Nguyên tắc đối đẳng trong kết cấu tiểu thuyết Nho lâm Ngoại sử (1)


(儒林外史》對等結構原則探析)

                                           Lê Thời Tân

Trước lúc bước vào thảo luận về vấn đề này, chúng tôi thấy cần thiết phải chỉ ra một điều là, khi chúng ta bình giá kết cấu một tác phẩm nào đó, việc đầu tiên không phải là đem kết cấu tác phẩm đó so sánh với kết cấu một tác phẩm nào khác, càng không nên lấy những tổng kết chung chung có sẵn kiểu “chặt chẽ hài hoà”, “gọn gàng cân đối” hoặc “trùng điệp ẩn hiện”, “mạch lạc khúc chiết” v.v… làm tiêu chuẩn để đánh đánh giá thành bại của kết cấu một tác phẩm cụ thể. Rõ ràng, không một sự vật nào tồn tại mà không có kết cấu, sự tồn tại của bản thân sự vật khẳng định sự tồn tại kết cấu của nó. Ngược lại cũng vậy. Trong nghệ thuật, kết cấu là một hiện tượng chức năng, chỉ có thông qua phân tích trực tiếp mới phát hiện được giá trị thực sự và vẻ đẹp độc đáo của nó; cũng chỉ thông qua sự phân tích trực tiếp đó chúng ta mới giải thích được ý nghĩa của sự tồn tại của kết cấu tác phẩm.

 Kết cấu là một vấn đề phức tạp, thế nhưng việc phân tích kết cấu tác phẩm lại là một công việc không thể né tránh khi nghiên cứu toàn diện một tác phẩm văn học. Xưa nay các nhà phân tích kết cấu Nho lâm Ngoại sử mất nhiều công sức trong việc tìm cách phân đoạn các nhóm hồi (tức nhận diện kết cấu trật tự ngôn từ văn bản tác phẩm) và mô tả bố cục chỉnh thể tác phẩm. Chưa có một phương án nào thuyết phục được tất cả. Có thể thấy được một nét chung là, các tiêu chí của từng cách phân đoạn thường đã không được quán triệt tới cùng. Nhận thức khác nhau về kết cấu dẫn thẳng đến những khác biệt trong “giải phẫu” cấu trúc tác phẩm Nho lâm Ngoại sử, đương nhiên cũng dẫn đến những khác biệt trong việc phân tích chủ đề của tác phẩm. Còn một vấn đề quan trọng nữa, liên quan trực diện đến chuyện nhận thức kết cấu Nho lâm Ngoại sử – đó là việc công nhận hay không bản Nho lâm Ngoại sử 56 hồi; nếu chấp nhận hồi thứ 56 này thì bước đi tất yếu là phải  lí giải thoả đáng tác dụng kết cấu của hồi này.

 Bây giờ chúng tôi xin đi thẳng vào vấn đề nguyên tắc đối đẳng trong kết cấu tác phẩm Nho lâm Ngoại sử. Vấn đề “Nguyên tắc đối đẳng kết cấu” được R. Jacobson(2) (1896 – 1982) khởi xướng khi nghiên cứu thơ. Nói một cách ngắn gọn, “nguyên tắc đối đẳng” chính là hoạt động kết cấu đem các yếu tố trên trục lựa chọn (trục ngữ nghĩa) chiếu xạ, ứng hiện, sắp xếp ra trên trục tổ hợp (trục tuyến tính), tạo nên một sự tiếp nhận đối đẳng [4]. Điều đó cũng có nghĩa sự lựa chọn (substitution) có tính chất tiềm tại có thể biểu hiện ra trên trục kết hợp có tính chất tiếp nối (contiguity). Mai Tổ Lâm và Cao Hữu Công(3) phát triển và bổ cứu luận đề của Jacobson trong nghiên cứu luật thi Trung Hoa. Nhân đó hai học giả cũng nêu vấn đề vận dụng nguyên tắc trên vào các phạm vi bên ngoài thơ [5]. Gợi ý đó cổ vũ chúng tôi thử nghiệm vấn đề nghiên cứu kết cấu tiểu thuyết theo tinh thần lí thuyết đối đẳng của ngôn ngữ học cấu trúc. Chúng tôi cho rằng, nếu có thể vận dụng nguyên tắc đối đẳng của Jacobson vào tìm hiểu kết cấu tác phẩm tự sự, mà ở đây là tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc thì rất có khả năng Nho lâm Ngoại sử là ví dụ thích hợp nhất. Nho lâm Ngoại sử chính là một cách tân về mặt kết cấu trong lịch sử tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc. Trong một thời gian rất dài cuộc cải cách đó đã không có người tiếp nối. Lỗ Tấn dường như phần nào cảm nhận được điều này khi cho rằng Nho lâm ngoại sử là một hiện tượng hi hữu không người tiếp nối (dĩ thành tuyệt hưởng). Vậy đặc điểm lớn nhất trong kết cấu tiểu thuyết này là gì? Trong cấu trúc tiểu thuyết này nguyên tắc kết cấu nào giữ địa vị thống soái? Bài viết này dồn trọng tâm vào việc trả lời các câu hỏi đó. Như đã nói thuyết nguyên tắc đối đẳng trong kết cấu thơ được khởi xướng bởi Jacobson. Công trình Đường thi ma lực đã triển khai luận điểm của Jacobson vào thực tiễn thơ cổ điển Trung Hoa. Tác giả Cao Hữu Công và Mai Tổ Lâm trích dẫn Jacobson:

