Nhân xem phim “Đêm hội Long Trì”, nghĩ về một lối tiếp cận lịch sử


Lại Nguyên Ân

Các nhà làm phim vừa hoàn thành việc đưa lên màn ảnh tiểu thuyết Đêm hội Long Trì  (1941) của nhà văn quá cố Nguyễn Huy Tưởng (1912-1960). Suốt quá trình dựng phim, báo chí đã không ít lần đưa tin, đã cho bạn đọc rộng rãi biết những khó khăn của việc chọn người chọn cảnh, những chi phí tốn kém đến mức kỷ lục cho việc dàn dựng những trường đoạn lớn, v.v…

 

Tôi ít am hiểu một lĩnh vực như công nghiệp điện ảnh. Tôi không sao tự giải đáp được cho mình các câu hỏi là: vì sao trong số các sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng thì cái được các nhà điện ảnh “chấm” đầu tiên lại là Đêm hội…, một sáng tác gần như đầu tay của nhà văn, chứ không phải là Vũ Như Tô, một tác phẩm vào loại “chín” nhất của ông, một bản tuyên ngôn nghệ thuật cho tới tận bây giờ vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự, một tác phẩm mà bạn còn nguyên ý nghĩa thời sự, một tác phẩm mà bạn ông, − nhà văn Nguyễn Tuân − suốt đời mong được thấy nó xuất hiện dù chỉ một lần và chỉ mới dám tính đến sân khấu thôi, nhưng cho đến lúc già Tuân nhắm mắt xuôi tay, cái ước vọng ấy vẫn còn chưa được thực hiện?

 

Nhưng xin trở lại với phim Đêm hội… Ngoài mọi điều khác, ta còn có thể cảm ơn các nhà làm phim đã cho chúng ta được dịp cảm nhận một phần thế giới của Nguyễn Huy Tưởng, xem cách ông bày các nhân vật lịch sử vào thế giới tiểu thuyết của ông ra sao và qua đó nghĩ ngợi thế nào về các nguyên nhân của tiến trình lịch sử.

 

Và chúng ta đã gặp một cách nhìn, một cách cắt nghĩa rất mực truyền thống về lịch sử, − truyền thống không phải chỉ theo cái nghĩa là đến thời Nguyễn Huy Tưởng viết Đêm hội… mà còn theo cái nghĩa là đến ngay tận bây giờ, trong không khí của những sự kiện xa gần hôm nay, khi mà tất cả những người biết suy nghĩ đều đang phải suy nghĩ ráo riết về tiến trình lịch sử, về những gì nằm sâu đằng sau các sự kiện.

 

Câu chuyện dẫn chúng ta trở lại với một loạt tình tiết “thâm cung bí sử” thời Lê – Trịnh, khi ngai vua thực chất nằm ở phủ Chúa. Chúa Trịnh Sâm say mê Tuyên phi Đặng Thị Huệ. Chị em họ Đặng được dịp lấn tới. “Cậu trời” Đặng Lân như một hung thần thả sức tung hoành, gieo tai giáng hoạ xuống dân lành, nhất là đám đàn bà con gái. Uất hận dâng lên trong dân chúng, trước hết là nhằm vào bọn “đặc quyền đặc lợi” này…

So với những điều mà sách vở và dân gian còn truyền tụng thì Nguyễn Huy Tưởng cũng đã gia giảm ít nhiều. Các nhà làm phim Đêm hội … tuy dựa hẳn vào tiểu thuyết của nhà văn, nhưng cũng có phần gia giảm. Nhà văn chỉ tập trung vào một sự kiện duy nhất (việc Quỳnh Hoa bị ép gả cho Đặng Lân) và đã tạo thêm những nhân vật hư cấu cần thiết cho mình (chàng nho sinh mà Quỳnh Hoa yêu; viên võ tướng cương trực đã trừng trị Đặng Lân…). Các nhà làm phim tuy dựng theo tiểu thuyết, nhưng đã cấu tạo thêm một loạt tình tiết xung quanh việc Trịnh Sâm phế trưởng lập thứ, chiều ý Tuyên phi. Viên võ  tướng hư cấu vẫn được giữ lại trong phim, nhưng nếu ở đoạn kết tiểu thuyết, viên tướng được Chúa tha tội chết trong tiếng hò reo đồng tình của dân chúng, thì trong phim, viên tướng bị xử chém, Chúa kịp nghĩ lại cũng đã muộn…

 

