“Phê bình là diễn ngôn về một diễn ngôn. Đó là ngôn ngữ thứ sinh hoặc siêu ngôn ngữ, nó hành nghề trên ngôn ngữ nguyên sinh (hay ngôn ngữ – đối tượng)” – Roland Barthes.

5. Chân dung phê bình

Nguyễn Huệ Chi và những dấu ấn khoa học sau hơn nửa thế kỷ nghiên cứu văn học cổ cận đại Việt Nam

Đặng Thị Hảo

LTS: Mới đây, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam vừa cho ra mắt cuốn Văn học Cổ cận đại Việt Nam, từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật – một tinh tuyển các bài viết trong vòng 50 năm nghiên cứu của chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực văn học Cổ cận đại Việt Nam: Giáo sư Nguyễn Huệ Chi.

Lê Đình Kỵ (1923 – 2009)

Nhà lý luận, phê bình văn học Lê Đình Kỵ sinh ngày 4/4/1923 tại xã Điện Hồng (nay là xã Điện Quang), huyện Điện Bàn tỉnh QuảngNam.

Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, bản tính hiếu học, ông tìm nhiều cách kiếm sống để theo đuổi học tập, có bằng tú tài triết học. Tham gia Cách mạng tháng 8/1945 ở Hội An. Từ 1949 đến 1951 là sĩ quan quân đội. Sau đó làm giáo viên trung học ở Liên khu V rồi tập kết ra Bắc làm giáo viên dạy Văn ở một trường trung học lớn ở Hà Nội. Từ 1958 ông được chuyển sang làm giảng viên dạy lý luận văn học và văn học Việt Nam hiện đại ở bậc đại học ( tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội rồi Đại học khoa học xã hội và nhân văn TP.Hồ Chí Minh, Đại học Cần Thơ)… cho đến khi nghỉ hưu (1993). Ông được phong chức danh khoa học Giáo sư Ngữ văn, danh hiệu Nhà giáo nhân dân.

Ông cầm bút bắt đầu từ dịch lý luận văn học. Với vốn tiếng Pháp thành thạo, tích lũy từ nhà trường Pháp – Việt trước đây và sau này khi tập kết ra Bắc bổ sung và hoàn chỉnh tiếng Nga bằng tự học, vào đầu những năm 60 của thế kỷ trước, Lê Đình Kỵ xuất hiện như một dịch giả thành công khi chuyển ngữ các công trình lý luận văn học từ tiếng Nga sang tiếng Việt. Đáng kể nhất là cuốn Nguyên lý lý luận văn học của L. Timofêep (2 tập, xuất bản 1962, chủ biên dịch cùng với các dịch giả khác). Đọc tiếp

Phan Khôi (1887 – 1959)

Sinh ngày 20.8.1987, quê quán : Bảo An, Điện Bàn Quảng Nam. Hiệu là Chương Dân, biệt hiệu Tú Sơn, các bút danh khác: Thông Reo,CD, K. Kh, Tân Việt…Xuất thân trong gia đình khoa bảng, ông đậu tú tài Hán học năm 1905. Là trí thức yêu nước, tham gia phong trào Duy Tân (1905-ở quê Quảng Nam) phong trào Đông kinh nghĩa thục (1907 – Hà Nội), từng bị ngồi tù ở nhà lao Hội An, Quảng Nam 3 năm.

Ông bền bỉ theo học Pháp văn và tự học chương trình tân học, say mê hoạt động báo chí,cổ động cho phong trào cải cách, đổi mới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đọc tiếp

Trần Đình Sử – người của sự kiện

                            Lã Nguyên

 

1. Nghèo nghèo một chút lại hoá hay. Trần Đình Sử về Tổ Lí luận văn học Sư phạm Hà Nội năm 1981. Tôi về Tổ năm 1983, sau anh hai năm. Anh có nhà riêng ở 22 Nguyễn Huy Tự, ngay giữa trung tâm Thủ đô. Gia đình tôi lúc ấy còn ở Thanh Hoá, tôi là kẻ “độc thân có vợ”, sống trong kí túc xá. Căn phòng ở dãy “H” nhà trường cho tôi mượn là gian nhà cấp bốn, mái lá, vách đất, chân vách đã sụt lở hết, hở toác toàng toang, mỗi khi bạn hữu đến chơi, tôi đùa, “tớ ở thì được, đem con lợn thả vào, thể nào nó cũng chạy mất”. Cho nên, nhiều lần đến đàm đạo văn chương với Trần Đình Sử, ngồi trên gác hai nhà anh, tôi có cảm giác như lạc vào một thế giới khác. Những lúc như thế, bỗng lại nhớ, hồi còn ở Trường Vinh, sống giữa rừng Thạch Thành Thanh Hoá, đông về rét buốt, cánh trẻ chúng tôi gồm những Hoàng Việt Anh, Hồ Hồng Quang, Nguyễn Văn Lợi, La Khắc Hoà…, mỗi đứa diện một áo bông Tôn Trung Sơn to xù, nhìn Trần Đình Sử khoác chiếc blouson vinilon màu cánh dán may rất khéo, trông thật bảnh bao sang trọng. Nhưng chỉ mấy năm sau, tôi đã kịp nhận ra, Trần Đình Sử cũng chẳng phong lưu giàu có gì.

Có một chuyện tôi nhớ mãi, giờ kể lại, nghe buồn cười, nhưng dư vị thì cứ thấy đắng cay thế nào! Nhiều người hẳn chưa quên những khó khăn mà chúng ta được trải nghiệm vào giữa những năm 80 của thế kỉ trước. Đó quả là lúc “gạo châu củi quế”, ai cũng túng thiếu, suốt tháng độc món bo bo, mì mạch, mùa hè, máy nước không mấy khi chảy, điện thường bị cúp, ban đêm nóng quá, trẻ con hàng xóm không ngủ được, khóc ré, nhức tai, khổ sở hơn cả thời bom đạn giặc dã. Nhìn lại những tấm ảnh chụp hồi ấy, thấy ai cũng còm nhom, chẳng có mấy gương mặt trông rõ thần sắc. Có lẽ vì thương đám giáo viên ngù ngờ chẳng biết xoay xoả, nên Trời ban cho Công đoàn Khoa Văn mấy vị cán bộ vừa hảo tâm, vừa năng nổ. Nhiệt tình nhất là chị Phương Thi và cô Bích Hà. Gần Tết, các chị vào Bình Đà liên hệ với mấy chỗ thân quen mua pháo về bán, kiếm chút lời, gọi là cải thiện cho anh em (hồi đó, “nhà nhà đi buôn”, “người người đi buôn” để “tự cứu mình”, chẳng có gì phải xấu hổ; buôn pháo, đốt pháo cứ gọi là thoải mái, chứ không bị cấm ngặt như bây giờ). Tết ra, các chị lại xoay xoả, sang tận Gia Lâm móc nối với một trại gia cầm (nghe đâu con gái bà Giám đốc học ở Khoa mình) để mua gà giống cho mọi người tăng gia. Muốn mua bao nhiêu phải đăng kí trước với Công đoàn, nhưng mỗi suất không được quá mười chú gà nhép. Đến tận bây giờ, tôi vẫn không hiểu, vì sao người ta lại giao gà vào ban đêm. Điểm giao gà là mảnh sân trước cửa hàng bách hoá phường Phương Mai. Quãng 8 giờ, hầu hết giáo viên trong Khoa (có rất nhiều tên tuổi khả kính, lẫy lừng khắp nước) đã tề tựu đông đủ. Mọi người tựa vào xe đạp (hồi ấy chưa ai có xe máy), túm tụm thành nhiều tốp trò chuyện râm ran. Vừa trò chuyện, vừa chờ đợi, đã mười giờ mà chẳng thấy gà qué gì. Mười một giờ, mười hai giờ, rồi một giờ sáng, xe chở gà vẫn chưa “về”. Sốt ruột quá. Trời rét căm căm. Nhếch nhác quá. Nhưng không ai bỏ cuộc. Giờ thì các thày hình như chẳng còn thiết trò chuyện gì nữa. Mọi cặp mắt đều thấp thỏm dõi về phía đầu phố. Ai cũng có vẻ nhấp nhổm, nhớn nhác thế nào ấy. Bỗng ánh đèn pha quét mạnh, một chiếc xe tải xịch đến, cả Khoa reo ầm lên rất đều, y như có người bắt nhịp: “Gà về…”.  Gần hai chục năm nay, không còn được nghe tiếng reo tập thể đầy hân hoan trước những niềm vui nhếch nhác, thường bất ngờ vỡ oà ra như thế giữa các khu phố hoặc các dãy nhà cao tầng: “Có điện rồi…”. “Gạo về…”. “Cá về…”. “Nước về…”. Đọc tiếp

Khuôn mặt tinh thần của một trí thức: trường hợp Đinh Gia Trinh

Chương 17 

KHUÔN MẶT TINH THẦN CỦA MỘT TRÍ THỨC:

TRƯỜNG HỢP ĐINH GIA TRINH

 

Vương Trí Nhàn

I

Được hình thành với mục đích cụ thể là phục vụ tức thời cho công cuộc thực dân, nền giáo dục do người Pháp tổ chức nên ở Việt Nam từ 1945 về trước về căn bản mang nặng tính cách thực dụng và những con người được nền giáo dục đó đào tạo trước tiên thích hợp cho công cuộc cai trị, hơn là làm lợi theo nghĩa cao sang của chữ này, cho nền văn hoá xứ sở. Dẫu sao, thay thế cho các nhà nho dần dần một lớp trí thức mới cũng đã hình thành: Hàng năm, trong khi đa số các cậu học sinh tiểu học ra trường rồi đi làm các sở tư hay gia nhập vào bộ máy nhà nước bảo hộ để kiếm sống và vốn liếng kiến thức cũng tan biến luôn trong đó, thì một số nhỏ, do những cơ may nào đó, tiếp tục được học lên. Người này vào lycée A. Sarraut. Người kia thi đậu các trường cao đẳng mới mở. Kết quả là số người so với đời sống bấy giờ có học vấn cao, có căn bản văn hoá vững vàng, số đó đông dần lên. Mà vượt ra ngoài mong muốn của bọn thực dân, nền văn hoá Pháp chân chính sớm mang lại cho lớp trí thức trẻ ấy (trong đó, một só nhỏ còn vừa du học bên Pháp trở về) một óc suy xét khách quan, lối làm việc khoa học và thói quen độc lập trong tư duy. Chẳng những thế có một quy luật thấy rất rõ đã chi phối hàng ngũ các trí thức chân chính: dù được dạy dỗ như thế nào, trước sau, họ phải trở về với cội nguồn dân tộc của mình. Cái vốn liếng văn hoá mà họ hấp thụ được trong nhà trường – nếu họ thật sự thấm nhuần – nhất thiết hướng họ vào việc soát xét lại quá khứ của xứ sở để từ đó, phác hoạ ra một đường hướng vận động tới tương lai mà họ nghĩ là nhiều phần thích hợp với dân tộc trong thời đại mới. Đọc tiếp

Dương Quảng Hàm và bước đầu hình thành của một nền học thuật

 Chương 16

 DƯƠNG QUẢNG HÀM VÀ BƯỚC ĐẦU HÌNH THÀNH  CỦA MỘT NỀN  HỌC THUẬT

 

Vương Trí Nhàn

 

Trong quá trình tìm hiểu về thơ mới và tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, giới nghiên cứu ở ta hầu như đã thống nhất với nhau về những biến đổi căn bản của văn hoá Việt Nam đầu thế kỷ này dưới ảnh hưởng của văn hoá phương Tây, một sự biến đổi lúc đầu giống như một vụ cưỡng hôn nhưng rồi cũng đã mang lại cho xã hội những đứa con tinh thần bụ bẫm.

Nhưng sự biến đổi của văn hoá còn có một khía cạnh thứ hai là việc xây dựng một nền học thuật mới. Chúng ta đều biết là từ thế kỷ XIX về trước, học thuật ở ta không có sự phát triển bình thường. Có nhiều lý do cắt nghĩa cho sự chậm chạp đó, ở đây chúng tôi không có điều kiện bàn kỹ, chỉ xin lưu ý một điều học thuật phát triển chậm chạp là do thiếu sự hỗ trợ đồng bộ của văn hoá (nghề in ở ta còn rất thô sơ; báo chí không có; nghề xuất bản mới ở tình trạng phôi thai khắc in được một số bản ít ỏi …), nhưng đến lượt nó, học thuật trì trệ lại làm cho sự trưởng thành của một nền văn hoá trở nên khó khăn, vì học thuật chính là phần lý tính là trình độ tự nhận thức của một nền văn hoá đó. Với những bộ sử bám sát vào sự nối tiếp của các triều vua và dăm bộ hợp tuyển thi văn còn khá luộm thuộm, có thể nói bây giờ dù ông cha ta đã trải qua nhiều võ công hiển hách và thường tự hào về khả năng tồn tại của chính mình, song chưa thể nói là xác định được chỗ mạnh chỗ yếu của mình một cách khoa học, càng chưa có điều kiện đặt mình vào thế giới rộng lớn từ đó có được định hướng phát triển lâu dài. Đọc tiếp

Hoài Thanh – nhà lý luận văn học đầu tiên khẳng định bản chất thẩm mỹ của văn học

Trần Đình Sử

Do ảnh hưởng của Thi nhân Việt Nam quá lớn, người ta thường chỉ nói đến nhà phê bình văn học lỗi lạc Hoài Thanh mà quên rằng ông còn là nhà lí luận văn học xuất sắc bậc nhất của thế kỉ XX.

Hoạt động lí luận của Hoài Thanh chủ yếu diễn ra trong khoảng bốn, năm năm từ 1935 đến1939, thời gian tuy không nhiều nhưng đã để lại một ấn tượng và thành tựu đáng nhớ của thế kỉ. Ông không chỉ là người khởi xướng và tham gia vào cuộc tranh luận nghệ thuật có tầm vóc to lớn nhất trong thế kỉ, mà còn là đề xướng nhiều tư tưởng văn học tiến bộ để lại những trang văn sâu sắc và tinh tế có tính chất cổ điển. Đọc tiếp

Jacques Derrida, người “giải kiến tạo tư duy”

Catherine Halpern

Triết gia Jacques Derrida vốn là một kẻ gây rối. Ông là một người không nhiều người hiểu, thậm chí bị gièm pha tại Pháp, nơi ông trở nên nổi tiếng nhờ có lập trường chính trị rõ ràng, nhờ công khởi xướng giải kiến tạo luận, một lý thuyết cố gắng làm cho cái tiềm ẩn trong văn bản nổi lên bề mặt. Mặc dù thế, trên bình diện quốc tế, ông rất được nhiều người quan tâm.

Mùa xuân năm 1992, Trường Đại học danh tiếng Cambridge rối loạn cả lên. Nguyên nhân: trao bằng tiến sĩ danh dự cho Jacques Derrida. Một phong trào chống đối ông đã dấy lên ngay tại nơi mà triết lý phân tích và tư duy logic rất được coi trọng. Vụ việc vượt qua khuôn viên trường đại học để rồi được đăng tải trong Times ngày 9 tháng 5 năm 1992. Nhiều giảng viên đại học có uy tín, trong đó có triết gia người Mỹ Wil­lard Quine, ký một bức thư ngỏ nhằm thay đổi kết quả biểu quyết và gây trở ngại cho người mà theo họ không phải là một triết gia thực thụ. Những kẻ chống đối ông giải thích rằng nếu như Derrida có chút uy tín, thì chủ yếu là ở trong các khoa văn và điện ảnh. Derrida dường như không tôn trọng “các quy chuẩn về tính rõ ràng và chính xác” cần có trong triết học và ông sử dụng những lời lẽ pha trò theo kiểu những người theo chủ nghĩa đađa. Văn phong mù mờ của ông chỉ là một cách giấu diếm một cách khéo léo những luận điểm trống rỗng và tầm thường của mình. Thật không may cho những kẻ chống Derrida: ngày 12 tháng 6, triết gia người Pháp được đích thân Hoàng tử Philip, Viện trưởng Viện đại học, trao phần thưởng danh giá đó. Đọc tiếp

Nhóm Bakhtin – những vị tiền bối của chủ nghĩa hậu hiện đại

Ngô Minh Thủy và Ngô Tự Lập

Terry Eagleton, trong bài “I Contain Multitudes”, gọi Bakhtin “ngôi sao của Phương Tây hậu hiện đại” và viết: “Bởi lẽ hầu như không có chủ đề hậu hiện đại thời thượng nào mà chưa được Bakhtin dự cảm trước. Diễn ngôn, tính lai, tính khác, tình dục, nổi loạn, biến thái, đa hợp, văn hóa đại chúng, thân xác, cái tôi phi trung tâm, tính vật chất của ký hiệu, chủ nghĩa lịch sử, đời thường: nhà tư tưởng hậu cấu trúc sớm này, như cách gọi của Graham Pechey, đã hình dung trước quá nhiều điều về thời đại của chúng ta, đến mức sẽ đáng ngạc nhiên nếu như trong tác phẩm của ông chúng ta không thấy đề cập đến Posh và Becks”.

Thật ra những điều này đúng hơn nếu dùng để nói chung về nhóm Bakhtin, trong đó ngoài thủ lĩnh Bakhtin M.M. còn có những nhân vật kiệt xuất khác, trước hết là Voloshinov. V. N và Medvedev P.N (Theo I.R. Titunik, nhóm Bakhtin còn có nhà phê bình văn học L.V. Pumpjanskij, nhà Ấn Độ học M.I. Tubjanskij, nhà sinh vật học I. I. Kanaev, nhà văn Vaginov, nhà nghiên cứu âm nhạc I. I. Sollertinskij). (I.R. Titunik: 176). Những tư tưởng cực kỳ mới mẻ và sáng tạo của nhóm, dù bị vùi dập và lãng quên trong nhiều thập kỷ ở Liên Xô, ngày càng có ảnh hưởng sâu rộng trên thế giới, đặc biệt đối với các nhà tư tưởng hậu hiệu đại, góp phần quan trọng làm thay đổi bộ mặt học thuật của các ngành khoa học xã hội và nhân văn trong hai thập niên cuối cùng của thế kỷ XX. Trong bài này, chúng tôi chỉ đề cập đến ảnh hưởng của họ đối với chủ nghĩa Hậu hiệu đại thông qua triết học ngôn ngữ mà họ đưa ra vào cuối những 1920. Đọc tiếp

Về sự nghiệp khoa học của Bakhtine

 Phạm Xuân Thạch

 I

Mikhail Bakhtine là một trong những gương mặt cuốn hút nhất nhưng đồng thời cũng bí ẩn nhất của văn hoá châu Âu trong phần giữa của thế kỷ XX. Sức cuốn hút là dễ hiểu: sự phong phú và đặc sắc về tác phẩm, điều mà không một nhà khoa học Xôviết trong lĩnh vực khoa học nhân văn nào có thể so sánh được. Nhưng, trong sự thán phục đó còn có cả sự bối rối, bởi lẽ, không tránh khỏi, người ta sẽ phải đặt ra câu hỏi : Bakhtine là ai và đâu là những nét phân biệt trong tư duy của ông? Bởi vì dưới cái tên Bakhtine, có muôn ngàn gương mặt khác nhau đến mức mà đôi khi, người ta ngờ rằng tất là cùng của một con người.

Tác phẩm của Bakhtine thu hút sự chú ý của công chúng bắt đầu từ năm 1963, năm mà người ta tái bản công trình của ông về Dostoievski, xuất bản lần đầu năm 1929 (ngay từ thời đó nó đã được chú ý), dưới một hình thức rõ ràng là đã qua sửa chữa. Nhưng, ngay chính từ cuốn sách đầy cuốn hút ấy, Những vấn đề thi pháp Dostoievski (dịch sang tiếng Pháp năm 1970) đã đặt ra những vấn đề, nếu người ta truy vấn về tính thống nhất của nó. Trên đại thể thì nó gồm ba phần tương đối độc lập : phần thứ nhất là là một luận văn về thế giới tiểu thuyết Dostoievski được trình bày kèm theo minh họa bằng những thuật ngữ triết học và văn học; phần thứ hai, một khám phá những thể loại văn học nhỏ, những đối thoại kiểu Socrate, ménipé cổ đại và những sáng tác carnavale trung cổ, những thể loại làm nên một truyền thống có tính cội nguồn mà Bakhtine cho rằng Dostoievski là thuộc về truyền thống đó; cuối cùng, phần thứ ba bao gồm một chương trình nghiên cứu phong cách học, minh hoạ bằng những phân tích tiểu thuyết Dostoievski. Đọc tiếp

M.Bakhtin: nhà triết học – nhà nghiên cứu văn học

Lã Nguyên

Có 3 nội dung chính được triển khai trong bài viết. Thứ nhất:  Khảo sát quá trình tiếp nhận Bakhtin trong ý thức xã hội và tư duy khoa học, chủ yếu là ở Liên Xô trước kia và nước Nga hiện nay. Thứ hai: Phân tích hệ hình tư duy của triết học Bakhtin. Thứ ba: Khái quát những luận điểm chính của M. Bakhtin về thể loại văn học.

1. Ba giai đoạn công bố di sản của M. Bakhtin Đọc tiếp

1. Tin tức - sự kiện | Điểm báo

Những điều chưa biết về học giả Nguyễn Văn Vĩnh

LTS: Sau một thời gian dài bị phủ lấp dưới những định kiến, đến hôm nay, cái tên Nguyễn Văn Vĩnh đã bước ra ánh sáng với tư cách một học giả...

2. Lý thuyết phê bình

Trung tâm và Ngoại biên: Từ hệ hình cấu trúc luận đến hệ hình hậu cấu trúc luận

Lê Nguyên Long “There is no way out of the game of culture; and one’s only chance of objectifying t...

3. Lịch sử phê bình

Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại đến văn học nghệ thuật trên thế giới và Việt Nam

Nguyễn Văn Dân 1. Trên bình diện thế giới Lịch sử thế giới cho thấy các trào lưu hiện đại chủ nghĩa đã có vai trò không nhỏ cho sự phát ...

4. Các thể tài phê bình

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, một nhà nghiên cứu văn học tài hoa, uyên bác

 LTS:  Sau bài viết của TS. Đặng Thị Hảo, theo yêu cầu của bạn đọc, kỳ này Phê bình văn học xin tiếp tục đăng bài đề dẫn của GS Vũ Khiêu – n...

5. Chân dung phê bình

Nguyễn Huệ Chi và những dấu ấn khoa học sau hơn nửa thế kỷ nghiên cứu văn học cổ cận đại Việt Nam

Đặng Thị Hảo LTS: Mới đây, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam vừa cho ra mắt cuốn Văn học Cổ cận đại Việt Nam, từ góc nhìn văn hóa đến các mã n...

6.Những vấn đề hiện thời của phê bình

TS. Nguyễn Thị Từ Huy: “chọn bài dựa trên chất lượng chứ không dựa trên các loại chức danh hay chức vụ hay sự nổi tiếng”

Nhân dịp website tròn một tuổi, chúng tôi kiểm điểm lại những việc đã làm, trên cơ sở những ý kiến bàn thảo thẳng thắn về tình hình sáng t...

7. Thiết chế xã hội của văn học

Nhân ngày thơ Việt Nam, nhớ lại một bản thảo bị mất

Lại Nguyên Ân Trong những thông báo về việc tổ chức Ngày Thơ Việt Nam năm nay, 2013, thấy có nói trong ngày này cũng sẽ kỷ niệm 70 năm Hội ...

8. Tư tưởng - triết học - văn hóa

Tiếp xúc văn hóa Việt Nam và Pháp (phần 2/3)

                                                                   Phan Ngọc Ba xu hướng phê phán Nho giáo (tiếp theo) Các biếm họa của Ph...

9. Diễn ngôn (văn học)

Diễn ngôn như một phạm trù của tu từ học và thi pháp học hiện đại

V.I. Chiupa Lời người dịch: Giờ đây “diễn ngôn” đã trở thành khái niệm của khoa học liên ngành và khoa học đa ngành. Theo dõi quá trình hìn...

10.Giới thiệu tác phẩm

Màu tự do của đất (giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2012)

Nhà thơ Trần Quang Quý quê Thanh Thủy, Phú Thọ. Hiện công tác tại Nxb. Hội Nhà văn. Tác phẩm chính: Viết tặng em trong ngôi nhà chật(thơ,...

11. Hồ sơ văn học

Chứng từ Thanh Tâm Tuyền (1 và 2)

Thanh Tâm Tuyền là một trong những nhà thơ tiên phong đổi mới tư duy thơ, một nhà thơ lớn có bóng bao trùm một miền thơ rộng của thế kỉ XX. ...

12. Ebooks và chuyên đề

Cây bút, đời người (Tập chân dung văn học,Nxb. Hội Nhà văn, 2005)

Mục lục  Lời dẫn                                                                        - Xuân Quỳnh, cuộc đời để lại trong thơ        ...

13.Văn học nhà trường

Đây thôn Vĩ Dạ từ hình ảnh đến biểu tượng

Lê Thị Hồ Quang 1. Rõ ràng là có một thế giới thiên nhiên rất thực đã và đang tồn tại trong Đây thôn Vĩ Dạ. Đó Là một thế giới của ''vườn...