Đặc biệt đáng chú ý là, cái đặc trưng nội tại mà một bài thơ không thể thiếu được là gì? Muốn trả lời câu hỏi này, chúng ta phải nhớ lại hai loại mô hình sắp xếp được sử dụng trong trong hành vi ngôn ngữ: lựa chọn và tổ hợp. Nếu chủ đề của một đoạn văn là “trẻ em”, thì người nói sẽ lựa chọn một danh từ ít nhiều tương tự trong các vốn từ hiện có, như trẻ con (child), nhi đồng (kid), cậu bé (youngster), đứa trẻ (tot), tất cả những từ này đều đẳng trị trên một phương diện nào đó. Tiếp theo, khi trần thuật về chủ ngữ đó, người nói có thể lựa chọn một vị ngữ cùng loại như ngủ (sleeps), ngủ thiếp (dozcs), ngủ gật (nods), chợp mắt (naps). Cuối cùng đem từ đã lựa chọn dùng một chuỗi lời tổ hợp lại. Sự lựa chọn nảy sinh trên cơ sở đồng đẳng, trên cơ sở giống nhau và khác nhau, đồng nghĩa và trái nghĩa; còn trong quá trình tổ hợp, việc xây dựng trật tự lời nói thì dựa vào cơ sở kề nhau. Chức năng của thơ là đem nguyên tắc đồng đẳng từ quá trình chọn lựa chuyển vào quá trình tổ hợp…(4) Đồng đẳng trở thành biện pháp tạo thành trật tự của lời thơ. Trong thơ một âm tiết có thể đồng đẳng với một bất kỳ một âm tiết nào khác trong cùng một trật tự lời thơ, trọng âm với trọng âm, phi trọng âm với phi trọng âm, âm dài với âm dài, âm ngắn với âm ngắn, giới hạn từ với giới hạn từ, không có giới hạn từ với không có giới hạn từ, chỗ ngừng cú pháp với chỗ ngừng cú pháp, không có chỗ ngừng với không có chỗ ngừng đều phải ngang nhau. Âm tiết biến thành đơn vị đo lường, âm ngắn và trọng âm cũng như vậy. [5]

Trên đây là một đoạn kinh điển mà Jacobson viết để giải thích vấn đề nguyên tắc đối đẳng trong kết cấu thơ. Bây giờ đây, vấn đề đặt ra cho chúng tôi là – có thể vận dụng nguyên tắc đối đẳng vào trong nghiên cứu kết cấu tiểu thuyết được hay không? Nếu được, trong số các tiểu thuyết Trung Quốc cổ điển, tác phẩm nào thích hợp nhất? Đáp án là có thể. Chúng tôi khẳng định vấn đề từ mấy hướng như sau:

– Thuyết nguyên tắc đối đẳng được đề xuất trực tiếp từ lĩnh vực thơ. Thế nhưng lí luận này trước hết được xây dựng trên sự đối lập giữa một bên là ngôn ngữ phổ thông với một bên là các thể loại nghệ thuật ngôn từ.(5) Tác giả Đường thi ma lực tổng kết về vấn đề này: “R.Jacobson đặc biệt chỉ ra hai điểm khác biệt giữa ngôn ngữ phổ thông và ngôn ngữ có tính thơ: 1) Trong ngôn ngữ phổ thông hàng ngày, nguyên tắc đối đẳng hoạt động ở bên ngoài chuỗi ngôn từ kết hợp tuyến tính (tức cũng là nói nguyên tắc đồng đẳng phát huy tác dụng trong bình diện ngôn ngữ chứ không phải là trong bình diện lời nói, còn trong ngôn ngữ có tính thơ (hoạt động nghệ thuật ngôn từ) nguyên tắc đối đẳng lại phát huy tác dụng trực tiếp ngay trong chuỗi lời trên văn bản. 2) Trong ngôn ngữ thông thường, ngữ pháp liên kết các thành phần ngôn ngữ tương cận, còn trong ngôn ngữ tính thơ, sự hạn định của ngữ pháp tỏ ra không thích hợp nữa; các thành phần ngôn ngữ không tương cận có thể thông qua nguyên tắc đối đẳng kết hợp lại với nhau thành một văn bản nhất định.” [5 tr.122; 6 tr.222; in đậm do người dẫn].