Nhà tiểu thuyết ở tuổi chớm ba mươi khi đó vừa say mê tái tạo mối tình đắm đuối giữa người cung phi sắc nước hương trời với vị Chúa đa tình (Trịnh Sâm vốn có tài thơ, hầu như mọi bạo chúa có tài thơ đều dễ được người ta dung thứ, không nhiều thì ít!), vừa say mê một hình ảnh tưởng tượng về người anh hùng diệt ác trừ gian (không tìm thấy trong sử sách đương thời thì dùng hư cấu cho nó hiện ra trong thế giới nghệ thuật của mình). Các nhà làm phim, ít lãng mạn hơn, và cũng ít tưởng tượng hơn, đã bù đắp bằng cách dõi con mắt tọc mạch vào sau trướng gấm màn là, không ngại làm dậy lên một chút mùi nhục cảm (món đầu vị trong thực đơn của công chúng hôm nay?), đồng thời dường như cũng muốn nói được về lịch sử ở mức nhiều hơn so với nhà văn từ nửa thế kỷ về trước.

 

Thế nhưng cả nhà tiểu thuyết thời ấy, cả các nhà làm phim hôm nay, dù gia giảm, nhấn nhá hơi khác nhau trong khi kể lại một tích truyện lịch sử, lại vẫn tùng thuộc cùng một quan niệm về lịch sử. Quan niệm đó tựu trung là: một triều đại, một thể chế sở dĩ lâm vào khủng hoảng và suy sụp là do những cá nhân chuyên quyền thối nát. Một bậc quân vương “quá yêu” người vợ thiếp, một người đàn bà (đàn bà!) tận dụng ân sủng để lộng hành, một kẻ sa đọa lạm dụng địa vị hoàng thân quốc thích để hưởng lạc. Chỗ hỏng không phải ở nguyên tắc, ở nền tảng thể chế, mà chỉ ở những cá nhân hư hỏng! Cách cắt nghĩa phi lôgic “rất mực văn chương” này, tiếc thay, thường không mở đường cho một ý thức tỉnh táo về lịch sử, ngược lại không hiếm khi còn mở đường cho một “ý thức” huyền thoại hóa về lịch sử, và “chỉ đường cho hươu chạy”, mở đường cho các trò “thanh trừng, thanh lọc”, vứt bỏ bạn đồng hành nặng nợ trên một con thuyền nát.

 

Trong cách dựng truyện và dựng phim, câu chuyện đều mang vẻ “nội thất”. Thậm chí ở tận ngoại vi cũng không thấy bóng dáng của cung vua Lê, không có nó thì khó hình thành ý niệm về thời đại lịch sử “vua Lê chúa Trịnh”: vua biến thành bù nhìn, phủ chúa biến thành triều đình, một “nhà nước” đứng bên trên một nhà nước. Chính dấu ấn lịch sử độc đáo này lại bị bỏ qua.

 

Trịnh Sâm được trình bày như một nạn nhân nhiều hơn là thủ phạm, vậy mà đáng ra, đây mới là đầu mối của mọi chuyện, bởi dẫu sao ông ta là đại diện chính cống cho cái thế lực tiếm quyền đương thời. Bộ phim như góp thêm một tiếng thở dài đồng cảm với Trịnh Sâm: ôi chao, quyền lực đầy mình cũng lắm phiền phức khổ đau nhỉ! − Một kiểu đồng cảm tuy có gỡ bỏ được lối nhìn sùng kính lóa mắt trước các ngôi sao, nhưng lại dễ trở thành một lối biện hộ hợp thời.

 

Còn lại, vai trò phá hoại kỷ cương, làm suy vi triều chính được đổ dồn cho một vài người đốn mạt “đặc quyền đặc lợi” cá biệt! Phải nhận rằng hình ảnh Đặng Lân, dẫu được mô tả thật đậm ở những nét ô trọc, phàm tục, “quỷ sứ dâm ác”, song vẫn có cái gì giống như một con rối (các nhà làm phim xem ra không tự thuyết phục được chính mình!). Những kẻ như Đặng Lân, có thể lập “Đường Sơn Quán” ngay tại nhà mình hoặc bất cứ ở nơi “phong cảnh hữu tình” nào trên lãnh thổ quốc nội. Nhưng càng gây phẫn nộ trong dân chúng theo cách như vậy chúng lại càng làm tròn nhiệm vụ đánh lạc hướng dân chúng khỏi những đối tượng chính yếu nhất (có thể lấy làm tiếc cho các nhà làm phim đã không kịp chỉ cho người xem cái phương diện Đường Sơn Quán ở chính phủ Chúa, chứ chẳng phải ở đâu xa lạ). Những mẫu người như Đặng Lân, Đặng Thị Huệ không phải là “thứ phẩm” mà chính là sản phẩm “chuẩn” của thể chế. Ở thời thịnh, sản phẩm ấy chỉ là tiềm năng và bị lu mờ, đến thời suy, nó mới lộ rõ, nhưng chính nó lại đóng vai trò vật hy sinh để cứu nguy, để chiêu tuyết cho thể chế.

 

Tất nhiên vai trò Tuyên phi còn gắn với một hướng cắt nghĩa khác. Ở cuốn tiểu thuyết, hình ảnh Tuyên phi gần như chỉ minh chứng cho sức mạnh lung lạc của một trang “quốc sắc thiên hương”. Ở bộ phim, hình ảnh được tô thêm tham vọng tiếm quyền. Song le ở cả hai thời điểm sáng tác cách nhau nửa thế kỷ, các tác giả đều không cưỡng nổi sức hút của một huyền thoại về sức mạnh ma quái của “yếu tố đàn bà” − cái huyền thoại có cả một vệt quang phổ rộng từ đông sang tây. Xã hội phụ quyền đã phổ cập khắp cả thế giới, vậy mà ở đâu đó trong ý thức, trong văn hóa vẫn ẩn tàng một nỗi sợ hãi khôn khuây trước “quyền lực đàn bà”. Âu cũng là một nghịch lý của ý thức lịch sử. Và, có lẽ chăng, chừng nào chưa có nền dân chủ thực sự trong đời sống cộng đồng, chừng đó vẫn còn tồn tại nỗi sợ hãi trước các cá nhân có quyền lực. Nỗi sợ hãi ấy sẽ phản xạ nhạy bén đến mức bệnh hoạn trước mọi triệu chứng về một cá nhân xuất chúng, dù đó là một người đàn ông có tài (cung kiếm, nghiên bút) hay là một người đàn bà “sắc nước hương trời”. Thăng hoa sang nghệ thuật, huyền thoại của “nỗi sợ quỷ cái” sẽ có muôn vàn biểu hiện nên thơ, nên hoạ, nên nhạc và từng loại biểu hiện đó sẽ có chức năng riêng, có sự phát triển riêng. Song, mỗi khi  chúng được tập hợp để mô tả một sức mạnh cám dỗ thì chúng vẫn nằm gọn trong bóng rợp của thứ huyền thoại kia. Chúng khiến ta thấu hiểu lịch sử ít hơn là sợ hãi lịch sử, thần bí hóa lịch sử. Trong khi đó chúng lại đầy sức thu hút, mê hoặc ở những gì nên thơ, nên hoạ, nên nhạc của chúng.

 

Bộ phim Đêm hội Long Trì chỉ mới sắp ra mắt công chúng, song tôi không nghi ngờ lắm ở khả năng thành công của nó trong việc thu hút được nhiều khán giả. Ngoài mọi lý do khác còn kèm thêm một lý do này: phần đông công chúng là đồng bào với tác giả tiểu thuyết và các tác giả làm phim − dường như đều đã quen với lối nhận thức theo kiểu truyền thống nói trên. Một lối nhận thức không phải là hoàn toàn thiếu cơ sở, nhưng với tất cả những cơ sở của nó, nhận thức ấy vẫn chứa đựng khả năng huyền thoại hóa, biểu hiện qua tích truyện này là việc thông cảm, biện hộ cho kẻ ở ngôi Chúa, quy tội cho một vài kẻ hư hỏng trong đám quyền chức, nhấn mạnh cái hỏng ở cục bộ để quên cái hỏng ở hệ thống, rốt cuộc là không thấy vì sao lịch sử phải đi tới, chứ không thể quay lại trong cái khung đã hỏng.

 

Thoát ra khỏi một nhận thức như thế, một ý thức ít nhiều huyền thoại hóa như thế − là việc không dễ. Thôi thì cứ bảo nhau: xem phim là một chuyện, còn suy  nghĩ nghiêm chỉnh về lịch sử là chuyện khác! Một tâm niệm như thế chưa chắc đã là ngược với lối suy nghĩ của nhà văn quá cố.

15-3-1990

● Tạp chí “Nghệ thuật điện ảnh”, 1990

Leave a Reply