Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
166 lượt xem

Phân tích Đất nước hay nhất (21 Mẫu) – Văn 12

Bạn đang quan tâm đến Phân tích Đất nước hay nhất (21 Mẫu) – Văn 12 phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Phân tích Đất nước hay nhất (21 Mẫu) – Văn 12

country review by nguyen khoa diem bao gồm phần tóm tắt và 21 bài văn mẫu hay nhất. Qua đó giúp các em học sinh có thêm gợi ý tham khảo, sở hữu một bài văn ý nghĩa, đồng thời ghi điểm cho sự sáng tạo, mang màu sắc cá nhân của mình làm bài thi đạt kết quả cao trong kỳ thi THPT quốc gia năm 2022.

Đất nước nguyễn khoa kiệt là một bài dân ca mang tinh thần kháng chiến, là lời kêu gọi lòng yêu nước của mỗi thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau. quốc gia đối với nguyen khoa diem là bình thường và gần gũi nhất. download.vn để theo dõi các bài viết phân tích từ 21 quốc gia trong bài viết dưới đây.

Bạn đang xem: Bài văn đất nước

phân tích dàn ý bài thơ Đất nước

i. giới thiệu:

– đánh giá ngắn gọn về văn học 1945-1975, giới thiệu về tác phẩm.

ii. nội dung:

a. Đất nước đã tồn tại bao lâu?

– đất nước có từ lâu đời, gắn liền với những truyền thuyết, câu chuyện cổ tích xa xưa.

– khơi gợi những truyền thống tốt đẹp của dân tộc từ những câu chuyện cổ tích, truyền thuyết.

  • sự tích trầu cau gợi lại truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, đó là tình anh em sâu nặng, tình nghĩa vợ chồng thủy chung, gợi lại những phong tục tập quán cao đẹp của dân tộc Việt Nam. Tục ăn trầu, nhuộm răng là tục của dân tộc ta.
  • Sự tích về các vị thánh rất quen thuộc, nhắc lại truyền thống yêu nước, bất khuất chống giặc ngoại xâm của dân tộc. / ul>

    – đất nước có lịch sử lâu đời, bắt đầu với những phong tục tốt đẹp.

      li> “cha”. mẹ thương nhau gừng cay muối mặn ”, là tiêu biểu cho truyền thống quý trọng tình nghĩa vợ chồng.
    • đất nước có lịch sử lâu đời, được hình thành cùng với sự phát triển của con người Việt Nam hàng ngày. đời biết làm nhà, trồng lúa, …

    b. quốc gia là gì?

    – Về không gian địa lý, đất nước là nơi sinh sống của con người, tán tỉnh “là nơi bạn đến trường”, “nơi bạn tắm”,… là không gian gần gũi, thân thiết. mà đất nước còn mang dáng vẻ hùng vĩ vĩ đại như “núi bạc”, “biển khơi” là nơi con người trở về sau những ngày xa quê hương.

    – về thời gian lịch sử:

    • quá khứ là một đất nước vĩ đại và thiêng liêng, khi tác giả nhắc nhở về nòi giống cao quý của dân tộc ta là con rồng cháu tiên. Đồng thời cũng gợi lại truyền thống hào hùng dựng nước và giữ nước.
    • Trong hiện tại, quê hương hiện lên gần gũi, thân thuộc, hiện hữu trong mỗi người, kể cả tiếng nói đối với nhân dân. . giao tiếp và suy nghĩ, kể cả những phong tục tập quán đẹp đẽ vẫn còn tồn tại trong lối sống của mỗi người.
    • Trong tương lai, đây là một đất nước có triển vọng tươi sáng. Thế hệ tương lai được đặt lên vai trọng trách để trưởng thành cả về trí tuệ và tầm vóc, làm nên những kỳ tích cho cả dân tộc.

    c. tư tưởng của người dân trong nước:

    – theo thuật ngữ không gian địa lý:

    – ghi nhớ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

    – Nhấn mạnh thực tế rằng đất nước ta là một dải núi liền sông, từ đó khơi dậy ý chí đoàn kết thống nhất đất nước, nam bắc trong một nhà của dân tộc ta.

    – biểu tượng cho vẻ đẹp tâm hồn người Việt Nam, đó là đức tính thủy chung son sắt trong tình yêu vợ chồng, ý chí quyết tâm chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, gợi lại thời dựng nước Việt Nam. dân tộc thiêng liêng và anh hùng, từ đó gợi nhớ đến truyền thống hiếu học của dân tộc ta, nhất là những thứ bình dị nhất như con cóc, con gà mái cũng làm nên cảnh sắc quê hương.

    = & gt; Nó khẳng định mạnh mẽ tư tưởng của Nguyễn Khoa Điềm rằng nước thuộc về nhân dân, vì nước là do nhân dân làm ra.

    * khía cạnh của thời gian lịch sử:

    – Trong suốt 4000 năm lịch sử, nhân dân luôn vùng lên chiến đấu bảo vệ tổ quốc, “không ai nhớ tên” nhưng chính họ là những người đã làm nên quê hương.

    – Nhân dân không chỉ là người dựng nước và giữ nước mà còn là người làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng là trao truyền những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần cho các thế hệ sau.

    * về văn hóa:

    – tác giả đã chọn ra ba câu ca dao tiêu biểu để gợi lên ba nét đẹp tâm hồn của người Việt Nam, cũng là ba “nét đẹp văn hóa tiêu biểu” của người Việt Nam nói chung.

    – “Anh yêu em từ khi còn trong nôi / Em nằm anh khóc, anh ngồi ru em ngủ”, người đẹp si tình, biết yêu thương những người xung quanh.

    – “Lội vàng lội sông / Vàng rơi không tiếc công tiếc vàng”, như vậy mới thấy được vẻ đẹp của việc quý trọng tình nghĩa hơn là những giá trị vật chất tầm thường.

    – “Giặc này ắt có từ lâu đời / Lấy tre đánh gậy cũng không đánh giặc được” gợi vẻ đẹp bền bỉ trong cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta từ bao đời nay.

    iii. kết luận:

    – tóm tắt giá trị nội dung nghệ thuật.

    ………….

    xem thêm: dàn ý bài thơ đồng quê

    sơ đồ tư duy về bài thơ đất nước

    Phân tích Đất nước hay nhất (21 Mẫu) - Văn 12

    Phân tích Đất nước – Mẫu 1

    Từ xưa đến nay, viết về đất nước luôn là nguồn cảm hứng chủ đạo của văn học. Tiếp nối cội nguồn văn học dân tộc, Nguyễn Khoa Điềm, một gương mặt tiêu biểu của văn học kháng chiến chống Mỹ, đã có một tầm nhìn rất mới về đất nước. quan điểm ấy được anh thể hiện đầy đủ hơn trong đoạn trích Đất nước thuộc sử thi Khát vọng mặt đường.

    quốc gia đối với mỗi người là một khái niệm khác nhau. đối với cụ Nguyễn Khoa Công cũng vậy, bằng cách nhìn nhận, phân tích bằng tư duy logic, từng tầng lớp khái niệm về đất nước đã được ông khai mở dần dần. anh không định nghĩa bằng những khái niệm quá mơ hồ và trừu tượng mà từ những điều rất cụ thể của chính cuộc sống:

    khi chúng ta lớn lên, đất nước có nó. đất nước có nó trong “ngày xửa ngày xưa” mà mẹ tôi kể. đất nước bắt đầu bằng miếng trầu, bây giờ ăn miếng trả miếng. đất nước ngày càng phát triển. thời dân ta biết trồng tre đánh giặc.

    / p>

    Qua quan niệm của tác giả, đất nước có vẻ rất bình dị, đất nước có cội nguồn trong truyện cổ tích, trong miếng trầu, trong truyền thuyết về các vị thánh trồng tre đánh thắng giặc ngoại xâm. đất nước ta tồn tại từ ngày đó, thấm nhuần trong tâm khảm mỗi đứa trẻ từ thuở ấu thơ.

    Không chỉ là những vật dụng của đất nước còn được hình thành từ những phong tục tập quán thuần túy, từ những nét văn hóa, truyền thống cao đẹp của dân tộc ta. Hình ảnh “tóc mẹ hất ra sau đầu” thể hiện nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa được lưu giữ từ ngàn đời nay của ông cha ta. Cho dù phương bắc đã thống trị cả nghìn năm và bị phương bắc tìm mọi cách để xã hội hóa thì cũng không cách nào xóa được vốn văn hóa đẹp đẽ của dân tộc ta. đất nước còn được định hình bởi lối sống thủy chung, nghĩa tình, bắt nguồn từ tình nghĩa vợ chồng: “cha mẹ thương nhau miếng gừng cay cay”. ở đây, nguyễn khoa điểm đã vận dụng hết sức nhuần nhuyễn câu ca dao: “Đĩa muối chấm gừng / Gừng cay đừng quên nhau” để cho thấy đất nước được tạo nên từ những điều tưởng như bình dị mà rất đỗi thiêng liêng. cao quý.

    Tiếp tục với dòng cảm hứng này, Nguyễn Khoa Điềm tiếp tục phát triển quan niệm về đất nước:

    đất là nơi anh đi học, nước là nơi anh tắm, quê là nơi ta hẹn hò, quê là nơi anh khăn gói nỗi nhớ

    Nước không còn xa lạ mà chính là không gian sống, gần gũi với cuộc sống hàng ngày của tất cả chúng ta. Nguyễn Khoa Điềm không phô trương, không ngần ngại thanh minh rằng đâu là chốn đi học, chốn tắm rửa, chốn đi chơi, chốn bồng lai. vâng, đất nước được hình thành từ những điều bình dị nhất trong cuộc sống. và để khắc sâu thêm quan niệm, ông đã truy ngược cội nguồn về quá khứ: “Đất nước là nơi dân ta tụ họp / Đất là nơi chim về / Nước là nơi rồng ở / Lạc long quân và Ấu đồng / đặt ô của. cánh đồng trong bao trứng “. Từ việc lý giải sâu sắc hai phương diện lịch sử và địa lý đã hoàn thiện khái niệm đất nước, đồng thời chỉ ra trách nhiệm của mỗi người với quê hương đất nước:” những người ra đi / những ai bây giờ / những người thương nhau đã có con cái / gánh lấy phần tổ tiên để lại / dặn dò con cháu mai sau làm gì / ăn ở đâu mỗi năm / lạy ở đâu / để nhớ ngày giỗ. của tổ tiên ”. hai chữ “gánh” đã khẳng định trách nhiệm của thế hệ mai sau trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. đồng thời nhắc lại, ngay cả trong công cuộc xây dựng đất nước, chúng ta cũng không được quên công lao của những người đã có công dựng nước và dựng nước. chỉ với hai chữ “cúi đầu” cũng thể hiện tấm lòng nhân hậu, thiêng liêng đối với quê cha, đất tổ.

    “Trong anh và em hôm nay /… / quê hương ấm no, vĩ đại”, bài thơ khẳng định, sự tồn tại và bền vững của quê hương là do sự đoàn kết của tất cả, là tình yêu đôi lứa. Chỉ khi nào có sự hài hòa giữa cái chung và cái riêng, giữa cá nhân và tập thể thì đất nước mới ấm no, trọn vẹn. và từ đó Người nêu cao trách nhiệm của mỗi cá nhân cũng như của toàn thể thế hệ trẻ đối với quê hương: “Các con ơi, quê hương là máu xương của các con / các con phải biết gắn bó, thủy chung / các con phải biết tôn lên vóc dáng của mình ”. quê hương / làm cho quê hương mãi mãi. “bởi vì:

    <3

    một số địa điểm và danh lam thắng cảnh mang tên ông. mỗi địa danh đều gắn với một chiến công, với sự hy sinh thầm lặng để làm rạng danh non sông đất nước. do đó, ông đưa ra kết luận: “và khắp mọi nơi trên những cánh đồng và những ngọn đồi /… / cuộc sống đã trở thành núi và sông.”

    Để làm nên đất nước, chắc chắn một cá nhân không thể làm nên văn hóa, truyền thống và lịch sử của dân tộc. vậy đó là ai, họ là ai?

    không ai nhớ tên nhưng họ đã tạo ra đất nước

    đó là sự thật, đó là một người vô danh, họ là những cô gái và chàng trai, họ “sống chết” “giản dị và bình lặng” họ mang tên thị trấn, tên xã, phong tục tập quán truyền thống và giữ nó cho các thế hệ tương lai. họ là những người đã làm nên đất nước. Với bút pháp liệt kê và nói “họ”, cụ Nguyễn khoa thư đã vẽ ra trước mắt người đọc một lớp người vô danh truyền từ đời này sang đời khác, truyền lại những giá trị vật chất cho con cháu đời sau. và những gì họ đang tìm kiếm là:

    Cầu mong đất nước này là đất nước của những con người, đất nước của những con người, xứ sở của những ca khúc thần thoại nổi tiếng

    Ở đây, Nguyễn Khoa Điềm đã khẳng định một cách mạnh mẽ những quan điểm tư tưởng của mình về đất nước và nhân dân. “Về với cội nguồn quê hương cũng là về với cội nguồn giàu đẹp của văn hóa dân gian” là nguyên lý bao hàm truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta. đồng thời là nơi hun đúc và đánh thức những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta:

    dạy con “yêu mẹ từ khi còn nằm trong nôi” để biết quý nhân có vàng lặn lội ngày tháng, biết trồng tre chờ ngày trở thành cây gậy báo thù không sợ dài lâu. thời gian

    Bài thơ kết thúc bằng một khúc ca đầy tự hào và rút ra dường như vang vọng khắp núi sông. đồng thời bài hát đó cũng thể hiện niềm tự hào sâu sắc của tác giả về truyền thống văn hóa cổ xưa của cha ông ta để lại.

    Đất nước là một bài thơ giàu chất suy tưởng và triết lí, thể hiện quan niệm rất riêng và đổi mới của nhà văn Nguyễn Khoa về đất nước. Với bài thơ này, người đọc sẽ được mở mang kiến ​​thức và có cái nhìn mới về đất nước trong quá trình lịch sử lâu đời. Kể từ đó, tôi càng thêm yêu và tự hào về nơi mình đã sinh ra và lớn lên.

    phân tích quốc gia – mẫu 2

    Đất nước – chủ đề muôn thuở trong thơ ca, nghệ thuật, là điểm hẹn của tâm hồn bao văn nghệ sĩ. Trong những năm tháng chiến tranh, tình yêu Tổ quốc đã tỏa sáng và cháy bỏng trong trái tim của mọi người Việt Nam. trích đoạn “đất nước” của nguyên khoa học được sáng tác trong bối cảnh đó.

    khi nói đến văn học thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. uu. và cứu nước, chúng ta biết đến các nhà thơ thời kỳ này như xuân quy, nguyệt đăng khoa, văn tiến sĩ … họ đã viết về tinh thần của cả một dân tộc. :

    “xẻ núi cứu nước nhưng tấm lòng phơi phới tương lai.”

    một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của nền văn học Việt Nam lúc bấy giờ phải kể đến một nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến trường kỳ nhưng chắc thắng của dân tộc, đó là Nguyễn Khoa Điểm.

    Khi nhắc đến nguyễn khoa học, mỗi người yêu văn học đều không thể quên phong cách thơ của ông, đó là thơ trữ tình chính trị. Thơ Nguyễn Khoa Điềm lôi cuốn người đọc bằng những cảm xúc sâu lắng, nhiều chiêm nghiệm, thể hiện tâm tư của người trí thức tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân. Một trong những kiệt tác của Nguyên khoa học phải kể đến là đoạn trích “Đất nước” trong chương v của “Bài ca dài về khát vọng mặt đường” của tác giả ở chiến khu – hoàn thành năm 1971, in lần đầu năm 1974.

    Công trình đã xây dựng nên tư tưởng “nước thuộc về nhân dân”, được nhân dân bảo vệ và gìn giữ muôn đời trên cả ba chiều: chiều rộng không gian địa lý, chiều dài lịch sử và chiều dài chiều sâu văn hóa. các nhà thơ dường như phải đối mặt với hàng trăm câu hỏi: “Ai đã tạo ra đất nước này? Ai sẽ bảo vệ và giữ gìn nó mãi mãi?” Để trả lời những câu hỏi này, Nguyễn Khoa Điềm đã đầu tư cảm xúc để tìm về cội nguồn của đất nước.

    Nói đến danh lam thắng cảnh của đất nước ở khía cạnh chiều sâu văn hóa, chúng ta phải hiểu rằng văn hóa là những giá trị mà con người tạo ra trên một vùng đất. có thể đó là giá trị tinh thần, cũng có thể là giá trị vô hình. Nguyễn Khoa Điềm nhìn nhận rằng người Việt Nam không chỉ ra đi để bảo vệ bờ cõi, mà còn truyền lại và đùm bọc lẫn nhau những mầm mống của dân tộc ta, những nét đẹp thấm nhuần tinh hoa của dân tộc Việt Nam được truyền từ đời này sang đời khác. đến ngực các bạn trẻ, đó là nét đẹp đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam chúng ta. đất nước ra đi một cách trang trọng nhưng rất đỗi bình dị và gần gũi:

    cấu trúc câu “đất nước có – bắt đầu – lớn lên” đã hình dung được quá trình phát triển của đất nước trong thời kỳ lịch sử lâu dài, đất nước như một sinh thể có nội lực mạnh mẽ. nghệ thuật liệt kê là thủ pháp quản lý chủ yếu của toàn bài thơ, giúp khắc họa cảnh quê bình dị, gần gũi. đất nước gắn với bà, cha, mẹ, nước chan hòa trong quan hệ gia đình, làng xóm. đất nước là một phần máu thịt trong ký ức của mỗi người.

    “Khi chúng ta lớn lên, đất nước đã có, đất nước ở“ ngày xửa ngày xưa… ”mà mẹ vẫn thường nói”

    nhà thơ bồi hồi xúc động về những ngày xưa cũ, đưa ta trở về cõi thần tiên huyền diệu mà từ lâu đã trở thành cội nguồn của cuộc sống, là tâm hồn ta, cho ta những bài học cuộc sống về lẽ phải sống nhân hậu, sống có tình nghĩa, sống có nghĩa. yêu thương, chăm sóc và bảo vệ lẫn nhau.

    “Đất nước bắt đầu bằng miếng trầu mà ăn”

    Tục chết răng, nhai trầu của người già. Đồng thời, đó cũng là câu tục ngữ “miếng trầu là đầu lịch sử”, là sự tích ăn trầu, là nét đẹp của người cao tuổi Việt Nam. đất nước là nền văn hóa kết tinh của tâm hồn người Việt Nam. Từ truyện dân gian, truyện cổ tích đến tục ngữ, “miếng trầu” đã là một hình tượng nghệ thuật đầy tính thẩm mĩ, là hiện thân của tình yêu, lòng thuỷ chung son sắt của dân tộc. Sau đó nhà thơ làm người dẫn đường đưa ta về làng Phù Đổng để nghe truyền thuyết thiêng liêng về việc nhổ bụi tre, bụi ngà đánh tan giặc Ân.

    “Đất nước phát triển khi dân tộc biết trồng tre, biết đánh giặc”

    Hình ảnh nhân dân ta trồng tre đánh giặc không chỉ được lặp lại một lần mà xuyên suốt 90 câu thơ, hình ảnh này được lặp lại ba lần, là biểu tượng của truyền thống yêu nước, đánh giặc bảo vệ Tổ quốc. con người Việt Nam. Có thể thấy từ bao đời nay, từ truyền thuyết dân gian đến các tác phẩm thơ ca hiện đại, cây tre đã trở thành biểu tượng của sức mạnh tinh thần đánh giặc cứu nước, là biểu tượng cho những phẩm chất tốt đẹp của người con Việt Nam. . từ “phát triển” được sử dụng rất chính xác, khơi dậy niềm tin và lòng tự hào dân tộc.

    giọng thơ sâu lắng, da diết khiến những suy tư về cội nguồn đất nước giàu chất triết lí mà vẫn tha thiết, trữ tình. cách cảm nhận, lí giải về cội nguồn của đất nước bằng những hình ảnh giản dị, thân thuộc đã khẳng định rằng: Đất nước gần gũi, thân thuộc và bình dị ngay trong cuộc sống của mỗi người. câu thơ: “Tóc mẹ vén sau đầu” gợi cho ta liên tưởng đến phong tục làm nên nét độc đáo của người phụ nữ Việt Nam.

    đất nước trưởng thành từ mồ hôi nắng mưa. hạt gạo, hạt gạo ướt đẫm mồ hôi, đẫm bao gian khổ, nuôi nấng bao đời nay. Đất nước lớn lên từ bao gian khổ của người cha và sự quan tâm của người mẹ: “Cha mẹ thương nhau muối gừng cay cay”. đó là chất liệu của ca dao, tục ngữ, đó là tình, là nghĩa, là lời thề vàng, là lối sống chung thủy, son sắt của các cặp vợ chồng Việt Nam.

    câu thơ “cây xà nu, cột thành tên” nói đến tục đặt tên con xấu để dễ nuôi dạy. những thủ pháp nghệ thuật liệt kê ở câu thơ thứ tám “hạt gạo phải xay, giã, xay, rây” chỉ ra các bước để tạo ra hạt gạo: một đất nước có nền văn minh lúa nước luôn bảo vệ hạt giống, cốt lõi của dân tộc Việt Nam. những nét đẹp được cha mẹ truyền cho con cái, thầy cô truyền chữ viết cho học trò, cha mẹ truyền cách sống, cách nghĩ cho con cái qua những câu ca dao, tục ngữ.

    và chính con người đã truyền đi những nét đẹp của đất nước, những nét đẹp văn hóa của dân tộc Việt Nam. từng chút một tác giả nhận ra: “đất nước có từ ngày ấy…”, chúng ta không biết ngày đó là ngày gì, chỉ biết rằng nó có từ rất xa xưa. chỉ biết rằng đất nước đã có từ thời huyền thoại và truyền thuyết, từ khi dân tộc hình thành phong tục tập quán, từ thời dân tộc Việt Nam không tiếc máu xương để giữ từng tấc đất thiêng liêng và anh hùng. bàn tay. để xây dựng nó. xây dựng đất nước.

    “that day” vừa là trạng từ thì quá khứ vừa là đại từ thay thế. nên đất nước có từ khi bà mẹ kể chuyện cho con nghe, khi dân tộc ta biết trồng tre đánh giặc, biết trồng lúa, trồng khoai, biết ăn trầu, biết thắt nơ, biết sống nghĩa tình và lòng trung thành.

    như đã nói ở trên, nguyen khoa diem là một nhà thơ quân đội trưởng thành, một trong những nhà thơ đã cắt chiều dài của trái đất dưới dạng tia chớp. Trước hết, khi nói đến bề rộng của không gian địa lý, chúng ta phải hiểu rằng địa vật là tất cả các yếu tố tự nhiên trên một đơn vị diện tích lãnh thổ của đất nước. Là một nhà thơ đã đi khắp mảnh đất hình chữ s, ông hiểu rõ từng danh nhân, vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam.

    “Những người vợ nhớ chồng cũng góp cho đất nước những núi vọng, những bạn trai yêu nhau góp tiếng trống, vó ngựa thánh đèo, còn trăm ao đầm bỏ chín mươi. -ngài voi góp sức xây dựng đất tổ vua hùng, rồng nằm yên góp non xanh biếc, chàng thư sinh nghèo góp nước, núi lông, con cóc, gà quê hương góp cho nguoi dep ha long, nguoi dan ong cung danh ong doc, ong trang, mrs. cho, mrs. diem ”

    ấn tượng đầu tiên của chúng tôi khi đọc tám câu thơ là như được đắm chìm trong không gian huyền ảo và thần thoại của câu chuyện cổ tích. cả bài thơ là một kho tàng truyện cổ và truyền thuyết như “núi vông” hay “trống mái”.

    Một lần nữa, tác giả trong vai hướng dẫn viên du lịch đưa chúng ta về làng Phù Đổng để nghe truyền thuyết về cây măng ngà đánh tan giặc Ân. đó là truyền thống yêu nước của dân tộc ta. mỗi dòng thơ tuy khác nhau về độ dài nhưng đều có cấu trúc giống nhau. mỗi dòng của bài thơ được chia thành hai phần và được nối với nhau bằng sự ám chỉ “đóng góp”.

    chúng ta có thể chia câu thơ dọc theo từ “đóng góp” sẽ được thể hiện bởi hai nửa theo quan hệ đối lập. nửa đầu nói về con người, ca từ giản dị, bộc trực, tình cảm, có chút bẽn lẽn, đáng thương. ngược lại nửa sau chữ “góp” chỉ đất nước, lời thơ đa sắc, đa dạng. nghệ thuật tương phản này là bài ca ngợi sự hy sinh của nhân dân để tạo dựng nên đất nước vẻ vang. Đằng sau mỗi địa danh có một cái tên, đằng sau mỗi cái tên đều có một huyền thoại và đằng sau những huyền thoại là cuộc đời của người dân. những con người làm nên đất nước, họ là những cặp vợ chồng thủy chung, những anh hùng, những chiến sĩ quyết tử cho Tổ quốc, những cậu học trò nghèo mài bút, thưa cô. doc, mr. trang, mrs. cho, mrs. diem … hơn nữa, con người cũng là những cái tên vô danh ít ỏi được ẩn dụ bằng hình ảnh con cóc, con gà … trong con người còn có những nhân vật mà chúng ta vừa thấy đã nhắc đến. sự uy nghiêm linh thiêng, sự ngưỡng mộ, sự tôn thờ, được ẩn dụ bằng hình ảnh “chín mươi chín con voi có công dựng nên đất tổ của vua hùng” xung quanh núi non hùng vỹ hay “con rồng ngủ trong lòng sông xanh thẳm”. dân tộc ta đa dạng, đông đảo, nhưng họ chỉ làm một điểm chung và họ đến với nhau: cùng chung sức xây dựng đất nước Việt Nam. cách sử dụng cụm từ “góp sức” mà nhà thơ sử dụng thật ấn tượng, gợi sự kiên trì, bền bỉ, ý chí thống nhất, đoàn kết của trăm người trong một việc: góp phần tạo nên không gian vẻ vang cho nhân dân. nhân dân đã góp công, góp sức đoàn kết, đóng góp xương máu, tính mạng, tên tuổi và tài năng. Nhờ đó, thế hệ mới của chúng ta có một đất nước hữu hình: đất nước của những anh hùng.

    nguyen khoa diem đã đề cập đến những địa điểm không tên. ai đó đã từng nói rằng “một vùng đất hoang là một vùng đất không có tên”. Đặt tên cho một địa điểm là vô cùng quan trọng và không thể thực hiện một cách tùy tiện. Có nhiều địa danh đã được thể hiện trong thơ ca dân tộc để tôn lên núi non hùng vĩ, tài hoa của dân tộc.

    nhưng nguyen khoa diem lại không đi theo hướng đó, ông miêu tả sự sinh sôi nảy nở của những nơi đó bởi vì ở đó có lòng trung thành, sự gắn bó, máu xương, tài năng, danh vọng, là tâm hồn của nhân dân. đây là kết quả của sự hy sinh bền bỉ to lớn của nhân dân. có thể nói tám câu thơ đã giúp người đọc thấy được điều kỳ diệu của thế hệ đàn anh. nó như một bông hoa vàng rực rỡ mà đất nước gọi là công lao của nhân dân: những con người đã hy sinh thân mình để tạo nên một công trình kỳ diệu chính là nhân dân ta.

    Nếu tám dòng thơ trước là sự tưng bừng với màu sắc tươi sáng và hình ảnh thơ mộng thì bốn dòng tiếp theo lại mang đầy cảm xúc suy ngẫm về diễn ngôn chính trị xen lẫn suy ngẫm của một thức tỉnh trí tuệ.

    đầu tiên chúng ta đến với hai câu thơ:

    “khắp nơi trên đồng ruộng, gò đất không có bóng dáng, ước vọng, lối sống của tổ tiên”

    được viết trôi chảy theo kiểu ngắt dòng và diễn đạt phủ định để khẳng định. nó giống như một bản tuyên ngôn sống dưới dạng một cuộc tranh luận để khẳng định mạnh mẽ những hy sinh to lớn của nhân dân. thì câu thơ thứ ba: “ôi đất nước sau bốn nghìn năm, đâu đâu cũng thấy” sử dụng thán từ “ôi”, một câu cảm thán. nhà thơ dường như không giấu được lòng mình, bộc lộ cảm xúc nghẹn ngào trước sự hy sinh to lớn của nhân dân.

    tác giả nhấn mạnh cụm từ “bốn nghìn năm” – đó là chiều dài lịch sử dân tộc, bốn nghìn đời cha ông đánh giặc, đời cha đi trước, đời con nối sau, đời cha con cháu. đều là những người đồng chí đồng đội chiến đấu vì độc lập dân tộc. cuối đoạn thơ là một câu thơ vô cùng ấn tượng: “đời ta đã đổi núi sông…” vì sự biến đổi. các câu trước mỗi câu có từ mười ba đến mười lăm âm tiết, nhưng ở câu cuối chỉ còn tám âm tiết. nó giống như một sự chiêm nghiệm, một đúc kết để đưa ra chân lý cô đọng. Ngoài ra, nó cũng được kết thúc bằng hai âm sắc bằng nhau như một giọng trầm để phản xạ âm thanh. dấu chấm lửng kết thúc bài thơ như một khoảng lặng trước những xao động của tâm hồn. nhưng điều ấn tượng nhất là câu văn rất súc tích.

    Cuộc đời của con người tuy ngắn ngủi và hữu hạn, nhưng chúng ta trở thành sông núi, gửi gắm những uy nghi vô hạn và vĩnh hằng. đây là sự biến đổi phi thường khẳng định nhân cách của chúng ta tuyệt vời như thế nào! họ không chỉ hiện thân để làm nên đất nước mà còn làm nên linh hồn của đất nước.

    Ngoài vẻ đẹp của không gian địa lý rộng lớn của đất nước, nó còn được thể hiện với sự kéo dài của lịch sử. Như chúng ta đã biết, nguyễn trai là một nhà sử học chính thống, một vị quan dưới triều Lê, ông là một nhà sử học nghiên cứu về lịch sử. Nguyễn Trãi coi lịch sử Việt Nam là sự tiếp nối của các triều đại và vua chúa:

    “Trong số hàng triệu, dinh, ly, và tran qua nhiều thế hệ, đã xây dựng cơ sở độc lập với han, tang, và tông, mỗi bên tự xưng là hoàng đế theo một hướng.”

    nhưng ngược lại, nguyễn khoa học không nhìn lịch sử theo cách của một nhà sử học chính thống. Có lẽ phải kể đến bài thơ lịch sử nhất trong toàn bộ bài thơ này:

    “Anh ơi, nhìn xa bốn ngàn năm đất nước” năm nào cũng vậy, những người trạc tuổi chúng tôi, vất vả khi có chiến tranh, con trai ra trận, con gái về nuôi con. với con cái của họ. “

    nếu nguyễn trai nhìn lịch sử nước ta theo cách của một nhà sử học chính thống thì nguyễn khoa mục nhìn lịch sử theo cách chính sử. đào sâu và nhấn mạnh con số “bốn nghìn năm”. bốn ngàn năm đó là bốn ngàn loại người Việt Nam ra trận, bốn ngàn thế hệ người Việt Nam ra trận, loại cha trước con sau cũng trở thành đồng đội trong quân đội. đó là một cuộc chạy đua tiếp sức của người dân Việt Nam. Nhắc đến bốn nghìn năm lịch sử của đất nước, nhà thơ không nhắc lại những triều đại, anh hùng lừng danh mà chỉ tập trung nhấn mạnh vai trò của những người vô danh:

    “Trong số bốn nghìn loại người như tôi, họ sống và chết một cách đơn giản và bình lặng, không ai nhớ tên, nhưng họ đã làm nên đất nước.”

    Họ đã làm nên đất nước bằng công việc hàng ngày và trong suốt cuộc đời của họ:

    “Nhưng họ đã làm nên đất nước mà họ bảo vệ và họ đã cho tôi lúa mà chúng tôi trồng, họ đốt lửa qua từng nhà, từ than đến cung, họ cho tôi giọng nói của họ để tập nói, họ lấy tên của xã và nhân dân mỗi chuyến di dân đều đắp đập bên bờ để dân trồng cây lấy quả, nếu giặc ngoại xâm thì chống giặc ngoại xâm, nếu có giặc nội thì vùng lên đánh dẹp ”

    họ truyền ngọn lửa mang tên sức sống của dân tộc Việt Nam. họ đã bảo vệ bờ cõi của đất nước ngay từ khi vị vua hùng mạnh cầm gươm đi mở đất. họ đã gìn giữ và trao truyền cho các thế hệ sau mọi giá trị văn hóa, văn minh tinh thần và vật chất của đất nước, của dân tộc: hạt gạo, ngọn lửa, tiếng nói, tiếng dân tộc, thậm chí cả tên xã, tên người. thị trấn và truyền thống chiến đấu chống thù trong giặc ngoài. cho nên, đọc đến đây, từ trong lòng mỗi người yêu văn đều vang vọng những vần thơ của hoàng trung trong bài thơ “đòn mông”:

    “Tôi viết bài thơ trên báng súng. Khi lớn lên, tôi tiếp tục viết cho cha tôi, người đã dậy và tiếp tục viết hôm nay và tiếp tục viết ngày hôm qua.”

    Chính những người đã viết nên trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam. vì vậy, viết về trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam là máu, mồ hôi và nước mắt của nhân dân. tương tự như vậy, chúng ta nhớ đến hình ảnh quân giải phóng trong bài thơ “Vị trí việt nam” của Lê anh xuân:

    “Anh ta ngã xuống bãi đáp tân sơn nhất nhưng cố gắng đứng dậy để vũ khí của mình lên thân trực thăng và chết khi đang đứng, máu anh ta phun lửa cầu vồng. Bất ngờ khi nhìn thấy anh ta, địch hoảng sợ van xin. đối với hàng ai đó gục dưới chân bạn né đạn vì bạn đã chết nhưng can đảm đứng ngay mà tấn công bạn ơi bạn vẫn đứng im như bức tường đồng như đôi dép dưới chân dẫm lên bao xác người đẹp, nhưng nó vẫn là một màu đơn sơ, tươi sáng không một dấu hiệu, một hình ảnh, không một vạch chỉ đường, chẳng để lại gì cho mình trước khi ra đi, chỉ để lại một hình bóng Việt Nam hiên ngang khắc kỷ: anh bộ đội giải phóng quân thành danh. của đất nước. xuất quân! từ vị thế hiên ngang giữa đường băng nên người con đất nước, anh hướng về mùa xuân “

    không dòng địa chỉ, không tấm ảnh trước khi lên đường, nhưng những con người ấy vẫn xung phong lên đường bảo vệ bờ cõi của Tổ quốc, sẵn sàng ngã xuống để “đất nước tung bay mùa xuân”.

    hay như triết gia Đức – engels đã từng nói: “không có máu, mồ hôi và nước mắt thì không có lịch sử dân tộc”. tư tưởng sâu sắc dẫn đến tư tưởng trung tâm, điểm kết tụ và cũng là cao trào của cảm xúc trữ tình ở cuối đoạn: đất nước này là đất nước của nhân dân. thể hiện tư tưởng an dân đất nước, tác giả đã trở về với cội nguồn văn hóa, văn hóa dân gian giàu đẹp, tiêu biểu là ca dao, nét đẹp tinh thần của nhân dân, hơn hết có thể tìm thấy trong ca dao, dân ca, cổ truyện: đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao, thần thoại. câu thơ song hành hai vế là một cách định nghĩa đơn giản nhưng độc đáo về đất nước. văn hóa việt nam là văn hóa của nhân dân, do nhân dân tạo ra. Trong nền văn hóa đó, ca dao thần thoại luôn chứa đựng lịch sử, xã hội, văn hóa của đất nước, đặc biệt là đời sống tinh thần của người dân.

    nhà thơ đã sử dụng ca dao, dân ca một cách sáng tạo: không lặp lại từng chữ mà chỉ dùng những ý nghĩa, hình ảnh từ ca dao, vẫn gợi nhớ ca dao nhưng chuyển thành câu thơ. , một ý thơ gắn vào sợi dây chung của toàn bài để khẳng định: người Việt Nam say đắm trong tình yêu.

    Thành công về nghệ thuật của bài thơ này là sự vận dụng yếu tố dân gian kết hợp với tư tưởng và cách diễn đạt hiện đại, tạo nên màu sắc thẩm mỹ vừa quen thuộc vừa mới mẻ. sử dụng tối đa các chất liệu văn hóa, dân gian đã tạo nên không khí, âm điệu và không gian nghệ thuật riêng: sự bình dị, gần gũi, hiện thực và nhẹ nhàng, mơ mộng của ca dao, truyền thuyết nhưng mới mẻ cho cách cảm, cách thể hiện của bản thân. thơ tự do. có thể nói chất văn học dân gian đã thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm của tác giả, tạo nên những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ này.

    Qua đoạn trích Đất nước, chúng ta phần nào nhận thấy nét đặc sắc trong phong cách thơ Nguyễn Khoa Điếm là sự kết hợp giữa chính luận và trữ tình, tư tưởng và tình cảm, ngôn ngữ thơ giản dị, gần gũi, ấm áp hơi thở cuộc sống. lý luận chính trị đã soi sáng phẩm chất trí tuệ hòa quyện với chất trữ tình phong phú. Câu thơ “con tim đập thông điệp” để ta thêm yêu và tự hào hơn đối với 4000 năm lịch sử của đất nước Việt Nam. qua đó có thể thấy, dù ở lĩnh vực địa lý, lịch sử hay văn hóa thì “đất nước này thuộc về nhân dân”, sẽ được nhân dân bảo vệ và gìn giữ mãi mãi. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã chắt lọc, tôi luyện và ủ men những nét đẹp thanh tao, tao nhã của các văn bản văn hóa dân gian vào thơ mình. mạch lạc xuyên suốt bài thơ với những câu thơ dài ngắn đan xen như sự tan chảy của cảm xúc, của dòng suy nghĩ miên man. xuyên suốt toàn bộ bài thơ, hai chữ “quê hương” luôn được viết hoa trang trọng, lặp đi lặp lại như một câu chính trong bản hùng ca về sông núi. Nhờ đó, tác phẩm đã đánh thức lòng yêu nước, tự hào dân tộc và trách nhiệm công dân trong mỗi chúng ta. Tuy bài thơ được viết theo thể thơ lục bát, tự sự, liệt kê, khó đọc, khó nhớ, nhưng với những gì Nguyễn Khoa Điềm thể hiện trong tác phẩm này, ông xứng đáng là một trong những nhà thơ tiêu biểu trong văn đàn Việt Nam ngày ấy. đồng thời, “quê hương” cũng xứng đáng trở thành hành trang tinh thần của những người yêu văn học bấy lâu nay về chủ đề tình yêu quê hương đất nước và còn nguyên giá trị cho đến ngày nay.

    phân tích quốc gia – mẫu 3

    Phân tích Đất nước hay nhất (21 Mẫu) - Văn 12

    Đất nước là một đề tài lớn thường gợi lên những cảm hứng mãnh liệt đối với thi nhân, nhất là vào thời điểm nền độc lập dân tộc đứng trước những thử thách lớn lao. Đoạn trích Đất Nước trong trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm cũng ra đời trong một hoàn cảnh tương tự như vậy. Đó là những năm tháng kháng chiến chống Mĩ cứu nước sôi sục, cuộc sống của mỗi cá nhân luôn luôn gắn liền với vận mệnh của đất nước. Viết trường ca Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm muốn góp một tiếng nói nhằm thức tỉnh thế hệ trẻ ở vùng tạm chiếm miền Nam. Đoạn trích Đất Nước thuộc chương V của trường ca, đây cũng là phần hay nhất của bản trường ca này, có thể hiện sự nhận thức sâu sắc của một thế hệ thanh niên Việt Nam về đất nước. Chính nhận thức ấy đã trở thành một điểm tựa để mỗi người tự suy nghĩ về trách nhiệm của mình đối với đất nước.

    Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: Đất nước của Trạng nguyên là bài thơ chính luận thể hiện nỗi niềm “Đất nước của nhân dân”. sở dĩ gọi là chính luận vì trong bài thơ này nhà thơ muốn nói đến đất nước và con người. Đó là những khái niệm về đất nước vừa quen vừa mới, nhưng tác giả không giới hạn việc giải thích đất nước là gì, nhân dân là gì mà còn muốn gửi gắm tình cảm sâu sắc của mình đối với đất nước, con người. sự kết hợp nhất quán của hai phương diện này đã làm cho bài thơ vừa lãng mạn vừa chính luận. Toàn bộ đoạn văn được chia thành các khổ thơ và tiểu đoạn để trả lời từng câu hỏi, và các câu hỏi được liên kết chặt chẽ với nhau. Dựa trên những câu hỏi về thời gian, tác giả muốn đưa người đọc ngược dòng thời gian để tìm lại thời khắc lịch sử khai sinh ra đất nước:

    khi chúng tôi phát triển, đất nước có nó. đất nước có nó trong “ngày xưa…” mẹ tôi thường kể rằng đất nước bắt đầu từ miếng trầu mà bây giờ bà ăn đất nước lớn lên khi dân ta biết trồng tre để đánh giặc. . tóc mẹ bới sau mái đầu cha mẹ thương nhau gừng cay muối giàn, công danh…

    Trong một câu thơ ngắn, một loạt trạng từ chỉ thời gian xuất hiện: “ngày xửa ngày xưa”, “bây giờ”, “kể từ ngày đó”. gắn liền với những trạng ngữ ấy là miếng trầu ông ăn hàng ngày, nghĩa nước đã có từ lâu đời, từ xa xưa trong dân gian, phong tục và cả cái tình của mỗi gia đình, trong từng hạt gạo. Sau mỗi câu hỏi xác định tình yêu và đất nước, Nguyễn Khoa Điềm lại tìm câu trả lời cho một câu hỏi quen thuộc hơn. trái đất là gì? đây không phải là một câu hỏi mới và nguyen khoa diem không phải là người đầu tiên đặt câu hỏi này. đã có những định nghĩa trong lịch sử, địa lý, dân tộc học. trong văn học, từ lâu, người ta đã đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: đất nước là gì? cái mới của nguyen khoa diem là đi tìm câu trả lời của chính mình, của thế hệ mình. trong khổ thơ sau, nhà thơ liên tục đưa ra những nhận xét của mình:

    đất là nơi anh đi học, nước là nơi anh tắm, quê là nơi ta hẹn hò, quê là nơi anh khăn gói nỗi nhớ.

    đất nước bình dị mà dung dị, trữ tình mà hấp dẫn mạnh mẽ người đọc. nhưng có lẽ bài thơ không chỉ viết cho tuổi trẻ, không chỉ cho những người đang yêu mà cho tất cả mọi người. định nghĩa về đất nước thì dài nhưng cách giải thích rất đơn giản, rất hợp lý và thuyết phục. đó là những kiến ​​giải trên hai trục không gian và thời gian “trường tồn, không gian mênh mông”, giữa không gian thời gian ấy hiện ra một vùng non nước hùng vĩ với hình ảnh “con chim phụng”, con chim phượng hoàng bay về phía núi bạc. – một con cá giống như móng vuốt của biển. ”

    là một không gian trữ tình hùng vĩ của đất nước. ở đây tác giả quay lại truyền thuyết và sử dụng truyền thuyết để giải thích đất nước là gì.

    Đất là nơi chim quay về, còn nước là nơi rồng sinh sống.

    lac long quan, au co sinh ra con nguoi trong bọc trăm trứng, đất nước tạo ra mọi người, muôn đời, kẻ sống, kẻ chết. mà đi đâu người dân xứ này cũng cúi đầu tưởng nhớ ngày giỗ tổ. đất nước vừa thiêng liêng, vừa rộng lớn nhưng cũng gần gũi, thân quen. quê hương ở trong bạn, trong bạn và trong tất cả mọi người, trong thế hệ đã đi qua, trong thế hệ này và trong các thế hệ mai sau. luôn có một đất nước đầy ắp tình yêu. giọng điệu chính luận vẫn cô đọng nhưng ca từ tình cảm đầy cảm xúc:

    Tổ quốc thân yêu là máu và xương của tôi…. làm cho đất nước mãi mãi …

    khi đọc những câu thơ này của nguyen khoa diem, tôi chợt nhớ đến một câu thơ của bảo lan viên, người cũng đã từng đưa ra những nét khái quát trong thơ khi nghĩ về đất nước. Lan vien và nguyen khoa diem thuộc hai thế hệ khác nhau nhưng dường như họ đã có sự đụng độ nhất định khi nói về tình yêu đất nước to lớn của nhau. nguyễn khoa điểm viết “đất nước là máu xương của chúng ta” nên “phải biết đắp nên hình hài của đất nước” thì che lan viên viết:

    ôi đất nước của tôi mà chúng tôi yêu quý như máu thịt

    chính trị cần kiểm chứng bằng những lý lẽ thuyết phục để khiến dân tin, chữ tình để dân tình. Sức hấp dẫn của thơ Nguyễn Khoa Điềm khi nói về đất nước là sự kết hợp hài hoà giữa phẩm chất chính luận và phẩm chất của một bức thư tình dựa trên những hình ảnh cụ thể, chi tiết nâng dần lên tầm khái quát.

    Ở phần hai của bài thơ xuất hiện hàng loạt hình ảnh, chi tiết cụ thể khi nói về đất nước, một phát hiện độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm khi nhà thơ chỉ ra những yếu tố góp phần làm nên đất nước. ở đây có hàng loạt tên tuổi oai hùng, đất nước rộng lớn, đất nước có bề dày truyền thống ngàn năm trong lịch sử không phải là cái gì to tát, to tát mà là cái gì đó gần gũi, thân thuộc với mọi người. Công lao đóng góp cho quê hương không của riêng ai, không chỉ những anh hùng vĩ đại có công làm nên quê hương mà còn là những người con bình thường, những con người vô danh đang sống thanh bình nhưng đã cống hiến cả đời cho quê hương. đó là những con người yêu thương nhau, góp phần làm nên “núi lông, non học” của đất nước và cả những con vật bình thường như con gà, con cóc nhưng đủ sức đóng góp cho đất nước một ha long tươi đẹp và huyền thoại. Những cái tên thông dụng trong tiếng Việt như “mr. Doc, mr. Trang, mrs. Den, mrs. Diem” tạo nên những địa danh nổi tiếng của đất nước.

    Từ những khám phá rất mới và nguyên bản này, tác giả đã đi đến một tầm khái quát sâu sắc và cảm động:

    ôi đất nước sau bốn nghìn năm, đi đâu cũng thấy những kiếp người đã thành sông núi.

    tác giả không dừng lại ở đây như một sự kết thúc cho những cảm xúc và suy ngẫm về đất nước, những cảm xúc và suy nghĩ lan tỏa vì dường như nó chạm đến bất cứ điều gì về đất nước. Từ những người con trai đi chinh chiến, những cô gái ở nhà đến cùng con cái nuôi con khôn lớn. trong số họ có những người đã trở thành anh hùng. tuy nhiên, đất nước không chỉ được tạo nên bởi bốn nghìn loại người ‘họ đã sống và chết – đơn giản và lặng lẽ – không ai nhớ tên họ nhưng họ đã làm nên đất nước’. tác giả muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những con người vô danh, những tác phẩm tuy thầm lặng, giản dị và thân thuộc nhưng mang ý nghĩa lớn lao. chính họ đã truyền cho tôi hạt gạo tôi gieo, họ truyền lửa cho tôi, họ truyền tiếng nói cho con tôi … sau khi suy ngẫm, nhà thơ đã đi đến kết luận: Đất nước này là đất nước của nhân dân, của những con người thiêng liêng. . những bài hát thần thoại, đất nước của tất cả, bao gồm cả những anh hùng và những người xa lạ. họ không để lại tên tuổi trong lịch sử, cũng không phải tượng đài, dấu vết vinh danh, nhưng họ đã đem đến cho đất nước một cuộc sống bình dị và chính những điều bình dị đó đã làm nên một đất nước hùng mạnh, tạo nên một đất nước trường tồn với thời gian và vĩ đại trong một không gian bao la, rộng lớn.

    Đóng góp của nguyen khoa diem khi nói đến đất nước là nhà thơ đã huy động hết vốn kiến ​​thức phong phú của mình trong những năm học ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa và kinh nghiệm bản thân của nhà thơ trong những ngày tham gia phong trào sinh viên chống ngụy quyền miền Bắc. ở thành phố huế và những năm tháng bị giam cầm trong nhà tù của Mỹ ngụy. Bằng tình cảm chân thành và những suy nghĩ sâu sắc, nhà thơ muốn gửi gắm đến người đọc những cảm nhận của riêng mình về đất nước, góp phần làm phong phú thêm hình tượng đất nước trong văn học nói chung và thơ ca nói riêng. đất không phải là tiếng nói của chính nhà thơ mà là cảm nhận của một thế hệ thanh niên thời chống Mĩ về đất nước. Đây cũng là một biểu hiện, một nét đặc sắc trong giọng văn của Nguyễn Khoa Điểm, là sự kết hợp nhuần nhuyễn, nhuần nhuyễn giữa trữ tình và chính luận.

    phân tích quốc gia – mẫu 4

    quê hương – hai tiếng thiêng liêng ấy vang lên từ sâu thẳm tâm hồn chúng ta; cùng lúc được nâng cao và trang trọng; gần gũi hình ảnh đất nước đã thôi thúc bao hồn thơ cất cánh.

    “Vỉa hè khát vọng” của nguyên khoa cử cũng nằm trong dòng chảy dồi dào đó và trọn vẹn hơn trong việc thống nhất cội nguồn đất nước và tư tưởng dân tộc của nhân dân.

    Đơn giản như một điều tất nhiên, bài thơ mở ra với mong muốn tìm về nơi đất nước đã từng là:

    “khi chúng ta lớn lên, đất nước có nó, đất nước có nó trong“ ngày xửa ngày xưa… ”mẹ thường nói. đất nước bắt đầu bằng miếng trầu mà nước ăn nay lớn lên dân tộc ta biết trồng tre nhưng khi đánh giặc mái tóc người mẹ đã bới sau mái đầu cha yêu thương với gừng cay, muối mặn áo giáp, cây sào làm nên cái tên hạt gạo phải xay, giã, rây, rây lấy nước có từ ngày đó … ”

    Trong quá khứ, đất nước gắn liền với những truyền thuyết, huyền thoại và những triều đại hùng mạnh. hôm nay, nguyen khoa diem trở lại cuộc hành trình trong sự thân thuộc và gần gũi. có khoảng cách với lịch sử nhưng gần với ký ức tuổi thơ. đó là “ngày xửa ngày xưa…” mẹ tôi nói với tôi; sự ấm áp của những hình ảnh dưới mái nhà Việt Nam, với “miếng trầu” đỏ thắm, lũy tre ngàn năm đánh giặc, tình cha nghĩa mẹ thắm thiết. “gốc” không gì khác hơn là một gia đình thân thuộc và thân thiện.

    những câu thơ nhẹ nhàng, ấm áp, tràn đầy nhựa sống xen lẫn ca dao, cổ tích tạo nên tâm hồn nhẹ nhàng. là câu chuyện miếng trầu “miếng trầu trở thành dâu trong gia đình”, là câu chuyện về cậu bé làng ba nhổ tre diệt giặc, là câu ca dao “gừng muối” ân nghĩa thủy chung. đất nước mang vẻ thơ mộng, bay bổng và đẹp đẽ dưới con mắt tinh tế của nhà khoa bảng.

    quốc gia cũng là chiều rộng của không gian địa lý; chế độ xem có thể không mới.

    ngày xưa nguyen dinh thi viết:

    “Việt Nam là đất nước có biển lúa bạt ngàn, nơi đẹp nhất đất trời.”

    Đó là một không gian rất dài, rất rộng, rất cao mang tầm vóc sử thi.

    với nguyen khoa diem:

    “đất là nơi bạn đi học, nước là nơi bạn tắm mát, ruộng là nơi ta hẹn hò, ruộng là nơi mà bạn khăn gói với nỗi nhớ, đất là nơi “chim phượng bay về núi bạc” nước là nơi ”“ thời gian bao la, không gian bao la, đất nước là nơi tụ hội của dân ta, đất là nơi chim về, nước là nơi rồng. sống ”

    Xem thêm: Phan tich 9 cau dau trong bai tho dat nuoc

    đất nước là “nơi bạn đến trường” – cuộc sống học tập, “nơi bạn tắm mát” – cuộc sống hàng ngày và góc đời của các cô gái, “nơi chúng ta đi chơi” – thắp lên ngọn lửa yêu thương, “nơi Em ném vào chiếc khăn trong nỗi nhớ ”- ghi dấu trí nhớ con người. Đó cũng là một không gian phong phú, trù phú, bao la, rộng đẹp:“ phượng bay trên núi bạc – cá vuốt nước lớn biển khơi. “.rất gần gũi với nhân dân, chiếc khăn ấy là câu hát nghiêm trang trong đêm ân tình” khăn nhớ ai – khăn rơi xuống đất “, gắn liền với lời ca tiếng hát của mảnh đất tình yêu hòa bình và công lý.

    đất nước cũng là chiều dài của câu chuyện:

    “Đồng bào ta sinh ra đồng bào trong vỏ trứng” những người đã qua đời, những người nay thương yêu nhau, sinh con đẻ cái, gánh nặng của người đi trước, để răn dạy con cháu về tương lai mỗi năm cúi đầu tưởng nhớ ngày giỗ tổ. “

    4000 năm lịch sử được hun đúc nên những trang chói lọi từ lịch sử của ông cha ta:

    “của hàng triệu, dinh, ly, tran qua nhiều thế hệ để tạo dựng nền độc lập.”

    (hũ ngô đại cáo-nguyễn trai)

    cho:

    “đất nước bốn nghìn năm gian lao, gian khổ. Đất nước như vì sao không ngừng tiến về phía trước.”

    (mùa xuân nho nhỏ-qinghai)

    sau lan vien viết:

    “Hỡi sông hồng, tiếng hát bốn ngàn năm! Đất nước có bao giờ đẹp đến thế? chưa! ngay trong những ngày đẹp nhất khi nguyễn trai làm thơ đánh giặc, nguyễn du viết kiều, nước thành văn, khi nguyễn huệ cưỡi voi ra cửa bắc. hùng hục tiêu diệt quân Nguyên trong làn sóng bach đăng. .. “

    đối với nguyen khoa diem, đó là một khoảng thời gian dài, một không gian rộng lớn. Đó là truyền thuyết về cái bọc trăm trứng, có nơi chim về, rồng ở, và ngày kỷ niệm thiêng liêng về tổ. đó là kết quả trước trí tưởng tượng bay bổng của tâm hồn đầy khát vọng, gần gũi và đẹp như mơ, đẹp bay bổng,… mà trước sau nguyễn khoa trang dường như chưa ai nói trước được điều đó.

    Quốc gia này cũng đi sâu vào vấn đề riêng tư trong cuộc sống của người dân:

    “trong bạn và tôi hôm nay có một phần đất nước khi chúng ta nắm tay đất nước trong ta hài hòa và ấm áp khi chúng ta nắm tay mọi người đất nước ấm no và mai này lớn lên con tôi lớn lên tôi sẽ lấy đất nước xa mơ ngày nào em ơi, đất nước là máu xương của chúng ta, phải biết đoàn kết, chia sẻ, phải biết hòa mình vào hình hài của đất nước để làm nên đất nước mãi mãi… ”

    khi hai ta “nắm tay nhau” thì đất nước “hòa thuận, ấm no”, chúng ta “nắm tay ai nấy đi”, thì mới “tròn vành rõ chữ”. quê hương mang đậm tình yêu đôi lứa, tình đồng hương và cũng là “máu thịt nghĩa tình sâu nặng”, quê hương là “máu thịt” của chúng ta. đất nước được nhìn từ cái chung đến cái riêng, từ cá nhân đến cộng đồng, từ xa đến gần, từ chiều rộng đến chiều sâu, từ cái hữu hình đến cái vô hình. một sự sắp xếp tự nhiên, điều chỉnh và hợp lý, tràn đầy tình yêu thương.

    tiếp theo là tư tưởng dân tộc của nhân dân. một loạt các câu thơ tự do với biên giới thơ rộng. nhịp thơ chậm lại, mang không khí trò chuyện. nghệ thuật liệt kê và cấu trúc câu nhấn mạnh ý nghĩa và tính liên tục của bài thơ.

    lời ca, giọng thơ sôi nổi, nghiêm trang và đầy tâm huyết, khẳng định những đóng góp của nhân dân trong công cuộc xây dựng đất nước. đó là núi vông phu: năm tháng chung thủy chờ đợi vươn cao ngất trời. Đó là núi non trùng điệp được xây dựng nên bởi sự hiếu học của những năm tháng miệt mài với sách vở và hàng loạt địa danh “ong doc, ong trang, mrs. den, mrs. diem”, với niềm tự hào ca ngợi núi non sông sầu, ”không ky thuy anh ”. con người và những báu vật vô tri vô giác khác đã “đắp nên hình hài đất nước” và đối với tác giả đó là tình yêu đối với công lao to lớn của nhân dân, xây dựng nên “dáng sông, thế núi”.

    khẳng định quê hương thuộc về nhân dân đồng thời là lời cầu xin tình yêu quê hương đất nước, đánh thức lòng tự hào, tinh thần dân tộc trong mỗi người. “em ơi” là tiếng gọi ngọt ngào, chân thành, trìu mến, đầy những lời thủ thỉ từ trái tim. vì vậy hãy nói về những điều tuyệt vời mà không sáo rỗng. ai là người? họ là những người “con nhà nòi” của thời đại chúng ta, kẻ ra trận, kẻ ở lại, có những anh hùng “cả ta nhớ” nhưng cũng có những anh hùng không tên “không ai nhớ mặt”. đất nước “.” họ đã sống và chết – giản dị và lặng lẽ “, bài thơ như một nén nhang tận tụy và hương khói được thắp lên cho nhân dân và tổ quốc.

    Suốt bốn nghìn năm dựng nước, nhân dân ta đã giữ lấy hạt gạo, truyền từng ngọn lửa, truyền tiếng nói, tên các xã, thị trấn, đắp đập chống giặc ngoại xâm. các giá trị vật chất luôn đồng hành với văn hóa tinh thần, trong cả công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc. những câu thơ gợi nhớ: Biệt đội ô tô không cửa sổ, những cô gái mở đường, người giải phóng:

    “Bạn là thiếu nữ hay thần tiên? Bạn có già hay không?”

    hoặc:

    “Chúc mừng quân giải phóng, người đẹp nhất!”

    Tác giả đã chọn lọc chất liệu văn hóa dân tộc trong ca dao, thể hiện tình cảm, suy nghĩ. đó rõ ràng là chân dung tinh thần của nhân dân. hồn dân tộc gửi gắm vào văn hóa dân gian đã trở thành vực thẳm văn hóa. Nhìn vào chiều dài, chiều rộng và chiều sâu, chúng ta có thể thấy vai trò của con người trong việc kiến ​​tạo và bảo vệ. thì “đất nước này là đất nước của mọi người”.

    “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm là bài ca dao mang tinh thần kháng chiến, là lời kêu gọi lòng yêu nước của mọi thế hệ người Việt Nam hiện nay và mai sau.

    phân tích quốc gia – mẫu 5

    “… trong bạn và tôi hôm nay có một phần của đất nước khi chúng ta nắm tay đất nước trong chúng ta hài hòa và ấm áp khi chúng ta nắm tay mọi người đất nước ấm no, mai này lớn lên con tôi lớn lên tôi sẽ lấy nước xa trong những ngày mộng mơ ơi, đất nước là máu xương của chúng ta, phải biết đoàn kết, chia sẻ, phải biết hòa mình vào hình hài của đất nước để làm nên đất nước mãi mãi … ”

    “Phố khát vọng” là một thiên anh hùng ca đặc sắc của tác giả Nguyễn Khoa Điểm, ra đời trong cuộc chiến tranh ác liệt thời chống Mỹ, ở chiến trường Trinidad, một điểm nóng, ở chiến trường miền Nam năm 1971 Bài thơ đã chuyển tải người đọc nhiều cảm xúc, tự hào về đất nước, con người.

    Trong bài hát “có một thời đại mới trong thơ”, Trần manh hao viết: “Đêm giao thừa Tết Nguyên đán 1973 – 1974, dưới rừng Phủ dài, chúng tôi xúc động khi nghe mảnh vỡ”. Đất nước ”trích từ sử thi“ Mặt đường khát vọng ”của tác giả Nguyễn Khoa Phát trên đài. Những suy nghĩ về đất nước, về dân tộc đã được nhà thơ hiện đại hóa với những chiêm nghiệm sâu sắc và cảm xúc mãnh liệt.”

    “đất nước” – là chương v trong bài thơ dài 110 dòng “vỉa hè khát vọng” (ở “dòng 12” anh phê 89 câu). Phần đầu (42 câu) là cảm nhận của nhà thơ trẻ về đất nước trong cội nguồn lịch sử văn hóa sâu sắc, gắn bó mật thiết với đời sống sinh hoạt của mọi người Việt Nam. phần thứ hai, cảm hứng chủ đạo về đất nước là sự ngợi ca và khẳng định tư tưởng bình dân của đất nước.

    từ đó, nhà thơ nhận diện và khám phá đất nước trên các phương diện địa lý, lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống, tinh thần dân tộc – văn hóa Việt Nam. cái hay độc đáo của chương v “quê hương” là việc tác giả vận dụng sáng tạo nhiều yếu tố văn học dân gian, tục ngữ, ca dao, dân ca, truyện cổ, phong tục tập quán …, cùng với cách diễn đạt giản dị, ấn tượng hiện đại vừa gần gũi, vừa mới lạ. độc giả.

    mười ba câu thơ sau đây là đoạn trích trong phần đầu của chương “đất nước” nêu cảm nghĩ: đất nước thật gần gũi với mỗi người Việt Nam:

    trong bạn và tôi hôm nay, có một phần của đất nước … nó làm nên đất nước mãi mãi …

    trong chương v của bản anh hùng ca “mặt đường khát vọng”, hai chữ đất nước và con người được viết hoa, trở thành những “nét đẹp” gợi không khí cao cả, thiêng liêng và thể hiện cao tình cảm yêu thương, tự hào trong đất nước và con người của nó. chủ đề trữ tình là “anh và em”, thổ lộ tiếng nói của trái tim, sâu lắng, nghiêm túc, ngọt ngào. cấu trúc khổ thơ gồm 13 câu là một cấu trúc so sánh tổng thể, chúng ta có thể cảm nhận được bản lĩnh chính trị của ngòi bút thơ Nguyễn Khoa Điểm.

    “Trong bạn và tôi hôm nay, có một phần của đất nước.”

    chỉ là một “bộ phận” nhỏ bé, nhưng thật gần gũi, gắn bó, thân thương và tự hào biết bao. từ quan niệm, quan niệm “mỗi người dân là thành viên của cộng đồng, của đất nước” được thể hiện một cách “mềm mại” hơn qua những giọng điệu đầy tình cảm của đôi trai gái, của “anh và em”.

    Bảy câu tiếp theo mở rộng câu trước từ “hai bạn” thành “mọi người”, từ “hôm nay” đến “ngày mai” và mãi mãi về sau.

    “Khi hai bạn bắt tay, đất nước chúng ta đang hòa hợp.”

    ở phần trước, nhà thơ đã cảm nhận: “đất nước là nơi ta đi học – nước là nơi ta tắm – Nước là nơi ta đi chơi – Đất nước là nơi ta ném khăn vào trong nỗi nhớ. “. và “khi hai người bắt tay nhau”, một mái ấm đã được xây dựng, một tổ ấm gia đình. gia đình là “một phần” của đất nước.

    chỉ có tình yêu và hạnh phúc gia đình mới tạo nên sự “hòa thuận, đầm ấm” bằng tình yêu quê hương đất nước. đó là bản chất thống nhất của tình cảm thời đại mới. ý tưởng đó đã được nguyễn đình thi thể hiện bằng một bài thơ sâu sắc và đầy suy tư về nỗi “nhớ nhà”:

    “Tôi yêu các bạn như tôi yêu đất nước của tôi, làm việc chăm chỉ và đau đớn, không có hồi kết…”.

    của tình yêu và hạnh phúc lứa đôi, biết yêu gia đình, yêu quê hương, yêu quê hương đất nước thì mới có tình sâu đậm “quê hương trong ta hòa thuận, đầm ấm”, mới tìm về quê hương. quê hương cả trong niềm vui và nỗi đau của bạn, của tôi và của những cặp đôi khác:

    “Trước đây tôi yêu quê vì có chim và bướm, có những lần nghỉ học bị chúng đánh, giờ tôi yêu quê vì trong mỗi tấc đất đều có một phần máu thịt của anh tôi” .

    (jiangnan)

    Nói về cội nguồn giống nòi và dân tộc, nguyên khoa cử nhắc lại truyền thuyết “trăm trứng”: “đất là chim về, nước là rồng ở, sơn long quân, thủy là thế. đồng – cánh đồng được sinh ra. hãy đặt chúng ta vào trong một vỏ trứng – những người đã chết – những người bây giờ … ”. Từ truyền thuyết thiêng liêng đó đã nảy sinh ý nghĩa thơ mộng:

    “Khi chúng ta nắm lấy mọi người, đất nước sẽ to lớn và đầy đủ”

    hai từ “nắm tay” trong câu thơ “khi hai người nắm tay nhau” có nghĩa là tình yêu, tình yêu. “khi cả hai cùng nắm tay mọi người” nghĩa là đoàn kết, yêu thương đồng bào, v.v. mọi người nắm tay nhau, yêu thương nhau, giúp đỡ nhau để có hình ảnh một “đất nước trọn vẹn và vĩ đại”. sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam. từ “chan hòa, nồng nàn” đến “trọn vẹn và vĩ đại” là một bước phát triển và đi lên của lịch sử dân tộc, đất nước.

    Đất nước được coi là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. chỉ khi “ba cây hợp lại thành núi cao”, và chỉ khi “lá lành đùm lá rách”, “người một nước nên yêu thương nhau” thì mới có hình ảnh đẹp và thiêng liêng ”. cả nước ”. .round, lớn. ”

    Bốn câu thơ trên được kết cấu theo kiểu đối xứng của các từ ngữ: “khi hai người nắm tay nhau” … “khi ta nắm tay người”, “đất nước hòa thuận, ấm no …”. “Đất nước no ấm, rộng lớn”. cách diễn đạt linh hoạt, sinh động đó mang ý nghĩa thẩm mỹ sâu sắc: hình thức này diễn đạt nội dung đó, nội dung đó thể hiện dưới hình thức này.

    Tính đối xứng làm cho lời thơ uyển chuyển, hài hòa, gắn kết, thể hiện rõ ý thơ: tình yêu như đôi lứa, mái ấm gia đình hạnh phúc, tình yêu quê hương đất nước, tinh thần đại đoàn kết giữa các dân tộc. dân tộc là tình cảm cao đẹp làm nền tảng cho truyền thống “Yêu nước, yêu quê hương, yêu đồng bào” và đó là sức mạnh của Việt Nam. quê hương “cội nguồn thiêng liêng của tổ tiên”, quê hương “trong bạn và tôi hôm nay”, quê hương mai sau. như một thông điệp, như một niềm tin mong đợi sáng ngời:

    “Mai sau con tôi lớn lên, bạn sẽ đưa đất nước đi xa những ngày mơ mộng”.

    nguyen thi, mr. duc, le anh xuan, son nam … đã tạo nên chất giọng Nam Bộ hấp dẫn trong thơ, truyện của họ. tou huu, nguyen khoa diem, thanh hai, v.v. họ cũng có giọng nói rất riêng, rất dễ thương và ngọt ngào. hai từ “ngày mai” là cách mọi người nói về sắc thái.

    thế hệ mai sau tiếp bước tổ tiên, “gánh gồng gánh người đi trước để lại” dựng nước “ngàn xưa, hiếu giang sơn” (trần quang khai), “xứng đáng hơn, vĩ đại hơn và đẹp nhất “” (Hồ Chí Minh). Hai chữ “lớn lên” thể hiện niềm tin vào trí tuệ và lòng dũng cảm của con người trong hành trình lịch sử hướng tới một ngày mai tươi sáng. “Ước mơ” có nghĩa là rất đẹp, ngoài sức tưởng tượng của một đất nước Việt Nam phồn vinh , một sức mạnh văn minh.

    điều mà “bạn và tôi”, mỗi chúng ta mơ ước hôm nay, sẽ trở thành hiện thực “vào ngày mai”. ở bốn dòng cuối của bài thơ, cảm xúc lên đến cao trào. giọng thơ trở nên ngọt ngào, thiết tha khi nhà thơ bộc lộ những tâm tư cao đẹp:

    “Các em thân mến, đất nước là máu xương của chúng ta, chúng ta phải biết đoàn kết, chia sẻ, phải biết hiện thân vào hình hài của đất nước để làm nên đất nước mãi mãi…”

    “hỡi ơi” – tiếng gọi yêu thương, bày tỏ và sẻ chia những niềm vui nhen nhóm trong lòng khi nhà thơ cảm nhận và định nghĩa về quê hương: “Quê hương là máu thịt mình”. quê hương là dòng họ, là máu thịt thân yêu của chúng ta, là mồ hôi xương máu của các bậc tiền nhân, tổ tiên ngàn đời của dân tộc. bởi vì “quê hương là máu và xương của tôi”, đó là lý do vì sao mái sao đã viết:

    “Nuôi con người từ ngày trái đất mở ra, bốn ngàn năm nằm gai nếm mật, một tấc lòng cũng đong đầy tâm hồn thánh thiện.”

    (“bài thơ của một người yêu Tổ quốc” ngày 19 tháng 12 năm 1967)

    với nguyen khoa diem, “gắn bó”, “sẻ chia”, “hóa thân” là biểu hiện của lòng yêu nước, lương tri và nghĩa vụ cao cả, thiêng liêng. “Đánh phải biết chia… phải biết hiện thân…” để “làm rạng danh quê hương đất nước”. cụm từ “phải biết” như một mệnh lệnh từ trái tim, khiến giọng thơ trở nên mạnh mẽ và đầy sức lay động.

    Bạn có biết bản hùng ca “phố khát tình” ra đời ở nơi nóng bỏng, ác liệt nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chỉ cảm nhận được những từ: “dán”, “sẻ”, “hóa thân” là tiếng lòng thiết tha. ? “mang ý chí và khát vọng vượt qua giới hạn thông tin của ngôn từ” như một nhà ngôn ngữ học nổi tiếng đã nói.

    Trong thơ ca Việt Nam thời kháng chiến, đề tài quê hương đất nước được tô đậm với nhiều bài thơ tuyệt tác, những đoạn văn hay, câu thơ hay. cảm hứng về đất nước được thể hiện qua nhiều bài thơ đặc sắc với phong cách sáng tạo riêng của mỗi nhà thơ. chất trữ tình thấm đẫm dư ba. đất nước máu lửa mới có những cảm xúc sâu sắc như thế. đây là tiếng nói ở cả hai đầu đất nước:

    “Tôi yêu đất nước này chân thành như tôi yêu ngôi nhà nhỏ của tôi với mẹ tôi, tôi yêu bạn nụ hôn ngọt ngào trên môi và bạn yêu tôi vì đã biết làm cho mọi người chăm lo cho sự thống nhất của đất nước mình”

    (mái nhà của các vì sao)

    “ouch! Tổ quốc tôi yêu như ruột thịt như cha mẹ ruột thịt như vợ chồng.

    (chuẩn bị hoa lan)

    hãy quay lại bài thơ trước của nguyen khoa diem. những bài thơ rất hay. đất nước thân yêu đoàn kết tất cả. người ta phải biết dâng mình cho “Tổ quốc muôn đời”. bài thơ đẹp còn bởi niềm tin tươi sáng về tương lai đất nước, tương lai tươi sáng của dân tộc. bài thơ mang tính chính luận, trữ tình và hàm ý về tinh thần công dân thời đại mới. giọng thơ đa cảm, ngọt ngào, lời thơ dạt dào cảm xúc, sáng tạo trong ngôn từ, hình ảnh, thể hiện một hồn thơ giàu chất chiêm nghiệm, khẳng định một phong cách thơ độc đáo, có nhiều tìm tòi mới.

    “Em ơi, quê hương là máu xương của em…” – một bài thơ rất hay! một bài thơ chói lọi của vẻ đẹp trí tuệ! trong thời bình phải biết đem “trí tuệ” để xây dựng đất nước, “làm cho nước mãi bền vững”, đất nước “to đẹp hơn, đàng hoàng hơn”. khi có chiến tranh phải đổ máu xương để giữ gìn non sông gấm vóc. “Đánh, sẻ, đắp” cho Tổ quốc là nghĩa vụ cao cả và thiêng liêng, đó là tình yêu quê hương đất nước của “bạn và ta” hôm nay, của thế hệ người Việt Nam “mai sau con chúng ta lớn lên” “…

    phân tích quốc gia – mẫu 6

    Chương Đất nước được trích dẫn trong sử thi Mặt đường khát vọng là tâm tình của Nguyễn Khoa Điềm về vai trò của nhân dân và những hy sinh to lớn trong công cuộc dựng nước và giữ nước lâu dài của dân tộc. Cũng như những nhà thơ trẻ tiêu biểu thời chống Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm thể hiện những suy tư về nhân dân qua những trải nghiệm của bản thân. Tư tưởng “đất nước của các dân tộc, xứ sở của những bài ca thần thoại” là tư tưởng chủ đạo, chi phối cả nội dung và hình thức chương V của sử thi này.

    Những ý chính nêu trên đã được Nguyễn Khoa Điềm thể hiện dưới hình thức thơ trữ tình: chính luận. Lí lẽ mà tác giả đưa ra để thuyết phục người đọc rất đơn giản: không ai khác ngoài những con người – những con người nghĩa tình – những người đã tạo dựng, bảo vệ và giữ nước, xây dựng nên truyền thống, văn hóa, lịch sử từ ngàn đời của dân tộc. . cách lập luận ấy, nhà thơ không nói một cách khô khan, trừu tượng mà bằng những hình ảnh gợi lên bằng giọng thơ đầy nhiệt huyết và say mê của mình. Thông qua những bài thơ kết hợp giữa cảm xúc và tư tưởng, trữ tình và chính luận, Nguyễn Khoa Điềm muốn đánh thức ý thức dân tộc, tinh thần và tình cảm yêu dân tộc của thế hệ trẻ trong những năm tháng chiến tranh.

    mượn lối nói chuyện của một cô gái đang yêu, kết cấu chương v của sử thi có vẻ phóng khoáng, tự do nhưng từ chiều sâu cảm hứng của từng đoạn vẫn bám rất chắc. Tư tưởng đó được nhà thơ thể hiện một cách cụ thể, sinh động và được phát triển trên nhiều cấp độ: kéo dài thời gian (lâu đời) và bề dày truyền thống văn hóa, phong tục, tâm hồn, nhân cách dân tộc. ba khía cạnh này liên kết mật thiết, gắn bó với nhau và thống nhất trong một “hệ quy chiếu”. đất nước của nhân dân là linh hồn của cả bài thơ.

    Toàn bộ chương V của bài hát Mặt đường dài được bao trùm bởi không khí văn hóa dân gian. Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng một cách sâu sắc và linh hoạt các chất liệu của văn học dân gian, từ ca dao, tục ngữ đến truyền thuyết, cổ tích, từ phong tục tập quán trong đời sống hàng ngày của con người. những chất liệu ấy đã tạo nên một thế giới nghệ thuật gần gũi, thân quen, sâu lắng và huyền diệu, đủ sức gợi lên hồn thiêng đất nước. nó không chỉ đơn giản là một thủ thuật nghệ thuật, cũng không chỉ là một sự tiếp thu sáng tạo từ văn học đại chúng. có thể nói, tư tưởng đất nước của nhân dân là tư tưởng chủ đạo của bài thơ, thấm nhuần từ quan niệm đến tình cảm, từ hình ảnh đến các chi tiết nghệ thuật của bài thơ.

    Phần đầu của bài thơ này có thể được xem như một định nghĩa về đất nước. tất nhiên, nó được định nghĩa theo cách riêng của nhà thơ, thể hiện qua hình ảnh cụ thể, sinh động, gợi cảm.

    Quê hương trước hết không phải là một khái niệm trừu tượng mà là một cái gì đó rất gần gũi và thân thiết, chính xác trong cuộc sống bình dị của mỗi người: quê hương hiện lên qua những câu chuyện của mẹ, qua “lá trầu mà ăn”, qua những cái giàn, cái sào, qua hạt gạo, miếng cơm manh áo hàng ngày.

    Đất nước không phải là thứ gì đó xa lạ, mà nằm trong máu của bạn và của tôi:

    trong bạn và tôi hôm nay, có một phần đất nước

    Nguyên khoa học đã thể hiện sự gắn bó mật thiết giữa vận mệnh cá nhân và vận mệnh chung của cộng đồng, đất nước. đó là suy nghĩ chung của thời đại mà câu hỏi quốc gia được nói đến như một chủ đề nữa. trách nhiệm, nghĩa vụ với đất nước không gì khác mà còn là trách nhiệm với bản thân:

    hỡi ơi, đất nước là máu xương của chúng ta, chúng ta phải biết đoàn kết, chia sẻ, phải biết hòa mình vào hình hài của đất nước, làm nên đất nước mãi mãi.

    đất nước cũng được định hình từ truyền thống lịch sử, văn hóa và phong tục tập quán của dân tộc qua hàng nghìn thế hệ. nhà thơ đã khai thác ý nghĩa của các yếu tố của đất nước trong mối quan hệ với không gian và thời gian, lịch sử và hiện tại. bề dày lịch sử, truyền thống, phong tục, văn hóa của đất nước được khơi gợi từ truyền thuyết Lạc long quan và Cô liêu, từ sự tích Hùng Vương giỗ Tổ, từ những câu ca dao quen thuộc, nơi đây đất nước được coi là một đơn vị. của những khía cạnh truyền thống, văn hóa và phong tục thiêng liêng nhưng cũng rất gần gũi với cuộc sống của mỗi người. những giá trị tinh thần bền vững đó của đất nước đã gắn liền với quá khứ, hiện tại và tương lai, được vun đắp qua nhiều thế hệ:

    những người đã qua đời, những người bây giờ yêu nhau và có con cái, đảm nhận vai trò của những người đi trước, để dạy cho con cháu của họ về tương lai, nơi ăn và nơi ăn mỗi năm, và cả biết cúi đầu ghi nhớ.- ngày giỗ tổ.

    Từ những quan niệm về đất nước như vậy, cho đến phần cuối của bài thơ, tác giả tập trung làm nổi bật những ý tưởng. đất nước của nhân dân, chính nhân dân tạo ra đất nước.

    Suy nghĩ đó đã làm nảy sinh cái nhìn mới mẻ và sâu sắc về địa lý, danh lam thắng cảnh trên cả nước. Núi Vọng Phu, Trống Mái, Penn không còn là thắng cảnh thiên nhiên mà được cảm nhận qua hoàn cảnh, số phận của con người và được ghi nhận là những đóng góp. của con người, sự hóa thân của những con người không tên, không tuổi: “vợ chồng còn núi non vọng nước, đôi lứa yêu nhau thì mái không còn”. “Chàng sinh viên nghèo đóng góp vào nền văn học trẻ của đất nước mình”. thậm chí “đàn gà con cóc quê hương cũng góp phần làm cho hà lâu trở thành thắng cảnh”, ở đây, cảnh sắc thiên nhiên đất nước qua con mắt của cụ khoa bảng hiện lên như một phần hồn, máu thịt của con người. . họ là những người đã tạo dựng nên đất nước này, đặt tên cho nó và để lại những dấu vết bao đời trên từng ngọn núi, con sông, tấc đất của mảnh đất này, từ những hình ảnh, cảnh vật, hình ảnh cụ thể, nhà thơ đã “quy nạp” một cách khái quát sâu sắc:

    và khắp nơi trên đồng ruộng, gò đất không có một phương, một ước, một lối sống của tổ tiên, ôi đất nước sau bốn nghìn năm ta đâu đâu cũng thấy, đời đã thành núi sông ta rồi.

    >

    Những suy nghĩ về đất nước của nhân dân đã chiếm lĩnh cái nhìn của nhà thơ khi nghĩ về bốn nghìn năm lịch sử của đất nước. nhà thơ không ca ngợi các triều đại, cũng không nói về những anh hùng ghi danh sử sách mà chỉ tập trung vào những người bình thường vô danh. Quê hương trên hết là những con người, những con người vô danh giản dị ấy:

    đơn giản và yên tĩnh, không ai nhớ tên, nhưng họ đã làm nên đất nước.

    đã làm việc và chiến đấu chống giặc ngoại xâm, gìn giữ và trao truyền cho thế hệ mai sau những giá trị văn hóa, tinh thần và vật chất của đất nước, để lại cơm, lửa, tiếng nói, xã hội, tên tuổi các dân tộc cho các câu chuyện thần thoại, ca dao, tục ngữ. dòng cảm xúc và tư tưởng của bài thơ bồi đắp dần dần để cuối cùng dẫn đến cao trào, làm nổi bật tư tưởng trọng tâm của bài thơ là sự bất ngờ, giản dị và độc đáo:

    Đất nước này là đất nước của những con người, vùng đất của những con người, vùng đất của những bài hát nổi tiếng và thần thoại.

    Đọc chương Đất nước, bạn có thể thấy rõ dấu ấn của những cuốn sách tri thức văn hóa vốn học đường, ảnh hưởng văn phong của một nhà thơ nào đó. tuy nhiên, nó vẫn là chương tiêu biểu và tinh túy nhất của sử thi đầy khát vọng. bài thơ vẫn tạo được những rung động âm vang trong lòng người đọc nhờ tình cảm chân thành của tác giả, từ trải nghiệm của mình, đến suy nghĩ chung của cả thế hệ mình về đất nước.

    phân tích quốc gia – mẫu 7

    Trong số các nhà thơ thuộc thế hệ chống Mỹ, Nguyễn Khoa Điểm là người rất thành công với giọng văn trữ tình, chính luận thể hiện rõ nét tư tưởng của thế hệ trẻ thành thị miền Nam.

    khi chúng ta lớn lên, đất nước có nó. đất nước có nó ngày xưa mẹ tôi thường nói về nó. đất nước bắt đầu bằng miếng trầu, bây giờ ăn miếng trả miếng. đất nước lớn mạnh khi nhân dân ta biết trồng tre đánh giặc… ”/ p>

    giọng thơ đã truyền tải tư tưởng của nhà thơ về nhân dân – đất nước, tiếp nối mạch tư tưởng của thơ ca thời kỳ trước. đất nước là chủ đề xuyên suốt xuyên suốt các tác phẩm trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. các nhà thơ, nhà văn có tư tưởng công dân đã có nhiều khám phá mới, độc đáo về đất nước và con người. quê hương thường được phản ánh dưới góc độ lịch sử chống ngoại xâm, được đúc kết bằng những hình ảnh hào hùng, khai thác triệt để chất sử thi oai hùng. Trong dòng chảy chủ đạo đó, Nguyễn Khoa Điềm đã chọn cho mình hình thức thể hiện, bằng kinh nghiệm tuổi trẻ, nhiệt huyết cách mạng và vốn tri thức hình thành vững chắc của trường phái xã hội chủ nghĩa, đã tạo nên chiều sâu của hình tượng đất nước, dung hòa giữa lý luận chính luận – chất thơ trữ tình. .

    trả lời câu hỏi: “quốc gia là gì? Quê hương từ đâu mà có? ”, Nhà thơ đã bắt đầu từ những kí ức tuổi thơ để hình dung về một sự hiện hữu của quê hương trong tri giác và tình cảm tự nhiên nhất của con người. vẻ đẹp đánh thức từ mạch cảm xúc thấm đẫm hơi thở của những ca khúc quần chúng, những truyền thuyết sử thi của quê hương. Vẻ đẹp của đất nước chương hồi là sự xuất hiện của hàng loạt hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng nhưng rất gần gũi:

    tóc mẹ búi cao sau đầu, bố mẹ thương nhau gừng cay muối ớt. cột giáp là tên một hạt gạo phải đem giã nhỏ dưới nắng. hai sương, xay và rây.cảm hứng của những hình ảnh đã tạo nên một không gian văn hóa truyền thống, mang hơi thở tình cảm của câu ca dao “gừng cay, muối mặn xin đừng quên nhau” thấm đẫm tình thủy chung. cội nguồn ấy tiếp tục theo sự trưởng thành của mỗi cá nhân, từ khi cắp sách đến trường cho đến giây phút xúc động đầu đời. mọi thứ bắt nguồn từ cảm giác nôn nao ngọt ngào và rất tự nhiên:

    đất là nơi bạn đi học, nước là nơi bạn tắm, quê là nơi chúng ta hẹn hò, quê là nơi bạn quàng khăn với nỗi nhớ…

    Đan xen với khoảnh khắc thời gian và không gian hiện tại là sự thức tỉnh của trí nhớ cộng đồng, với sự tổng hòa những nét đẹp trong đời sống tinh thần, tâm linh của người Việt. vẻ đẹp của quê hương đất nước được tái hiện trong những bài ca dao toát lên niềm tự hào về sông núi, cha, con rồng cháu tiên, gắn với lòng biết ơn tổ tiên đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người Việt Nam:

    đất là nơi “chim phượng hoàng bay về núi bạc” và nước là nơi “cá móng guốc trong nước biển”

    thời gian là vô tận, không gian rộng lớn của đất nước là nơi dân ta tụ đất, chim về nước là nơi rồng sống, sơn thủy hữu tình, đồng bào sinh thành dân mình trong trứng nước …

    quá khứ, hiện tại và tương lai gắn bó với nhau trong ý thức cộng đồng bền chặt, là nguồn sức mạnh và cũng là phẩm chất tâm hồn của dân tộc, được các nhà thơ lý giải qua những hình ảnh thơ đẹp và hàm chứa mối quan hệ không thể tách rời giữa đất nước và con người. thời gian lịch sử, không gian văn hóa hòa trong mạch thơ duyên dáng đã phác họa rõ nét tượng đài của quê hương. Không chỉ tiếp cận hình tượng trong truyện thần thoại, ngoài đời, trong mối quan hệ cá nhân – cộng đồng, Nguyễn Khoa Điềm còn đưa người đọc trở về với hiện thực trực tiếp của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. tiếng nói đầy trách nhiệm của cả một thế hệ chống Mỹ đã thực sự trưởng thành trong lương tâm và tình cảm:

    trong bạn và tôi hôm nay, có một phần đất nước

    ý thơ đơn giản, không gượng ép, khi nó đi từ mối quan hệ cá nhân đến mối quan hệ cộng đồng và quốc gia. chất thơ độc đáo là từ sự mở rộng thế giới từ “bạn và tôi hôm nay” đến “mọi người”. vẻ đẹp của đất nước được khám phá nhiều hơn với những người đẹp “khuấy động hài hòa” và “vòng một khủng”. đó còn là sự kết hợp hài hòa giữa lý trí và tình cảm của con người thời chống Mỹ. Hơn thế nữa, những câu thơ này còn lý giải vẻ đẹp nghĩa tình của thế hệ trẻ thời chống Mỹ mà không mất đi vẻ đẹp lãng mạn, khi giây phút nắm tay hiện tại nghĩ đến thế hệ mai sau, trong một ngày đất nước hòa bình và phát triển với “mơ màng”. không dừng lại ở đó, nhà thơ tiếp tục đi sâu vào mối quan hệ giữa đất nước và tâm hồn mỗi người, giọng thơ xúc động:

    hỡi ơi, đất nước là máu xương của chúng ta, chúng ta phải biết đoàn kết, chia sẻ, phải biết hòa mình vào hình hài của đất nước để làm nên đất nước mãi mãi.

    nguyen khoa diem viết những vần thơ này bằng tất cả kinh nghiệm của một người lăn lộn trong phong trào đấu tranh của thanh niên thành thị miền Nam. nhà thơ đã thay mặt thế hệ mình nói lên những tâm tư của mình với tinh thần công dân, với nhiệt huyết tuổi trẻ. nó cũng là câu trả lời cho câu hỏi chính trị về sự trường tồn của đất nước. non sông gấm vóc của đất nước là nhờ tinh thần của những con người sẵn sàng cống hiến xương máu của tuổi trẻ, biết sống có trách nhiệm với thời đại và tràn đầy khát vọng vì tương lai bền vững của đất nước.

    Phần mở đầu của chương Đất nước được kết cấu trên cơ sở gắn bó giữa những vẻ đẹp khác nhau, độc đáo, biểu cảm tạo nên vẻ đẹp tổng thể hòa vào hình tượng đất nước hùng tráng, hùng tráng để thuyết phục người đọc. Nhà thơ đã trữ tình hóa đề tài chính trị, để trả lời những câu hỏi lớn mà dân tộc phải tìm lời giải đáp trong cuộc chiến đấu cho lý tưởng độc lập tự do, cuộc chiến đấu của lương tri trước những thế lực tàn bạo của thế giới.

    những vần thơ hay của đất nước đã đứng trước thử thách của thời gian vẫn tiếp tục tỏa sáng, giúp thế hệ học sinh hôm nay hiểu hơn về thế hệ cha anh đi trước trong những ngày hào hùng nhất của dân tộc. Trong thời đại mới, những giá trị của ngày hôm qua góp phần đánh thức niềm tự hào và tinh thần trách nhiệm, tình cảm của mỗi người với khát vọng đưa đất nước đi tới những ngày tháng mơ ước.

    phân tích quốc gia – mẫu 8

    đất nước là hình tượng trữ tình lớn, là cảm xúc nghệ thuật của bao thế hệ thi nhân Việt Nam. có một thực tế: mỗi khi đất nước gặp thử thách, hình ảnh đất nước lại tỏa sáng trên văn đàn với những phát hiện mới lạ, độc đáo. sử thi khát vọng Mặt đường với đoạn trích Đất nước là một điển hình cao đẹp cho quy luật này. Trong đoạn trích trên, cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm về đất nước đạt đến tầm triết lí sâu sắc.

    trước tiên, đất nước xuất hiện đúng lúc. khoảng thời gian trong đoạn trích đất nước đầy những hình ảnh huyền thoại lấy từ truyền thuyết và phong tục tập quán dân gian. Nhờ sự xuất hiện của hình ảnh thời này, đất nước hiện lên trong sâu thẳm của thời nguyên thủy, đầy linh thiêng và tôn kính.

    bên cạnh “a long time” là “không gian vô lượng”. có một không gian gắn liền với sự tồn vong của cả cộng đồng: “Đất nước là nơi dân ta gặp lại nhau”. có không gian kết nối với cuộc sống riêng tư của mỗi cá nhân; “Đất là nơi bạn đi học, nước là nơi bạn tắm”… sự song hành của các không gian như vậy gợi lên hình ảnh đất nước như một thể thống nhất giữa cái chung và cái riêng, giữa cộng đồng và cá nhân. đất nước thiêng liêng nhưng cũng thật gần gũi.

    Đất nước còn được thể hiện ở bề dày văn hóa: phong tục, lối sống, đậm đà bản sắc Việt Nam. chiều sâu văn hóa luôn tiềm ẩn xuyên suốt đoạn trích. từ một phong tục – “tóc mẹ hất ra sau đầu” đến nghi lễ thiêng liêng ngày giỗ tổ tiên. tuy nhiên, chiều sâu văn hóa hiện lên sâu lắng và đẹp đẽ hơn với những phát hiện, ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn, tính cách con người Việt Nam: yêu say đắm nhưng chung thủy; chân thành tôn trọng tình yêu, nhưng vì thế quyết liệt, không khoan nhượng khi đối mặt với kẻ thù.

    tư tưởng triết học hướng tới việc khám phá và nhận thức sự thống nhất. Ý nghĩa triết học trong cảm nhận về đất nước của Nguyễn Khoa Điểm là ở chỗ: từ ba chiều không gian – thời gian – văn hóa, nhà thơ đã tìm thấy một cốt lõi cố kết định hình chính trị của hình ảnh đất nước. cốt lõi gắn kết này không gì khác chính là khái niệm: đất nước của nhân dân.

    Tư tưởng đất nước của nhân dân là cơ sở cho những phát hiện mới độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm về hình tượng đất nước. của quan niệm phổ biến về đất nước. lịch sử của đất nước không còn là lịch sử của các triều đại, anh hùng mà là lịch sử của hàng ngàn lớp người “không ai nhớ tên mà lập nước”. không gian của đất nước cũng được hình thành từ những “ước lệ”, “nếp sống” của tổ tiên từ bao đời nay, chính những con người đã sáng lập và gìn giữ dòng chảy văn hóa của đất nước: “họ duy trì” còn tôi thì họ truyền lúa ta gieo – chúng truyền lửa … – chúng truyền âm … – chúng mang tên xã, tên thị trấn … “. – những người “họ đã làm nên đất nước”.

    Tư tưởng dân tộc của nhân dân đã có một quá trình phát triển lâu dài trong lịch sử văn học dân tộc (Nguyễn trai, Nguyễn Đình Chiểu …). Trong văn học cách mạng, tư tưởng bình dân của đất nước cũng đã được nhiều nhà thơ đề cập đến (thơ lục bát, nguyễn đình thi, nguyễn duy việt trúc). tuy nhiên, để tư tưởng này trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo, xuyên suốt mọi biểu hiện tinh túy nhất của hình ảnh đất nước, là một đóng góp độc đáo của Nguyễn Khoa Điểm. thể hiện sự kế thừa và kết tinh lên một tầm cao mới của tư tưởng dân tộc của nhân dân trong văn học.

    Câu thơ mở đầu của đoạn trích là bằng chứng sinh động cho cảm nhận độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm về đất nước.

    qua bài thơ hiện ra hình ảnh đất nước rộng lớn theo thời gian. điểm đặc biệt là chiều sâu của thời gian lần đầu tiên được gợi lên từ “ngày xửa ngày xưa” trong câu chuyện của người mẹ. đây không phải là thời gian lịch sử chính xác với các ngày cụ thể. đó là khoảng thời gian mơ hồ, huyền diệu trong trí tưởng tượng của trẻ thơ. nó không được định vị chính xác nhưng nó giúp chúng ta cảm nhận sâu sắc và sâu sắc về sự trường tồn của đất nước.

    Bộ mặt của đất nước được hình dung từ những gì gần gũi và bình dị của cuộc sống hàng ngày. Có một cái gì đó thực sự riêng biệt và tổng thể trong cảm nhận của nguyen khoa diem về đất nước. từ món bún, câu hát bình dân đến những thứ bình dị: chùm, đăng. ngay cả đối với những vật tưởng chừng nhỏ bé như “hạt gạo”, tác giả vẫn cảm nhận sâu sắc về thời gian cụ thể: “một nắng, hai sương” – “mặt đất” – “rút” – “đóng” – “sàng”. Với cách cảm nhận này, đất nước trở thành môi trường bao quanh cuộc sống của mỗi người. ở khắp mọi nơi, trong bất kỳ biểu hiện nhỏ nào đều có hình ảnh của đất nước. đất nước gần gũi thân quen, gắn bó máu thịt với nhân dân.

    góp phần quan trọng làm nên vẻ đẹp của hình tượng đất nước trong bài thơ là ngôn ngữ thấm đẫm chất liệu và hương vị của văn học dân gian. ngôn ngữ không bao giờ chỉ là ngôn ngữ. đằng sau ngôn ngữ có một khái niệm. ngôn ngữ được thấm nhuần văn học dân gian, ở đây nó được thấm nhuần quan niệm về đất nước mà con người có được. Nói cách khác, tầm nhìn của người dân về đất nước không chỉ là suy nghĩ bên trong mà còn được hiện thực hóa bằng hình thức và ngôn ngữ thơ.

    giọng điệu của bài thơ trầm lắng, đầy suy tư. nó giống như thể hiện và giải thích và nói chuyện với chính mình. giọng điệu như vậy làm cho hình ảnh đất nước vừa trang nghiêm, vừa tôn kính và gần gũi với nhau.

    phân tích quốc gia – mô hình 9

    Đất nước là nguồn cảm hứng vô tận cho thơ ca và nghệ thuật. mỗi nhà thơ đều có những cảm nhận riêng về đất nước nên đất nước, đất nước hiện lên muôn màu muôn vẻ. Nếu các nhà thơ cùng thời thường chọn điểm nhìn đất nước bằng những hình ảnh hào hùng, đẹp đẽ hay cảm hứng lịch sử qua các triều đại thì Nguyễn Khoa Điềm lại chọn điểm nhìn gần gũi, thân thuộc, giản dị để tả cảnh đất nước. Đến với bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm ta như đứng trước nhiều nét văn hoá, truyền thống, phong tục tập quán đẹp đẽ. vẻ đẹp ấy được thể hiện sâu sắc nhất qua chín câu thơ đầu.

    khi chúng ta lớn lên, đất nước có nó. đất nước có nó trong “ngày xửa ngày xưa” mà mẹ tôi kể. đất nước bắt đầu bằng miếng trầu, bây giờ ăn miếng trả miếng. đất nước ngày càng phát triển. khi dân ta biết trồng tre để đánh giặc, khi gội đầu cho mẹ, ngoáy gáy với muối cay gừng, chiếc áo giáp, cây gậy làm nên tên tuổi của hạt gạo phải mài. , giã, nát, rây.

    Đất nước là nguồn cảm hứng thi ca vô tận. Trong bài thơ này, Nguyễn Khoa Điềm đã chọn một điểm nhìn gần gũi để miêu tả một cảnh đẹp đất nước thiên nhiên, bình dị nhưng không kém phần thiêng liêng và tươi đẹp. Hình ảnh đất nước trong câu thơ đầu hiện lên đầy màu sắc và sinh động, lắng đọng trong tâm trí chúng ta qua những nét đẹp của phong tục, tập quán, văn hóa, truyền thống đậm đà bản sắc của dân tộc Việt Nam.

    câu thơ mở đầu được viết dưới dạng câu khẳng định “khi ta lớn lên, đất nước đã có”. Với sự khởi đầu tự nhiên như vậy, nhà thơ khẳng định: đất nước có từ lâu đời, trước khi ta sinh ra, rồi lớn lên ta mới thấy đất nước. bốn chữ cuối câu thơ vang lên niềm tự hào “đất nước đã có rồi”. đó là sự khẳng định chắc nịch về sự trường tồn của đất nước qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. hai dòng tiếp theo của bài thơ miêu tả cụ thể sự ra đời của đất nước.

    <3

    Trong câu thơ đầu tiên, tác giả nói rằng đất nước ở “một thời”. tức là đất nước có lịch sử rất lâu đời, đi ngược lại ngày xưa. đất nước có trước khi truyện cổ tích ra đời, và khi truyện cổ có mặt trong đời sống tinh thần của chúng ta, chúng ta thấy đất nước hiện diện trong truyện cổ tích.

    Đây là đất nước của nền văn hóa dân gian độc đáo với những câu chuyện cổ tích, thần thoại và truyền thuyết. chính những câu chuyện cổ, những câu hát ru thuở còn nằm trong nôi đã là cội nguồn nuôi dưỡng chúng ta chân thiện mỹ lớn lên, biết yêu quê hương đất nước, con người. Về ý nghĩa của truyện cổ đối với đời sống tinh thần con người, nhà thơ lam thị mỹ cúc đã xúc động viết:

    <3

    (câu chuyện cổ tích của đất nước tôi)

    Dòng thứ hai, nhà thơ miêu tả đất nước chứa đựng trong “miếng trầu nay ông đã ăn”. nhớ tục ăn trầu của người Việt. câu thơ gợi nhớ đến câu chuyện cổ tích “Sự tích trầu cau” được coi là cổ nhất trong các truyện cổ. thói quen ăn trầu cũng từ câu chuyện này mà ra.

    Thế mới thấm thía miếng trầu giản dị đó là 4000 năm phong tục, 4000 năm dân ta gìn giữ phong tục ăn trầu. miếng trầu là biểu tượng của tình yêu, là vật chứng cho lứa đôi cũng là biểu tượng tâm linh của người Việt Nam. từ tục ăn trầu cũng sinh ra tục nhuộm răng đen:

    những cô gái răng đen cười như nắng mùa thu

    (hoàng đế)

    Ở câu thơ thứ tư, nhà thơ miêu tả sự lớn mạnh của đất nước. đó chính là sự trưởng thành của truyền thống đánh giặc bảo vệ Tổ quốc qua hình ảnh cây tre, cây cồng chiêng thiêng liêng: “Đất nước lớn lên khi dân ta biết trồng tre đánh giặc”. câu thơ gợi cho ta liên tưởng đến truyền thuyết về chàng trai đồng sơn cước nhổ tre làng ngà đánh giặc, gợi lên vẻ đẹp khỏe khoắn của tuổi trẻ Việt Nam kiên cường, bất khuất:

    Chúng ta giống như ngày xưa khi thần dongwut lớn lên để chống lại kẻ thù. sức dân khỏe như con ngựa sắt. chúng tôi ghét việc chúng tôi rèn thép thành một thanh chiến đấu, phun nó vào mặt những kẻ giết người cướp nước

    (có thể)

    Truyền thống vẻ vang đó đã trải dài trong lịch sử dân tộc cho đến ngày nay, trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, biết bao tấm gương trẻ đã anh dũng chiến đấu bảo vệ giống nòi. phải chăng đó là vẻ đẹp của các chị, các bạn đã tạc vào lịch sử Việt Nam những tư thế bất khuất, kiêu hãnh: võ thị sáu, văn trần, nguyễn văn tăng … vẻ đẹp ấy song hành với hình ảnh cây tre. Việt Nam. tre mềm từng làng.

    Đó là sự chung sống của những phẩm chất cốt lõi của con người Việt Nam: trung thực, giản dị, trung thành, yêu hòa bình nhưng cũng kiên cường, bất khuất. cây tre sừng sững, bất khuất chung ngọn lửa cùng dân tộc “một mình gióng lên đánh giặc Mỹ”, bởi:

    “Những loài tre không mọc cong queo mà trở nên sắc nhọn như những chiếc ngạnh kỳ lạ.”

    Xem thêm: 3 văn khấn thần tài chuẩn nhất 2022, cầu may mắn, tài lộc

    Bốn câu thơ sau đây nhà thơ mang đến cho người đọc những nét đẹp thuần túy và thuần phong mỹ tục của người Việt Nam:

    <3

    Vẻ đẹp giản dị của người phụ nữ Việt Nam là vậy. không ai khác chính là các bà các mẹ với tục “búi tóc sau gáy” (phần tóc được búi cao sau gáy tạo cho người phụ nữ một vẻ đẹp rất nữ tính và trong sáng). vẻ đẹp đó làm tôi nhớ đến những bài hát nổi tiếng:

    <3

    nguyen khoa diem tiếp tục lưu luyến những dòng suy nghĩ về những con người đã sống, làm việc và đấu tranh hàng nghìn năm trên mảnh đất Việt Nam để gìn giữ và làm đẹp cho mảnh đất thân yêu. Ở đó, nguyên tắc ân nghĩa, thủy chung đã trở thành truyền thống ngàn đời của dân tộc: “Cha mẹ yêu nhau muối cay gừng”. thơ được thể hiện từ những bài hát nổi tiếng rất hay:

    “với một đĩa muối và một chén gừng và muối, xin đừng quên”

    Thành ngữ “gừng cay muối vừng” được vận dụng đặc biệt trong một câu thơ nhẹ nhàng mà thấm đẫm tình người. gợi lên sự chung thủy trong cuộc sống: gừng càng già càng cay, muối càng mặn, càng già thì càng sống lâu với nhau, tình nghĩa càng đong đầy. có lẽ vì vậy mà đất nước vẫn để lại dấu tích của cha và mẹ với trống mái, núi Vọng Phu, trống mái … đi vào năm tháng.

    Dòng “cột kèo thành tên” gợi cho người đọc nhớ đến tục làm nhà cổ của người Việt. Tục làm nhà dùng kèo, giằng để giữ cho ngôi nhà chắc chắn, bền vững, chống mưa gió và thú dữ. nó còn là tổ ấm để mọi gia đình quây quần; siêng năng tích mỡ và tích tụ trong cuộc sống. từ đó sinh ra phong tục đặt tên con là “cái dầm, cái cột”.

    Không chỉ có những nét đẹp trên, dân tộc ta còn có truyền thống lao động cần cù, bao dung “Hạt gạo một nắng, hai sương, sàng dần”. thành ngữ “một nắng hai sương” gợi lên sự cần cù, siêng năng của ông cha ta trong suốt những ngày dài bận rộn của cuộc sống nông nghiệp lạc hậu. đó là truyền thống lao động cần cù và bao dung. các động từ “xay – nghiền – dần – sàng” là quá trình sản xuất ra hạt gạo.

    Để tạo ra gạo ăn hàng ngày, người nông dân phải trải qua công việc gieo trồng, xay xát và sàng lọc vất vả. thấm vào hạt gạo nhỏ bé ấy là những giọt mồ hôi mặn mà của người nông dân. vì vậy, khi ăn xôi thơm, chúng ta nên nhớ đến công ơn của người đã làm ra nó:

    <3

    câu thơ cuối khép lại một câu nói với niềm tự hào: “quê hương có cội nguồn từ ngày ấy”. “ngày ấy” là ngày nào ta không biết, nhưng chắc chắn “ngày ấy” là ngày ta có truyền thống. có phong tục tập quán, có văn hóa và có văn hóa là có đất nước. như người chú đã nói trước khi đi “rằng muốn yêu đất nước mình thì phải yêu những bài hát nổi tiếng”.

    Ca dao, dân ca là nét văn hóa đặc trưng của Việt Nam, muốn yêu nước thì trước hết phải yêu và tôn trọng văn hóa của đất nước. bởi vì văn hóa là đất nước. thật đẹp và đáng quý, thật tự hào về những vần thơ giản dị và ngọt ngào của nguyễn khoa điểm.

    Thành công của đoạn thơ trên là do sử dụng nhuần nhuyễn những chất liệu dân gian như tục ăn trầu, tục trang trí tóc, truyền thống đánh giặc, truyền thống nông nghiệp. nhà thơ sáng tạo ra những thành ngữ bình dân, ca dao, tục ngữ, thành ngữ … quốc ngữ được lặp lại nhiều lần.

    nhà thơ luôn viết hoa hai chữ Tổ quốc, tạo nên sự trân trọng, thiêng liêng… tất cả tạo nên một bài thơ mang đậm không gian văn hóa Việt Nam. ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, ca từ nhẹ nhàng, giọng nói thì thầm vào lòng nhưng vẫn phảng phất hồn thơ triết lí. dòng mà chúng tôi vừa phân tích ở trên là dòng hay nhất của bài thơ Đất nước.

    qua bài thơ, nhà thơ đã đưa vẻ đẹp của một vùng quê giàu văn hóa truyền thống đến gần hơn với người đọc. vùng đất của những phong tục tập quán đẹp đẽ mang đậm dấu ấn tư tưởng của nhân dân.

    phân tích quốc gia – mẫu 10

    country ”là một trong những bài thơ hay nói về khát vọng yêu nước của mỗi người Việt Nam. Dưới đây là phần phân tích đoạn trích trong bài thơ “đất nước” (trích trong sử thi “khát vọng mặt đường”) của Nguyễn Khoa Điềm.

    “Khi tôi lớn lên, đất nước đã ở đó (…) đất nước đã có từ ngày đó.”

    nguyen khoa diem thuộc lớp nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. những năm 1970, 1971, v.v. đã sống và làm việc trên chiến trường chinh chiến kinh thiên động địa; bản hùng ca “phố khát vọng” do ông sáng tác vào thời điểm đó. Chương V “Quê hương” của sử thi “Phố khát vọng”.

    phần đầu gồm 42 câu tác giả xác định đất nước có nguồn gốc lâu đời. tục ăn trầu, sự tích trầu cau, sự tích thánh nhân dùng tre đánh giặc mà “mẹ tôi thường kể”:

    “Đất nước bắt đầu bằng miếng trầu, nay bà ăn. Đất nước lớn mạnh khi dân tộc biết trồng tre đánh giặc”.

    nhà thơ cảm nhận đất nước trong dòng chảy thời gian “mênh mang”, trong không gian địa lý “bao la”, qua truyền thuyết “bọc trăm trứng” và ngày giỗ tổ vua. nhà thơ với giọng điệu truyền cảm đã đưa tâm hồn chúng ta ngược thời gian bốn nghìn năm trước về cội nguồn đất nước:

    “Đất là nơi chim về, nơi rồng ở trong sơn long quan, la u cô. sinh ra đồng bào ta trong bọc trứng (…) hàng năm dù đi đâu cũng biết cúi đầu tưởng nhớ ngày giỗ tổ ”.

    tục “xăm tóc” của dân tộc Việt Nam, câu ca dao “gừng cay muối vừng” nói về đạo vợ chồng, chữ quốc ngữ được hình thành và phát triển nên “giáp, trụ trở tên gọi ”, công việc cày bừa được quy định,“ xay, nghiền, xay, sàng ”. nguồn gốc “đất nước có từ ngày ấy”. đất nước trong quá khứ mang vẻ đẹp huyền ảo và huyền ảo:

    “Đất là nơi“ chim phượng hoàng bay về phía núi bạc ”và nước là nơi“ cá gặp nước biển ”.

    Đất nước hiện tại gắn bó thân thương với mọi người, “trong bạn và tôi hôm nay – có một phần đất nước”. ngày mai đất nước còn nhiều “ước mơ”. yêu nước là nghĩa vụ thiêng liêng:

    “Em ơi, quê hương là máu xương của chúng ta, phải biết đoàn kết, chia sẻ, phải biết hòa mình vào hình hài của quê hương để làm nên quê hương mãi mãi.”

    phần thứ hai có 68 câu (câu 12 phê bình học 47 câu) về ý “quê hương đất nước”. những người đã tạo ra đất nước. tất cả các danh lam thắng cảnh đều tượng trưng cho những phẩm chất cao quý và “lối sống” của tổ tiên như: lòng thủy chung son sắt, tình nghĩa vợ chồng sâu nặng, sức mạnh quật khởi, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, truyền thống khoa bảng của thị xã ta:

    “Những người vợ nhớ chồng cũng góp cho đất nước núi vọng, đôi trai gái yêu nhau góp tiếng trống ngựa thánh vượt qua trăm ao đầm, để góp 99 con voi. dựng đất tổ anh hùng. ”

    núi bút, vịnh dài, mr. doc ong trang … mọi người đều “đóng góp vào”, “đóng góp vào”, “đóng góp vào”, nhưng đất nước tươi đẹp và hùng vĩ. “bốn vạn loại người” đã góp mồ hôi, xương máu để xây dựng và bảo vệ đất nước: “Khi có chiến tranh, con trai ra trận – con gái về nuôi con – giặc về nhà”. người phụ nữ cũng ra trận. để đánh ”. nhân dân dựng nước và làm chủ đất nước. họ là những người vô danh nhưng tuyệt vời:

    “Họ sống và chết đơn giản, bình lặng, không ai nhớ tên, nhưng họ đã làm nên đất nước.”

    mọi người là những người sản xuất “lưu trữ và chuyển giao giống lúa mà chúng ta trồng”. người ta đã tạo ra một ngôn ngữ “truyền tiếng nói của họ cho trẻ em để chúng học nói”. nhân dân đã diệt thù trong, giặc ngoài để giữ gìn đất nước ngày càng giàu đẹp:

    “Nếu có giặc ngoại xâm, hãy đánh giặc ngoại xâm. Nếu có giặc nội xâm, hãy vùng dậy đánh thắng. Hãy để đất nước này là đất nước của nhân dân. Đất nước của nhân dân, xứ sở thần thoại các bài hát nổi tiếng. “

    Tóm lại, Nguyễn Khoa Điềm đã vận dụng sáng tạo tục ngữ, ca dao, dân ca, truyện cổ, phong tục, ngôn ngữ để cảm nhận cội nguồn của đất nước từ lâu đời, khẳng định rằng vĩ nhân có công dựng nước và làm chủ đất nước. chương “đất nước” tràn đầy tình yêu và niềm tự hào dân tộc.

    Đoạn thơ 9 câu sau đây là đoạn trích trong phần đầu của chương “đất nước” trong sử thi “Mặt đường khát vọng” (1971) của Nguyễn Khoa Điềm:

    “Khi chúng ta lớn lên, đất nước đã tồn tại …………………… .. đất nước đã tồn tại từ ngày đó”.

    Bài thơ nói lên một cách giản dị nhưng thấm thía về cội nguồn sâu xa của đất nước. Với giọng thủ thỉ, nhà thơ gợi không khí êm đềm như đang kể một câu chuyện cổ tích, như đưa tâm hồn ta ngược dòng thời gian về cội nguồn đất nước, dân tộc. bốn từ “ngày xửa ngày xưa” được dùng rất hay:

    “Khi chúng ta lớn lên, đất nước đã có, đất nước ở“ dĩ vãng ”mà mẹ tôi thường nói với tôi.”

    từ “có” trong “đã”, “đất nước trong…” đã làm cho ý thơ khẳng định mình, tỏa sáng niềm tin. tục ăn trầu, truyện cổ tích trầu – cau gợi lên hình ảnh đất nước. thuở xa xưa, “đất mẹ bắt đầu”… truyền thuyết kể lại sự trỗi dậy của dân tộc, đánh dấu sức mạnh trỗi dậy của “đất mẹ mọc lên”. câu thơ được mở rộng thành 12, 13 chữ, có vần điệu (đầu – trầu, ăn – người) nên vẫn uyển chuyển và giàu âm điệu:

    “Đất nước bắt đầu bằng miếng trầu, nay bà ăn. Đất nước lớn mạnh khi dân tộc biết trồng tre đánh giặc”.

    Hai từ “lớn lên” chỉ hình ảnh một cậu bé làng quê lớn lên trở thành một chiến binh oai hùng khi giặc ngoại xâm xâm lược đất nước. thì nhà thơ nói lên những phong tục, đạo lý tốt đẹp xưa của dân tộc ta. tục “chải đầu” của người Việt từ thời Lạc. câu ca dao bình dân về đạo vợ chồng: “chén muối đĩa gừng – gừng cay mặn xin đừng quên” đã đi vào hồn thơ của tác giả nguyen khoa diem:

    “Tóc mẹ tôi chải sau mái đầu của cha mẹ yêu thương với nước gừng cay cay.”

    câu chuyện “ngày xửa ngày xưa” nhưng vẫn hiện diện trong “mái tóc của người mẹ”, trong tình yêu thương của “cha mẹ” bây giờ. “đất nước đã có”, “đất nước có …”, “đất nước bắt đầu”, “đất nước phát triển” và đất nước hiện diện quanh ta, gần gũi ta. tiếp theo, nhà thơ lấy sự hình thành và phát triển của chữ quốc ngữ để nói lên cội nguồn xa xưa của đất nước. mỗi phần tử có tên riêng: “cột, vì tên”.

    Làng chúng tôi có nghề trồng lúa nước lâu đời. canh tác lúa nước đã tạo nên nền văn minh sông đỏ. khi hạt gạo được tạo ra nhờ công sức “một nắng hai sương” thì từ “xay, giã, xay, sàng” cũng xuất hiện. Tiếng Việt là kho tàng lâu đời của đất nước ta, dân tộc ta. Cách nói của nguyen khoa diem rất thú vị:

    “Cây xà nu, cây sào nhân danh hạt gạo phải được xay, giã, giã, sàng, nước có từ đó.”

    hình ảnh quê hương thân yêu tỏa sáng trong bài thơ. quá khứ của đất nước “ngày xửa ngày xưa” hiện về trong “hạt cau nay ông ăn”. có đất nước anh hùng “biết tre mà đánh giặc”. có đất nước cần cù lao động sản xuất: “hạt gạo phải xay, nghiền, xay, rây”. có bản sắc văn hóa phong phú, nền văn hóa rực rỡ hội tụ qua những phong tục tập quán đẹp đẽ (tục ăn trầu, tục chải tóc), tục ngữ dân gian “gừng cay muối vừng”, qua truyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết.

    một đoạn thơ gồm 9 câu và 85 từ mà không có một từ nào trong Hán Việt. lời nói giản dị, cách diễn đạt thân mật. có mặt trong bài thơ là: tôi, nhân dân tôi, bà, cha, mẹ. có miếng trầu, ngọn tre, mái tóc của mẹ, v.v. có “gừng cay, gừng mặn”, cái giàn, cái đăng, hạt gạo,… thật là thân quen và gần gũi, sâu lắng và xúc động, sôi nổi. trí tưởng tượng phong phú, liên tưởng rộng lớn.

    câu thơ đã “nhịp nhàng trùng điệp” để chúng ta thêm yêu quê hương đất nước, tự hào về quê hương đất nước. cấu trúc câu thơ: “tổng – chia – đoàn”; câu mở đầu là “khi ta lớn lên, đất nước đã có”, và kết thúc bài thơ là câu “đất nước tồn tại từ ngày ấy”. lý luận chính trị đã soi sáng một cách cao đẹp phẩm chất trí tuệ hòa quyện với chất trữ tình phong phú. bài thơ mang một vẻ đẹp riêng về cội nguồn đất nước thân yêu.

    phân tích quốc gia – mô hình 11

    Văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975 là một nền văn học mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, ngoài đề tài “lực lượng vũ trang – chiến tranh cách mạng”, đề tài xây dựng đất nước hay xây dựng đất nước cũng được các chuyên gia lựa chọn. Nhiều. những tác giả đưa vào tác phẩm những bài thơ mới, bằng văn xuôi chân thành, nghiêm trang, thấm đượm khí chất dân tộc. nguyen khoa diem là một trong những nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta. cứu nước, cũng chọn cho mình chủ đề đất nước, giữa những năm tháng đấu tranh của nhân dân đang ở cao trào. tuy nhiên, nguyen khoa diem không quá chú trọng màu sắc tuyên truyền, không ồn ào náo nhiệt mà tạo cho mình một giọng văn nhẹ nhàng, nghiêm túc, gần gũi và thân thuộc. Nguyễn Khoa Điềm đã nhìn đất nước theo một cách rất riêng, với một cảm xúc mới lạ giữa thời chiến tranh “hoa lửa”, bà đã nhìn đất nước từ những điều bình dị, từ những con người rất đỗi bình thường. ông đã sử dụng thành công giọng thơ trữ tình triết lí, đặc biệt là sự kết hợp với chất liệu dân gian lấy từ vốn tri thức rộng lớn của nhà thơ về nền văn hoá cổ xưa của dân tộc. mọi người đã tạo nên một đất nước với cái nhìn giản dị, thân thương, đất nước của nhân dân, đất nước nảy sinh từ những câu chuyện, truyền thuyết, phong tục tập quán 4000 năm văn hiến đáng tự hào.

    “Khi chúng ta lớn lên, đất nước có nó. Đất nước có nó trong” Ngày xửa ngày xưa … “, mẹ vẫn thường nói với chúng ta rằng đất nước bắt đầu bằng miếng trầu mà bây giờ bà ăn đất nước lớn lên dậy thì dân ta đã biết trồng tre nếu đánh giặc thì tóc mẹ phải mài, giã, xay, sàng, đất nước có từ ngày ấy … ”

    Trong đoạn trích Đất nước, trước hết tác giả phân tích và làm rõ chủ đề Đất nước có từ bao giờ. Ở 9 câu thơ đầu, Nguyễn Khoa Điềm đã chỉ ra đất nước có từ lâu đời, gắn liền với những truyền thuyết, cổ tích từ thuở xa xưa. câu “Đất nước đầu miếng trầu, nay miếng ăn” gợi cho ta nhớ đến sự tích miếng trầu và nhắc lại truyền thống cao đẹp của dân tộc Việt Nam, đó là tình anh em sâu nặng, thủy chung vợ chồng. . son sắt không chỉ vậy, từ hình ảnh miếng trầu mà ông ăn, tác giả còn gợi lại một phong tục đẹp của dân tộc ta, đó là tục ăn trầu nhuộm răng có từ thời vua chúa anh hùng. lập và bảo vệ tổ quốc. cùng với sự tích trầu cau, qua câu thơ “Đất nước trồng người biết trồng tre đánh giặc” tác giả tiếp tục gợi cho chúng ta sự tích nổi tiếng về thánh gióng mà gợi nhớ. ta của truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm của dân tộc. vì vậy có thể thấy, đất nước được hình thành trên cơ sở tình cảm dân tộc sâu sắc, nhưng đất nước chỉ có thể lớn mạnh khi nhân dân ta có tinh thần yêu nước, dũng cảm, kiên trì đánh đuổi giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc. Bắt đầu từ những câu chuyện cổ tích và truyền thuyết xa xưa, tác giả tiếp tục chỉ ra rằng đất nước có một lịch sử rất lâu đời, bắt đầu từ những phong tục tập quán đẹp đẽ. “Tóc mẹ vén ra sau đầu”, gợi cho người đọc nhớ đến phong tục xưa là búi tóc thấp, tròn ở gáy. nhưng dù đã hàng nghìn năm trôi qua dưới ách thống trị của phong kiến ​​phương bắc, hàng chục năm Pháp thuộc, nhưng cho đến khi cụ Nguyễn khoa bảng viết một bài thơ dài trên vỉa hè khát vọng, hàng bún đó vẫn giữ nguyên dáng vẻ ban đầu, không thay đổi, vẫn đứng vững. trên gáy của người phụ nữ Việt Nam. “Cha mẹ thương nhau gừng cay muối mặn”, là tiêu biểu cho truyền thống quý trọng tình nghĩa vợ chồng, càng qua gian nan thử thách thì vợ chồng càng thương yêu, gắn bó với nhau.

    Thứ ba, đất nước có lịch sử lâu đời được hình thành cùng với quá trình phát triển của người Việt trong đời sống hàng ngày. Từ chỗ người dân sống tạm bợ trong những hang động thô sơ, từ chỗ người dân đã bắt đầu năng động hơn trong cuộc sống, biết dựng những mái nhà che mưa, che nắng. rồi “hạt gạo phải ngày một ngày hai phơi sương, sàng lọc”, chúng ta cũng có thể thấy rằng từ chỗ sống dựa dẫm vào thiên nhiên với công việc thu hoạch bấp bênh, người dân Việt Nam đã bắt đầu gặp cây lúa nước. văn minh, biết tạo ra hạt gạo làm lương thực chính phục vụ cuộc sống. và cuối cùng, sau khi sử dụng ba ý trước để trả lời câu hỏi đất nước có nguồn gốc từ bao giờ, tác giả đã chốt lại bằng câu thơ “đất nước có từ ngày ấy”, “ngày ấy” là ngày mà các truyền thuyết và người xưa khai sinh ra. của truyền thuyết, là ngày ta có thuần phong mỹ tục, là ngày ta biết trồng tre giết giặc, cũng là ngày người Việt biết làm nhà, trồng lúa. Có thể nói, đất nước mà Nguyễn Khoa Điềm gợi lên qua những chất liệu dân gian lâu đời của dân tộc đã mang đến cho người đọc những cảm xúc gần gũi, thân thuộc, giản dị, để lại trong tâm hồn mỗi người một tình cảm thiết tha, gắn bó.

    “đất là nơi bạn đi học, nước là nơi bạn tắm, quê là nơi chúng ta hẹn hò, quê là nơi bạn quàng khăn với nỗi nhớ, đất là nơi phượng bay về núi bạc ”nước là nơi“ tiên cá, nước biển, thời gian vô tận, không gian bao la, đất nước là nơi tụ hội của nhân dân ta ”

    sau câu hỏi đất nước có từ bao giờ, nguyen khoa diem tiếp tục khai thác hình ảnh đất nước trong câu hỏi “đất nước là gì?”. Ông không trả lời khái niệm này theo cách của các nhà khoa học mà với tư cách là một nhà thơ, dùng phương pháp chiết tự, tách nước thành hai thành phần “đất” và “nước” để định nghĩa, giúp người đọc hiểu sâu hơn, chính xác và đầy đủ. . của khái niệm đất nước. Về mặt địa lý, nguyễn khoa học so sánh “đất là nơi bạn đi học / nước là nơi bạn tắm” là một không gian gần gũi và quen thuộc với mỗi người trong cuộc sống hàng ngày. thì “đất nước là nơi ta đi chơi / Đất nước là nơi bạn đánh rơi chiếc khăn quàng với nỗi nhớ”, tác giả đã kết hợp hai thành phần trong “đất nước” trong suốt quãng thời gian mà tôi và bạn đã lớn lên, nếu như trước đây bạn và tôi. hai người và đất nước cũng xa cách, giờ đây bạn và tôi đã hòa thành một đôi “bạn gái”, và đất nước đã trở thành không gian riêng tư, thầm kín cho tình yêu đôi lứa. không những thế, “đất là nơi phượng bay về núi bạc… đất nước là nơi tụ dân” cho ta thấy đất nước theo một cách khác, nếu ở trên ta thấy một đất nước nhỏ bé, giản dị thì những câu thơ này, ta thấy đất nước có dáng vẻ bề thế, vĩ đại được đo bằng sải cánh của chim phượng hoàng bay về núi bạc, đo bằng sự bao la, rộng lớn của biển cả. và cuối cùng, phượng hoàng phải lên núi, ngư phủ đánh biển, dân tộc Việt Nam phải quy tụ về một nơi gọi là đất nước. Như vậy, có thể tóm tắt rằng Đất nước là sự trở về của những tâm hồn yêu quê hương tha thiết.

    “Trái đất là nơi chim về tổ quốc, nơi hóa rồng, phụng dưỡng sinh thành đồng bào ta trong bọc trứng của những người đã khuất, nay thương nhau, sinh thành. con cái, gánh vác trọng trách của người đi trước, để lại truyền dạy lịch sử cho con cháu mai sau. Dù làm ăn, làm việc ở đâu, bạn cũng luôn biết cúi đầu tưởng nhớ ngày giỗ Tổ. cái chết “

    về thời gian lịch sử, tác giả đã trả lời câu hỏi thế nào là một quốc gia bằng cái nhìn khái quát về độ dài của thời gian lịch sử để đưa ra câu trả lời chính xác nhất. xưa kia là đất nước linh thiêng và vĩ đại, tác giả nhắc lại truyền thuyết về Lạc long quan – Ấu cô là gợi nhớ đến nòi giống cao quý của dân tộc ta là con rồng cháu tiên. đồng thời nhắc nhở chúng ta về truyền thống hào hùng dựng nước và giữ nước của ông cha ta mở ra vương triều đầu tiên của nước ta, vương triều huyền thoại kéo dài 18 đời. Kèm theo những lời căn dặn chân thành, nghiêm túc, anh phải biết tiếp lửa, giữ vững nòi giống dân tộc, phải mạnh mẽ đứng lên giữ gìn núi sông, luôn nhớ về cội nguồn với tấm lòng thành kính, thành kính. >

    “Trong bạn và tôi hôm nay có một phần đất nước khi ta nắm tay đất nước trong ta chan hòa, ấm áp khi ta nắm tay người ta thì đất nước ấm no, rộng lớn”

    Trong hiện tại, quê hương hiện lên một cách gần gũi, thân thuộc, hiện diện trong mỗi con người, bao ngôn ngữ để con người giao tiếp tư duy, kể cả những phong tục tập quán tốt đẹp vẫn tồn tại trong nếp sống của mỗi người. “khi đôi ta nắm tay nhau / Đất nước ta hòa quyện nồng nàn” là phần tiếp theo của câu thơ “Đất nước là nơi ta hẹn hò” nên đến đây trên cơ sở tình yêu đôi lứa, mỗi người nên gánh vác trách nhiệm xây dựng quê hương góp phần xây dựng “nước ấm, thuận hòa”. Không chỉ vậy, trách nhiệm của mỗi người còn phải “bắt tay mọi người”, nối vòng tay lớn, xây dựng một cộng đồng đoàn kết vững mạnh để tạo nên một “Tổ quốc trong sáng” sánh vai với các cường quốc năm châu. Không chỉ vậy, hình ảnh thơ “nắm lấy tay người” còn nhắc nhở họ về cội nguồn tổ tiên, nhắc nhở họ đều sinh ra từ cùng một mẹ nên phải biết yêu thương, chăm sóc lẫn nhau.

    phân tích quốc gia – mẫu 12

    Đất nước là đề tài muôn thuở của thơ ca và văn học Việt Nam. chúng ta đã thấy đất nước sa lầy trong đau thương và mất mát qua thơ ca cung đình; làm quen với đất nước đang thay đổi từng ngày qua thơ của Nguyễn Đình Thi. Nhưng có lẽ đất nước được nhìn từ nhiều khía cạnh, đầy đủ và toàn diện nhất qua bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm. Hình hài đất nước từ khi mới ra đời cho đến khi phải trải qua bao sóng gió chiến tranh được tái hiện một cách sinh động qua hồn thơ tinh tế, phóng khoáng của Nguyễn Khoa Điềm.tác giả nhìn đất nước từ nhiều góc độ, trải qua bao thăng trầm của lịch sử. Đất nước là một cái tên thiêng liêng, giản dị nhưng lại chứa đựng nhiều nguồn cảm xúc của chính tác giả.

    Bài thơ mở đầu bằng những đường nét mềm mại và tinh tế đưa người đọc trở về những ngày đầu tiên chào đời:

    Khi tôi lớn lên, đất nước đã có nó. đất nước có nó ngày xưa mẹ tôi hay kể cho tôi nghe. đất nước bắt đầu bằng miếng trầu, bây giờ ăn miếng trả miếng. đất nước lớn mạnh khi nhân dân ta biết trồng tre đánh giặc.

    Quê hương hiện lên qua những câu thơ thật bình dị và gần gũi, nó không phải là một khái niệm trừu tượng mà là một khái niệm hiện hữu hàng ngày trong cuộc sống của chúng ta. tác giả dùng từ “khi nào” để đánh dấu sự ra đời của khái niệm “đất nước”. kể từ khi mỗi chúng ta sinh ra, đất nước đã tồn tại. Sau câu thơ đó, tác giả bắt đầu giải thích về cội nguồn của đất nước mà ai cũng muốn hiểu. giọng thơ nhẹ nhàng, ngọt ngào lôi cuốn người đọc trở về “ngày xưa”. nó như một nốt nhạc quá khứ quay trở lại trong suy nghĩ của mọi người. từ: ngày xửa ngày xưa “đánh dấu một cái gì cũ, rất cũ, không có thời gian cụ thể, chỉ biết rằng nó đã có từ rất lâu. Kẻ thù là những người làm nên đất nước …

    Đất nước còn gắn liền với đời sống gia đình bình dị của người nông dân Việt Nam.

    Không dừng lại ở đó, tác giả còn lý giải đất nước là thành quả của công cuộc xây dựng và phát triển:

    dầm, đăng trở thành tên gọi của hạt gạo phải ngày một ngày hai, đất nước có từ ngày đó

    một công cụ được tạo ra để phục vụ sản xuất đời sống, cũng như sinh hoạt của con người như “xà, cột” gắn liền với lịch sử khai sinh ra nước nhà. rất bình dị, rất thực tế, nhưng nó có vẻ là cách giải thích chính xác.

    nguyen khoa diem dường như đưa người đọc đến những cung bậc cảm xúc khác của đất nước, đó là câu chuyện tình yêu giữa một đôi trai gái nhút nhát nhưng nghiêm túc và đầy nhiệt huyết:

    đất là nơi bạn đi học, nước là nơi bạn tắm, quê là nơi chúng ta hẹn hò, quê là nơi bạn quẳng khăn với nỗi nhớ

    quê hương không chỉ hiển hiện trong không gian văn hóa, phong tục tập quán của người dân mà còn ở tình yêu tha thiết, tha thiết nhất. Tác giả đã cắt nghĩa “đất nước” thành hai từ “đất” và “nước” để giải thích cụ thể nghĩa của từng từ. Đây có thể coi là sự tinh tế và thi vị của Nguyên khoa học. nhưng ngay cả khi nó bị tách ra, đất nước vẫn là khái niệm đầy đủ và quan trọng nhất.

    Đất nước cũng mở ra theo chiều dài của lịch sử và chiều dài của không gian văn hóa, của những con người đang miệt mài tìm về quê hương. đất nước được hình thành từ những câu chuyện cổ, những câu chuyện kinh điển mà đời sau vẫn ghi nhớ. Hình ảnh “chim phượng hoàng”, “núi đen, ba điểm”, “lộc long quan châu” là minh chứng cho sự phát triển thăng trầm nhưng đầy tự hào của chúng ta. nhớ cội nhớ nguồn xưa nay khó là đạo lý, là truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta.

    Đất nước trong quan niệm của Nguyên khoa học vẫn là sự tiếp nối truyền thống:

    những người đã qua đời, những người bây giờ yêu nhau và có con cái, đều mang gánh nặng của người đi trước để dạy dỗ con cháu về tương lai

    trong quá trình hình thành và phát triển, bề dày của văn hóa lịch sử ngày càng được khẳng định. những con người có tấm lòng yêu nước, con người mai sau hãy cố gắng giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp đó.

    nguyen khoa diem đã có cái nhìn đa chiều về đất nước từ đời sống sinh hoạt, lịch sử, không gian và thời gian, mang đến cho người đọc những cảm nhận đúng đắn nhất về đất nước mình đang sống, đang sống và cống hiến.

    trên hết, tác giả nói

    trong bạn và tôi hôm nay, có một phần đất nước

    Có thể nói, quê hương đã đi vào và in vào máu thịt của mỗi người, nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

    đất nước còn được nguyên khoa học tích lũy thành một ý niệm sâu sắc:

    và ở khắp mọi nơi trên đồng ruộng, gò đất, có một lối sống, một khát vọng, một lối sống của tổ tiên.

    một quan niệm sâu sắc, giàu giá trị nhân văn khiến người đọc không thể phủ nhận rằng đất nước tồn tại là một sự thật.

    Đất nước này cũng là biểu tượng của sự tôn trọng và biết ơn đối với những người đã hy sinh vì hòa bình và tự do ngày nay.

    phân tích bài thơ Đất nước – văn mẫu 13

    Phân tích Đất nước hay nhất (21 Mẫu) - Văn 12

    Đất nước luôn là tiếng gọi thiêng liêng muôn thuở, muôn nơi và của bao triệu trái tim con người. Đất nước đi vào đời chúng ta qua những lời ru ngọt ngào êm dịu, qua những làn điệu dân ca mượt mà và những vần thơ sâu lắng, thiết tha và rất đỗi tự hào của bao lớp thi nhân. Ta bắt gặp một hình tượng đất nước đau thương nhưng vẫn ngời lên ý chí đấu tranh trong trang thơ Nguyễn Đình Thi đồng thời cũng rất dịu dàng ý tứ trong thơ Hoàng Cầm. Nhưng với Nguyễn Khoa Điềm, ta bắt gặp một cái nhìn toàn vẹn, tổng hợp từ nhiều bình diện khác nhau về một đất nước của nhân dân. Tư tưởng ấy đã quy tụ mọi cách nhìn và cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm về đất nước. Thông qua những vần thơ kết hợp giữa cảm xúc và suy nghĩ, trữ tình và chính luận, nhà thơ muốn thức tỉnh ý thức, tinh thần dân tộc, tình cảm với nhân dân, đất nước của thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm chống Mĩ cứu nước.

    <3

    khi chúng ta lớn lên, đất nước có nó. đất nước có nó ngày xưa mẹ tôi hay kể cho tôi nghe. đất nước bắt đầu bằng miếng trầu, bây giờ ăn miếng trả miếng. đất nước ngày càng phát triển khi dân tộc ta biết trồng tre, đánh giặc.

    Quê hương ngay từ đầu không phải là một khái niệm trừu tượng mà là một cái gì đó rất gần gũi, thân thương trong cuộc sống bình dị của mỗi con người. Đất nước xuất hiện trong truyện cổ tích Ngày xửa ngày xưa mẹ kể, trong cây trầu bà, cây tre trước ngõ … gợi lên một đất nước Việt Nam bao dung, hiền hậu, thủy chung, thủy chung. , nhưng cũng vô cùng oanh liệt trong việc chống lại quân xâm lược. mỗi cây trầu, cây cau, cây tre gợi lên một nét đẹp tinh thần của đất nước, thấm nhuần cội nguồn lịch sử của dân tộc.

    Đất nước còn là hiện thân của phong tục tập quán ngàn đời, là minh chứng của một dân tộc giàu truyền thống văn hóa, giàu tình yêu thương, gắn bó với mái ấm gia đình. cha mẹ thương nhau muối gừng cay cay. gừng đương nhiên cay, muối đương nhiên mặn. tình yêu của cha mẹ mãi mãi nồng nàn như chính chân lý tự nhiên. hình ảnh thơ làm cho ta khóc vì một nỗi nhớ da diết về một ơn ai hôm nay: tay trong tay đĩa muối chén gừng, gừng cay muối mặn xin đừng quên.

    Đất nước cũng là kết quả của quá trình làm việc chăm chỉ để tồn tại, để xây dựng nhà cửa:

    các chùm tạo thành tên của hạt gạo phải được xay, nghiền, nghiền, rây. đất nước tồn tại kể từ ngày đó.

    ở đây đất nước không còn là một khái niệm trừu tượng mà trở nên cụ thể, quen thuộc và giản dị. việc tác giả sử dụng chất liệu dân gian để nói lên suy nghĩ của mình về đất nước với quan niệm “đất nước của nhân dân”.

    vẫn đối thoại với từng nhân vật đối thoại tưởng tượng, nguyen khoa diem đã diễn giải khái niệm đất nước theo cách riêng của mình:

    đất là nơi anh đi học, nước là nơi anh tắm, quê là nơi ta hẹn hò, quê là nơi anh khăn gói nỗi nhớ.

    Đất nước được cảm nhận không chỉ bởi không gian địa lý rộng lớn từ rừng cây đến hồ nước mà còn được cảm nhận bằng không gian đời thường của mỗi người, không gian của tình yêu, không gian của nỗi nhớ. khái niệm quốc gia có nguồn gốc từ sự tách biệt của hai yếu tố cấu thành, đất và nước, với các liên kết bắt nguồn từ nó. sử dụng biện pháp khúc chiết nhưng không sa vào vô nghĩa mà rất hài hước, phản cảm, có thể gợi ra một khái niệm mang nét riêng về khái niệm đất nước, mà tư tưởng thơ có thể tách bạch, nhấn mạnh.

    Trái đất mở ra cho tôi một chân trời tri thức, nước rửa sạch tâm hồn tôi trong ánh sáng dịu dàng và tinh khiết. Theo thời gian, đất nước đã trở thành nơi mà bạn và tôi đi chơi. Không chỉ vậy, nước còn có một người bạn để chia sẻ những nỗi niềm mong mỏi của những người yêu nhau. đất và nước tách biệt khi bạn và tôi là hai cá thể, và hòa hợp khi bạn và tôi hợp nhất để trở thành chúng ta. chiếc khăn mùi xoa – biểu tượng của nỗi nhớ – từng khiến bao trái tim trẻ bơ vơ: “khăn nhớ ai, khăn rơi xuống đất…”, một lần nữa khiến lòng người xao xuyến, bồi hồi nhớ thương. tình cảm chân thành của những tâm hồn đang yêu say đắm. .

    Đất nước còn là nơi trở về của những tâm hồn yêu quê hương đất nước. hình ảnh chim phượng hoàng bay về núi bạc, tiếng còi biển theo phong cách ca dao miền Trung, thấm đượm tình yêu quê hương đất nước của tác giả. đất nước ta bình dị, thân quen nhưng đôi khi cũng thật rộng lớn, nguy nga tráng lệ, nhất là đối với những người đi xa. chim dù ăn quả chín cũng bàng hoàng nhớ cây đa đã về. gia đình Việt Nam là thế, luôn hướng về quê hương, hướng về cội nguồn.

    Đất nước trường tồn theo không gian và thời gian: thời gian không có hồi kết, một không gian bao la để mãi mãi là nơi tụ hội của dân tộc ta, không gian sinh tồn của cộng đồng người Việt từ bao đời nay. nguyen khoa diem nhắc lại sự tích về Lạc long quan và au cô, về sự tích hùng vỹ và ngày giỗ tổ. nhớ đến sơn long quan y, nhắc đến ngày giỗ tổ, cụ Nguyễn Khoa Điểm muốn nhắc nhở mọi người về cội nguồn dân tộc. Dù đi đâu, làm gì, người Việt Nam vẫn luôn hướng về quê cha đất tổ, nhớ về dòng dõi con rồng cháu tiên.

    phân tích bài thơ Đất nước – văn mẫu 14

    Từ bao đời nay, quê hương luôn là đề tài muôn thuở, là điểm hẹn của các nhà thơ, nhà văn trên khắp thế giới, tình yêu quê hương dường như đã đi vào từng câu, từng chữ, văn, thơ. Không giống như đất nước của nguyễn đình thi hay hoàng cẩm, qua con mắt của nhà thơ nguyên khoa, hình hài đất nước hiện lên một cách đầy đủ và trọn vẹn. bài thơ “đất nước” của tác giả xoay quanh cuộc sống gần gũi, thân thương bình dị của người dân Việt Nam nhưng cũng đầy kiên cường, nghị lực vươn lên trên mọi giông tố.

    Ngay từ đầu, những vần thơ ngọt ngào, bình dị và thân thương đã đưa người đọc trở về thuở ban đầu, khi một đất nước mới ra đời:

    “khi tôi lớn lên đất nước có đất nước” ngày xửa ngày xưa “Mẹ thường nói đất nước bắt đầu bằng miếng trầu mà bây giờ bà ăn đất nước lớn lên khi dân ta biết trồng tre đánh giặc… mái tóc mẹ bới sau mái đầu cha mẹ yêu thương gừng cay muối mặn áo giáp, cây sào làm nên tên tuổi hạt gạo phải mài, giã. , nghiền, sàng. Nước có từ ngày đó … “

    với những vần thơ giản dị mà tinh tế, khái niệm “quê hương” đã được nâng lên một cách rất cụ thể. Đất nước trông đẹp đẽ, giản dị và mộc mạc đến thế, không biết từ bao giờ, tôi chỉ biết trong những câu chuyện mẹ tôi thường kể cho tôi nghe từ khi tôi còn rất nhỏ, đất nước đã có rồi. người đọc như được quay ngược thời gian, với những điều quen thuộc nhưng nhớ về “ngày xửa ngày xưa”, một giai đoạn

    một không gian dài hiện ra, thật xa mà cũng thật gần. không thể xác định được một mốc cụ thể và chính xác. thì đất nước được thể hiện qua miếng trầu ông ăn, qua hình ảnh lũy tre xanh bên làng quanh năm mưa dầm thấm lâu. đất nước ngày càng phát triển, vượt qua muôn vàn khó khăn kể từ khi nhân dân biết trồng tre để chống giặc ngoại xâm, bảo vệ xóm làng, bảo vệ từng tấc đất thân yêu của quê hương. hay cả những hình ảnh tuy giản dị nhưng chứa chan tình cảm đó là hình ảnh những người mẹ vén tóc sau đầu, những ông bố thương nhau gói gừng cay cay. sau đó là những hình ảnh mộc mạc tưởng chừng như vô tri vô giác nhưng lại mang một hồn sống “cái đăng”, “cái chùm”, hạt gạo trắng tinh tượng trưng cho hình ảnh đẹp đẽ của đất nước đã sống, đã biết. , gai.

    Đất nước có thể được nhìn qua con mắt bình dị của những con người chân chất, chân chất, chân lấm tay bùn nhưng tình cảm của họ luôn nồng nàn, yêu thương.

    bằng những câu thơ bình dị như vậy, đất nước tiếp tục được nhà thơ vẽ lên qua con mắt của một tình yêu trong sáng, thuần khiết của một đôi trai gái:

    “đất là nơi anh đi học, nước là nơi anh tắm, quê là nơi ta hẹn hò, quê là nơi anh khăn gói với nỗi nhớ” đất là nơi anh đi về đến trường, nước là nơi bạn tắm,

    đất nước là nơi hò hẹn, là nỗi nhớ da diết. nơi hội tụ những tỷ lệ đẹp đẽ nổi bật, sự ươm mầm và đơm hoa kết trái của đất nước như chính tình yêu xanh đã vun đắp để tạo thành nỗi nhớ vô bờ bến. Đất nước được hình thành từ tình yêu thủy chung, thắm thiết của đôi trai gái hòa quyện với tình yêu đất nước rộng lớn.

    Không phải là không gian bao la, rộng lớn, đất nước vẫn hiện hữu trong không gian sống, cuộc sống bình dị của người dân:

    “đất là nơi” chim phượng hoàng bay về núi bạc “nước là nơi” cá lặn lội nước biển “lâu ngày”

    Như quay ngược thời gian, mảnh đất đầu tiên đã có, những người Việt Nam đầu tiên đặt chân lên lập nghiệp từ thời tổ tiên sơn môn, tổ tiên:

    “đất là nơi chim về, nơi rồng ở chốn sơn long quan, bà chúa đẻ ra dân ta trong bọc trứng”

    Cội nguồn của một dân tộc anh hùng dần được hé lộ qua những dòng thơ trong trẻo của tác giả. Khẳng định đất nước đã có từ lâu đời, từ thời Lạc Long Quân và Âu Cơ, tổ tiên đã khai khẩn vùng đất trù phú, xanh tươi với bao trang sử hào hùng.

    Quê hương trở về với sự gần gũi bao bọc ta, về với mái nhà thân thương và chở che:

    “những người đã mất, những người còn yêu nhau và có con cái, hãy đảm nhận phần của những người đã ra đi trước, để nói với con cháu về tương lai, hàng năm, dù họ đi đâu, họ cũng vậy. họ biết cúi đầu tưởng nhớ ngày giỗ tổ trong anh và em hôm nay đất nước khi hai người nắm tay nhau đất nước trong ta ấm áp chan hòa khi cùng nắm tay nhau đất nước to lớn đầy tràn ”

    tác giả như muốn khẳng định một trách nhiệm lớn lao đối với thế hệ mai sau, nó như một cây cầu dang dở trên con đường đi tới ngày mai của đất nước. không chỉ vậy, đất nước còn ấm no, vĩ đại khi mọi người cùng chung tay, chung sức xây dựng và vun đắp cho đất nước thanh bình, giàu đẹp.

    và bên cạnh đó, đất nước sẽ tiến xa, đi đến những chân trời mơ ước và đứng vững mãi mãi:

    “Mai sau các con tôi lớn lên, các bạn sẽ mang theo cả quê hương đất nước. những ngày còn thơ mộng con ạ, đất nước là máu xương của chúng ta, chúng ta phải biết đoàn kết, chia sẻ, phải biết hòa mình vào hình hài của đất nước để làm nên đất nước mãi mãi. .. “

    thu phí cũng giống như chia sẻ điều đó với thế hệ sau, giữ cho đất nước luôn bình yên và tươi đẹp để chúng ta có thể tiến xa hơn trong tương lai. như một lời nhắn nhủ thiết tha, răn dạy con cháu sống và chiến đấu vì quê hương thân yêu, sẻ chia, gắn bó với quê hương như máu thịt của mình để làm nên quê hương mãi mãi. .

    Đi sâu vào từng ngóc ngách của đất nước Việt Nam, tác giả đã vẽ nên một bức tranh toàn cảnh đầy núi non trập trùng, kiêu hãnh như hình bóng đất nước, cả những sông sâu, nước biếc một màu. quê hương hiện hữu khắp nơi, tác giả như muốn nói rằng quê hương được làm nên bởi những con người từ muôn thuở bằng tình yêu chân thành, thắm thiết:

    “Những người vợ nhớ chồng cũng mang theo cả núi hy vọng cho đất nước. đôi lứa yêu nhau góp tiếng trống thánh thót qua trăm ao đầm, để lại chín mươi chín con voi góp sức xây dựng đất tổ của vua hùng, rồng nằm yên góp cho non xanh sông sâu, sinh viên nghèo đóng góp cho quê hương, núi và lông, cóc, gà quê hương, góp phần tạo nên vẻ đẹp của ha long, những người đã đóng góp tên là ong doc, ong trang, mrs. cho, mrs. di sản và khắp nơi trên đồng ruộng, gò đất không có hình hài, ước vọng, cách sống của tổ tiên.

    với ngòi bút ví von nhưng chân thực, tác giả Nguyễn Khoa Điểm đã lần lượt vẽ nên những công lao vẻ vang của cha ông. đó là hình ảnh những người con Việt Nam đã hy sinh tuổi thanh xuân, cả cuộc đời cống hiến xương máu cho đất nước, để lại những người con, người vợ của dân ngoại. tình yêu vững chắc như những tảng đá lớn, hiên ngang hiên ngang không sợ mưa gió. dấu tích của những bước đi anh dũng, quả cảm qua đời đời ghi nhớ, … đất nước có một phần máu xương của những con người bất khuất, trung kiên, một đời vì nước, sẵn sàng hy sinh tất cả vì đất nước kéo dài hơn bốn ngàn năm và nhiều hơn nữa. vẽ nên bức tranh toàn cảnh đất nước, vẻ đẹp của núi non, sông nước gắn liền với những trang sử hào hùng của lịch sử cả một dân tộc.

    để làm nên một anh hùng, nhiều anh hùng đã ngã xuống, nhưng không ai biết tên, không ai nhớ đến họ. làm nên đất nước, những anh hùng dân tộc đã ngã xuống không chút đắn đo, tiếc nuối, sẵn sàng từ bỏ mọi thứ để mai sau thấy được vẻ đẹp của đất nước.

    Phân tích bài thơ Đất nước – văn mẫu 15

    Khát vọng mặt đường là thiên anh hùng ca được Nguyễn Khoa điểm ở chiến khu tri kỉ hoàn thành năm 1971. thiên anh hùng ca miêu tả quá trình thức tỉnh của tuổi trẻ vùng đô thị miền Nam bị tạm chiếm. chúng nhận rõ bộ mặt hung hãn của đế quốc Mỹ; hướng về nhân dân, hướng về đất nước; ý thức được sứ mệnh của thế hệ mình, anh đã đứng lên xuống đường chiến đấu hòa vào cuộc chiến đấu của cả dân tộc. Các đoạn trích Đất nước có thể được tìm thấy trong phần đầu tiên của chương V của sử thi khát vọng.

    đất nước có thể coi là chương hay nhất trình bày những cảm nhận, lí giải của tác giả về đất nước, đồng thời thể hiện sâu sắc tư tưởng chủ đạo của toàn bộ sử thi là tư tưởng “Đất nước Việt Nam”. . . đất nước của nhân dân ”. trình tự mở ra mạch suy nghĩ, cảm xúc của tác giả khá chặt chẽ nhưng cũng rất phóng khoáng. Đoạn thơ mở đầu bằng những định nghĩa nồng nàn về đất nước. Sau đó là hình dung về đất nước qua thời gian – lịch sử. , qua bề rộng không gian – lãnh thổ địa lí và bề dày văn hóa – phong tục tập quán, nếp sống, tính cách của con người Việt Nam, với niềm tự hào sâu sắc. Từ ba phương diện đó, bài thơ đầy cảm hứng và tư tưởng đề cập đến ý chính: “Đất nước này là đất nước của nhân dân. ”mạch cảm xúc và suy ngẫm của bài thơ trôi chảy tự nhiên, vừa chặt chẽ, vừa sôi nổi, đồng thời có những âm vang sâu lắng.

    Ở phần đầu của đoạn trích, theo lối trữ tình – chính luận, nhà thơ đã đưa ra định nghĩa của riêng mình về đất nước bằng cách cảm nhận đất nước trong truyện cổ tích và ca dao. định nghĩa thơ ông giải phóng mình khỏi những khái niệm khó khăn trong một cuộc trò chuyện gần gũi, thân mật mà bay bổng. mật độ chất liệu rút ra từ truyện cổ tích, truyền thuyết, ca dao, dân ca, truyền thuyết …. tạo cho câu thơ đầu một âm hưởng quyến rũ. những câu như:

    Khi chúng ta lớn lên, đất nước đã ở đó. đất nước ở “ngày xửa ngày xưa …” mẹ tôi nói với tôi

    Câu thơ đầu tiên làm mờ đi ý niệm rằng đất nước thuộc về các triều đại. ngay từ đầu, nó thuộc về nhân dân. xác định đất nước bằng sự lựa chọn chất liệu văn hóa dân gian, đó là hàm ý về văn hóa dân gian của các nhà khoa bảng. định nghĩa về nguyễn khoa điểm là một phát hiện mới, độc đáo, tạo sự thu hút và thích thú cho người đọc.

    Định nghĩa về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm đã chạm đến những gì thiêng liêng nhất, vĩ đại nhất nhưng cũng gần gũi và thân thiết nhất đối với mỗi chúng ta. nó dễ dàng thúc giục chúng ta suy ngẫm về quá khứ, về niềm tự hào dân tộc. và nhờ đó, nó đánh thức trong mỗi chúng ta lương tâm dân tộc và tinh thần trách nhiệm đối với đất nước và nhân dân.

    Phần tiếp theo của đoạn thơ từ “vợ nhớ chồng” đến hết đoạn trích là phần tập trung làm nổi bật tư tưởng “đất nước của nhân dân”. Trong phần này, tư tưởng đã tập hợp tất cả các quan điểm và dẫn đến những hiểu biết sâu sắc và mới lạ của tác giả về địa lý, lịch sử và văn hóa của đất nước.

    Những người vợ nhớ chồng cũng mang theo cả núi hy vọng cho đất nước. các cô dâu chú rể yêu nhau góp tiếng trống khua chân thánh. họ vượt qua trăm ao đầm, để lại chín mươi chín con voi để góp phần xây dựng đất tổ của vị vua hùng mạnh. rồng nằm im góp non xanh sông sâu, học trò nghèo góp non sông đất nước.

    Đây là những khám phá rất mới về thiên nhiên đất nước. những ngọn núi lông vũ, núi nghiêng, núi vông phu, hòn mái… vốn đã quá quen thuộc nay bỗng trở nên thật lạ. nó không phải là sản phẩm của tạo hóa mà là linh hồn, là số phận của con người. Ở điểm này, không phải thiên nhiên, tạo hóa sinh ra những câu chuyện huyền thoại mà chính những câu chuyện về linh hồn và số phận con người trong quá khứ đã thổi hồn cho những thắng cảnh này, khiến chúng sống mãi với thời gian. tầm nhìn thơ mộng của tác giả dẫn đến một bức tranh toàn cảnh xúc động:

    <3

    Tiếp nối những câu thơ khám phá độc đáo về thiên nhiên, có những câu thơ khám phá vẻ đẹp tâm hồn, tính cách Việt Nam, cũng như vai trò, vị trí của dân tộc Việt Nam trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước. nước và giữ nước. đó là những người yêu sâu sắc, trung thành và thủy chung; họ là những người cần cù, anh hùng trong cuộc chiến đấu chống lại kẻ thù; họ là những người “không ai nhớ mặt đặt tên” nhưng là những người đã “làm nên đất nước”. họ là những người âm thầm làm nên lịch sử, âm thầm gìn giữ những nét đặc sắc văn hóa của dân tộc qua bao thăng trầm của lịch sử dân tộc.

    Dựa trên những nét khái quát đơn giản nhưng đầy tính nhân văn, tác giả khẳng định:

    Cầu mong đất nước này là đất nước của nhân dân. đất nước của những con người, xứ sở của những ca khúc thần thoại nổi tiếng.

    Đó là sự thật. một chân lý đã được hiện thực hóa trong suốt chặng đường dài của lịch sử, nhưng chỉ trong văn học Việt Nam hiện đại, nó mới đạt đến đỉnh cao và hiện ra trong những tuyên ngôn đầy kiêu hãnh và những hang sâu. .

    ………….

    Chúng tôi mời bạn tải xuống tệp tài liệu để xem thêm 6 phân tích ngắn gọn về quốc gia

    Tham khảo: Soạn văn bài thạch sanh sách cánh diều

    XEM THÊM:  500 bài văn mẫu hay nhất lớp 11 | 500 bài phân tích, dàn ý, cảm nhận, nghị luận lớp 11 hay nhất

    Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Phân tích Đất nước hay nhất (21 Mẫu) – Văn 12. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

    Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

    Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

    Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *