“Nhà văn cũng là một văn bản”


Có một thực tế là nhiều sinh viên khoa Ngữ văn mặc dù đã được đào tạo bài bản, học lý luận văn học và phương pháp phê bình văn học bốn năm trời, được thực hành bằng những bài tiểu luận (5-7 trang), niên luận (15-20 trang) và cả khóa luận tốt nghiệp (gần 100 trang) nhưng lại rất lúng túng khi viết một bài phê bình văn học, dù ở mức “giản dị” nhất là điểm sách. Thưa anh Phùng Gia Thế, với cương vị là giảng viên đang trực tiếp đứng lớp truyền đạt kiến thức cho các sinh viên, anh nghĩ gì về hiện tượng này?

Phùng Gia Thế: Đúng là trong bốn năm học, sinh viên khoa Ngữ văn ở các trường đại học được học khá bài bản kiến thức Ngữ văn. Tuy nhiên, không phải tất cả các kiến thức này đều liên quan trực tiếp đến lí luận văn học và phương pháp luận phê bình văn học (Đương nhiên, những sinh viên tích cực không ngồi chờ đến khi học các môn này họ mới nghiên cứu, phê bình văn học!). Trong quá trình học tập, sinh viên được tập dượt, thử thách qua hàng loạt các bài tập tiểu luận, khóa luận, tham gia các hội thảo khoa học… như là những công việc có tính bắt buộc hoặc phong trào. Song, như anh biết đấy, từ những “bài tập” này đến khả năng thao tác chuyên nghiệp trong nghiên cứu, phê bình văn học là cả một chặng đường dài. Thêm nữa, mục tiêu đào tạo của các trường đại học lại có điểm khác nhau. Chẳng hạn, ở một số trường sư phạm, người ta đặt trọng tâm vào việc đào tạo giáo viên ngữ văn chứ không phải đào tạo nhà phê bình văn học. Hệ quả là theo đây, nhiều sinh viên ý thức họ phải làm tốt công việc của một giáo viên, còn nghiên cứu, phê bình là công việc của người khác! Cũng không thể phủ nhận một thực tế là, khoa Ngữ văn của một số trường đại học hiện nay chưa thật sự chú trọng bồi dưỡng cho sinh viên nghiên cứu khoa học hoặc mở ra các diễn đàn để họ có thể tham gia thường xuyên và tích cực vào công việc viết lách. Hơn thế, viết phê bình cũng không phải là sự thực hành giản đơn các vấn đề lí thuyết được học ở nhà trường (giống như làm một bài kiểm tra học phần). Vấn đề còn là ở chỗ, sinh viên có năng lực viết phê bình hay không? Phê bình văn học là một khoa học, nhưng là một khoa học được đặc trưng bởi tính nghệ thuật của văn chương. Do đó, người làm phê bình, ngoài sự chuyên tâm cũng cần phải có một “năng khiếu” nhất định. 

Hàng năm có đến hàng trăm sinh viên ngữ văn trên cả nước tốt nghiệp, tuy nhiên số lượng các em làm phê bình văn học lại rất ít. Thưa anh Phùng Gia Thế, anh nghĩ gì về hiện tượng này? Để khuyến khích sinh viên ra trường làm phê bình văn học thì cần có những biện pháp gì?

Phùng Gia Thế: Theo tôi, người làm phê bình văn học chuyên sâu thời nào cũng ít (Trong khi người sáng tác thường rất nhiều). Các số liệu gần đây cho thấy, hàng năm có đến hàng nghìn (chứ không phải hàng trăm) sinh viên ngữ văn tốt nghiệp đại học. Trừ một vài người có đam mê (hay có một “nghiệp chướng bản mệnh” đặc biệt nào đó), còn lại đa phần những sinh viên này không chuẩn bị tâm thế để làm phê bình văn học. Vì sao vậy? Là bởi vì danh xưng nhà phê bình hầu như không giúp ích gì cho cuộc sống thường hằng của họ (Trong khi cái họ cần là một công việc ổn định để sinh tồn). Viết phê bình vốn đã khó, sống bằng phê bình còn khó hơn. Thành ra, người ta chỉ làm phê bình khi đã làm một viên chức có lương ăn (làm giáo viên, cán bộ công chức, nghiên cứu viên…). Thậm chí, trong tâm thức một số người, phê bình văn học không phải một nghề, mà chỉ là một “hoạt động”. Anh nào có thời gian, có hứng thú thì cứ nhảy vào mà hoạt động. Ngay ở những người làm phê bình chuyên sâu, vì những lí do khác nhau cũng chưa chắc đã đi trọn hành trình với nó.

Còn, để khuyến khích sinh viên ra trường làm phê bình văn học chúng ta phải làm cách gì ư? Theo tôi, ta phải nói với họ, hàng ngày, rằng phê bình văn học là một công việc “sang trọng” và sống được! (cười). Nói thế chứ việc này khó như lên trời! Học kiến thức để thi cử, làm bài, trả bài là điều bắt buộc với sinh viên, còn tình yêu văn học thì lại tồn tại trong sự tự do lựa chọn của họ. Những số liệu gần đây cho thấy, chất lượng đầu vào của sinh viên ngữ văn ngày càng thấp xuống. Số người đam mê văn chương cũng ít đi. Mà, không riêng gì sinh viên sư phạm ngữ văn, một số sinh viên được đào tạo chuyên sâu về lí luận phê bình ra trường cũng không thấy viết phê bình. Nhìn chung, trong bối cảnh hiện nay, người làm phê bình văn học chuyên nghiệp rất ít. Theo một nghĩa nào đó, họ cũng là những người dấn thân.

 – Anh là người nghiên cứu chuyên sâu về chủ nghĩa hậu hiện đại ở Việt Nam. Theo anh đâu là những dấu hiệu đầu tiên báo hiệu sự xuất hiện của chủ nghĩa hậu hiện đại ở Việt Nam và dấu ấn cơ bản nhất của chủ nghĩa hậu hiện đại trong các sáng tác của nhà văn Việt Nam là gì?

Phùng Gia Thế: Theo tôi, phải có một hoàn cảnh hậu hiện đại thì mới có thể có một thực tiễn văn học hậu hiện đại. Do thế, trước khi nói đến thực tiễn văn học hậu hiện đại, phải nói đến đến “điều kiện hậu hiện đại” của nó trong văn hóa. Nếu chỉ xem xét tính hậu hiện đại từ một vài yếu tố kĩ thuật, thủ pháp (thường là có quan hệ với, chứ không phải hậu hiện đại), mà không chú ý đến “tính cộng đồng loại hình” về thế giới quan (của nhà văn) hình thành trên cơ sở những điều kiện lịch sử – văn hóa thời đại thì dễ dẫn đến nguy cơ cả làng hậu hiện đại. Theo nhận biết của tôi, những dấu hiệu hậu hiện đại chỉ xuất hiện trong thực tiễn văn học Việt Nam từ sau 1975. Từ sau 1986, nó trở thành một khuynh hướng rõ rệt.

Tính chất nhiều sắc vẻ của văn học hậu hiện đại Việt Nam cho phép người nghiên cứu có thể tiếp cận hiện tượng này từ các phạm vi và cách thức khác nhau. Theo quan sát của tôi, dấu hiệu cơ bản trước nhất của khuynh hướng hậu hiện đại trong văn học Việt Nam đương đại là sự xuất hiện của một tâm thức hậu hiện đại thể hiện qua “mô hình thế giới giải thiêng”. Tính chất giải thiêng toàn diện của mô hình thế giới này thể hiện qua những đặc điểm cụ thể với những sắc vẻ rất sinh động như tính đa cực, phi trung tâm (chủ thể phi trung tâm; thế giới tản mạn, phần mảnh; thế giới dị biệt, ngoại biên…), tính bất khả tín, hàm hồ (người kể chuyện không đáng tin; tính đa kết; sự giải thiêng hình tượng nhà văn và bản thân văn học…) và tính chất mù mịt hư vô (hỗn độn, hỗn mang; vô lí, vô nghĩa, vô cảm, vô hồn; hoang mang vô định; chơi dỡn, bỡn cợt). Mô hình thế giới giải thiêng phản ánh những chuyển dịch trong thế giới quan, trong cách nhìn nhận, cắt nghĩa, lí giải vũ trụ, con người, hiện thực và bản thân văn học của nhà văn.

 Mô hình thế giới giải thiêng có qui tắc vận hành riêng của nó. Những đặc tính cụ thể của phương thức vận hành này trong văn học sau 1986 cho phép chúng ta nghĩ tới phong cách các-na-van hay xu hướng các-na-van hóa. Ở đây, có thể tìm thấy tính tương đồng của các đặc tính nghệ thuật trong các sáng tác văn chương hư cấu hậu hiện đại như giễu nhại, trần thuật đứt đoạn, pha trộn thể loại, thông tục hóa phi thẩm mĩ ngôn từ, bành trướng cái được biểu đạt, hỗn loạn diễn ngôn… Các thủ pháp, hình thức đặc thù này gắn bó không tách rời với thế giới giải thiêng và với cái nhìn giải thiêng trước thế giới. Do thế, chúng được xem là những hình thức thế giới quan của khuynh hướng văn chương hậu hiện đại. Là phương thức vận hành của thế giới giải thiêng, xu hướng các-na-van hóa trên thực tế đã đưa khuynh hướng văn học hậu hiện đại ra một khu vực tiếp xúc đặc biệt: nằm giữa nghệ thuật và đời sống thường ngày, một khu vực tiếp xúc mang tính dân chủ tối đa.

Do có tính chất dấu hiệu, nên các đặc trưng thẩm mĩ của khuynh hướng văn chương hậu hiện đại ở cả mô hình thế giới giải thiêng và xu hướng các-na-van hóa đều không có sự bình quân ở mỗi tác giả, tác phẩm cụ thể. Tính chất “dấu hiệu” trong đây thể hiện ở sự thiếu cân xứng, không đồng đều và đôi khi, có cả sự thiếu nhất quán về các đặc tính thẩm mĩ của văn học hậu hiện đại trong một tác giả hay tác phẩm cụ thể.

Trong thời điểm hiện tại, theo anh chủ nghĩa hậu hiện đại ở Việt Nam đang ở đâu trong ba giai đoạn phát triển: mở đầu – nở rộ – thoái trào?

Phùng Gia Thế: Cách đây mấy năm, tôi đã khẳng định sự xuất hiện của dấu hiệu hậu hiện đại trong văn học Việt Nam đương đại và cho rằng khuynh hướng hậu hiện đại là sự kiện quan trọng của tiến trình văn học Việt Nam đương đại. Tuy nhiên, hậu hiện đại ở Việt Nam chưa thành trào lưu. Tâm thức hậu hiện đại chưa kết tinh ở các tác giả lớn. Nói khác đi, văn học hậu hiện đại Việt Nam chưa phải hiện tượng “classic” (ưu tú, cổ điển). Do đó, việc đưa ra một tổng kết về nó ở thời điểm hiện nay là rất khó. Phương pháp luận của tôi là, nghiên cứu văn học không phải chỉ để khẳng định thành tựu của văn học. Thao tác với văn học hậu hiện đại, tôi muốn giải thích nó, ghi nhận đặc điểm hiện trạng của nó chứ không phải vuốt ve nó. Không giữ được thái độ trầm tĩnh, khách quan, một số nhà phê bình đã mang cảm nhận của bạn đọc thông thường vào việc đánh giá văn học hậu hiện đại nên không tránh khỏi những cực đoan, hoặc cổ súy thái quá hoặc phủ định sạch trơn. Phê bình văn học từ góc nhìn hậu hiện đại và phê bình văn học hậu hiện đại là hai công việc khác nhau. Tôi không duy tâm ở mức nói hậu hiện đại ở Việt Nam đã kết thúc. Còn việc dự cảm sau này nó thế nào chắc chỉ ở thì tương lai người ta mới trả lời được.

Anh vừa làm nhà giáo, vừa viết phê bình văn học và cả sáng tác truyện ngắn nữa. Vậy Phùng Gia Thế – nhà giáo, Phùng Gia Thế – nhà văn có gì khác so với Phùng Gia Thế – nhà phê bình văn học?

Phùng Gia Thế: Với tôi, giảng dạy là công việc chính. Công việc này mang lại nhiều cảm hứng nhất và gần như chiếm hết thời gian vật lí của tôi. Và, cũng như bao đồng nghiệp khác, ngoài việc giảng dạy chính khóa, tôi cũng phải ngược xuôi đi dạy học ở ngoài trường để có thể thêm chút thu nhập phụ giúp vợ nuôi con, để cái “gia đình bé mọn” của mình không ở trạng thái bất thường! Điều này chắc anh quá hiểu (cười).

Trong khi trình bày các chuyên đề cho sinh viên, tôi tiếp xúc nhiều với văn học đương đại. Tôi thấy mình cần phải viết ra những suy nghĩ về dòng chảy văn học phức tạp này. Thế là dần dần trở thành người viết phê bình văn học. Tôi sống ở ngoại vi, ít tiếp xúc trực tiếp với thời sự văn học sôi động ở thủ đô. Nhưng cũng bởi thế mà tôi bớt đi được những hội hè, đình đám ồn ào (thường là không tránh được). Tôi không có những bài phê bình ngoại giao, thù tạc. Tôi không tìm gặp nhà văn để viết về họ mà làm việc với văn bản của họ. Với tôi, nhà văn cũng chỉ là một văn bản. Giờ đây, viết phê bình đã trở thành một thói quen công việc của tôi. Tôi hiểu, mỗi người viết phê bình có một lợi thế riêng. Không thích một cách viết này hay khác là một chuyện, nhưng có viết được như thế hay không lại là một chuyện khác. Cá nhân tôi không bao giờ ngại va chạm trong phê bình.

Thỉnh thoảng tôi có sáng tác, thường là trong những lúc đi công tác xa. Một cõi đi về nho nhỏ của riêng mình. Tôi nghĩ, một người sáng tác có thể viết phê bình thì một người viết phê bình cũng có thể sáng tác. Có điều, không giống với công việc giảng dạy hay nghiên cứu phê bình, tôi không bị thôi thúc phải sáng tác. Có lẽ tôi không có nhiều duyên phận với công việc này. Nhiều truyện tôi viết đã lâu rồi nhưng cũng không nghĩ đến việc sửa chữa để in. Đôi khi, vì công việc, tôi “quên” mất nhiều tứ hay. Tôi chủ yếu viết truyện ngắn và tản văn. Tôi cũng nghĩ đến việc sẽ in tập truyện ngắn riêng của mình. Nhưng thú thật là, với tôi, điều này không quan trọng lắm. Tôi xác định mình phải làm tốt công việc của một giảng viên và chuyên tâm với nghiên cứu – phê bình văn học.

 – Nghiên cứu và phê bình văn học vốn là hai mặt của một bàn tay. Nhưng về tâm lý chung, mọi người thường cho rằng một bài nghiên cứu luôn “sang trọng” hơn một bài phê bình. Anh nghĩ gì về hiện tượng này?

Phùng Gia Thế: Văn giới của ta có nhiều chuyện lạ. Tôi thấy nhiều nhà văn luôn miệng giễu phê bình, nhưng lại háo danh, được lời khen nào là vuốt ve ghê lắm. Còn động chê là khó chịu. Một số nhà nghiên cứu thì tự nâng mình lên tầm mức cao hơn nhà phê bình. Thử hỏi, có ai viết phê bình (chuyên nghiệp) mà không nghiên cứu. Đúng như anh nói, nghiên cứu và phê bình là hai mặt của một bàn tay. Cho bài nghiên cứu sang hơn bài phê bình là không thỏa đáng. Tôi có cơ sở để khẳng định, một số nhà nghiên cứu khá tinh thông các lí thuyết, viết các bài tổng thuật thì được nhưng không thể viết cho “thoát ý” một bài phê bình. Lĩnh vực nào cũng cần chuyên sâu. Phê bình cần thêm chút năng khiếu.

Nhà phê bình văn học Hồng Diệu có nói: “Thời đại nào, phê bình ấy”. Theo anh, việc phê bình các tác phẩm trước, trong, sau thời đại mình thì có những thuận lợi và khó khăn gì?

Phùng Gia Thế: Theo tôi, vấn đề của phê bình không hẳn ở chất liệu. Các tác phẩm thời trước hay thời nay đều có thể trở thành đối tượng của phê bình. Phê bình có thể tìm đến các hiện tượng văn học quá khứ để liên hệ với các vấn đề của đời sống văn học hôm nay. Một cấu trúc cũ được soi chiếu từ những góc nhìn mới hoàn toàn có thể mang lại nhiều kiến giải thú vị và hữu ích. Ngược lại, phê bình về một hiện tượng đương đại chưa chắc đã giải quyết được điều gì. Tuy nhiên, thiên chức của phê bình là tác động đến dòng chảy trước mắt của văn học. Do vậy, đối tượng của nó có phần ưu tiên hơn vào các hiện tượng văn học đương đại. Nói khác đi, phê bình văn học phải song hành và đối thoại với các vấn đề của đời sống văn học đương đại (trong đó có các hiện tượng văn học đương đại). Như anh biết đấy, một nền văn học ở những thời điểm không có “sự kiện” quan trọng vẫn có thể gợi ra những câu chuyện quan trọng về tương lai của chính nó. Từ bản chất của mình, phê bình văn học là công việc dễ gây đụng độ. Phê bình các sáng tác đương đại thì càng như vậy. Người làm phê bình chẳng những dễ có va chạm với người sáng tác, mà còn với những người không cùng quan điểm với mình. Nhưng đã làm phê bình thì không thể tránh né những vấn đề nhạy cảm của văn học đương đại. Nếu ai ngại va chạm thì đừng làm.

Hoạt động phê bình văn học (cho một tác phẩm) gần đây được tiến hành rất đa dạng với nhiều hình thức khác nhau như họp báo, đăng bài trên báo in, báo mạng, báo hình, tổ chức hội thảo, tọa đàm … nhưng nhìn chung vẫn chỉ là “câu chuyện của người trong giới” mà chưa thu hút được đông đảo công chúng. Anh lý giải thế nào về hiện tượng này và theo anh cần có biện pháp gì để đưa công chúng đến với các hoạt động phê bình văn học này nói riêng và văn học nói chung?

Phê bình là hoạt động của giới chuyên môn. Khác với “cái mọi người cùng quan tâm” trong sáng tác, câu chuyện phê bình trước hết là câu chuyện của người trong giới. Một người bình thường có thể rất quan tâm đến vấn đề đặt ra trong một sáng tác văn học nghệ thuật song lại không quan tâm đến hoạt động phê bình là điều rất bình thường. Tôi chỉ sợ chính người trong giới thờ ơ với hội thảo, tọa đàm và thậm chí cả phê bình trên báo chí bởi sự thù tạc, ồn ào và vô bổ của nó mà thôi.    Văn hóa thay đổi, văn hóa đọc cũng thay đổi. Người ta không thích đọc văn bằng xem phim, nghe nhạc thì cũng không phải điều gì quá bất thường. Lịch sử nghệ thuật đã chứng minh bao sự thăng trầm trồi sụt của các loại hình của nó.

Bạn đọc phổ thông phần lớn không đến với văn học qua quảng cáo, hội thảo, tọa đàm. Họ đến với tác phẩm là bởi tác phẩm đó hay. Dĩ nhiên, một tác phẩm hay đối với một bạn đọc thông thường chưa chắc đã là một tác phẩm hay trong cái nhìn của người nghiên cứu. Thêm nữa, để công chúng quan tâm đến hoạt động phê bình nói riêng, đến văn học nói chung, nhà phê bình văn học phải nghiêm túc với chính mình và với công việc của mình.

          Xin cảm ơn anh!

Đoàn Minh Tâm thực hiện      

         

Nguồn: Văn nghệ quân đội, số 757/2012.  Bản vi tính Copyright © 2013 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply