Khi quyền kể chuyện được trao cho nhân vật


Lại Nguyên Ân

1/ Sao đổi ngôi [1]  không chia thành các chương lớn. Toàn bộ câu chuyện được ước lệ là lời kể của Sơn, nhân vật chính, bắt đầu vào một đêm ở binh trạm 55 giữa Trường Sơn khoảng đầu những năm 1970 (hoặc nói chung là sau Mậu Thân), coi như điểm bắt đầu một tình bạn của bộ ba Sơn – Hoài – Xoan, cái tình bạn sẽ được mở rộng trải dài cho đến cuối những năm 1970, và nó chính là cơ sở tạo nên đường dây cốt truyện. 

Như ta thấy rõ, Sơn là một chàng trai học sinh nông thôn Bắc Bộ đi vào chiến tranh và qua suốt cuộc chiến tranh với tư cách một người lính bình thường, − bình thường về nhiều phương diện. Câu chuyện do Sơn kể là câu chuyện về tất cả những gì mà bản thân anh thấy được, nghe được, hiểu được trên bước đường chiến đấu, trên bước đường đời. Không ai ngây thơ đến nỗi quên mất vai trò “tạo hóa” của bàn tay tác giả: những điều Sơn kể lại, cách hiểu, cách nói của Sơn… đều tùy thuộc vào những tư tưởng, những chủ đề, những quan tâm thường xuyên của nhà văn Chu Văn. Tuy nhiên, do cách kể chuyện từ góc độ nhân vật như ở đây, ta không thể chối cãi được rằng câu chuyện này cần phải được tiếp nhận trước hết như là cái nhìn của người lính thường vào cuộc chiến tranh mà anh ta tham dự, như là kinh nghiệm, trải nghiệm của người dân thường đi qua cuộc chiến tranh. 

Nói Sơn là người kể chuyện chính, là nói bao quát. Thật ra, câu chuyện Sơn kể còn bao gồm khá nhiều những chuyện do người khác kể, khá nhiều những giọng kể khác nữa. Do vậy, ta có thể coi câu chuyện ở đây là câu chuyện do nhiều người kể, là lời kể tập thể của nhiều người. 

Tôi đoán là có người sẽ chê trách cuốn truyện, vin vào những đòi hỏi về tính hoàn chỉnh của một cốt truyện chặt chẽ với một số lượng nhân vật vừa đủ cho cốt truyện chặt chẽ ấy, theo những mẫu mực cổ điển. Tuy vậy, cái chính trong Sao đổi ngôi lại không phải ở tính chặt chẽ cần có trong cốt truyện. Ta sẽ thấy Sao đổi ngôilà đặc sắc nếu xem đây là một phức hợp những chuyện do nhiều người kể, một phức hợp những giọng kể chuyện, trên cơ sở một giọng chính, giọng của người dẫn chuyện chính, của nhân vật chính là Sơn. Những chất giọng ấy chỉ khác nhau về kiểu người, về tư cách xã hội của người kể chuyện (bà mẹ bộ đội kể không giống những người lính kể với nhau), chứ không khác nhau nhiều lắm về cá tính người kể chuyện, bởi vì tuy các câu chuyện nhỏ do nhiều người kể, nhưng chung quy lại, nó đều thống nhất ở chỗ đó là chuyện kể của một đám đông binh lính và dân thường; nó đem lại cho người đọc cái nhìn chiến tranh và các chuyện xã hội trong chiến tranh từ phía những người dân thường. 

Trong văn xuôi của chúng ta viết về các cuộc kháng chiến, − mảng văn xuôi mà tôi gọi chung là “văn xuôi chiến đấu” − chúng ta thường gặp những tác phẩm mà bằng vào cái cách dẫn dắt đưa đẩy câu chuyện, ta có thể thấy tư thế kể chuyệntrong đó thường là tư thế của người sĩ quan tham mưu hoặc tư thế của người chính trị viên. Cách nhìn, lời lẽ được vận dụng cho tư thế kể chuyện đó là khá ổn định trong nhiều tác phẩm. Nó có ưu thế trong việc trình bày cục diện chiến sự, từ một trận đánh nhỏ đến hình thế một chiến trường rộng lớn, cũng như có ưu thế trong việc phân tích tâm tư người chiến sĩ từ phương diện tâm tư ấy ảnh hưởng tốt xấu ra sao đến chiến đấu, tức là từ phương diện lợi ích trước mắt của cuộc chiến đấu, lợi ích của những người tổ chức, chỉ huy cuộc chiến đấu. Cũng trong mảng văn xuôi chiến đấu đó, đôi khi chúng ta còn gặp cách kể dân gian hóa, trong đó sự tích người anh hùng được kể lại bằng phong cách dân gian, giống như lời dân dã, lời kể vè, “đặt vè” truyền thống, đem vận dụng cho một nhân vật anh hùng của đương thời. 

Sao đổi ngôi cũng mang khá nhiều chất dân gian, nhất là trong ngôn ngữ, cụ thể là trong vốn từ hoặc trong việc vận dụng các câu ví, câu ca, câu vè hiện đại vào các cuộc trò chuyện, đối thoại. Sao đổi ngôi gần gũi với chất dân gian, với nghệ thuật kể chuyện dân gian chủ yếu ở chỗ đưa cái nhìn và lời kể của những con người trong quần chúng nhân dân lên thành bình diện chính của tác phẩm. Tính nhân dân khá sâu sắc của Sao đổi ngôi chính là ở chỗ nó đưa ra cái nhìn của những người dân thường làm lính thường để nhìn vào thực tế chiến tranh; nó vừa làm bật lên tính chất anh hùng bình dị, sự hy sinh to lớn của nhân dân trong chiến tranh, vừa không tránh né những mất mát đau thương, những bi kịch, những mặt tiêu cực nảy sinh ngay trong xã hội thời chiến, cả ở hậu phương lẫn tiền tuyến. Một mức độ tính nhân dân như thế, có thể nói là còn hiếm trong các sáng tác đã có về những cuộc chiến tranh vừa qua. 

2/ Theo dòng kể của nhân vật, người đọc được theo gót Sơn đi dọc cuộc chiến tranh, từ một binh trạm Trường Sơn đến chiến trường miền Đông Nam Bộ, vào đến tận Sài Gòn những ngày đầu giải phóng, để rồi lại theo gót nhân vật, từ tiền tuyến trở về hậu phương, từ cuộc sống thời chiến chuyển sang thời bình, và câu chuyện chỉ dừng lại, chỉ tạm kết thúc khi nhân vật hoàn tất một đoạn đường đời, lại khoác áo lính bước vào một cuộc chiến đấu mới. 

Như trên đã nói, toàn bộ câu chuyện là chuyện của nhân vật chính, của những bạn chiến đấu gần gũi của anh ta, bao gồm cả những việc, những điều anh ta biết được, nghe được, hiểu được. Vì thế mà Sao đổi ngôi có dáng dấp của loại truyện du ký. 

Những trận đánh Sơn tham dự, Sơn kể lại rất ít, có lẽ được kể chi tiết nhất là trận đánh biệt kích trên đỉnh Phu Lom (tập I, trang 25-32), thêm nữa là đợt hành quân thần tốc vào giải phóng Sài Gòn mà Sơn tham dự. Tuy nhiên, số trang miêu tả chiến đấu không phải là nhiều. 

Hình thế chiến trường cũng được chú ý phác ra một cách sơ bộ, giống như ghi một vài cái mốc cho một niên biểu chung, bằng những thông tin qua cửa miệng các chiến sĩ, qua mệnh lệnh phổ biến của các cấp chỉ huy mà Sơn được nghe, được biết. Số trang này lại càng ít hơn số trang miêu tả chiến đấu. Trình bày một bức toàn cảnh có lẽ không phải là hứng thú chính của nhà văn trong tiểu thuyết này. 

Phần chính trong những chuyện Sơn kể chính là về đồng đội, đồng chí, về những quan hệ giữa những người lính với nhau, về những tình bạn và tình yêu chân thực giản dị đã nảy nở trong chiến tranh, có tác dụng gắn bó nâng đỡ những người lính, khiến cho họ có thể đứng vững làm người chiến sĩ, đi qua suốt được và sống xứng đáng được trong những năm chiến tranh và những năm sau đó. 

Những liên hệ cốt truyện chính là được tạo nên từ những tình bạn, tình đồng đội. Lấy Sơn là đường dây trung tâm, cốt truyện được tạo thành qua các quan hệ tình bạn Sơn – Xoan, Xoan – Liễu, Sơn – Liễu, Sơn – Hoài, Sơn – Cầm, Sơn – Mùi, Sơn – Xán, Sơn – Mận, v.v… trong đó đậm nhất là tình bạn của bộ ba Sơn – Xoan – Hoài. Một thứ “tổ ba người” như trong một bài thơ Thanh Thảo. 

Trong một cuộc trò chuyện giữa Sơn và Xoan, ta đọc thấy một câu này: “Anh em mình, cùng hội cùng thuyền, không thương yêu đùm bọc nhau thì ai?” (t. I, tr. 97). Một trong những đề tài, một trong những chủ đề chính của Sao đổi ngôi là cái tình bạn đẹp đẽ và giản dị đó giữa những người lính. Ở quan hệ này, vai trò dẫn dắt, nâng đỡ lại thuộc về Xoan, về Liễu, những người có bản lĩnh hơn nhưng lại không đứng cao hơn bạn mình, đồng đội mình. 

Khai thác tình bạn “bộ ba” đó, cuốn tiểu thuyết này đã nhấn mạnh đến trách nhiệm với nhau của người lính, một thứ trách nhiệm có khi mạnh mẽ như là động cơ hành động của con người, của người chiến sĩ. 

Dĩ nhiên Tổ quốc, nhân dân, quê hương luôn luôn là những điểm tựa sâu xa cho hành động của người chiến sĩ, trong Sao đổi ngôi, nhân vật không quên điều đó, nhưng cái trách nhiệm cụ thể, cái quan tâm thường xuyên là với đồng đội, với đồng ngũ, với bạn bè. Những trang cảm động nhất, lý thú nhất ở Sao đổi ngôi là về tình bạn trong chiến đấu. Nhờ Xoan mà Hoài trở thành chiến sĩ, nhờ Xoan, nhờ Cầm, nhờ Liễu, nhờ Xán, nhờ Mận nữa, mà Sơn biết xử lý đúng trong rất nhiều việc đời… Câu chuyện bốc mộ cho Xoan, đem hài cốt Xoan từ miền Đông Nam Bộ về tận vùng trung du Bắc Bộ quê Xoan là một câu chuyện hết sức cảm động. 

Đề cập đến tình bạn trong chiến đấu, đến những quan hệ tình cảm giữa những chiến sĩ bình thường trong chiến tranh như trong Sao đổi ngôi thật ra cũng là cách đề cập đến một trong những nhu cầu tinh thần, tình cảm rất cốt thiết của người lính ngoài chiến trường. Người lính thời đánh Mỹ, giống như thời đánh Pháp, số đông cũng là những người nông dân từ các vùng quê khác nhau. Tình cảm quê hương, tình cảm gia đình, vốn là cố hữu ở họ, không thể thiếu thốn khi họ sống giữa chiến trường. Những tình cảm ấy cần phải được bù đắp bằng cái gì tương tự: cái đó là tình bạn, một sự liên kết tự nguyện, nó thể hiện trách nhiệm và sự quan tâm lẫn nhau ở mức cao hơn điều mà tình đồng đội, đồng ngũ đòi hỏi. Những chiến sĩ như Sơn như Xoan như Hoài như Liễu đi qua cuộc chiến tranh có thể tự thấy mất mát thất thiệt ở chỗ nào khác, nhưng về phương diện tình bạn, tình người này thì hẳn họ không thể nào không thừa nhận rằng: những cảnh ngộ khác nhau của đời sống chiến trường đó giúp cho họ có được những tình bạn gắn bó, cao đẹp, đáng nhớ và đáng giữ đến suốt đời. 

3/ Như trên đã nói, câu chuyện Sơn kể tuy có đề cập nhiều chuyện, nhiều người, nhưng rõ rệt nhất là những người đã thành bè bạn thân thiết của nhân vật này. Ở những nhân vật bè bạn của Sơn như vậy − Xoan, Liễu, Hoài, − và dĩ nhiên là cả ở nhân vật Sơn nữa, thì câu chuyện Sơn kể đủ cho phép người đọc chứng kiến một đoạn đường đời của họ, nói khác đi, ta được chứng kiến những số phận của họ.

Tóm lại chặng đường đời của họ, số phận của họ, ta thấy gì?

Thấy Sơn như một chiến sĩ bình thường, không có chiến công nào nổi bật, cũng không bị tai nạn nào trầm trọng, nhưng nói chung là hoàn thành mọi nhiệm vụ chiến đấu, trở về hậu phương cũng không gặp được một may mắn nào đặc biệt, về sau tìm được chỗ dựa trong tình bạn, tình yêu, trong công việc, và sau cùng trong nhiệm vụ trở lại làm lính. 

Thấy Xoan như một chiến sĩ xông xáo, tháo vát, giỏi giang trong chiến đấu và sinh hoạt, nhưng có lúc có công trạng lại có lúc phạm kỷ luật. Cuối cùng Xoan hy sinh như một liệt sĩ vô danh.

Thấy Hoài như một “học sinh Hà Nội”, lúc đầu dao động, nhút nhát, nhờ bà, nhớ bạn bè, rồi thành một chiến sĩ quả cảm; sau chiến tranh, trở lại cuộc đời sinh viên, nhưng là một sinh viên có “tâm hồn cựu binh”.

Thấy Liễu như một cô gái có nghị lực khác thường, do hoàn cảnh trớ trêu nên đã không trở thành một anh hùng có tên tuổi được tuyên dương, cuối cùng chỉ là một người bình thường làm công việc bình thường trong đời sống làm ăn ở làng quê. 

Tuy vậy, số phận của những nhân vật nói trên thật ra được miêu tả không có gì khác lắm so với những nhân vật được nhắc đến ít hơn, ví dụ như Mùi, như Bài, như mật, như Mận v.v… Chuyện trưởng thành của Hoài được bổ sung bằng chuyện của Mùi, của Khương. Chuyện oan trái của Liễu được bổ sung bằng chuyện của Mận v.v… Tính chất bổ sung lẫn nhau của các nhân vật cùng trường hợp là rất rõ. 

Có thể nói ở Sao đổi ngôi, nhà văn muốn mô tả một chân dung nhóm người, một chân dung tập thể, một chân dung thế hệ, hơn là chân dung một chiến sĩ nào đó.

Dĩ nhiên là với nhân vật tập thể này, nhà văn còn muốn nói đến nhiều khía cạnh khác. Chọn “người trong cuộc” như Sơn làm người kể chuyện và ít nhiều bộc bạch phần bên trong của mình, phần tâm tư của các bè bạn, đồng ngũ mình, nhà văn muốn phác họa sự hình thành nhân cách của một thế hệ, sự trưởng thành của họ. Về mặt này, Sao đổi ngôi cũng có những nét của loại tiểu thuyết giáo dục, tiểu thuyết về sự trưởng thành (roman d’ éducation). Điểm độc đáo của Sao đổi ngôi so với loại hình tiểu thuyết này là chỗ: sự trưởng thành được khảo sát ở đây là của nhân vật tập thể, nhân vật thế hệ, họ cùng đi qua một cơn thử thách lớn là chiến tranh. Những thử thách ấy, đặt vào những nhân vật như Liễu, như Mận, đã đạt đến độ khốc liệt của bi kịch. Việc họ vượt qua được, tự chủ được, giành lấy quyền đứng ngang hàng với những người chân chính khác, − chứng tỏ nhà văn đặt sự khẳng định và niềm tin của mình vào thế hệ này. 

4/ Ở những phần bên trên, các nhận xét của tôi xuất phát từ thủ pháp bao trùm của nhà văn trong Sao đổi ngôi là “trao quyền” kể chuyện cho nhân vật. Thủ pháp ấy tỏ ra khá thuận lợi cho nhà văn, chứng cớ là những thành công về nội dung nghệ thuật của tác phẩm đều gắn với thủ pháp cơ bản ấy. Song le, cần trả lời cho rõ là nhà văn “trao quyền kể chuyện” cho nhân vật đến mức nào, liệu việc ấy có đưa đến nguy cơ tác giả biến mát khỏi tác phẩm hay không v.v… Tất nhiên, như trên đã nói, sự “trao quyền” chỉ là một thủ pháp. Nhà văn trước sau vẫn cứ là “tạo hóa” của mọi chuyện trong cuốn tiểu thuyết của mình. Vả chăng, giống như lần đầu dùng một kỹ thuật mà với mình là mới, việc ‘trao quyền” cho nhân vật ở đây vẫn lộ ra nhiều chỗ vụng về, ngượng ngập. Biết rằng Sơn là một chiến sĩ xuất thân nông thôn, rời môi trường quen thuộc (quê hương, nhà trường) là vào ngay chiến trường, biết rằng ở mỗi chiến trường không phải bao giờ cũng có đủ thông tin về cục diện chung, ta sẽ thấy Sơn khó mà nguyên là Sơn khi có thể vanh vách phân tích tình hình cục diện cuộc chiến, dù những đoạn như thế không nhiều. Ở những chỗ như vậy, nhân vật chỉ nói thay tác giả về những cái mà tự bản thân nhân vật không thể hiểu biết và nói năng như vậy. 

Nhưng nếu những chỗ như trên có thể cho thấy sự vụng về trong thao tác một kỹ thuật còn chưa quen, thì ở một phía khác, chính những chỗ đó lại làm ta dễ thấy tác giả vẫn “có mặt” trong tác phẩm, trong câu chuyện. Ở những chỗ đó, phương diện cái “tôi” của nhân vật mờ đi, nhân vật như trở thành ngôi thứ ba của cách kể chuyện thông thường, nó như phải giả định là đứng ngoài các tình huống mà trên thực tế nó đang nằm trong. Kết quả là cái nhân vật phải kiêm nhiệm trách nhiệm kể chuyện này ít nhiều đã bị “trung tính” đi, bản sắc riêng biệt trong nói năng và hành động của anh ta cũng ít nhiều bị nhạt đi so với những người được anh ta kể tới. 

Cũng cần nói thêm rằng tuy đã chọn cách kể gắn với nhân vật, nhưng mạch ngôn ngữ lại vẫn đi theo lối xưa cũ, nghĩa là không quên “tả cành tả cảnh” đến chi tiết tỉ mỉ. Thành thử đôi khi chính nhân vật kể chuyện lại vô tình bị biến thành một nhà văn bất đắc dĩ, một nhà văn có văn phong khá cổ lỗ, một nhà văn phong tục sẵn sàng làm chậm tốc độ câu chuyện để ghi lấy những lề thói sinh hoạt chỉ đáng chú ý riêng đối với mình! 

Nêu ra đôi chỗ chưa thuần thục trong việc sử dụng nghệ thuật kể chuyện từ chỗ đứng nhân vật như trên, điều tôi muốn nói không phải là ở chỗ tác giả cần tuân thủ nhân vật đến triệt để. Điều muốn nó là ở sự khéo léo, nhuần nhị trong bàn tay tác giả can dự vào nhân vật, nếu nhà văn trước sau vẫn muốn tạo dựng thiên truyện từ lời kể của nhân vật, từ cái nhìn của nhân vật, dù tư chất của nhân vật là do nhà văn toàn quyền định đoạt. 

Dẫu sao những chỗ mà tôi nghĩ là nhược điểm như trên vẫn không làm giảm những ấn tượng thích thú khi đọc Sao đổi ngôi. Đọc xong cuốn truyện, tôi có cảm giác rằng những dạng ban đầu của các truyện dân gian như chuyện Vọng Phu, chuyện người thiếu phụ ở Nam Xang, chắc cũng đã hình thành tương tự như những đoạn nhất định trong cuốn tiểu thuyết này. Tôi vỡ lẽ thêm rằng để miêu tả chiến tranh, văn học có thể lấy chỗ xuất phát cho cái nhìn nghệ thuật của nó ở các “sở chỉ huy”, các ban tham mưu tác huấn, mà cũng có thể lấy chỗ xuất phát ấy ở người lính dưới chiến hào, ở quần chúng nhân dân. Đó là con đường cho sự đa dạng hóa trong nghệ thuật, dân chủ hóa tư duy nghệ thuật. Theo ý nghĩa ấy, cái hướng mà Sao đổi ngôi mở ra có lẽ còn quan trọng hơn bản thân tác phẩm này. 

Tháng 12/1985

● Tạp chí “Văn nghệ quân đội” số 5/1986.

[1] Tiểu thuyết của Chu Văn, 2 tập, Nxb. Thanh Niên, Hà Nội, 1984.

Leave a Reply