Xã hội học văn học


Robert Escarpit

Giới thiệu: Robert Escarpit sinh ngày 24.04.1918 tại thành phố Saint-Macaire tỉnh Gironde miền Tây Nam nước Pháp. Ông theo học chuyên ngành tiếng Anh tại trường Đại học Sư phạm danh tiếng ở Paris. Từ 1943 đến 1945, ông giảng dạy ở trường trung học d’Arcachon (Gironde). Sau Đại chiến Thế giới lần thứ 2, ông đảm nhiệm chức vụ chánh văn phòng, sau đó là giám đốc Trung tâm văn hóa Pháp tại Châu Mỹ La Tinh ở Mêhicô từ 1945 đến 1949. Sau khi bảo vệ luận án tiến sĩ văn học, ông giảng dạy tại trường Tổng hợp Bordeaux, với tư cách là trợ giảng tiếng Anh và sau đó với tư cách là giáo sư văn học so sánh, trong gần 20 năm từ 1951 đến 1970.  Ông là người sáng lập và lãnh đạo Trường cao đẳng kỹ thuật Bordeaux (IUT) thuộc trường Đại học Tổng Hợp Bordeaux từ 1970 đến 1975. Từ 1975 đến 1978, ông được giao trách nhiệm lãnh đạo trường Đại học Tổng Hợp Bordeaux III”.

Trong suốt quá trình giảng dạy và nghiên cứu, Robert Escarpit luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục và văn hóa đại chúng, đặc biệt là văn hóa viết thông qua việc xuất bản sách. Liên tục trong 30 năm, ông phụ trách một chuyên mục trong tờ báo tiến bộ Le Monde. Ông cũng trực tiếp tham gia vào đời sống xã hội và chính trị với mong muốn góp phần nâng cao dân trí cho đại đa số quần chúng. Trong thời gian Đại chiến thế giới thứ II, ông tham gia kháng chiến chống Đức và được nhận huân chương dành cho những người có công tham gia giải phóng nước Pháp. Những kỷ niệm thời kỳ này được kể lại trong các tiểu thuyết Người trẻ tuổi và bóng đêm (1972), và Những người chân đất (1982). Năm 1982, sau khi rời chức vụ Hiệu trưởng trường Tổng Hợp Bordeaux, ông được bầu vào Hội đồng vùng Aquitaine với tư cách là thành viên Đảng Cộng sản Pháp. Năm 1983 ông được trao Bắc đẩu bội tinh, huy chương cao quý nhất dành cho những người có công với đất nước Pháp. Từ năm 1984, mặc dù đã chính thức về hưu, Robert Escarpit vẫn tiếp tục sự nghiệp giáo dục mà ông theo đuổi từ lâu. Ông đã xuất bản nhiều tiểu thuyết và truyện cho trẻ em, với minh họa do chính ông vẽ, ví dụ như loạt truyện với các nhân vật chính là Rouletabosse, Petit Gambu v.v…

Một số tác phẩm chính của ông :

– Xã hội học văn học, Paris, Presses universitaires de France, 1958. (trong bộ sáchQue sais-je ? số 777), tái bản lần thứ 8 vào năm 1992.

– Cách mạng sách, Paris, Unesco, 1965, 1969.

– Văn học và xã hội: các thành tố cho một xã hội học văn học (Chủ biên), Paris, Flammarion, 1970, 1977.

– Sách Pháp: 1972, năm quốc tế về sách, tổng kết (đồng chủ biên),Paris, Imprimerie nationale, 1972.

– Cái viết và truyền thông, Paris, Presses universitaires de France, 1973. (trong bộ sách Que sais-je ?; số 1546), tái bản lần 4 vào năm 1983.

– Sách, hôm qua, hôm nay và ngày mai,Paris, R. Laffont; Lausanne, Grammont, 1975.

– Khái quát về thông tin và truyền thông, Paris, Hachette, 1976, 1991.

– Lý luận về thông tin và thực tiễn chính trị, Paris, Seuil, 1981.

*

XÃ HỘI HỌC VĂN HỌC

ROBERT ESCARPIT

PHẦN I.

NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP 

Chương I

XÃ HỘI HỌC VĂN HỌC ĐỂ LÀM GÌ ?

Văn học và xã hội

Mọi hiện tượng văn học đều cần đến nhà văn, sách và người đọc; hoặc để nói một cách chung chung hơn là người sáng tác, tác phẩm và độc giả. Đó là một hệ thống trao đổi được thực hiện thông qua một bộ máy giao truyền rất phức tạp vừa thuộc về nghệ thuật, vừa thuộc về kỹ thuật và thương mại; hệ thống trao đổi này nối liền một số cá nhân cụ thể (ít ra là luôn được biết tên tới) với một tập thể ít nhiều vô danh (nhưng hạn chế).

Ở mọi điểm của hệ thống này, sự hiện diện của cá nhân người sáng tác đặt ra các vấn đề tâm lý, đạo đức, triết học, còn sự tồn tại của tác phẩm viết đặt ra các vấn đề mỹ học, phong cách, ngôn ngữ, kỹ thuật, và cuối cùng là sự tồn tại của một tập thể-độc giả đặt ra các vấn đề thuộc về lịch sử, xã hội, thậm chí kinh tế. Nói khác đi là từ ba góc độ đó có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau nhằm tìm hiểu hiện tượng văn học.

Tuy nhiên việc văn học đồng thời thuộc về ba thế giới khác nhau đó – thế giới tinh thần cá nhân, thế giới các hình thức trừu tượng và thế giới các cấu trúc tập thể – gây khó khăn cho việc nghiên cứu hiện tượng văn học. Chúng ta khó có thể hình dung một hiện tượng trong thế giới ba chiều, nhất là khi cần phải viết lịch sử của hiện tượng đó. Thật vậy, trong nhiều thế kỷ và ngay cả ngày nay, lịch sử văn học thường chỉ quan tâm nghiên cứu đến các nhà văn và tác phẩm (nghĩa là tiểu sử tinh thần của nhà văn và bình luận văn bản) và thường chỉ coi bối cảnh đời sống tập thể như một loại trang trí dành cho các nhà nghiên cứu tò mò tìm hiểu lịch sử chính trị.

Ngay cả các sách giáo khoa lịch sử văn học truyền thống được đánh giá cao nhất cũng không tránh khỏi nhược điểm này và hoàn toàn không quan tâm tới yếu tố xã hội. Đôi khi một số tác giả có ý thức về không gian xã hội và cố gắng miêu tả nó, nhưng họ không có phương pháp phù hợp để làm việc này và do đó vẫn hạn chế trong sơ đồ truyền thống “con người – tác phẩm”. Chiều sâu lịch sử do đó bị xóa bỏ, cũng giống như các hiện tượng trong không gian ba chiều được chiếu trên màn ảnh hai chiều, và do đó hiện tượng văn học bị méo mó cũng giống như khi trái đất tròn được thể hiện trên một bề mặt phẳng. Cũng giống như bản đồ thế giới có những chi tiết hoàn toàn sai (ví dụ như Alaska trở nên to lớn khác thường, trong khi đó Mêhicô trở nên bé xíu), trong lịch sử văn học thế kỷ XVII hơn một chục năm lịch sử cung đình Versaille đã đẩy lùi sáu chục năm của đời sống văn học Pháp vào bóng tối.

Chúng ta không thể xóa bỏ những khó khăn đó. Nhưng cho dù không thể miêu tả một cách hoàn toàn trung thành thực tế văn học, điều quan trọng là những người khám phá thế giới văn học – người viết tiểu sử hoặc người bình luận, nhà sử học hoặc phê bình – cần có một cái nhìn toàn diện và không méo mó về hiện tượng văn học. Ví dụ để tìm hiểu một cá nhân là nhà văn, chúng ta cần hiểu rằng ngày nay nghề viết đã trở thành một nghề (hoặc ít ra là một hoạt động có lợi nhuận) được thực hiện trong khuôn khổ một hệ thống kinh tế rõ ràng có ảnh hưởng tới quá trình sáng tác. Để tìm hiểu tác phẩm, ta cũng cần phải biết rằng ngày nay sách là một sản phẩm được sản xuất trong một dây chuyền công nghiệp và được phát hành trong một hệ thống thượng mại và do đó sách cũng chịu sự chi phối của luật cung cầu. Cuối cùng cũng cần phải nói rằng không thể chối bỏ một thực tế là sách cũng là nhánh “sản xuất”trong ngành sản xuất sách cũng như việc đọc là một nhánh mang tên “tiêu thụ”.

Lịch sử vấn đề

Khái niệm “văn học”(littérature) như chúng ta hiểu ngày nay xuất hiện vào khoảng những năm cuối thế kỷ XVIII. Trước đó, văn học được hiểu với một nghĩa khác: người ta không “viết”văn, mà người ta “có”văn. Thật vậy trong một thời gian dài văn học được hiểu như một dấu hiệu thuộc về tầng lớp những người “có chữ”(lettrés). Đối với một người đồng thời với Voltaire, “văn học”đối lập với “công chúng”(cũng có nghĩa là “dân chúng”). Những người có học là một tầng lớp quý tộc văn hóa và bởi đó là một hiện tượng xã hội, vấn đề quan hệ giữa văn học và xã hội không được đặt ra một cách có ý thức.

Nhưng một sự chuyển biến đã bắt đầu từ thế kỷ XVI và tăng nhanh vào thế kỷ XVIII. Một mặt các tri thức ngày càng trở nên chuyên môn hóa và các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật dần dần tách rời khỏi văn học với nghĩa hẹp; văn học dần dần trở nên một lĩnh vực dành cho giải trí. Vốn không phải là một hoạt động có tính lợi nhuận, văn học bắt buộc tìm cách thiết lập các quan hệ hữu cơ mới đối với tập thể xã hội.

Mặt khác các tiến bộ văn hóa và kỹ thuật (là những yếu tố nhấn mạnh sự phi lợi nhuận của văn học) lại phát triển nhu cầu về văn học trong tập thể người tiêu dùng và các phương tiện trao đổi. Nhờ có phát minh ra máy in, sự phát triển của công nghệ sách, quá trình xóa nạn mù chữ và về sau là các công nghệ nghe nhìn, cái trước đây là đặc quyền của một tầng lớp quý tộc có học đã trở thành việc tiêu thụ văn hóa của một tầng lớp tư sản có tính chất khá mở rộng, và gần đây là công cụ truyền bá văn hóa đại chúng.

Sự chuyên môn hóa các lĩnh vực tri thức, cũng như sự phát triển đại chúng, đạt tới mức cao nhất vào khoảng năm 1800. Đó là thời điểm văn học bắt đầu có ý thức về yếu tố xã hội của mình. Tác phẩm của bà de Stael Về văn học trong quan hệ với các thể chế xã hội có thể được coi là nghiên cứu đầu tiên tại Pháp nhằm tìm hiểu một cách có hệ thống các khái niệm văn học và xã hội.

Bà de Stael định nghĩa mục đích của mình trong Lời nói đầu như sau: “Tôi có dự định tìm hiểu ảnh hưởng của tôn giáo, phong tục và luật pháp tới văn học, cũng như ảnh hưởng của văn học tới tôn giáo, phong tục và luật pháp”[1]. Mục đích của bà de Stael thật ra là áp dụng vào văn học phương pháp mà Montesquieu (một trong những người thầy tư tưởng của bà de Stael) đã sử dụng để nghiên cứu lịch sử luật pháp; tác phẩm của bà có thể được gọi là “Tư tưởng văn học”. Vào thời điểm đó, khi mà các khái niệm “hiện đại ”và “ dân tộc”được sử dụng với một nội dung mới, tác phẩm của bà de Stael cũng còn nhằm mục đích lý giải sự đa dạng của văn học trong thời gian và trong không gian bởi các đặc trưng và các biến đổi của xã hội lòai người.

“Tinh thần thời đại”(Zeitgeist trong tiếng Đức) và “tinh thần dân tộc ”(Volksgeist) – hai khái niệm cơ bản đó được hình thành trong nhóm những người bạn Đức của bà de Stael vào khoảng những năm 1800. Các khái niệm đó cũng sẽ được Taine sử dụng một cách uyển chuyển hơn trong lý thuyết của ông về “chủng tộc”, “môi trường ”và “thời điểm”. Sự hội tụ của ba yếu tố đó là cái quyết định hiện tượng văn học.

Taine chưa thấy rõ được khái niệm “khoa học về con người ”. Chính vì vậy mà một nửa thế kỷ sau Georges Lanson phê bình Taine như sau: “Phân tích thiên tài thi ca chẳng có gì giống với phân tích việc sản xuất đường”[2]. Sơ đồ do Taine đưa ra (chủng tộc – môi trường – thời điểm) quá đơn giản và không thể cho phép nắm bắt toàn bộ các khía cạnh của thực tế vô cùng phức tạp. Đặc biệt các phương pháp của Taine không phù hợp cho việc phân tích đặc trưng của hiện tượng văn học: thật vậy, ngòai một số phương pháp vay mượn một cách máy móc từ các khoa học tự nhiên, Taine chỉ có thể sử dụng các phương pháp truyền thống của lịch sử và của phê bình văn học là phân tích tiểu sử và bình luận văn bản.

Nhưng cốt lõi của tư tưởng của Taine vẫn còn tồn tại. Từ đó trở đi, các nhà văn học sử, cũng như các nhà phê bình văn học không còn có lý do để bỏ qua ảnh hưởng của các hoàn cảnh bên ngoài, đặc biệt là hoàn cảnh xã hội, đối với hoạt động văn học.

Kinh tế là một khoa học về con người, chính vì vậy mà ta có thể cho rằng triết học mác xít có hiệu quả hơn tư tưởng của Taine trong việc nghiên cứu văn học. Tuy nhiên, các nhà triết học mác xít đầu tiên rất ít bàn về các vấn đề văn học. Tuyển tập các bài viết của Marx và Engels Về văn học và nghệ thuật  thật ra không có mấy giá trị. Chỉ từ đầu thế kỷ XX với các nghiên cứu của Plekhanov thì nhánh triết học mác xit về văn học (chủ yếu là xã hội học) mới thật sự được hình thành. Tiếp đó nhu cầu chính trị đã đưa phê bình văn học Xô Viết (cũng như phê bình cộng sản nói chung) đến chỗ nhấn mạnh tới vai trò của tác phẩm văn học như nhân chứng xã hội.

Sau đây là định nghĩa về văn học của Vladimir