– Điều rõ ràng là, tiểu thuyết đương nhiên cũng thuộc phạm vi ngôn ngữ tính thơ, vì vậy không có lí do gì để có thể cự tuyệt việc vận dụng nguyên tắc đối đẳng vào trong việc nghiên cứu tiểu thuyết. Thực ra, thậm chí nếu ta coi toàn bộ nền văn hoá Trung Hoa là kho ngôn ngữ tiềm tại của văn bản lời nói tiểu  thuyết Ngô Kính Tử (cuốn Nho lâm ngoại sử) thì ta càng có điều kiện xem xét tác dụng của nguyên tắc đối đẳng (hiểu theo nghĩa rộng). Nguyên tắc đối đẳng lúc này sẽ khiến cho Nho lâm Ngoại sử tham gia vào trong cấu trúc của cả một nền văn hoá. Lúc đó ta thấy việc viện dẫn các điển cố – điển tích, việc chế biến các mô tip văn học, việc sử dụng có biến hoá các “giai thoại”, các “tích chuyện” đương thời, việc khảo cứu các nguyên mẫu nhân vật, việc mô phỏng hình thức của Sử kí, việc giễu nhại đề tài Tam Quốc chí… tất cả những thứ đó đều chứng minh cho sự tồn tại của một quan hệ đối đẳng nào đó giữa Nho lâm Ngoại sử và các nhân tố khác hiện diện trong nền văn hoá Trung Hoa. Mặt khác, đối với độc giả, trong quá trình đọc tác phẩm này (bản 56 hồi) các yếu tố tương cận (ví dụ hồi và hồi, nhân vật và nhân vật, các câu chuyện nhỏ trong tiểu thuyết, thậm chí từng từ với từng từ, đoạn trước và đoạn sau,…) trong văn bản tiểu thuyết đều thông qua nguyên tắc đối đẳng mà tập hợp thành hình tượng truyện.

Vả chăng, như chính tác giả Đường thi ma lực đã nói- “nguyên tắc đối đẳng chỉ là một nguyên tắc mà thơ ca tuân theo” [5 tr.144], trong thơ còn phải vận dụng phương thức kết nối suy lí (vốn là phổ biến trong cú pháp văn xuôi). Liên cuối của thất ngôn bát cú Đường luật là một ví dụ. Rõ ràng giữa thơ và tiểu thuyết trên phương diện tổ chức kết cấu ngôn từ  không phải tồn tại một sự đối lập như nước với lửa. Phê bình của Mai Tổ Lâm và Cao Hữu Công đối với Jacobson càng cổ vũ chúng tôi vận dụng nguyên tắc đối đẳng vào nghiên cứu kết cấu Nho lâm Ngoại sử. Hai ông nói: “Nếu mở rộng nguyên tắc đối đẳng vào phạm vi ngoài thơ, chúng ta liền bước từ văn bản thẳng đến bối cảnh, và hệ quả sẽ là sự vất bỏ quan điểm cơ bản của ngôn ngữ học cấu trúc luận và trường phái phê bình mới.” [5 tr.181]

– Trong phạm vi tiểu thuyết, vận dụng lí thuyết nguyên tắc đối đẳng vào bình diện nào càng tỏ ra thích hợp nhất? Jacobson cũng như Cao Hữu Công và Mai Tổ Lâm quan sát hoạt động chuyển hoá xâm nhập từ “quá trình lựa chọn” vào “quá trình tổ hợp” của nguyên tắc đối đẳng chủ yếu ở trên trục tổ hợp (văn bản bài thơ), tức cũng chính là phát hiện sự chiếu xạ của nguyên tắc đối đẳng trên chuỗi ngôn từ văn bản. Jacobson nói nguyên tắc đối đẳng trở thành thủ pháp kết cấu của chuỗi câu thơ. Thế nhưng nếu mở rộng vấn đề một chút, chúng ta sẽ thấy được trong tiểu thuyết, thủ pháp này (nguyên tắc đối đẳng) chủ yếu phát huy sức mạnh nghệ thuật của nó trong cấu trúc hình tượng tác phẩm chứ không chỉ biểu hiện trên trục tổ hợp của chuỗi trật tự ngôn từ (tức kết cấu văn bản trần thuật). Điều đó có nghĩa là, chúng ta trong quá trình đọc (quá trình đem chuỗi trật tự ngôn từ văn bản Nho lâm Ngoại sử chuyển hoá thành hình tượng sống động) cũng sẽ đồng thời quan sát được hoạt động của nguyên tắc đối đẳng trong tư cách là một thủ pháp kết cấu của thế giới hình tượng.

 – Tiến thêm một bước, cần phải trả lời câu hỏi: nguyên tắc đối đẳng có thích hợp với các văn bản tự sự của văn học Trung Quốc cổ hay không? Nhìn chung, các văn bản tự sự Trung Quốc so với tiểu thuyết phương Tây có vẻ thích hợp hơn với việc phân tích kết cấu theo nguyên tắc đối đẳng của cấu trúc luận. Mọi người đều thừa nhận, thơ trữ tình với phương thức tư duy không gian vật tượng tính chiếm một địa vị rất cao trong văn hoá Trung Hoa. Ảnh hưởng của một truyền thống thơ ca thâm hậu như thế vào trong nhiều tầng văn hoá, trong đó có văn xuôi tự sự là một điều rõ ràng. C.Jung từng dùng cụm từ “tính đồng đại” để miêu tả phương thức tư duy của người Trung Quốc. Tất cả những điều đó tác động một cách sâu sắc đến kết cấu tiểu thuyết Trung Quốc.

Ngô Kính Tử là một tác gia tiêu biểu nhất trong số các tiểu thuyết gia cổ điển Trung Hoa tự phát hoặc có ý thức vận dụng nguyên tắc đối đẳng trong cấu trúc tiểu thuyết của mình. Cảm giác không gian vật tượng tính mà Nho lâm Ngoại sử  để lại cho người đọc là rất rõ nét. Không như các tác gia tiểu thuyết khác, tác gia này dường như không muốn dùng các thủ pháp kết cấu thể hiện dòng tự sự biên niên tính của câu chuyện tiểu thuyết. Sự trần thuật có tính chất suy luận phân tích nhằm  chỉ rõ các quan hệ chuyển tiếp thời gian cũng như quan hệ nhân quả vốn rất căn bản trong văn xuôi tự sự bị “mờ nhạt” đi một cách cố ý hoặc nói cách khác quan hệ ngữ đoạn trên trục tổ hợp không mạnh. Tình hình đó khiến cho các thành phần trần thuật tương cận trực tiếp kết nối cũng cứ dễ dàng được đối đẳng hoá, còn những hình tượng cách xa nhau (ví dụ hai nhân vật không quen biết nhau, hai cảnh trần thuật, thậm chí hai chi tiết, hai câu nói ở những hồi cách nhau rất xa) do một quan hệ tương đồng/tương dị hết sức kín đáo và hàm súc nào đó mà trở nên đối đẳng với nhau trên trục liên tưởng (association). Nguyên tắc đối đẳng vì thế có thể nói hoạt động phổ biến trong cấu trúc hình tượng tác phẩm của Ngô Kính Tử.

Rất nhiều nhà nghiên cứu đã ý thức được cảm quan không gian tính cũng như tính chất đồng hiện thời gian ở Nho lâm Ngoại sử, ý thức được cái cảm giác về những mối quan hệ đối ứng, ánh chiếu giữa các thành tố trong tác phẩm xuất hiện trong  lúc đọc. Các nhà phê bình cũng phát hiện thấy đọc Nho lâm ngoại sử nhiều khi không phải chỉ là đọc hồi này qua hồi khác mà là đọc đối chiếu các hồi, các nhóm hồi, các hình tượng trần thuật. Cảm giác đó có phần tương tự cảm giác nảy sinh khi đọc Sử kí của Tư Mã Thiên vậy. Thế nhưng các nhà nghiên cứu đã không thực sự phát hiện được cốt lõi của vấn đề – hoạt động của nguyên tắc kết cấu đối đẳng trong cấu trúc tác phẩm.

Thêm nữa, rất nhiều người khi nghiên cứu kết cấu Nho lâm Ngoại sử thường không phân biệt rõ hai bình diện của kết cấu tác phẩm – kết cấu văn bản trần thuật thao tác trên trục tổ hợp và kết cấu hình tượng thao tác trên trục liên tưởng; càng không chú ý đến quan hệ chuyển hoá giữa hai bình diện đó. Tình hình nghiên cứu kết cấu Nho lâm Ngoại sử  có thể miêu tả khái quát như sau:

Đa số đều lệ thuộc vào bản 55 hồi. Tất cả đều cố gắng đề xuất các phương án phân đoạn văn bản tác phẩm. Một số đông có xu hướng nhấn mạnh không gian tính của cấu trúc tác phẩm khi tìm cách đem bố cục tổng thể cùng các phân đoạn của phần chính văn tác phẩm so sánh với kiến trúc phủ viện Trung Hoa; một số khác tập trung quan sát cái gọi là chương pháp hoặc văn lí (thớ mạch trần thuật) của tác phẩm. Có người lại nói đến vấn đề trùng điệp các hình tượng (không chỉ là hình tượng nhân vật) trong tác phẩm, cố gắng truy tìm hướng chính của mạch tự sự tác phẩm. Đánh giá về kết cấu tác phẩm rốt cuộc cũng chỉ là một loạt những tính từ quen dùng, lắm khi đối nghịch nhau. Một bên khen kết cấu cuốn tiểu thuyết chặt chẽ cân đối, tinh vi; một bên lại chê là rời rạc, tản mạn. Chưa có cuốn tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc nào lại dấy lên những khen chê trái ngược nhau về nghệ thuật kết cấu như Nho lâm Ngoại sử.

Ngoài ra ta cũng bắt gặp trong truyền thống bình điểm(6) các thuật ngữ “phục bút” hoặc “phục văn” v.v… Chúng tôi cho rằng các thuật ngữ đó cũng bộc lộ cảm nhận về kết cấu tác phẩm của các nhà bình điểm. Cảm nhận đó thậm chí đã được cụ thể thành những tỉ dụ rất đặc sắc. Rất dễ bắt gặp chúng trong phê bình của Kim Thánh Thán, Mao Tôn Cương… Thế nhưng khó mà nói được trong sự bình điểm kết cấu đó, các nhà phê bình truyền thống thực chất nhấn mạnh đến phương diện nào của kết cấu tác phẩm (văn bản trần thuật hay hình tượng – cốt truyện). Mặc dù trên thực tế, bình luận của các nhà bình điểm về “phục bút”, “phục văn” vẫn thường diễn ra trong phạm vi mà họ gọi là chương pháp, văn mạch – cái dường như  thuộc phạm trù kết cấu văn bản trần thuật theo cách gọi của lí luận văn học hiện đại.

 Thực tế thì, không ít khi người đọc cũng cảm thấy giữa các tiết đoạn trần thuật của Nho lâm Ngoại sử thường xuất hiện hiện tượng “điệp dụng hình tượng” [3](7). Nhưng chúng tôi cho rằng, bản chất của kết cấu Nho lâm Ngoại sử chủ yếu không thể hiện ở sự ám thị bằng “phục bút” hay trùng lặp “văn lí” (vân thớ) trần thuật. “Điệp dụng hình tượng” là hiện tượng mà thực chất chức năng nghệ thuật của nó là ở chỗ tạo nên quan hệ kết cấu dựa trên việc hình thành một sự đối chiếu hình tượng tương đồng hoặc tương dị giữa các hình tượng được điệp dụng. Vấn đề vẫn không nằm ngoài phạm trù quan hệ đối đẳng, một quan hệ kết cấu tạo nên sự chiếu ứng đối sánh lẫn nhau giữa các thành tố tác phẩm (bất kể là trên bình diện nào – văn bản hay hình tượng), hình thành mạng quan hệ đối xứng căn bản trong không gian bố cục tác phẩm. Nói cách khác, tác giả Nho lâm Ngoại sử điệp dụng hình tượng không phải chỉ để tạo nên hình tượng điệp dụng đơn thuần, cũng như khi ông sử dụng”phục bút”, ông chủ yếu không phải là nhằm nhấn mạnh quan hệ nhân quả – thời gian như ở các tiểu thuyết khác.

 Lại có quan điểm cực đoan đối nghịch cho rằng, Nho lâm Ngoại sử có một kết cấu đối chiếu xấu – đẹp theo lối tổ hợp không gian tính loại biệt dàn hàng ngang“, khẳng định “đó chính là kết cấu kiểu đối chiếu không gian tương sánh trái – phải, ánh phát đối chiếu trước-giữa-sau” “giống như một kiến trúc phủ đệ với các lớp sân phòng và hành lang truyền thống“. Sau cùng dựa vào đặc điểm gọi là “kết cấu tổ hợp không gian tính vật tượng có tính chất đồng hiện hàng ngang trong cùng một mặt bằng thời gian thuận lợi cho việc trữ tình ngôn chí” tiến lên phán định Nho lâm ngoại sử thuộc vào loại “tiểu thuyết thơ hoá(8). Chúng tôi không chia sẻ quan điểm này. Chúng ta đều biết tiểu thuyết là một thể tài dân chủ bậc nhất, nó hoàn toàn có thể tiếp thu và bao dung tư duy kết cấu của các thể tài khác. Thứ nữa, tiểu thuyết là một thể tài trẻ trung, thể tài mà cho đến nay cái lõi thể loại của nó hãy còn chưa đông kết lại (M.Bakhtin). Việc chúng tôi vận dụng nguyên tắc đối đẳng để khái quát về kết cấu Nho lâm ngoại sử không đồng nghĩa với việc cải biến hoặc làm lẫn lộn đặc trưng thể tài tự sự của tác phẩm Nho lâm ngoại sử với các tác phẩm trữ tình thuần tuý. Việc vận dụng phương pháp kết cấu của các thể loại vào một tác phẩm không đồng nhất với việc làm sai lạc nhận thức về bản chất của các thể tài. Cao Hữu Công tỏ ra chừng mực hơn trong nhận xét về tính chất trữ tình của Nho lâm Ngoại sử. Ông cho rằng tiểu thuyết này chứa đựng một “cảnh giới trữ tình (lyric vision)” hoặc “một ý thức thi ca (poetic conciousness)”.(9)

Chúng tôi mạo muội cho rằng, hoàn toàn có thể xem Ngô Kính Tử là một Đào Tiềm trong văn xuôi Trung Quốc. Thế nhưng Ngô rốt cục không như họ Đào – “Thử trung hữu thâm ý, dục biện dĩ vong ngôn“. Nhà tiểu thuyết, như độc giả đọc thấy, đã vui lòng “bày tỏ một lượt” (xem kết thúc hồi 1). Độc giả có thể thấy, cũng như ở Hồng lâu mộng, tư thái của nhà tự sự  cùng “nguyên uỷ” của cuốn tiểu thuyết đôi khi được bộc lộ một cách đầy ý vị ở những vị trí đặc biệt trong văn bản trần thuật(10).

 Theo chúng tôi, khái niệm nguyên tắc đối đẳng chính là sự khái quát tốt nhất về đặc trưng kết cấu của tiểu thuyết Nho lâm ngoại sử và lấy nguyên tắc đối đẳng làm nền tảng lí luận là việc làm hữu hiệu trong tiếp cận kết cấu Nho lâm ngoại sử từ bình diện kết cấu văn bản trần thuật và bình diện kết cấu hình tượng tác phẩm. Hướng tiếp cận đó sẽ bắt đầu từ việc nghiên cứu kết cấu văn bản trần thuật, sau đó bước sang thảo luận kết cấu hình tượng. Như thế, phân tích kết cấu tác phẩm sẽ tránh được việc gò theo lí luận sẵn có, tuỳ tiện xáo trộn trật tự trần thuật, “tái cấu trúc” chuyện kể theo một sự đọc chủ quan.

Như đã nói ở trước, tổ chức hệ thống tiết đoạn bố cục được gọi khái quát thành kết cấu văn bản trần thuật chính là một sự viết ra (văn tự hoá, vật chất hoá) của cấu trúc tác phẩm. Chỉ trên cơ sở phân tích được phương diện kết cấu văn bản trần thuật mới có thể xác định được kết cấu hình tượng mà rường cột là hệ thống nhân vật – sự kiện. Trong mỗi tác phẩm cụ thể, quan hệ ngữ đoạn (in praesentia) và quan hệ ngữ nghĩa (in absentia) tồn tại tương hỗ. Trong quá trình tiếp nhận tác phẩm hai quan hệ đó chuyển hoá lẫn nhau. Tz.Todorov đã nói đến vấn đề này trong Poètique de la Prose: “Sự chuyển hoá của văn bản tuyến tính thành thế giới tưởng tưởng có thể thực hiện được nhờ một số lượng lớn những thông báo có trong văn bản. Tất nhiên số lượng dù lớn song cũng không phải là tất cả (đây chính là “sự công thức hoá” của văn bản văn học mà Ingarden đó đề cập đến) bởi vì tên của “sự vật” không bao giờ nói hết được về bản thân sự vật.”(11)

Trước đó, khi bàn đến khi bàn đến việc phân tích văn bản văn học, Todorov đã chỉ rõ: “Trước hết chúng tôi phân chia tất cả các kiểu tương quan và quan hệ trong văn bản văn học mà chúng tôi quan sát được thành hai nhóm lớn: một là những quan hệ của các yếu tố cùng hiện diện trong văn bản (những quan hệ in praesentia), hai là những quan hệ giữa các yếu tố hiện diện trong văn bản và các yếu tố vắng mặt trong đó (những quan hệ in absentia). Những quan hệ này khác nhau cả về bản chất, cả về chức năng mà chúng thực hành.

Cũng như mọi sự phân chia nói chung, việc phân chia ở đây không thể xem là tuyệt đối. Các yếu tố bề ngoài là vắng mặt trong văn bản, song đôi  lại hiện diện một cáchết sức rõ trong ký tập thể độc giả ở một thời đại nhất định, và như vậy thực tế là chúng gặp ở đây loại quan hệ in praesentia. Ngược lại, những phần khác nhau của một cuốn sách có dung lượng lớn nằm ở những quãng cách rất xa nhau, khi ấy thì quan hệ giữa chúng thực ra không khác mấy với loại quan hệ in absentia. Tuy vậy, sự phân chia này cho phép chúng ta thực hiện việc phân loại bước đầu đối với các yếu tố cấu trúc của tác phẩm văn học”.

Trường hợp thứ hai mà Todorov đề cập đến – trường hợp quan hệ in praesentia của các yếu tố cách xa nhau trên một văn bản có khả năng chuyển hoá thành quan hệ in absentia – theo chúng tôi chính là hiện  tượng mà ngôn ngữ học gọi là quan hệ đồng liệt liên tưởng (cordination asociative). Điều này không quá khó hiểu, nó cũng là kinh nghiệm chung của những ai đã đọc những bộ tiểu thuyết dài hơi. Nói riêng về trường hợp thứ hai. Chúng tôi cho rằng trong trường hợp này mà nói, tất cả việc sử dụng điển cố – điển tích, lối viết/đọc vận dụng tính chất liên văn bản (intertualité), cả hình thức tác giả hay nhà xuất bản chú thích trong văn bản tác phẩm, sự tiếp nối trong liên tưởng giữa các nhân tố trong văn bản với các yếu tố ngoài văn bản hình thành do chẳng hạn, lời bình điểm (đặc biệt là văn bản tác phẩm in kèm lời bình giữa các hàng – các bộ tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc hầu hết đều có những bản bình điểm nổi tiếng) đều có thể xem là ví dụ về việc quan hệ in praesentia chuyển hoá thành quan hệ in absentia.

 Thêm một điểm nữa, chúng ta không nên tuyệt đối hoá sự phân biệt quan hệ in praesentia giữa các yếu tố đồng hiện trong một văn bản tác phẩm và quan hệ giữa các yếu tố đồng tồn trong văn bản này với các yếu tố vắng mặt trên văn bản (nhưng hiện diện trên trục liên tưởng). Trong những văn bản tiểu thuyết dài hơi, hai yếu tố cách nhau rất xa – đến mức có lúc độc giả “quên” mất sự tồn tại của chúng – lại có khả năng bị “kéo” lại bên nhau trong chốc lát khi đọc sách. Nói theo cách nói của ngôn ngữ học, đó chính là hiện tượng liên tưởng theo trục tổ hợp chiều ngang (asociation suntagmatique).(12) Lúc đó quan hệ giữa các yếu tố này vẫn là quan hệ in praesentia. Vì vậy chúng tôi mạnh dạn cho rằng vận dụng thuyết nguyên tắc đối đẳng vào giải thích hai nhóm quan hệ in praesentiain absentia trong cấu trúc tác phẩm văn học có lẽ sẽ linh hoạt, uyển chuyển hơn là dùng khái niệm chuyển hoá giữa  hai mối quan hệ để thuyết minh vấn đề cấu trúc kết cấu tác phẩm tự sự.

Nho lâm Ngoại sử, dù trên kết cấu văn bản trần thuật thể hiện quan hệ ngữ đoạn hay trong kết cấu hình tượng thể hiện quan hệ ngữ nghĩa, chúng tôi đều nhận thấy hoạt động của nguyên tắc đối đẳng tham gia vào kết cấu tác phẩm. Chúng tôi hy vọng sẽ phân tích, chứng minh hoạt động của nguyên tắc kết cấu này trong tiểu thuyết Nho lâm Ngoại sử  ở một bài viết riêng.

                                                    Nam Đại 2004 – 2006 Đại học Vinh

Chú thích

(1)Nho lâm ngoại sử bản dịch tiếng Việt Chuyện làng Nho (Phan Võ – Nhữ Thành dịch, Nxb Văn học). Đây có lẽ là cuốn tiểu thuyết duy nhất trong số các tiểu thuyết chương hồi nổi tiếng Trung Quốc có đầu đề được dịch nghĩa trong tiếng Việt. Trong bài viết này chúng tôi vẫn mạo muội gọi là Nho lâm Ngoại sử.

(3) Mai Tổ Lâm – Cao Hữu Công, Đường thi ma lực, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 1998. (Bản dịch tiếng Việt: Sức hấp dẫn của thơ Đường của Trần Đình Sử và Lê Tẩm, Nxb Văn học, 2000). Cao và Mai lần đầu tiên vận dụng nguyên tắc đối đẳng vào nghiên cứu thơ luật Trung Quốc trong bài Đường thi ngữ ý, công bố trên Harvard Journal of Asiatic Studies, 38/1978. Công trình này không chỉ là một cột mốc trên con đường vận dụng ngôn ngữ họchiện đại vào nghiên cứu thơ Đường, đồng thời cũng là một bổ sung có giá trị cho các luận điểm căn bản của R.Jacobson.

(2) R.Jacobson, Closing Statement: Linguisitcs and Poetcs in trong Style in Language, biên tập bởi Thomas A.Sebeoc. Cambridge, Mass.: MIT Press, 1960. Liên quan đến cấu trúc luận ngôn ngữ học Jacobson, có thể xem thêm R.Jacobson, Two types of language and Two Types of Aphasic Disturbances in trong Slected writings, II (the Hague: Mouton, 1971). La Cương  trong chương I cuốn Tự sự học đạo luận(Vân Nam xuất bản xã, 1999) có giới thiệu khái quát Jacobson. Bản dịch tiếng Trung đầu tiên công trình này đăng trong: Hoàng Tuyên Phạm, Phiên dịch dữ ngữ ý chi gian, Đài Bắc, Liên Kinh, 1976.

(4) Nguyên văn tiếng Anh: “The poetic function projects the principle of equivalence from the axis of seletion into the axis of combination“. “the principle” trong tiếng Hán còn được dịch là “nguyên lí“. Theo sự lựa chọn của cá nhân, chúng tôi tán đồng cách dịch “nguyên lí” trong trường hợp nói về hành vi ngôn ngữ phổ thông – nhấn mạnh ý khách quan. Ngược lại khi bàn đến hành vi ngôn ngữ tính thơ (sáng tác nghệ thuật ngôn từ) có thể dịch thành “nguyên tắc“. Nhân tiện nói thêm, bản dịch tiếng Việt Sức hấp dẫn của thơ Đường sử dụng cụm từ “nguyên tắc đồng đẳng“. Chúng tôi vẫn gọi nhất quán trong suốt bài viết này cách gọi “nguyên tắc đối đẳng“. Độc giả có thể tham khảo Cao Xuân Hạo. Giáo sư dịch từ bản tiếng Pháp: “Chức năng thi ca đem nguyên lí tương đương của trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp“.

(5) Tác giả bài Luận về hành vi ngôn ngữ cũng có một sự phân biệt “cách dùng có tính thơ đối ngôn ngữ” (a poetical use of language) và “sự vận dụng ngôn ngữ trong thơ” (the use of language in poetry). Xin xem Lí luận phê bình văn học:từ Platon đến nay, Bắc Kinh đại học xuất bản xã, 2003, tr.123.

(6) Các nhà bình điểm phê ghi ý kiến vào trong văn bản tiểu thuyết; bản in tiểu thuyết in kèm các lời bình đó khi thì ở đầu hoặc cuối hồi, khi ở đầu hoặc cuối trang, cũng có khi ở giữa các hàng chữ tuỳ theo sự lựa chọn của nhà bình điểm.

(7) Andrew H. Plaks đề xuất luận điểm “kết cấu cấp tế bào hình thành giữa các tiểu đoạn văn bản tác phẩm” do “điệp dụng hình tượng” trong Tứ đại Kì thư (Thuỷ hử, Tam Quốc, Kim Bình Mai, Hồng lâu mộng). Xem Andrew H. Plaks, Trung Quốc tự sự học – Chinese Narrative, Bắc Kinh đại học xuất bản xã, 1998, tr.20.

(8) Xem Hứa Kiến Bình: Nho lâm Ngoại sử: Một bộ tiểu thuyết thơ hoá ý tại ngôn chí (Nho lâm ngoại sử: nhất bộ ý tại ngôn chí đích thi hoá tiểu thuyết) đăng trên tạp chí chuyên ngành Minh Thanh tiểu thuyết nghiên cứu, kì I – 1997. Tác giả đề xuất kiến giải hoàn toàn mới về mô thức kết cấu tiểu thuyết Nho lâm Ngoại sử. Hứa cho rằng Ngô Kính Tử sử dụng phương thức tư duy thơ thống nhất vật-ngã không gian tính. Thế nhưng cuối bài ông đã tự mâu thuẫn với lập luận căn bản của mình khi kết luận “phương thức tư duy đối lập nhị nguyên của Ngô Kính Tử” (bài vừa dẫn, tr.42).

(9)  Cao Hữu Công: Cảnh giới trữ tình trong truyền thống tự sự Trung Quốc – một cách đọc Hồng lâu mộng Nho lâm ngoại sử  in làm phụ lục cho Trung Quốc tự sự học – Chinese Narrative, Bắc Kinh đại học xuất bản xã, 1998. Cao nói rõ: “Từ cảnh giới trong bài ý chỉ nền tảng hình thái ý thức (ideological foundation) của một tác phẩm đã bóc gọt đi lớp vỏ ngoài” (tr.201). Bài này nguyên viết bằng tiếng Anh: Yu-kung Kao, Lyric Vision in Chinese Narrative: A Reading of  Hung – Low  Meng and  Ju – lin Wai – shih.

(10) Hồi I Nho lâm Ngoại sử kết thúc với những câu: “Buồn cười văn nhân học giả đời nay, nói chuyện Vương Miện đều gọi Vương tham quân. Rốt cuộc Vương Miện có làm quan lấy ngày nào đâu. Cho nên mới bày tỏ một lượt. Có điều đây chẳng qua chỉ là màn giáo đầu, chính văn dưới đây mới là chuyện chính” (Nho lâm ngoại sử, Tân thế giới xuất bản xã, 2000, tr.17. Bản tiếng Việt Chuyện làng Nho, Nxb.Văn học, 2001, tr.48).

(11) Tzvetan Todorov, Poétique de la Prose, Paris: Seuil, 1971. Bản tiếng Trung: Tản văn thi học. Hai đoạn trích trên dẫn theo Trịnh Bá Đĩnh, Chủ nghĩa cấu trúc và văn học, Nxb Văn học – Trung tâm nghiên cứu quốc học (tr.467 và 457).

(12) Các thuật ngữ  này dẫn từ  Giáo trình ngôn ngữ học đại cương lần I và lần III   (Ferdinan de Saussure, Cous de linguistique gènèrale, Premier et troisième cours). Đồ Hữu Tường dịch. Thượng Hải nhân dân xuất bản xã, 2002.

Tài liệu tham khảo:

[1] 吳敬梓《儒林外史》(清凉布褐陈美林批评校注)新世界出版社 出版, 2001.

[2]Chuyện làng Nho, PhanVõ – Nhữ Thành dịch, Nxb Văn học, 2001.

[3]Andrew H. Plaks, 中国叙事学 Chinese Narrative, 北京大学出版社, 1998

[4]R.Jacobson, Closing Statement: Linguisitcs and Poetcs in trong Style in Language, biên tập bởi Thomas A. Sebeoc. Cambridge, Mass.: MIT Press, 1960.

[5] 高友工, 梅祖麟著, 李世耀譯,《唐詩的魅力》上海古籍出版社, 1989

[6] Mai Tổ Lân – Cao Hữu Công, Sức hấp dẫn của thơ Đường, Trần Đình Sử – Lê Tẩm dịch, Nxb Văn học, 2000.

[7] Trịnh Bá Đĩnh, Chủ nghĩa cấu trúc và văn học, Nxb. Văn học – Trung tâm nghiên cứu quốc học.

[8]拉曼‧塞爾登編劉象愚陳永國等譯《文學批評理論︰從柏拉圖到現在》

(R.Selden,The Theory Of Criticsm: From Plato to The Present)北京大学出版社, 2003.

[9]黎時賓(ThoiTan Le)《儒林外史》新詮(博士論文 導師陳洪)南開大學 5/2004

Nguồn:  In lần đầu trên Tạp chí Văn học Nước ngoài, Hội Nhà văn VN, số 2, 2006; in lại trong Tạp chí Khoa học, Đại học Vinh, tập XXXV, số 1B, 2006.   Bản đăng trên Phê bình văn học do tác giả gửi.Copyright © 2012-2014 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply