Lý thuyết cácnavan hóa của Bakhtin và tư duy tiểu thuyết hiện đại


Trần Đình Sử

Trong cuốn sách dịch, đúng hơn là trích dịch, Những vấn đề thi pháp tiểu thuyết Dostoievski của M. M. Bakhtin, chúng tôi đã giới thiệu những lời đánh giá quan trọng của các học giả  thế kỉ XX đối với Bakhtin: “Bakhtin, nhà lí luận văn học lớn nhất của thế kỉ XX” (Tz. Todorov), “Bakhtin, người giữ cho các khoa học hân văn đối tượng riêng của chúng.” (X.X. Averincev), “Bakhtin, người đem lại một quan niệm hoàn tiòan mới về ngôn từ tiểu thuyết.”(A. Tritrerin)… Nhưng đáng tiếc là nhiều tư tưởng quan trọng của Bakhtin cho đến nay vẫn chưa được giới lí luận, phê bình quan tâm thích đáng, đây đó còn có những lời hạ thấp ý nghĩa của ông, đại loại như tư tưởng cho rằng các na van hoá của Bakhtin vận dụng vào nước ta không hợp với đặc trưng văn hoá châu Á, hoặc vận dụng các tư tưỏng đó sẽ làm giảm sút tính chất dân tộc của lí luận văn học, rằng nên quay về khai thác các kiến giải lí luận văn học truyền thống của ông cha để xây dựng một nền lí luận văn học hiện đại,v.v…

Chúng tôi tán thành việc khai thác, phát huy các tư tưởng lí luận truyền thống của dân tộc trong bối cảnh hôm nay, nhưng cho rằng việc đó chỉ có ý nghĩa khi biết khai thác các yếu tố hiện đại trong truyền thống (Xin xem bài tiểu luận Truyền thống dân tộc và tính hiện đại của truyền thống, trong  Văn học và thời gian của chúng tôi, Nb Văn học, H., 2000).  Như vậy,người ta chỉ thực sự hiểu các giá trị cập nhật của truyền thống chừng nầo có hiểu biết thấu đáo các tư tưởng lí luận hiện đại. Gần đây tôi tình cờ đọc được một công trình nước ngoài có nhan đề “Nho gia và tư tưởng tự do” (10 – 2001), nó làm tôi nhớ lại tư tưởng trong bài viết của tôi: “Tư tưởng tự do trong truyền thống văn học cổ Việt Nam (Tạp chí Văn học, số 1 – 2001, in lại trong Văn học và thời gian). Chính vì như vậy mà tôi nghĩ cần phải tìm hiểu các tư tưởng lí luận hiện đại để hiểu rõ hơn các giá trị văn học truyền thống của dân tộc ta mà lí thuyết cácnavan hoá của Bakhtin là một trong số đó.

Vậy cácnavan là gì và cácnavan hoá là gì? Cácnavan (lễ hội dân gian, lễ hội hóa trang kiểu cácnavan (do khó dịch chính xác mà người ta thường để nguyên) theo Bakhtin, không chỉ giản đơn là lễ hội, mà là cuộc sống thứ hai của con người do các yếu tố khôi hài của dân chúng tạo thành. Vì sao mà  có các lễ hội cácnavan ấy? Theo Bakhtin, đó không phải do mục đích lao động, tập dượt lao động, hay nhu cầu nghỉ ngơi tự nhiên có tính chu kì của con người. Giải thích như thế thì khó tránh khỏi rơi vào xã hội học dung tục. Theo Bakhtin, lễ hội cácnavan trung đại là nhu cầu vượt khỏi cuộc sống nền nếp hàng ngày của tư tưởng tôn ti trật tự phong kiến, của chủ nghĩa cấm dục tăng lữ, nó nhằm làm mềm hoá những khuôn khổ cứng nhắc của các thiết chế xã hội đương thời. Do đó, lễ hội cácnavan là một phạm trù có ý nghĩa thế giới quan, một phạm trù văn hoá. Cácnavan có hai tính chất: một là tính thời gian. Cácnavan thường xảy ra vào các ngày lễ hội mùa màng hoặc ngày lễ lịch sử trọng đại, tức là các thời điểm có sự đổi thay trong cuộc sống, nó nâng đỡ sự đổi thay trong thế giới quan. Hai là tính không gian. Cácnavan thường diễn ra ở quảng trường, bãi chợ, là những nơi không có trung tâm, không có quyền uy, mọi người đều có thể tham gia tư do với khát vọng dân chủ nguyên thuỷ. Các nghi thức và trò chơi của lễ hội Cácnavan đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên cuộc sông thứ hai cho con người, chẳng hạn nghi thức tấn phong, hạ bệ, sự xúc tiếp suồng sả, sự báng bổ, các trò phỏng nhại, trò hề… đã thực sự tạo nên “cuộc sống thứ hai”. Nhưng đây là cuộc sống thứ hai phi quan phương, bên rìa của cuộc sống thứ nhất thông thường.

Ý nghĩa của tư tưởng Bakhtin không nằm ở bản thân các lễ hội Cácnavan, mà ở cách lí giải của ông về cácnavan như một hiện tượng văn hoá có ý nghĩa thế giới quan, và từ cơ sở đó tìm đến một cách lí giải mới về tiểu thuyết và ngôn từ tiểu thuyết mà ông gọi là “hiện tượng cácnavan hoá”. Bakhtin hiểu cácnavan hoá theo một nghĩa rất rộng gồm các nghi lễ, các trò chơi, các chuyện cươì, các cách sống có tính chất cácnavan hoá, nhằm chỉ cuộc sống thứ hai, phi quan phương, bên rìa, nhằm giúp con người tạo một khoảng tự do vượt khỏi tạm thời cuộc sống nền nếp,chặt chẽ trong các thiết chế, thể chế xã hội thường nhật. Từ quan niệm cacnavan hoá, Bakhtin đưa ra khái niệm “Văn học cácnavan hoá” với các thể loại văn học nghiêm túc – buồn cười, như đối thoại kiểu Socrat, trào phúng mênippê, tiểu thuyết phức điệu Đostoievski, tiểu thuyết nghịch dị Rabơle… Từ đó Bakhtin đem đối lập tiểu thuyết với các thể loại sử thi. Nếu sử thi luôn ở trung tâm, mang tính chất quan phương thì tiểu thuyết là thể loại ở ngoài rìa, phi quan phương. Nếu sử thi luôn nghiêm trang thì tiểu thuyết luôn pha trộn sự cười nhạo, trào phúng. Nếu sử thi tiếp xúc cuộc sống  theo lối trật tự, tôn ti, thì tiểu thuyết lại mở ra kiểu xúc tiếp suồng sã, thân mật. Nếu sử thi miêu tả những gì đã xong xuôi, hoàn tất, thì tiểu thuyết luôn luôn là không kết thúc, chưa xong xuôi. Nếu sử thi luôn sùng thượng quá khứ thì tiểu thuyết luôn hướng về hiện tại. Nếu sử thi luôn xác lập một khoảng cách cố định không thể vượt qua giữa người trần thuật và cuộc sống được thể hiện thì tiểu thuyết lại xoá bỏ khoảng cách ấy. Nếu sử thi tạo ra khoảng cách và tôn ti trật tự giữa các thể loại thì tiểu thuyết đem hoà trộn chúng với nhau. Nếu sử thi luôn tuân theo các khuôn mẫu, thì tiểu thuyết luôn đổi mới chính bản thân mình.

Từ cách hiểu đó, ta thấy nếu cácnavan là hiện tượng lễ hội trung đại phương Tây thì khái niệm cácnavan hoá có thể giúp ta hiểu thêm về bản chất văn hoá của văn học, hiểu thêm các qui luật chung của văn học phương Đông. Theo tôi, mỗi tác phẩm văn học trong ý nghĩa hiện đại là một sản phẩm cácnavan hoá phi quan phương nho nhỏ, tạo ra một cuộc sống thứ hai cho mọi người, nó có không gian, thời gian riêng giúp người ta thoát khỏi tạm thời không – thời gian thực tại để sóng trong tưởng tượng. Trong những khoảnh khắc tự do, phóng túng, suồng sã theo kiểu cácnavan hoá ước lệ ấy, con người được giải thoát, được nhìn thế giới theo một nhãn quan khác, nhiều chiều, được thoả mãn nhãn quan, được tích luỹ năng lượng để rồi trở lại cuộc sống thường nhật với một tinh thần sáng tạo mới. Do vậy nếu thu hẹp tiểu thuyết vào phạm vi quan phương, đồng nhất tiểu thuyết vào sử thi tức là thu hẹp không gian văn hoá của con người, thu hẹp khả năng tích luỹ năng lượng tinh thần  để sống thêm dồi dào và mạnh mẽ cho cuộc sống thực tại.

Ngôn từ nghệ thuật cũng là một sản phẩm có tính chất cácnavan hoá. Trong văn học, ngôn từ thoát khỏi các qui tắc ngôn ngữ thông thường để sống một cuộc sống mới. Nó vượt khỏi cấu trúc chuẩn mực của ngôn ngữ để đi vào những kết hợp mới, tự do mang tính thẩm mĩ. Chỉ đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du thôi ta cũng thấy một cacnavan  tưng bừng của tiếng Việt. Những giọt tủi, giọt hồng, giọt châu, giọt ngọc, những giấc tiên, giấc hoè, những dặm băng, dặm xanh, dặm hồng…những câu thơ trốn chủ ngữ, những câu thơ đảo trang, những phá vỡ qui phạm để cấu tạo lại như kiểu gió lá cành chim, nắng tủi mưa sầu, ăn gió nằm mưa, gió gác trăng sân, cười phấn cợt son, hồn rụng phách rời…không bao giờ tra thấy trong từ điển. Nếu không có một nhãn quan kiểu cácnavan hoá như thế thì tiếng Việt làm sao có được cuộc sống lạ lùng như vậy để thể nghiệm các cung bậc, giới hạn của sáng tạo?

Nhìn vào lịch sử  văn hoá Trung Quốc, những truyện truyền kì, dã sử, những thoại bản, tiểu thuyết chương hồi, hí kịch… có bao giờ hiện diện trong hệ thống phân loại văn học quan phương? Suốt hàng nghìn năm trời, chúng chỉ tồn tại bên rìa quan phương văn dĩ tải đạo. Chỉ mới vào đầu tế kỉ XX với ảnh hưởng phương Tây, cùng các học giả đào tạo từ phương Tây trở về, chúng mới được xếp vào hệ thống thể loại văn học Trung Quốc. Trong văn học Việt Nam, những ngâm khúc, truyện Nôm, hát nói, thơ Nôm đường luật, truyện tiếu lâm… cũng chỉ được tồn tại bên rìa vănhọc chính thống viết bằng chữ Hán và được mệnh danh là “nôm na mách qué” và bị cấm đoán, hạn chế. Chỉ sang đầu thế kỉ XX chúng mới được đưa vào hệ thống tể loại văn học.

Xem thế đủ thấy cácnavan tuy là hiện tượng của văn hoá phương Tây trung đại, nhưng cácnavan hoá là là một khái niệm văn hoá hiện đại. Nếu hiểu được nó và biết vận dụng thì khái niệm đó sẽ góp phần soi sáng nhiều vấn đề văn học, bất kể là phương Tây hay phương Đông, đặc biệt là giúp ta hiểu thêm bản chất văn hoá của văn học và đặc trưng của tiểu thuyết hiện đại.

Hà Nội, 6 – 2002. Đã đăng Tạp chí Sông Hương, số 165 (11 – 2002)

Nguồn: lythuyetvanhoc’s blog

Leave a Reply