ý nghĩa của nghệ thuật

*

*
*
*
*
*

Hình thức và ý nghĩa của hình thức trong sáng tạo nghệ thuật (Tiếp theo và hết)

Lê Ngọc Trà

M.Bakhtin giải thích như sau: “Tác giả – ngườisáng tạo là yếu tố tạo thành của hình thức nghệ thuật” và chính “Tính chủ độngtạo sinh của tác giả – người sáng tạo và người tiếp nhận nắm lấy tất cả cácphương diện của ngôn từ: nhờ chúng anh ta có thể tạo ra một hình thức có khảnăng hoàn kết, hướng vào nội dung”.Ông phân biệt năm yếu tố của ngôn từ như là chất liệu của tác phẩm văn họcvà trình bày quá trình bản ngã sáng tạo của nghệ sỹ và người tiếp nhận đi vàochất liệu, chuyển vào ngôn từ, trong đó, theo ông yếu tố thứ năm tức cảm giác vềtính chủ động ngôn từ, cảm giác về sự tạo ra một cách chủ động âm thanh mangnghĩa là yếu tố điều khiển, là tiêu điểm của các năng lượng tạo sinh, trong nóphản ánh cả bốn yếu tố kia.

Bạn đang xem:

Cách giải thích của M.Bakhtin mang đậm “phongcách M.Bakhtin”, mang tính triết học nhiều hơn nghiên cứu văn học. Tuy nhiên đólà một trong những nỗ lực hiếm hoi tìm kiếm cái cách mà “nội dung chuyển thànhhình thức”, hình thức bên trong chuyển thành hình thức bên ngoài, bởi vì thực ravấn đề nội dung và hình thức đã được đặt ra từ rất lâuvà tính có trước của nội dung trong quan hệ với hình thức cũng đã được nói đếntrong mỹ học phương Đông từ rất sớm, nhưng bản thân cơ chế của việc chuyển từ nộidung thành hình thức, từ ý ra lời ít khi được làm sáng tỏ đầy đủ. Chẳng hạn,trong tư tưởng thẩm mỹ cổ Trung Hoa chúng ta thường bắt gặp quan niệm: “Đạo làgốc của Văn”, có Đạo rồi mới có Văn hay “ở trong lòng là chí, nói ra lời làthơ”. Nhưng từ Đạo ra văn là một quá trình vô cùng phức tạp, từ “chí” ta thơcũng trải qua nhiều chặng, nhiều kiểu khác nhau. Chí có thể tồn tại ở nhiều dạngchứ không phải chỉ ở thơ. Vậy thì chí khi nào thì đi vào thơ và làm thế nào đểthành thơ. Chính Lưu Hiệp cũng đã nhìn thấy điều đó khi ông viết: “Tình cảm khácnhau, văn cũng phải biến đổi theo những thuật khác nhau, không thể không căn cứvào tình cảm mà lập ra cái thể của nó” (Văn Tâm Điêu Long).Nhưng đây cũng vẫn là những ý tưởng chung chung,giống như khi Hegel viết: “Để cho một nội dung có thể trở thành đối tượng củamiêu tả nghệ thuật, tự bản thân nó cũng phải có khả năng trở thành đối tượng củasự miêu tả này”.Nói như vậy để thấy những phân tích trên đây của M.Bakhtin cũng như quan niệm củaông về sự hình thành và đặc điểm của tiểu thuyết như một thể loại được trìnhbày trong các công trình nổi tiếng như “Những vấn đề của thi pháp Dostoievxky”có ý nghĩa rất lớn về phương pháp luận cũng như về thi pháp học trong việcnghiên cứu hình thức của tác phẩm nghệ thuật nói chung và tác phẩm văn học nóiriêng.

***

Nghiên cứuhình thức nghệ thuật bằng cách đặt nó trong quan hệ với nội dung, như chúng tathấy, rõ ràng là một cách tiếp cận đúng, cho phép nhận ra những đặc tính rấtcăn bản của hình thức cũng như những nét thuộc bản chất của nghệ thuật. Tuynhiên, để hiểu đầy đủ tính chất, vai trò và đặc biệt là ý nghĩa của hình thứctrong sáng tạo nghệ thuật, từ đó hiểu ý nghĩa của nghệ thuật đối với đời sốngcon người, việc tuyệt đối hóa quan hệ nội dung – hình thức và nhất là tuyệt đốihóa sự phụ thuộc của hình thức vào nội dung, sẽ dẫn đến những ngộ nhận sai lầmkhông phải chỉ ở phương diện lý thuyết mà cả trong thực tiễn sáng tác nghệ thuật.

Chúng ta đều biết khi nói đến ý nghĩa của hìnhthức nghệ thuật, điều đầu tiên thường được nhắc đến đó là hình thức phụ giúp nộidung. Phụ giúp như thế nào? Từ xưa, Khổng Tử đã nói: “Ngôn chi vô văn, hành nhibất viễn” (Lời không văn vẻ, không đi được xa). Trong “Văn Tâm Điêu Long”, LưuHiệp cũng viết: “Sách và lời của thánh nhân đều gọi là văn chương, không văn vẻsao được? Nước tinh lỏng thì kết thành gợn sóng. Cây tinh chắc thì nở được hoa,đó là văn phụ thuộc vào chất. Hổ báo mà không có vằn thì da vàng như của chódê, con tê con chủy có da cứng, nhưng màu da nó phải sơn đỏ, đó là chất nhờ vănvậy”.Ở đây vai trò của hình thức là làm nổi bật, làm đẹp nội dung. Quan niệm nàyngày nay đã trở thành phổ biến: “Cái đẹp hoàn hảo của hình thức… – V.Solovievviết – gia tăng tác động của tinh thần được thể hiện trong nó”.

Nhưng bên cạnh vai trò tô điểm ấy, thực ra hìnhthức có một chức năng căn bản hơn nhiều, đó là đem lại cho nội dung vốn là cáimang tính tinh thần một sự tồn tại hiện thực – vật chất. M.Bakhtin giải thíchđiều này như sau: “Đối tượng thẩm mỹ chỉ thực tồn thông qua việc tạo ra một tácphẩm sử dụng chất liệu cụ thể (nhãn quan thẩm mỹ tồn tại bên ngoài nghệ thuậtmang tính lai tạp cũng chính vì ở đây không có được sự tổ chức chất liệu mộtcách hoàn hảo ở một mức độ nào đó, vì dụ như khi nhìn ngắm thiên nhiên); trướckhi tác phẩm này được tạo ra và độc lập tách rời với sự sáng tạo này, đối tượngthẩm mỹ không tồn tại, nó thực tồn lần đầu tiên là cùng với tác phẩm”.Ông còn nói rõ hơn ở một chỗ khác. Trong cuốn “Những vấn đề của thi phápDostoievxky”, ông viết: “Không hiểu hình thức mới của cái nhìn thì không thể hiểuđúng được những gì mà lần đầu tiên được nhận ra và được phát hiện trong cuộc sốngnhờ hình thức ấy. Hình thức nghệ thuật nếu được hiểu đúng thì nó không tạo hìnhthức cho một nội dung đã có sẵn và được tìm thấy, mà là cái hình thức cho phéplần đầu tiên tìm thấy và nhận ra nội dung” .

Những ý kiến trên đây của M.Bakhtin là những chỉdẫn sâu sắc và cực kỳ quan trọng. Nó không phải chỉ lý giải đúng bản chất của mốiquan hệ giữa nội dung và hình thức mà còn nâng vị trí của hình thức nghệ thuậtlên một tầm cao khác, ở đó hình thức không phải có vai trò phụ thuộc mà là đồngđẳng, với nội dung, sinh ra cùng một lúc với nội dung, dính liền với nội dung,không tách rời. Thậm chí nếu không có hình thức, không được diễn đạt ra bằng từngữ, bằng màu sắc, đường nét, âm thanh, nội dung tự bản thân nó cũng là chưahoàn chỉnh, chưa được định hình, chưa hoàn kết. Chất liệu và cùng với nó là cácthư pháp, kỹ thuật tổ chức chất liệu không chỉ mang lại cho nội dung một hìnhthức bên ngoài mà còn làm cho nó trở nên đầy đủ, hoàn chỉnh. “Tư tưởng không thểhiện trong ngôn từ mà được hoàn thành trong ngôn từ” (L.Vuigodsky).Không hiểu điều này sẽ không hiểu bản chất của sáng tạo nghệ thuật, không hiểusứ mạng và khó khăn của việc tìm tòi hình thức trong sáng tác nghệ thuật.

Khó khăn nằm ở chỗ, trước hết, nghệ sỹ phải tìmcho được một hình thức mà ở đó nội dung cảm thấy nó hiện ra đầy đủ, trọn vẹn,đã “hoàn thành”. Nhưng đây là công việc không dễ, bởi vì nội dung mà nghệ sỹ muốndiễn đạt là một nội dung đặc biệt, khác các thông báo thông thường. Trong nhữngvăn bản – không nghệ thuật (văn bản hành chính, khoa học) nội dung thông báothường mang tính chất đơn nghĩa, đã được xác định rõ ràng, đã hoàn kết, việc mãhóa thành hình thức chỉ cần đơn giản, cốt làm sao người tiếp nhận nắm được cáinghĩa cơ bản, hiểu vấn đề là được. Còn nội dung nghệ thuật thì khác, nó là thếgiới tinh thần của con người, là những băn khoăn về chân lý, day dứt về thiệnác, là tình yêu cái đẹp, ước mơ hạnh phúc, khao khát tự do, hy vọng và tuyệt vọng.Nội dung nghệ thuật cũng không phải là những tư tưởng có sẵn, những tình cảmchung chung mà là những ý tưởng dang dở, những rung động không thể gọi tên, nhữngcảm giác, ấn tượng mờ ảo “cảm giác và tình cảm” là những thứ cá biệt còn tư tưởnglà những cái chung chung”.Những ý nghĩa và tình cảm ấy cũng như sự sống, lúc nào cũng sinh sôi, biến đổi,đa dạng, riêng tư, không kết thúc. Đem lại cho cái sinh thể riêng tư, đa dạng,luôn luôn biến động ấy một hình hài thích hợp là điều vô cùng khó khăn. Khôngphải ngẫu nhiên mà từ xưa Khổng Tử đã nói: “Chất thắng văn tất dã, văn thắng chấttử, văn chất bân bân, nhiên hậu quân tử” (chất nhiều hơn văn thì không tránh khỏithô thiển, văn nhiều hơn chất thì không tránh khỏi hư rỗng. Văn và chất phối hợpthích đáng thì đó mới là người quân tửvậy)” (Luận Ngữ).Yêu cầu về tính thích đáng này cũng là điều mà Hegel coi là cái thuộc bản chấtkhông thể thiếu của một tác phẩm nghệ thuật: “Một tác phẩm nghệ thuật thiếu hình thức thích đáng thì không thể đượcgọi là một tác phẩm nghệ thuật chính là vì lý do đó: nó không phải là một nghệphẩm đích thực”.

Nhưng thế nào là “hình thức thích đáng”? Nghệthuật đã chọn cho nội dung đặc biệt của mình một hình thức thích đáng đó làhình tượng. Các hình tượng nghệ thuậtvới tính chất đa nghĩa, nửa hư nửa thực là hình thức thích đáng nhất với tínhchất đặc biệt của nội dung nghệ thuật. Nhưng điều đó vẫn còn quá chung chung.Hình thức phải “thích đáng” với cái gì “thích đáng” như thế nào? Thích đángtheo kiểu “cấu trúc” phải phù hợp với “chất liệu” như các nhà cấu trúc luận chủtrương hay theo kiểu ý cao cả thì lời văn phải hùng tráng như quan niệm của mỹhọc truyền thống phương Đông hay thích đáng theo cách mà các nghệ sỹ thường nóilà làm sao tìm được cách diễn tả đạt nhất, thích hợp nhất điều mình muốn viết.Chẳng hạn, L.Tolstoi khi kể về công việc sáng tác của mình, đã nói: “Anh khôngthể hình dung là tôi khó khăn như thế nào khi bắt đầu những bước đầu tiên củacông việc cày sâu trên cánh đồng mà tôi buộc phải gieo hạt. Phải nghĩ cặn kẽ vànghĩ đi nghĩ lại tất cả những gì có thể xảy ra với tất cả các nhân vật tươnglai của tác phẩm sắp tới, một tác phẩm rất lớn, và nghĩ thật kỹ hàng triệu nhữngkết hợp có thể để lựa ra trong đó 1/1000000, thật khó khủng khiếp”.

Cảm giác về sự khó khăn của việc tìm cho đượchình thức diễn tả thích đáng điều mình muốn nói là cảm giác chung của tất cả nhữngngười cầm bút là ám ảnh của mọi nghệ sỹ. Từ lâu, trong “Văn Tâm Điêu Long”, LưuHiệp đã nhận thấy điều đó: “Khi trí tưởng tượng bắt đầu hoạt động, hàng vạn cảnhtượng xô đẩy nhau xuất hiện trước mắt, những quy tắc hướng dẫn chẳng còn có giátrị gì, nhà văn tha hồ thả mình trôi theo đà lôi kéo của trí tưởng tượng… Đếnkhi cầm lấy bút, trước khi sáng tạo còn cảm thấy hào hứng tăng lên gấp bội. Đếnkhi hoàn thành tác phẩm lại thấy chưa diễn tả được phân nửa điều mình muốn nói”.Điều này cũng hoàn toàn không xa lạ với các nghệ sỹ thời này. Họa sỹ Bùi XuânPhái cũng từng tâm sự: “Vẽ trúng ý thích cao độ của mình không phải chuyện dễ”.

Vẽ trúng, viết trúng được điều mình nghĩ, điềumình muốn giãi bày đúng là một nhu cầu của người sáng tác nghệ thuật và cũng làmột đòi hỏi đối với hoạt động sáng tạo hình thức, góp phần tạo nên giá trị củatác phẩm. Nhưng nếu chúng ta quan niệm hoạt động sáng tạo nghệ thuật không phảichỉ là quá trình đi từ nghệ sỹ đến tác phẩm mà còn là quá trình tiếp nhận đi từtác phẩm đến người đọc thì cái hay, giá trị thẩm mỹ của tác phẩm không phải chỉnằm ở chỗ nghệ sỹ tìm được hình thức “thích đáng”, nói trúng ý nghĩ của mình,mà còn biểu hiện ở chỗ người đọc, người xem cảm thấy nhà văn, họa sĩ đã nóitrúng, suy tư, cảm xúc của mình, điều mình cũng nghĩ, cũng cảm thấy nhưng tựmình không diễn tả được và cũng thấy không phải ai cũng nói hộ một cách chínhxác, đầy đủ như vậy. Sức hấp dẫn của tác phẩm một phần nằm ở sự trùng hợp giữakinh nghiệm sống của nhà văn và người đọc. Sự trùng hơp này có được vừa do bảnthân nội dung của những kinh nghiệm sống ấy, vừa do hình thức trình bày nó,cách diễn tả nó. Đó cũng là một khó khăn nữa của công việc sáng tác nghệ thuậtvà do đó cũng là một tiêu chuẩn để đánh giá tác phẩm. “Tính nghệ thuật –F.Dostoievski viết – là khả năng thể hiện tư tưởng của mình qua các nhân vật vàhình tượng trong tiểu thuyết rõ ràng đến mức độc giả khi đọc tiểu thuyết cũnghiểu tư tưởng của nhà văn hoàn toàn giống như chính nhà văn hiểu nó khi viếttác phẩm của mình”.L.Tolstoi còn nói rõ hơn: “Tác phẩm nghệ thuật – ông viết – chỉ thực sự là tácphẩm nghệ thuật khi người tiếp nhận không thể hình dung một cái gì khác hơn nhưchính là cái mình đã nhìn thấy, hoặc nghe thấy, hoặc hiểu, khi anh ta trải quacảm giác giống như là nhớ lại, rằng điều đó có lẽ mình đã gặp nhiều lần, đã biếttừ lâu, chỉ có điều mình không biết cách nói, thế mà bây giờ người ta nói chomình cái của chính mình… Còn nếu người tiếp nhận cảm thấy cái mà nghệ sỹ trìnhbày cho anh ta cũng có thể là khác… thì khi đó không còn là nghệ thuật nữa”.

Như đã nói ở trên, đây là một khó khăn rất lớn đốivới việc sáng tạo hình thức trong nghệ thuật. Tuy nhiên, khó khăn ấy không dừngở đây.

Sáng tạo nghệ thuật không thể tách rời việc tạohình thức nhưng chỗ này cũng có điều cần làm rõ. Đối với những “Hình thức bêntrong”, hoặc hình thức mà M.Bakhtin gọi là “hình thức kiến tạo”, những nỗ lực củachủ quan nghệ sỹ hoàn toàn bị giới hạn, bởi vì theo như M.Bakhtin giải thích,đây không phải là cái nghệ sỹ có thể tạo tác, sắp xếp như đối với “hình thức kếtcấu” mà chúng vốn là những hình thức của giá trị tâm hồn và thể xác của con ngườithẩm mỹ, những hình thức của thiên nhiên như là môi trường sống của con người,những hình thức của sự kiện trong phương diện đời sống cá nhân, xã hội và lịchsử của nó”. Nói cách khác, hình thức bên trong chịu sự quy định trực tiếp củathế giới tinh thần của nghệ sỹ, nó là hình thức tồn tại trực tiếp của những tưtưởng – tình cảm của nghệ sỹ. Nghệ sỹ không “sáng tạo” ra nó mà chỉ thể hiệnnó, hay nói chính xác hơn, là tìm cách để nó được tự thể hiện, hiện ra trongtác phẩm từ những “hình thức bên ngoài”: chất liệu, thư pháp. Cách hiểu mốiquan hệ giữa hình thức bên trong với nội dung như vậy rất gần với cách hiểutương quan giữa văn học và Đạo trong mỹ học cổ Trung Hoa và Việt Nam.Nghệ sĩ không tạo ra Văn. Văn toát ra từ Tâm, từ Đạo, là vẻ bề ngoài của Đạo, củaTâm, gắn chặt với Tâm, với Đạo. Đạo là cái hồn, cái cốt của Văn. Đạo đổi thìVăn đổi. Tâm sáng thì văn đẹp. Trong việc tạo ra loại hình thức này, công laokhông thuộc về tài nghệ, sự khéo léo của nghệ sỹ mà thuộc về cái Đạo, cái Tâm.Nói cái tài là cái tình chính là vì vậy.

Tuy nhiên, trong nghệ thuật bên cạnh hình thứcbên trong còn có hình thức bên ngoài. Những hình thức này thường không quan hệtrực tiếp với nội dung mà thông qua những hình thức bên trong, mặc dù vậy tínhchất “phục vụ” (chữ dùng của M.Bakhtin) của nó đối với nội dung là hoàn toàn rõràng. Điều đó cũng có nghĩa là trong sáng tác nghệ thuật, nghệ sỹ phải tạo rađược những hình thức (bên ngoài) “thích đáng”, có khả năng diễn tả những điềumình muốn nói cũng như làm cho người tiếp nhận cảm thấy như được nói hộ, nóitrúng ý mình. Nhưng phải chăng chức năng và ý nghĩa của việc tạo ra những hìnhthức bên ngoài chỉ có vậy và cái khó của sự sáng tạo hình thức cũng chỉ ở đó?Chúng ta phải xem xét kỹ hơn điều này.

Trong tác phẩm “Mỹ học”, Hegel viết: “…nhữnghình tượng và âm thanh có tính cảm tính hiện ra trong nghệ thuật không chỉvì bản thân mình và sự biểu hiện trực tiếp của mình (chúng tôi nhấn mạnh –L.N.T), mà còn để trong hình thức này có thể thỏa mãn những nhu cầu tinh thầncao nhất, bởi vì chúng có khả năng đánh thức và chạm đến tất cả những gì sâu thẳmcủa ý thức cũng như gợi lên tiếng vang của chúng trong tinh thần”.Như vậy, theo Hegel, hình thức trong tác phẩm nghệ thuật bên cạnh việc hiện rađể thỏa mãn một mục đích khác còn hiện ra cho chính nó. Thế nào là hiện ra chochính nó, “vì bản thân mình”? Trong một chỗ khác, Hegel viết: “Do bản chất chấtliệu và đơn nhất của nó, tác phẩm nghệ thuật được quy định bởi rất nhiều yếu tốbộ phận khác nhau, trong đó quan trọng nhất là thời điểm và địa điểm xuất hiệncủa tác phẩm, sau đó là cá tính riêng của nghệ sỹ và mức độ hoàn thiện của kỹthuật của nghệ thuật. Để có hiểu biết cơ bản về một tác phẩm nghệ thuật nàođó và ngay cả chỉ để thưởng thức nó một cách đầy đủ, nhất thiết phải chú ý đến tấtcả các mặt này” (chúng tôi nhấn mạnh – L.N.T).Nghĩa là trong số “tất cả các mặt” tạonên tác phẩm và có thể mang lại khoái cảm cho độc giả, khan giả thì “mức độ hoàn thiện về kỹ thuật” là một mặtkhông thể bỏ qua.

Xem thêm:

Từ ý kiến của Hegel trên đây, có thể thấy hìnhthức bề ngoài, cái thường gắn với chất liệu, kỹ thuật, có giá trị riêng của nó.Giá trị đó không phải lúc nào cũng phụ thuộc vào giá trị của nội dung mà nó thểhiện cũng như biểu hiện ở tính “thích đáng”, tức sự tương thích của nó với nộidung. Bằng chứng là nó có thể được coi là hoàn thiện cả trong trường hợp khi nộidung mà nó thể hiện không đáp ứng yêu cầu của nghệ thuật chân chính. Hegel cũngđã thừa nhận: “Có nghệ thuật mà xét về mặtkỹ thuật và các mặt khác có thể được coi là hết sức hoàn thiện trong phạm vi nhất định của mình, nhưng khi đối chiếu vớikhái niệm nghệ thuật và với lý tưởng thì không đáp ứng được – đó không phải lànghệ thuật hoàn thiện”.Nghệ sĩ, hơn ai hết là những người hiểu rõ giá trị đó của hình thức: “Các từ ngữtự bản thân nó và độc lập với cái nghĩa mà nó thể hiện (tức là độc lập với ýnghĩa từ vựng của nó) có một vẻ đẹp và giá trị riêng” (C.Baudelaire).

Như vậy cái khó của sáng tạo hình thức trong nghệthuật đã rõ. Một mặt, nghệ sĩ phải đem lại cho nội dung mà mình muốn thể hiện mộthình thức phù hợp với nó, mặt khác anh ta phải làm sao cho cái hình thức ấy đủsức tồn tại “vì bản thân mình” phải thật hoàn thiện để có thể mang lại mộtkhoái cảm thẩm mỹ riêng. Có khi nói được ý lại không có được vẻ đẹp của lời,còn nếu chạy theo vẻ đẹp của lời thì lại đánh mất ý. Đó là một “khó khăn kép”mà không phải lúc nào người sáng tác cũng có thể vượt qua. Không phải ngẫunhiên nhà thơ Tế Hanh tâm sự:

Đọc một bài thơ hay

Ý nghĩa đầu tiên thấy mình làm được

Ý nghĩa sau cùng thấy mình bất lực

Đó là cái bất lực mà bất kỳ người cầm bút nàocũng cảm thấy hết sức rõ rệt.

Để hiểu đầy đủ ý nghĩa của hình thức nghệ thuậtvà tài năng của nghệ sỹ, cần phân biệt rõ hai mặt này trong chức năng của hìnhthức, đặc điểm là đánh giá đúng mức giá trị của những tìm tòi, khám phá nhằmđem lại cho hình thức nghệ thuật sự mới mẻ, độc đáo, gợi lên khoái cảm thẩm mỹcao. Các nhà hình thức không phải không có lý khi coi việc tạo ra hình thức làmột yêu cầu tối thượng của sáng tạo nghệ thuật nhìn thấy ở đây bản chất của nghệthuật và ý nghĩa đặc trưng của nó đối với việc thỏa mãn nhu cầu tinh thần củacon người. Nếu sai lầm của chủ nghĩa hình thức là sự tuyệt đối hóa hình thứcthì công lao của nó cũng nẳm ở đây. Nó lôi kéo sự chú ý của công chúng không chỉvào nội dung, vào sự kiện, ý nghĩa, con người mà còn vào câu chữ, đường nét,màu sắc, âm thanh, nó muốn xem hình thức không chỉ như phương tiện truyền đạt, diễn tả mà còn như đối tượng của sự nhìn ngắm, thưởng thức. Nó muốn khắc phục một thóiquen, một thị hiếu được hình thành từ lâu, đã trở thành thâm căn cố đế dưới ảnhhưởng của quan niệm: nội dung quyết định hình thức, nội dung là chính, hình thứclà phụ, đó là cách tiếp nhận tác phẩm hướng thẳng ngay vào ý nghĩa, vào nộidung câu chuyện, vào tình cảm, vào chủ đề, bỏ qua sự hiện diện của câu chữ,hình ảnh, màu sắc, chỉ nhìn thấy giá trị của tác phẩm trong những cái được biểuđạt, còn bản thân cái biểu đạt thì chỉ được coi như một kí hiệu, một phương tiện,một sự vật vô hồn. Cách thưởng thức nghệ thuật như vậy hoàn toàn trái với bảnchất của sáng tạo nghệ thuật và xa lạ với cảm nhận của nghệ sĩ khi sáng tác. Đốivới nhà thơ, J.P.Sactre viết: “từ là sự vật chứ không phải là kí hiệu. Bản chấthai mặt của kí hiệu cho phép, khi muốn cái nhìn có thể xuyên qua nó như xuyênqua tấm kính và hướng thẳng đến sự vật được gọi tên. Nhưng bản chất hai mặt nàycũng cho phép một cách khác: hướng cái nhìn vào chính sự tồn tại hiện thực của kí hiệu và xem bản thân kí hiệu này như một sựvật. Người bình thường khi nói, ở mặt phía kia của từ, gần sát với từ; còn nhàthơ thì luôn luôn ở phía bên này (tức là ở ngoài từ – L.N.T). Đối với ngườibình thường, từ ngữ là những cái có tính chất công cụ và quen thuộc như vật dụngtrong nhà, còn đối với nhà thơ, chúng là nguyên thủy, đầu tiên. Người nói coi từngữ như những quy ước hữu ích, những công cụ bị mòn dần theo thời gian, và khikhông dùng được nữa thì vứt bỏ; còn đối với nhà thơ, chúng là hoa trái củathiên nhiên, cũng sinh sôi nảy nở trên mặt đất, tự nhiên như cây cỏ”.

Đối với nghệ sĩ, câu chữ, màu sắc, âm thanhkhông chỉ là chướng ngại cần phải chinh phục, vượt qua mà chúng còn là nhữngsinh thể, những sự vật có hồn. Nghệ sĩ vật lộn với chúng, sống với chúng, buồnvui với chúng. Anh ta không diễn đạt, thể hiện được ý nghĩa, tình cảm của mìnhtrong từ ngữ, âm thanh, màu sắc mà mang cho chúng một hình hài, một tồn tại hiệnthực. Quá trình sáng tạo nghệ thuật bao giờ cũng là sự kết hợp của hai dòngtình cảm khác nhau: dòng tình cảm “đời” và tình cảm thẩm mỹ. Nhà thơ Xuân Diệuđã nói rất hay về quá trình tâm lý này của người sáng tác: “Khi tôi nói xúc cảm,tôi không chỉ nói rung động về tình cảm mà thôi, bởi vì người ta có thể rung độngrất nhiều, thiết tha chân thành đến ứa lệ, nhưng ra nước mắt chưa hẳn đã làthơ, khi tôi nói xúc cảm là tôi nói rung động về tình cảm cộng với đồng thời một cơn rung động về vần điệu, hình tượng,âm thanh, một hứng thú sáng tạo vậy”.

“Rung động về vần điệu, hình tượng, âm thanh”chính là nội dung của “Hình thức ý nghĩa”mà C.Bell muốn nói đến. Những từ ngữ, màu sắc, âm thanh không chứa đựng nhữngrung động này không phải là hình thức nghệ thuật đích thực. Chính nhờ nhữngrung động này, “hứng thú sáng tạo”này của nghệ sĩ mà tác phẩm mang lại cho người thưởng ngoạn một rung động đặcbiệt gọi là rung động thẩm mỹ.

Đối với người bình thường, rung động thẩm mỹkhông phải là dễ và lúc nào cũng có thể đạt tới. Nó phụ thuộc vào hoàn cảnh thưởngngoạn, vào sức mạnh của “cơn rung động vềvần điệu, hình tượng, âm thanh” mà người sáng tác đưa vào tác phẩm cũng nhưbản tính, năng khiếu của từng người. Thông thường, người ta hay hoặc chỉ có những“rung động về tình cảm mà thôi”. Ngayđối với người sáng tác, không phải ai và lúc nào cũng có được “một cơn rung độngvề vần điệu, hình tượng, âm thanh” thật mãnh liệt, nhấn chìm cả anh ta và do đócuốn hút, hấp dẫn người xem, người đọc. Điều đó chứng tỏ việc sáng tạo hình thức– chúng ta muốn nói đến hình thức bên ngoài (từ ngữ, màu sắc, âm thanh…) gắn với“hứng thú sáng tạo” của nghệ sĩ và rung động thẩm mỹ của người đọc, người xem,người nghe cũng là một công việc hết sức khó khăn và có ý nghĩa rất to lớn. Cáigọi là năng khiếu hay tài năng nghệ thuật nằm chính ở đây. Nghệsĩ khác người bình thường trước hết không phải ở cái tình, ở tư tưởng mà ở khảnăng cảm nhận và làm chủ con chữ, làm chủ ngọn bút, làm chủ phím đàn, ở khảnăng mang lại cảm giác về cái đẹp, sự hoàn thiện, khả năng “lạ hóa” những cáiđã quen thuộc, khả năng tìm thấy những cách diễn đạt mới mẻ, độc đáo. Trongcách nói hằng ngày, chúng ta hay lạm dụng khái niệm tài năng, làm mất đi ranhgiới giữa cái có thực và cái hư ảo và từ đó vô tình hạ thấp giá trị của tàinăng mà thực chất là hạ thấp ý nghĩa của nghệ thuật.

Nghệ thuật ngoài ý nghĩa xã hội của nó còn có mộtsứ mạng khác – sứ mạng này thậm chí còn lớn lao hơn – đó là vai trò của nó đốivới sự phát triển của con người. Nghệ thuật, theo cách nói của Hegel là một “hìnhthức” tồn tại và phát triển của ý niệm, tức là của nhận thức, của đời sống tinhthần của con người. Ý thức con người sinh sôi, nảy nở trong nghệ thuật. Con ngườilớn lên về mặt tinh thần trong nghệ thuật: tự do hơn, sâu sắc hơn, nhân vănhơn. Đời sống tình cảm của con người trở nên phong phú, tinh tế, lung linh huyềnảo hơn nhờ nghệ thuật. Nghệ thuật là mảnh đất nuôi dưỡng những phẩm chất và giátrị tinh thần mà con người tích lũy được trong quá trình trút bỏ tính chất sinhvật nguyên thủy của mình để trở thành “sinhvật có tính loài” (K.Marx), tức con người có ý thức.

Quá trình “người hóa” này gồm hai mặt: Hegel giảithích nó như sau: “Nhu cầu chung nhất về nghệ thuật xuất phát từ nguyện vọng hợplý của con người muốn nhận thức về tinh thần thế giới bên trong và bên ngoài bằngcách hình dung nó như một đối tượng trong đó y nhận ra được “cái tôi” của mình.Con người thỏa mãn nhu cầu tự do tinh thần này, một mặt, bằng cách ý thức đượcbên trong cho mình cái đang tồn tại, mặt khác, bằng cách mang lại cho cái “tồntại cho mình”, con người làm cho cái tồn tại bên trong y trở thành cái mà bảnthân mình và người khác có thể nhìn thấy và nhận thức được”.Nói một cách khác, con người trưởng thành và trở nên người hơn trong cả hai quátrình: quá trình phát triển của ý thức và quá trình làm cho ý thức ấy trở thànhtrực quan để “con người ngắm nhìn bản thân mình trong thế giới do mình sáng tạora” (K.Marx).

Trong thế giới do con người sáng tạo ra ấy cótác phẩm nghệ thuật. Nhờ có sáng tạo nghệ thuật, không chỉ tinh thần mà cả giácquan của con người cũng được thỏa mãn: “Phẩm chất đầu tiên của bức tranh – họasĩ Pháp E. Delacroix nói – đó là làm sao để nó trở thành ngày hội của đôi mắt”,không chỉ ý thức, tình cảm, đời sống tinh thần của con người phong phú hơn,nhân đạo hơn mà đôi mắt, lỗ tai, bàn taycũng sắc sảo, tinh tế, thính nhạy và khéo léo hơn. Sự hình thành và pháttriển các quan năng này trực tiếp và chủ yếu là gắn với quá trình sáng tạo hìnhthức nghệ thuật, trước hết là việc mang lại cho tác phẩm một hình thức bênngoài, có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển các giác quan và năng lực thểchất của con người, từ đó góp phần vào làm tăng “chất người” của “sinh vật cótính loài”.

Nhờ có sáng tạo nghệ thuật, tài năng của con người thể hiện trong việc chinh phục chất liệu,tìm tòi và sử dụng các thủ pháp, kỹ thuật được nâng cao. Trong quá trình ấy,người sáng tác cũng sẽ nhận được một “hứngthú sáng tạo” có khả năng mang đến một niềm vui, một hạnh phúc vô bờ. “Mộtngười khi đã vui với niềm vui sáng tạo thì những niềm vui khác là vô nghĩa”(J.W.Goethe).

Nhờ những khám phá, tìm tòi về hình thức, những“cơn rung động về vần điệu, hình tượng,âm thanh” của nghệ sỹ, công chúng cũng sẽ được thụ hưởng một khoái cảm đặcbiệt – đó là khoái cảm thẩm mỹ. Khoáicảm thẩm mỹ làm cho đời sống con người giàu thêm, nâng tâm hồn con người lên,làm cho con người cảm thấy đời sống bớt tầm thường, bớt trần tục hơn, thấy cuộcđời lung linh, huyền ảo hơn. Tiếp xúc với nghệ thuật nhiều, đôi mắt con ngườicũng có khả năng nhìn ra được nhiều cái đẹp hơn, đôi tai cũng có thể lắng nghetrong từng âm thanh, từng tiếng đàn những giọng điệu khác nhau, tiếng tron tiếngđục khác nhau. Bằng cách ấy, nghệ thuật đã mở thêm một cánh cửa, một lối đi đểcon người đến với thế giới bao la của tiếng nói, của âm thanh, ánh sáng, sắcmàu trong đời sống, trong thiên nhiên và do đó cũng mang lại cho người thưởngthức một niềm vui, một hạnh phúc giống như “hứng thú sáng tạo” của nghệ sỹ. Bằngcách ấy, những sáng tạo hình thức đãgiúp vào sự hoàn thiện của con người: phát triển toàn diện thế giới tinh thần và nhữnggiác quan gắn nói nó, thân thể tinh thần của nó. Sáng tạo hình thức vì vậykhông chỉ có ý nghĩa nghệ thuật, mà còn có ý nghĩa nhân văn.

***

Hình thức nghệ thuật có ý nghĩa rất lớn. Nhờ nónghệ thuật trở thành nghệ thuật. Nghệ thuật không phải chỉ có hình thức. Nhưngkhông có hình thức sẽ không có nghệ thuật. Ý nghĩa của hình thức không chỉ hạnchế trong quan hệ của nó với nội dung. Bản thân hình thức cũng có giá trị riêngvà tác động riêng.

Ngày nay, việc đề cao hình thức không còn mới mẻnữa. Nghiên cứu hình thức trong sáng tác nghệ thuật nói chung và văn học nóiriêng đã khắc phục được tính cực đoan của nó, đã không còn đóng vai trò là mộtphương pháp luận, một “mỹ học chung” như M.Bakhtin đã từng phê phán. “Lý luậnchung về các hình thức văn học gọi là thi pháp học” (Gérard Genette) và “Thipháp học không phải là một phương pháp – như cấu trúc luận và những phương phápkhác – mà đúng hơn là một cách nhìn các sự kiện” (T.Todorov).Nhưng điều đó không có nghĩa là tầm quan trọng của hình thức và việc nghiên cứunó giảm đi.

Thực tiễn sáng tác nghệ thuật, đặc biệt là trong thơ ca vànghệ thuật tạo hình ở nước ta cũng như trên thế giới thế kỉ XX và đầu thế kỉXXI cho thấy các hình thức thể hiện đã nó nhiều thay đổi căn bản, táo bạo, đãtrở nên đa dạng và khó hình dung hơn. Những tuyên bố ủng hộ cái mới bao giờcũng sẵn sàng, nhưng chấp nhận thì không dễ, nhất là chấp nhận cho mình. Thị hiếuluôn luôn mang tính bảo thủ. Nếu thị hiếu ấy lại nhiễm sắc thái ý thức hệ thìtình trạng lại còn nặng nề hơn. Bởi vậy hiện nay ở nước ta, thái độ đối vớihình thức nghệ thuật thể hiện trong cách tìm tòi, sáng tạo và cách cảm nhận,đánh giá tác phẩm đang là một thách thức lớn đối với người sáng tác cũng nhưcông chúng. Ở đây không có giới hạn cho cái mới; chỉ có giới hạn về cái hay vàcái dở. Ở đây không phải tất cả màu nào, chữ nào, âm nào cũng đều mang nghĩa,có nghĩa. Nghĩa của hình thức có khi nằm trong chính nó. Ở đây không thể lấy tấmlòng thay cho câu chữ, lấy ý đồ thay cho đường nét, màu sắc. Ở đây là chỗ củatài năng. Tài năng trong sáng tác đã khó, tài năng trong thưởng ngoạn – thưởngngoạn màu, thưởng ngoạn chữ, thưởng ngoạn âm – có lẽ còn khó hơn.

Xem thêm:

Bấy nhiêu thôi cũng đủ thấy cái khó của sáng tạo hình thứctrong nghệ thuật. Nhưng chính trong cái khó này bao hàm ý nghĩa, sứ mạng củanó. Bởi vậy cổ vũ cho những tìm tòi mạnh dạn về hình thức chính là cổ vũ chosáng tạo trong nghệ thuật, cổ vũ cho sựphát triển toàn diện, tự do của con người.

Chuyên mục:

    Hỗ trợ giải đáp




    Trả lời

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *