Lã Nguyên
1. Nghèo nghèo một chút lại hoá hay. Trần Đình Sử về Tổ Lí luận văn học Sư phạm Hà Nội năm 1981. Tôi về Tổ năm 1983, sau anh hai năm. Anh có nhà riêng ở 22 Nguyễn Huy Tự, ngay giữa trung tâm Thủ đô. Gia đình tôi lúc ấy còn ở Thanh Hoá, tôi là kẻ “độc thân có vợ”, sống trong kí túc xá. Căn phòng ở dãy “H” nhà trường cho tôi mượn là gian nhà cấp bốn, mái lá, vách đất, chân vách đã sụt lở hết, hở toác toàng toang, mỗi khi bạn hữu đến chơi, tôi đùa, “tớ ở thì được, đem con lợn thả vào, thể nào nó cũng chạy mất”. Cho nên, nhiều lần đến đàm đạo văn chương với Trần Đình Sử, ngồi trên gác hai nhà anh, tôi có cảm giác như lạc vào một thế giới khác. Những lúc như thế, bỗng lại nhớ, hồi còn ở Trường Vinh, sống giữa rừng Thạch Thành Thanh Hoá, đông về rét buốt, cánh trẻ chúng tôi gồm những Hoàng Việt Anh, Hồ Hồng Quang, Nguyễn Văn Lợi, La Khắc Hoà…, mỗi đứa diện một áo bông Tôn Trung Sơn to xù, nhìn Trần Đình Sử khoác chiếc blouson vinilon màu cánh dán may rất khéo, trông thật bảnh bao sang trọng. Nhưng chỉ mấy năm sau, tôi đã kịp nhận ra, Trần Đình Sử cũng chẳng phong lưu giàu có gì.
Có một chuyện tôi nhớ mãi, giờ kể lại, nghe buồn cười, nhưng dư vị thì cứ thấy đắng cay thế nào! Nhiều người hẳn chưa quên những khó khăn mà chúng ta được trải nghiệm vào giữa những năm 80 của thế kỉ trước. Đó quả là lúc “gạo châu củi quế”, ai cũng túng thiếu, suốt tháng độc món bo bo, mì mạch, mùa hè, máy nước không mấy khi chảy, điện thường bị cúp, ban đêm nóng quá, trẻ con hàng xóm không ngủ được, khóc ré, nhức tai, khổ sở hơn cả thời bom đạn giặc dã. Nhìn lại những tấm ảnh chụp hồi ấy, thấy ai cũng còm nhom, chẳng có mấy gương mặt trông rõ thần sắc. Có lẽ vì thương đám giáo viên ngù ngờ chẳng biết xoay xoả, nên Trời ban cho Công đoàn Khoa Văn mấy vị cán bộ vừa hảo tâm, vừa năng nổ. Nhiệt tình nhất là chị Phương Thi và cô Bích Hà. Gần Tết, các chị vào Bình Đà liên hệ với mấy chỗ thân quen mua pháo về bán, kiếm chút lời, gọi là cải thiện cho anh em (hồi đó, “nhà nhà đi buôn”, “người người đi buôn” để “tự cứu mình”, chẳng có gì phải xấu hổ; buôn pháo, đốt pháo cứ gọi là thoải mái, chứ không bị cấm ngặt như bây giờ). Tết ra, các chị lại xoay xoả, sang tận Gia Lâm móc nối với một trại gia cầm (nghe đâu con gái bà Giám đốc học ở Khoa mình) để mua gà giống cho mọi người tăng gia. Muốn mua bao nhiêu phải đăng kí trước với Công đoàn, nhưng mỗi suất không được quá mười chú gà nhép. Đến tận bây giờ, tôi vẫn không hiểu, vì sao người ta lại giao gà vào ban đêm. Điểm giao gà là mảnh sân trước cửa hàng bách hoá phường Phương Mai. Quãng 8 giờ, hầu hết giáo viên trong Khoa (có rất nhiều tên tuổi khả kính, lẫy lừng khắp nước) đã tề tựu đông đủ. Mọi người tựa vào xe đạp (hồi ấy chưa ai có xe máy), túm tụm thành nhiều tốp trò chuyện râm ran. Vừa trò chuyện, vừa chờ đợi, đã mười giờ mà chẳng thấy gà qué gì. Mười một giờ, mười hai giờ, rồi một giờ sáng, xe chở gà vẫn chưa “về”. Sốt ruột quá. Trời rét căm căm. Nhếch nhác quá. Nhưng không ai bỏ cuộc. Giờ thì các thày hình như chẳng còn thiết trò chuyện gì nữa. Mọi cặp mắt đều thấp thỏm dõi về phía đầu phố. Ai cũng có vẻ nhấp nhổm, nhớn nhác thế nào ấy. Bỗng ánh đèn pha quét mạnh, một chiếc xe tải xịch đến, cả Khoa reo ầm lên rất đều, y như có người bắt nhịp: “Gà về…”. Gần hai chục năm nay, không còn được nghe tiếng reo tập thể đầy hân hoan trước những niềm vui nhếch nhác, thường bất ngờ vỡ oà ra như thế giữa các khu phố hoặc các dãy nhà cao tầng: “Có điện rồi…”. “Gạo về…”. “Cá về…”. “Nước về…”. Đọc tiếp
PHẢN HỒI, BÌNH LUẬN MỚI