượng nghêu. các bộ chính được làm theo kiểu giá chiêng, sơn son thếp vàng, chạm khắc họa tiết “rồng vờn mây”; trung đường nối với hậu cung tạo thành kiến ​​trúc kiểu “chuôi vồ”, bên trong là tượng long quy bằng đồng, nặng khoảng 200 kg, đúc năm 1897. a Phía dưới là long đình (còn gọi là long đình (ngự trị của di quy) có mặt bằng hình chữ đinh, gồm long đình lớn và hậu cung. đại đình gồm năm gian, hai chái. kết cấu khung gỗ, mái lợp ngói, bốn góc uốn cong. các bộ mái được kết cấu theo kiểu “giá chiêng, rường ram”, có sáu hàng cột. hậu cung nối với long đình qua cửa ô dưới và mái trên nối. Các chủ đề trang trí của kiến ​​trúc này mang phong cách nghệ thuật của thế kỷ 18. khu tiếp theo là am châu (miếu bà chúa hay miếu nhà tôi) nằm trên diện tích 925,4m2. mặt bằng kiến ​​trúc được bố trí theo kiểu “nhất tiền, hậu đinh” gồm tiền đường, trung đường và hậu cung. Chùa Cổ Sơn được xây dựng vào đầu thế kỷ 16. tầng trệt thiết kế theo kiểu “đối nội, đối ngoại”, gồm các yếu tố với tiền đường, thiêu hương, thượng điện, hậu cung, lầu chuông, tháp mộ, cổng sau, trang viên, nhà tu, nhà khách. chùa mạch (quang linh tự) được xây dựng vào cuối thời Lê, trên diện tích 4.922,4 m2. chùa quay mặt về hướng Nam, gồm các yếu tố: tam bảo, chính điện, thượng điện, nhà mẫu, nhà bái đường, hành lang … cuối cùng là chùa Mạch: tọa lạc trên một khu đất cao, có diện tích 6.198,4 mét vuông. , bao gồm trò chơi tiền, đại sảnh và hậu cung.

thành lũy của những người nói có giá trị về nhiều mặt. Mang tính quân sự, thành Loa thể hiện sức sáng tạo độc đáo của người Việt cổ trong việc bảo vệ Tổ quốc. Về văn hóa, Thành Loa trở thành một di sản văn hóa. minh chứng cho sức sáng tạo cũng như trình độ văn hóa kỹ thuật của người Việt cổ.

Thành lăng là một di tích lịch sử thể hiện vẻ đẹp không chỉ của quê hương tôi mà còn của đất nước Việt Nam.

giải thích đặc điểm của các di tích quê em – mô hình 2

Việt Nam: mảnh đất hình chữ s với nhiều danh lam thắng cảnh độc đáo. nhưng có lẽ, với cá nhân tôi, mảnh đất Hà Nội, mảnh đất quê hương đã gắn bó với bao kỷ niệm tuổi thơ, là đẹp nhất.

hanoi mang vẻ đẹp hài hòa giữa cũ và mới. Trải qua những năm tháng chiến tranh hào hùng, thành phố đã nhiều lần được đổi tên thành Đông Đô, Thăng Long để đến với tên gọi Hà Nội như ngày nay.

Hà Nội cổ được biết đến với ba mươi sáu đường phố. Trong những bức tranh nổi tiếng của Hà Nội, hình ảnh những con phố cổ quanh co với những ngôi nhà mái ngói rêu phong đã trở thành một nét độc đáo, một phần tâm hồn của người Hà Nội mà mỗi khi nhìn thấy, người ta không thể tránh khỏi cảm giác bồi hồi khó tả. Phố cổ Hà Nội được đặt tên theo các mặt hàng bày bán trên con phố đó. nào là đèn cầy, vỏ lon, truyện tranh, mâm cỗ… ngày nay vẫn có những tên phố giữ nguyên đặc điểm này. có phố, hầu hết các gia đình đều theo nghề buôn bán. nghề được truyền từ đời cha sang đời con trai và tồn tại cho đến ngày nay.

Nét cổ kính của Hà Nội còn được thể hiện qua những công trình kiến ​​trúc đẹp và độc đáo. Nằm ngay trung tâm thành phố là Hồ Hoàn Kiếm với hai di tích nổi tiếng là Tháp Rùa và đền Ngọc Sơn. Nói đến hồ gươm, người ta nhớ đến “sự tích hồ gươm” kể về vị vua được rùa vàng cho mượn gươm để đánh giặc. Chúng ta cũng không quên nhắc đến Văn Miếu, trường đại học lâu đời nhất của Việt Nam. có bia tiến sĩ ghi lại tên tuổi của các ngự y của từng triều đại. ngoài ra, nó còn là một ngôi chùa trong thành phố, tọa lạc trên một dải đất nhỏ bên hồ tây. Chùa là một trong những thắng cảnh nổi tiếng của thủ đô Hà Nội với những bàn thờ Phật uy nghiêm bên trong và lăng tẩm của các vị chân tu qua nhiều đời trụ trì. được bao quanh bởi nước, ngôi đền này nằm trên con đường thanh niên được xây dựng vào thế kỷ thứ 6, hay giống như ngôi đền thánh gần đó được xây dựng vào năm 1010. Ngôi đền thu hút sự trầm trồ của du khách nhờ bức tượng Xuân Thiên (một trong bốn chiếc thang dài). tướng thành). ) được đúc bằng đồng đen cao 3,72 m và nặng bốn tấn. Đây là một trong những tác phẩm độc đáo mà những người thợ đúc đồng cổ Hà Nội để lại cho con cháu đời sau. Nhìn bức tượng, những người thợ ngày nay cũng phải thầm thán phục tài khéo léo của người đi trước bởi bức tượng khổng lồ này được làm hoàn toàn thủ công bằng những dụng cụ hết sức thô sơ từ thế kỷ 16. Chùa kim liên ở Tây Hồ cũng là một di tích độc đáo …

Ngoài vẻ đẹp cổ kính, trầm mặc, Hà Nội còn thể hiện vẻ đẹp hiện đại. đó là vẻ đẹp của kiến ​​trúc Pháp. với hàng loạt công trình mang đậm dấu ấn phương Tây như thánh đường, cung điện phía Bắc, nhà hát opera … ngoài ra, sự hiện đại của thủ đô còn được thể hiện qua số lượng nhà cao tầng mọc lên ngày càng nhiều.

vẻ đẹp của Hà Nội, dù hiện đại hay cổ kính, đều mang những nét đẹp riêng biệt. mỗi chúng ta hãy luôn trân trọng vẻ đẹp của thủ đô ngàn năm văn hiến.

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Viết bài tập làm văn số 1 lớp 9. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *