Sự phát triển của lý thuyết văn học: liên văn bản và hệ thống hoán chuyển trong các văn bản cổ điển


Chang Han-liang

Tóm tắtTrong phê bình văn học Trung Quốc truyền thống những chiến lược văn học so sánh với liên văn bản (intertextuality) đã chi phối cách đọc và viết của các nhà thơ và nhà phê bình Trung Quốc về văn học trong suốt nhiều triều đại. Dựa trên lý thuyết liên văn bản của Kristeva và Riffaterre, bài viết tìm hiểu những biến đổi trong hệ thống ký hiệu trong hai văn bản cổ có ảnh hưởng lớn: Kinh Dịch (Classic of Changes) của Nho giáo thế kỷ thứ V trước Công nguyên và Văn tâm điêu long (The Literary Mind and the Carving of Dragons) của Lưu Hiệp, một tác phẩm phê bình thơ thế kỷ thứ III. Việc chuyển đổi hệ thống ký hiệu từ phi ngôn từ đến lời nói, trong trường hợp của Kinh Dịch, và từ chữ viết đến văn chương hoặc từ sáng tạo đến lý thuyết, trong trường hợp Văn tâm điêu long, minh chứng cho sự tác động tương hỗ thuyết Hjelmslevian – đối tượng của ký hiệu học và siêu ký hiệu học.

 

Dường như là lỗi thời để nói về liên văn bản vào đầu thế kỷ XXI, gần 40 năm kể từ thời điểm đầu tiên với giới thiệu về Mikhail Bakhtin của Julia Kristeva đến thế giới phương Tây (1969:143-173). Phổ biến như thuật ngữ này, và gây tranh cãi như việc nó đã thay đổi khái niệm, rất ít nhà văn phê phán hiện đại của Trung Quốc đối phó với vấn đề của liên văn bản (Yip 1988, Fokkema 2000). Nhưng so sánh văn bản chiến lược đã chi phối cách đọc và viết của các nhà thơ, nhà phê bình Trung Quốc về văn chương suốt các triều đại. Tôi phân tích vấn đề này bằng cách liên hệ hai văn bản có ảnh hưởng lớn, Kinh Dịch của Nho giáo (trích dẫn là Changes) thế kỷ thứ V trước Công nguyên và Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp (trích dẫn là Dragons), một tác phẩm phê bình thơ vào thế kỷ thứ III. Nhưng trước hết, cần phải có một khung lý thuyết và phương pháp luận thực sự nghiêm túc.

Việc sử dụng và lạm dụng thuật ngữ “liên văn bản” hơn ba thập kỷ qua có ít cái để làm với sự mới lạ của từ ngữ hơn là sự mơ hồ của nó. Giống như tất cả các khái niệm, văn bản gốc của nó đã trải qua một quá trình từ sự cụ thể đến trừu tượng. Từ nguyên Latin của nó và vì thế bên cạnh ẩn dụ được thêu dệt, sự thay đổi hình dạng của khái niệm trong học thuật hiện đại có thể được nhìn thấy từ cách thức mà từ “văn bản” được sử dụng bởi các nhà phê bình văn học truyền thống, những nhà phê bình mới và những thành viên của tổ chức Tel Quel. Lịch sử phê bình hiện đại đã chứng kiến sự biến đổi hình dạng văn bản từ một thực thể vật chất nhiều hơn hoặc ít hơn bản thảo hoặc ấn phẩm mà một nhà phê bình có thể chỉnh sửa, một đặc tính ngữ nghĩa khẳng định quyền tự chủ và tham vọng đối với các điều kiện của bản thể học, một hệ thống của cấu trúc mã hóa, và cuối cùng đến một vài loại được đề ra, hiệu suất rời rạc (Kristeva) hoặc ký hiệu học mis-en-abime (Derrida). Giống như lịch sử phê bình đã chỉ ra những trao đổi của văn bản và liên văn bản, cũng như điều đó là sự chiến thắng cuối cùng của hiện tại với trước đó.

Tôi không có ý định lướt qua lịch sử của sự tiến hóa khái niệm để biểu lộ ra và nếu có thể, xóa bỏ một số chuyện hoang đường liên quan đến liên văn bản. Nhiều thứ đã được thực hiện trong lĩnh vực này[1]. Thay vào đó tôi sẽ hợp lý hóa hai cách dùng. Cách dùng đầu tiên được đề nghị bởi Kristeva như một biện pháp đối với sự nhầm lẫn ảnh hưởng đến liên văn bản, đề cập tới việc “vận dụng một hoặc nhiều những hệ thống ký hiệu và thứ khác” (1974:59-60). Cách sử dụng thứ hai thuộc về Michael Riffaterre trong sự nỗ lực không ngừng của ông ấy hơn 30 năm qua để khôi phục trọng yếu bằng cắt bỏ các khái niệm trừu tượng liên văn bản đến một liên văn bản cụ thể hơn (1990:56)[2]. Có hoặc không liên văn bản có thể được xác định thông qua các chỉ dẫn cụ thể, như đề nghị của Riffaterre, không là vấn đề ở đây. Nỗ lực của tôi là để làm rõ việc vận dụng hệ thống ký hiệu như được thể hiện trong hai văn bản cổ điển Trung Quốc, văn bản triết học Kinh Dịch của Nho giáo và Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp, sau này thường được coi là cuốn sách có hệ thống đầu tiên của lý thuyết và phê bình văn học.

I. Văn bản và nguyên/sơ bản

Tôi xin bắt đầu bằng việc nhắc lại một định nghĩa ngắn gọn về văn bản. Văn bản là một chuỗi ký hiệu ngôn ngữ mang một nội dung ý nghĩa trọn vẹn, tức là vị trí và chức năng của các ký hiệu với “những cấu trúc đã được mã hóa” như một sự thỏa thuận ngầm hoặc được các thành viên của cộng đồng riêng lẻ sử dụng một cách vô thức. Những dấu hiệu và các thiết bị khác nhau phân phối và tích hợp vào một hệ thống phân cấp của các mối quan hệ. Nó không thể là một văn bản được tạo ra bởi các loại khác nhau của các dấu hiệu được mã hóa, chẳng hạn như dấu hiệu ngôn ngữ và phi ngôn ngữ. Trong trường hợp này, các mã nhất thiết phải tham gia vào mối quan hệ phức tạp của văn bản duy nhất (intratextual). Bây giờ, khi có cùng hoặc một mối quan hệ cấu trúc tương tự được áp dụng cho hai hoặc nhiều, về mặt lý thuyết, một số lượng vô hạn của văn bản, một trong số đó đang phải đối phó với hiện tượng liên văn bản. Mối quan hệ chuyển mã tồn tại trên cả hai cấp biểu thức và nội dung hoặc cấp cú pháp và ngữ nghĩa. Tôi sẽ chứng mình bằng cách phân tích văn bản không đồng nhất của Kinh Dịch và nó liên quan đến Văn tâm điêu long.

Giả định cơ bản của tôi không thể đơn giản hơn: hệ thống dấu hiệu phi ngôn ngữ của bát quái (trigram) và quẻ dịch (hexagram) trong Kinh Dịch đã phục vụ cho nguyên/sơ bản (architext) (Genette 1979, 1982), liên văn bản (intertext) (Riffattere), hoặc sự biểu thị (interpretant) (Peirce) bằng công dụng phi ngôn ngữ của nó, nhưng lại khá trừu tượng và đa dạng, tự nhiên, có khả năng lặp lại ngữ nghĩa như giải thích của Lưu Hiệp về nguồn gốc biết chữ/văn học, thể loại, hình thức và sự phát triển. Sự chuyển đổi này của hệ thống ký hiệu bắt đầu với nhà chú thích kinh sớm nhất, đã tiếp tục hàng thiên niên kỷ, và ngày nay vẫn còn được tập luyện trong văn hóa quần chúng. Mỗi khi diễn đạt bằng lời, nhiều hệ thống ký hiệu học mới được chuyển mã sang hệ thống khác vì “cách gấp đôi phát âm” (double articulation) của ngôn ngữ và “hệ thống mô phỏng thứ cấp” (secondary modeling system) của văn học, bao gồm những ràng buộc mang tính khái quát và chính thức: giai đoạn thứ hai này của sự chuyển đổi ký hiệu học có thể được biểu lộ tốt nhất trong cuốn Hai mươi bốn quy tắc của thơ của Sikong Tu ở thế kỷ thứ 11.

Theo một số học giả, trong bản dịch gần đây của Lynn, The book of Changes hoặc The Classic of Changes (Kinh Dịch) là một tiêu đề, không thuộc một cuốn sách, mà nó thuộc tập văn lịch sử về chú thích và có niên hiệu ngay từ thời Văn vương hay đại quan dưới triều nhà Chu thế kỷ XII trước Công nguyên. Truyền thống vẫn gán cho Khổng Tử là người biên tập/tác giả. Tuy nhiên, chúng ta cũng không chắc, liệu có phải Khổng Tử  không hay bất kỳ cá nhân nào khác cho vấn đề này, nó có thể có tác giả như một văn bản hỗn tạp; cũng có thể ông là người viết chú thích đầu tiên cho nó. Mối liên kết của Khổng Tử với các văn bản còn gây tranh cãi dù có nhiều bằng chứng ủng hộ ông chính là tác giả.

1. Có nhiều lời trích dẫn của ông trong Luận giải về những cụm từ đi kèm, có lẽ từ các môn đồ của ông ấy.

2. Trong Luận ngữ được biên soạn bởi các môn đệ, Khổng Tử đã được báo với  lưu ý rằng, với vài năm nữa để sống, ông sẽ có thể để tìm hiểu Kinh Dịch ở tuổi 50[3]. Đây là một nhận xét thường được trích dẫn nhưng khó hiểu bởi vì tài liệu tham khảo thường xuyên về Kinh Dịch của Khổng Tử cho thấy rằng ông biết nhiều văn bản tốt.

Tuy nhiên, như tôi nói, không ai có chú giải về dấu gạch lạ trong 50 con số kỳ diệu trong Kinh Dịch.

3.  Nhà triết học đạo Lão, Trang Tử ghi rằng Khổng Tử chỉnh sửa sáu cuốn Kinh, bao gồm cả Kinh Dịch.

Cách giải thích này cuối cùng được xác nhận bởi Lưu Hiệp, ông tìm thấy trong các chương có tựa đề Zongjing [“Kinh sách là nguồn gốc văn học”]: “Nhưng sau khi Thầy (Khổng Tử – NNC) của chúng tôi chỉnh sửa và lưu truyền tài liệu này, những kho báu lớn, kinh sách, bắt đầu tỏa sáng. Kinh Dịch có thêm 10 cánh (thập dực), hoặc các lời dẫn giải.” (Khổng Tử  soạn ra sáu thứ, là Thoán truyện, Tượng truyện, Văn ngôn, Hệ từ truyện, Thuyết quái, Tự quái, Tạp quái. Thoán truyện có hai thiên: Thượng Thoán và Hạ Thoán; Tượng truyện có hai thiên: Thượng và Hạ Tượng; Hệ từ cũng có hai thiên: Thượng Hệ và Hạ Hệ; tất cả mười thiên, thường gọi là Thập dực (mười cánh). Sáu thứ đó tuy đều tán cho ý nghĩa Kinh Dịch rộng thêm, nhưng mỗi thứ có một tính cách – NNC chú thích thêm)

Một nguồn tin khác gây tranh cãi giữa các học giả người Hán là niên đại của năm hay sáu kinh sách. Một bản dịch Kinh Thi được coi là đứng đầu trong các kinh sách, thêm nữa Kinh Dịch lại là bản lâu đời nhất. Tôi không giải quyết những vấn đề như vậy ở đây, nhưng tôi sẽ phân biệt các thay đổi từ những kinh sách Nho giáo khác đối với một tính năng đặc biệt, cụ thể là, nó là cuốn kinh duy nhất được mã hóa theo nhiều cách khác nhau. Trong điều kiện của mã bằng hình ảnh hoặc mã nguyên bản (scriptorial) trong đó thông tin được đóng khung, Kinh Dịch bao gồm hai hệ thống riêng biệt: Đầu tiên, hình bát quái phi ngôn từ và sự lặp lại của chúng với các biến thể, được gọi là quẻ dịch (hexagram), thứ hai, những bài bản chú giải bằng lời nói có thể được tiếp tục phân loại theo loại và mức độ ngữ nghĩa. Nếu ta theo sự phân biệt kinh sách được thực hiện bởi Hjelmslev (1959), ta có thể đọc được một cách đơn giản về hệ thống hình vị (graphemic) đầu tiên, nếu nó viết ở tất cả, đóng vai trò biểu hiện là cenemic hoặc vô nghĩa, và thứ hai ở hệ thống nội dung ngữ nghĩa, là pleremic hoặc có ý nghĩa. Sự chuyển vị của hệ thống cenemic vào hệ thống pleremic thông qua sự ngôn từ hóa, theo Laurent Jenny, một điển hình xử lý liên văn bản (Jenny 1982: 51). Và sự xử lý liên văn bản này đã làm phát sinh số lượng hàng ngàn văn bản khác tạo thành học thuật Kinh Dịch.

II. Bát quái và Quẻ dịch

Được thể hiện bằng hệ thống nhị phân, ví dụ, trong tiếng Trung Quốc mỗi bát quái hoặc quẻ dịch được gọi là quẻ (gua), đều có một tên riêng, một chú thích tương ứng được gọi là từ (ci) hoặc cụm từ. Các quẻ có thể được tiếp tục chia thành các đơn vị thấp hơn bởi vì nó được cấu hình bằng các đường thẳng song song liền đậm hoặc đứt quãng gọi là hào (yao), và chúng cũng có những sự chú thích tương ứng riêng. Ba hào sẽ tạo thành một bát quái, chẳng hạn như ba đường thẳng song song tạo thành một bát quái gọi là càn (qian) và ba đường đứt quãng là khôn (kun). Tổng cộng có tám bát quái, và với hai bát quái chồng lên nhau, được gọi là quẻ thượng và quẻ hạ, lúc đó quẻ dịch được hình thành. Sau khi kết hợp và sắp xếp những quẻ ấy thì 64 quẻ dịch được hình thành.

Bảng 1 minh họa tương ứng giữa các phần trong bát quái cơ bản. Danh sách này được dựa trên Mười lời chú giải, trong sách Quẻ số (Shugua) [Giải thích bát quái].

 

Kí hiệu Tên Sự ám chỉ
Biểu hiện Nội dung
Biểu hiện Nội dung
Cấp độ 1 Cấp độ 2 Cấp độ 3 Cấp độ 4
Càn Trời Sức mạnh Cha Ngựa
Khôn Đất Tuân phục Mẹ
Chấn Sấm Chuyển động Ông lão Rồng
Tốn Gió Đi vào Bà lão
Khảm Nước Chìm Con trai thứ Lợn
Ly Lửa Ánh sáng Con gái thứ Chim trĩ
Cấn Núi Tĩnh lặng Con trai út Chó
Đoài Hồ Khoái lạc Con gái út Cừu

 

Danh sách này có thể là vô tận. Sự phân loại đơn giản và ngẫu nhiên này chưa thật sự là logic và cụ thể, mặc dù người ta có thể đem danh sách này phân tích các mối quan hệ ẩn dụ và hoán dụ trong các yếu tố ngữ nghĩa của nó. Ví dụ, người ta có thể nhận thấy rằng (1), tất cả các đơn vị trên một cấp, chẳng hạn như cấp độ 1, thuộc trường “ngữ nghĩa” lớn của thiên nhiên, ví dụ, đó là trời, đất, sấm sét,…tất cả đều biểu thị cho các yếu tố tự nhiên nguyên thủy, và (2) tất cả các đơn vị được tạo bởi một trong những dấu hiệu các đường thẳng liền nhau hoặc đứt quãng song song (trigrammatic), chẳng hạn như quẻ Càn (☰), là vật mẫu thể hiện quan hệ trời, sức mạnh, cha, ngựa,…là những sự vật thuộc quan hệ đó. Có hai vấn đề phát sinh: thứ nhất, các mối quan hệ được đề xuất không phải là ngôn ngữ cũng không logic, thứ hai, nó không bao giờ biến đổi rõ ràng theo chiều dọc từ mức độ sâu sắc của bát quái cấp độ bề mặt của vật được ám chỉ, tức là, từ hệ thống 1 (biểu hiện) với hệ thống 2 (nội dung), có thể ở chung một cột đầu (Greimas và  Courtes năm 1979 và 19866: 348-350). Có lẽ, người ta có thể kết luận rằng hệ thống 1 là trừu tượng, nhưng để thuận tiện, nó đã được thêm vào bất kỳ bài đọc nào nói về quẻ dịch. Nhà triết học Mou Zongsan – người theo Khổng giáo hiện đại mới (1974:88-89) nhận xét.

Kinh Dịch nghiên cứu kỹ về những vấn đề bí ẩn và chế ngự những thay đổi. Nó có nguồn gốc từ những lời sấm truyền và bói toán trên cơ sở các dấu hiệu hệ thống quẻ dịch. Cấu trúc độc đáo của nó nằm trong hệ thống ký hiệu không bằng văn bản của nó, vì vậy người ta có thể tiếp nhận bằng các phương pháp tiếp cận khác nhau.

Các quy tắc của sự kết hợp và hoán vị của hệ thống 1 (hệ thống ký hiệu) khá cố định và giới hạn nói chung được xác định. Về cơ bản có quy định chuyển đổi của phủ định và đảo ngược giữa các quẻ gần nhau. Vì vậy, quẻ 1 biến hóa thành quẻ 2, quẻ 3…và sau khi trùng lắp, đến quẻ thứ 64. Những dấu hiệu phi ngôn ngữ, tên gọi của chúng, và chú thích hoặc cụm từ, tạo thành văn bản cố định (jing). Và mười lời chú giải của Khổng Tử hoặc những môn đồ của ông gọi là zhuan (bình luận), bao gồm cả xici [“Cụm từ đi kèm”].

Vì vậy, những gì chúng ta gọi là Kinh Dịch là một văn bản tổng hợp của ba khác biệt, nhưng chồng lên nhau, cấp độ: (1) Hệ thống 1: hệ thống dấu hiệu phi ngôn ngữ đồ họa, (2) Hệ thống 2: hệ thống ngôn từ hóa (verbalized) trên danh nghĩa được mã hóa hệ thống bản đồ 1, và (3) Hệ thống 3: một thứ ngôn ngữ lập bản đồ, thiết lập để giải mã hệ thống 1 và 2, nhưng thực sự mã hóa chúng. Bảng 2 cho thấy mối quan hệ giữa các hệ thống quẻ [bất hòa hoặc tranh luận hợp pháp].

Ở cấp độ thấp nhất, tức là, hệ thống 1, chuyển đổi dựa trên sự đối lập giản đơn giữa đường liền và đường đứt quãng, chỉ có ràng buộc chính thức là ba đường của bát quái nguyên bản [bengua] và sáu đường không nguyên bản của quẻ [biegua]. Giả sử một bát quái như cái biểu đạt (signifier), tên của nó tương ứng ở cấp độ cao hơn của hệ thống 2 được biểu đạt (signified), sau đó người ta tìm thấy mối quan hệ của chúng rất tùy tiện. Vì vậy, đến nay nó vẫn chưa rõ ràng hệ thống 1 biến hóa thành hệ thống 2 như thế nào. Kể từ khi hệ thống 2 được động từ hóa, giải thích dựa trên ngữ nghĩa ngẫu nhiên theo cách tự nhiên và khá dễ dàng[4].

 

Bảng 2. Quẻ Tụng (song)

Hệ thống 1 Kí hiệu ☰ quẻ hưng (hình dạng của quẻ dịch [hoặc bát quái])
Hệ thống 2 Tên gọi

☰ quẻ tụng = bất hòa (tranh chấp hợp pháp)

Hệ thống 3 Diễn dịch(Cách đọc 1)

Trong tranh chấp, cần có sự chân thành. Cần thận trọng trong việc xử lý khó khăn. Dừng lại ở nửa chừng có nghĩa là sự may mắn. Để kéo dài đến kết thúc có nghĩa là bất hạnh. Phù hợp để tìm thấy người đàn ông tốt. Không phù hợp để vượt qua sông lớn.

Hệ thống 4 Lời bàn(Cách đọc 2) Quẻ số (xugua) [Cung cấp trình tự quẻ dịch]

[…Thức ăn và nước uống cần thiết liên quan đến quẻ Tụng [tranh chấp, quẻ 6]. Đây là lý do tại sao quẻ Nhu (Xu) tiếp đến quẻ Tụng. {Ngay như những thứ có sự sống, chúng được cung cấp bằng một bản năng sở hữu độc quyền. Đó là hệ quả của chúng khi có bản năng sở hữu độc quyền này khiến xung đột phát sinh}. Khi có tranh chấp, chắc chắn nó được nảy sinh của quần chúng. Điều này là lý do tại sao tiếp theo quẻ Tụng là quẻ Sư (Shi). … (Lynn 1992: 103).

 

Truyền thuyết kể lại, và Lưu Hiệp tin nó, rằng hệ thống 1 được ra đời bởi các huyền thoại Phục Hy [Pao Hsi trong bản dịch của Shih], người đã phát minh ra bói toán và hệ thống giao tiếp, còn thiếu một thuật ngữ tốt hơn, chỉ có thể được gọi là hoặc số mang tính biểu tượng ký hiệu, hoặc “semasiography”, tức là, tiền ngữ âm sau chữ viết (Gelb1963; Sampson 1985: 39)[5].

Mô hình của con người có nguồn gốc từ đấng tối cao, lớn nhất. “Những trợ giúp các vị thần, ý tưởng của Kinh Dịch là các biểu thức đầu tiên của mô hình này. Phục Hi bắt đầu [Kinh Dịch] bằng cách vẽ [8 bát quái], Khổng Tử đã hoàn thành nó bằng cách viết “thập dực” (Wings) (Liu i.465-522: 15).

Để tạo ra hệ thống ký hiệu của 64 quẻ dịch này, người biên dịch đã nối các siêu văn bản (metatexts) của họ, tức là, bình luận cho các mục đích xã hội và chính trị khác nhau. Quá trình ngôn từ hóa có thể đã diễn ra song song với sự phát triển và sự tinh tế hóa của chữ viết, và nói theo kiểu hoán dụ thì điều này đã minh chứng cho sự chuyển hóa từ người ra dấu (homo signas) cho đến người biết nói (homo loquens).

III. Hai truyền thống

Bắt đầu từ thời nhà Hán, thế kỷ thứ II trước Công nguyên, sự uyên thâm của Yi [I Ching] (một cách phiên âm khác củaKinh Dịch – NNC) hoặc Kinh Dịch phát triển theo hai truyền thống. Truyền thống đầu tiên được phát triển trong thời nhà Hán và đã được gắn nhãn Shushu xi [Trường phái Phương pháp và Con số] và/ hoặc Xiangshu xi [Trường phái Kí hiệu và Con số], chủ yếu liên quan đến hoạt động của hệ thống 1 cho chức năng bói toán, do đó, nó cố tránh triết lý, để ít sử dụng những lời chú giải. Ngay cả trong “Các cụm từ đi kèm“, chúng tôi có thể xem như một chức năng.

Khi bát quái phân cấp, [cơ bản] hình ảnh đã có mặt ở trong chúng… Và như vậy, khi chúng được nhân đôi lên, những đường nét vẫn có mặt ở trong chúng… Khi những đường liền mạch và đứt quãng thay nhau, sự chuyển dịch có ngay ở trong chúng. May mắn, bất hạnh, hối tiếc, và ân hận tất cả đều được tạo từ các đường di chuyển. (Lynn 1992: 74-75).

Truyền thống thứ hai, phát triển hoàn chỉnh trước thời Lưu Hiệp, là sự quan tâm đến triết lý của Kinh Dịch và do đó quan tâm hơn đến các bản chú giải (Mou 1974: 89-99). Nó được gọi là Yili xi [Trường phái Ý nghĩa và Suy luận].

Cách đọc Kinh Dịch của Lưu, chắc chắn, không phải là phát minh của riêng ông ta, nhưng qua các siêu văn bản trung gian của những người khác, đặc biệt là của Vương Bật và Hàn Khang Bá, đệ tử của Vương. Lưu ca ngợi giải thích của Vương là “chính xác và sáng sủa” và khẳng định nó có thể dùng như là một “mẫu mực” (Liu i.465-522: 205). Những siêu văn bản, không giống như các luận giải của học giả Hàn, rất xuất sắc trong văn ngữ, là đặc trưng bởi sự quan tâm của chúng trong các vấn đề siêu hình. Cùng với những kinh sách của Đạo giáo của Lão Tử và Trang Tử, Kinh Dịch được coi là một trong ba “bí ẩn” [san xuan]. Lưu Hiệp tìm thấy trong Kinh Dịch cơ sở triết học của khái niệm văn học, đặc biệt các khái niệm về bản thể học dựa trên dao (đạo), và khái niệm của sự tiến hóa, dựa trên yi (dịch) [Thay đổi].

Trước khi chuyển sang Lưu Hiệp, tôi sẽ cung cấp cho một ví dụ khác để hiển thị các chuyển vị của hệ thống ký hiệu phi ngôn ngữ có liên quan đến các hào (yao) và quẻ (gua), các cụm động từ được gán cho hào và quẻ, và các bình luận của Khổng Tử, mà tiếp tục nhận xét của Vương Bật và Hàn Khang Bá, là những bậc tiền bối của ông Lưu. Ví dụ, tôi nghĩ, sẽ làm sáng tỏ cách Lưu Hiệp viết lại trên bản palimpsest (một loại giấy viết chữ làm bằng da cừu) của Kinh Dịch và thực sự trên thân thể của Khổng Tử thông qua mô hình thứ hai của sự ngụ ý.

Phần thứ nhất của Chương tám của Luận giải về các cụm từ đi kèm ghi nhận cách đọc của Khổng Tử về một số ký hiệu quẻ dịch của ông. Một ví dụ bắt đầu với câu:

“Gọi con sếu trong cảnh tối tăm;

Con non của nó trả lời.

Tôi có một cái ly có chân rất đẹp;

Tôi sẽ chia sẻ nó với bạn.” (Lynn, 1992: 57)

Bất cứ ai quen thuộc với các phương thức sáng tạo thơ của Kinh thi sẽ bị ảnh hưởng bởi một cảm giác ký ức ảo. Đầu tiên, hiện tượng tự nhiên là nguyên cớ của tình cảm con người. Nhưng đọc thơ như vậy sẽ bị nhầm lẫn, nó phải được ngữ cảnh hóa (recontextualized) như một sự giải mã lời nói của quẻ Trung Phu (Zhongfu, quẻ 61 trong Kinh Dịch – NNC) [Chân thành] có ký hiệu là   . Bây giờ câu trên là một lời nói tương đương hai đường liền dưới cùng, được gọi là “cửu nhị” là dương hoặc hào dương. Đường liền này, có thể nói, bị “đè nén” bởi hai đường đứt nét phía trên, tương tự được gọi là “lục tam” và “lục tứ”, đó là âm hoặc hào âm, nhưng nó được lặp đi lặp lại bởi đường liền thứ năm phía dưới, một lần nữa là dương hoặc hào dương. Các mối quan hệ giữa các đường liền và đường đứt nét đã được gán nghĩa đầu tiên và thứ hai là gán chất thơ. Như vậy, tiếng nói của người đầu tiên được giả định, kỳ lạ với chúng ta nhưng không kỳ lạ khi đến tai của những người sử dụng Kinh Dịch, bởi các đường liền “cửu nhị” được nhân hóa, so sánh nỗi bất hạnh của mình như một con sếu kêu trong bóng tối của hai đường ngắt quãng “lục tam” và “lục tứ”, và nhận thông điệp mời gọi thức uống là đường “cửu ngũ” không đứt đoạn.

Các mối quan hệ thời gian và quan hệ nhân quả giữa hào “cửu nhị”, một thành phần của quẻ và một bài thơ tương ứng vừa phức tạp vừa hấp dẫn. Người ta có thể nói quẻ (sơ bản của quẻ) làm nảy sinh bài thơ, do đó về sau nó là một siêu văn bản, nhưng có thể nói công bằng rằng các quy ước thi ca của thời điểm đó phục vụ như là một liên dấu hiệu (interpretant) cho nhà phê bình nhằm giải mã các quẻ khó hiểu. Dù sự thật, một điều có vẻ chính đáng, những tác phẩm Kinh Dịch Kinh Thi liên văn bản lẫn nhau.

IV. Hùng biện và Phê bình

Câu chuyện của chúng ta vẫn còn chưa hoàn thành. Nó phức tạp hơn bởi Khổng Tử, người đi xa đến mức bàn về luân lý tình trạng của hào (yao):

Người quân tử phải ở trong phòng của mình, nhưng nếu những lời anh ta nói đều là về lòng tốt, ngay cả những người nóng nảy gấp hàng ngàn lần lập tức sẽ đáp ứng và chấp thuận anh ta, làm thế nào để có nhiều người hơn đang ở gần đó làm như vậy! Nếu anh ta ở lại trong phòng của mình và lời nói của anh ta không phải là về sự tốt lành, thì người nóng nảy sẽ đi ngược lại với anh ta, và làm thế nào nhiều người đang ở gần đó làm như vậy! Lời nói phát ra từ một người và nó được dành cho nhiều người. Những viêc làm bắt đầu trong những gì là gần và xa. Lời nói và việc làm đối với người quân tử cũng giống như bản lề của chiếc cửa và cái cò của chiếc nỏ vậy. Chính lúc mở cửa ra hay khi thả cò làm nên sự khác biệt giữa danh dự và nhục nhã. Lời nói và việc làm chính là những phương tiện mà người quân tử dùng để di chuyển thiên địa. Vì vậy, một người quân tử làm sao có thế không lưu ý kỹ càng đến lời nói và việc làm của mình! (Lynn 1992: 58)

Câu nói của Khổng Tử rất khác biệt so với từ [ci] của tượng [xiang]. Trong cách diễn đạt thành lời đó, chỉ cần cao hơn mình một mức, ngữ nghĩa đã giới hạn trong bốn từ: ji (cát), xiong (hung), hui (hận), lin (lận) [may mắn, bất hạnh, hối tiếc, và sự hối hận] và những từ đi kèm có thể đoán được trước. Tuy nhiên, lời diễn giải của Khổng Tử đã mở rộng những từ kèm theo và hướng đến điều răn dạy, đạo đức cho thông điệp đơn giản trước. Điều này chắc chắn đòi hỏi phải luyện tập khả năng thuyết phục và năng lực sử dụng thuật hùng biện. Ví dụ điển hình như trong cuốn “Luận giải về những cụm từ đi kèm” do Hàn Khang Bá hoàn thành trong một thời gian khá ngắn (khoảng một thế kỷ) trước thời Lưu Hiệp. Tôi cho rằng đây là bước ngoặt trong học thuật Kinh Dịch. Từ điểm này, bước tiếp theo là phê bình văn chương.

Sự bổ sung của ngôn ngữ vào quẻ dịch phi ngôn từ mà Khổng Tử và các nhà chú giải Hàn đã thực hiện là đặc trưng của học thuật Kinh Dịch và cũng là duy nhất trong truyền thống luận giải của các tác phẩm kinh điển. Đây là chiến lược mà Lưu Hiệp đã kế thừa gần như nguyên bản. Lưu đã mở đầu kiệt tác của mình bằng lời giới thiệu mang tính tự truyện mà ở đó ông đã đồng nhất dòng phái của mình với bậc thầy về dẫn giải Khổng Tử trong một viễn cảnh trong mơ.

Khi còn là một đứa trẻ mới lên bảy, tôi đã mơ về những áng mây đầy màu sắc như dải lụa kim tuyến, tôi bay lên và hái lấy chúng. Khi hơn ba mươi, tôi mơ mình cầm trong tay những chiếc bình phủ sơn sang trọng, theo bước Khổng Tử đi về phương Nam. Sáng hôm sau tôi thức giấc tràn ngập trong hạnh phúc và vô cùng thoải mái. Thực sự rất khó khăn để được nhìn thấy bậc hiền nhân, nhưng ngài đã hiện ra trong giấc mơ của kẻ hèn mọn này! Tự cổ chí kim chưa từng có ai được như Thầy. Đến khi tôi ước ao được truyền bá và tán dương lời giáo huấn của Ngài, còn cách nào tốt hơn là viết bài diễn giải về những tác phẩm kinh điển ấy” (Liu.465-552:5).

Kinh Dịch đóng vai trò như văn bản gốc để Lưu Hiệp giải nghĩa, định hình và nêu rõ ý tưởng của mình về văn chương. Bởi vì bản chất không cụ thể của nó, nguyên bản này không thể có giới hạn như những gì Gérard Genette (1979) đã mô tả như là một nhận thức về thể loại, nhưng trước hết nó cung cấp một “không gian suy lý” (Culler 1981: 103), một tài liệu nguyên gốc mà Lưu sử dụng trên cả hai cấp độ biểu hiện và nội dung, nó cũng cung cấp cho Liu những chiến lược cho sự diễn giải của ông về nguồn gốc, phân kỳ, thể loại, quá trình phát triển và phong cách. Người ta có thể nói rằng các giả định của Văn tâm điêu long dự đoán trước cho Kinh Dịch và Kinh Dịch củng cố lại tính dễ hiểu của Văn tâm điêu long. Nhân đây,  chúng ta có thể đề cập đến, trong quá khứ, con vật đã chi phối thế giới ký hiệu học trong Kinh Dịch cũng chính là loài rồng vật tổ, và rằng con vật siêu hình này đã biến thành một biểu tượng nghệ thuật trong văn chương của Lưu. Theo các nghiên cứu ngữ văn, và do vậy theo một ý kiến khác, trong số năm mươi chương của Văn tâm điêu long, chỉ có hai chương không liên quan trực tiếp đến Kinh Dịch (Wang 1975).

Cách làm của Lưu trong Kinh Dịch phổ biến đến nỗi hầu như tất cả những vấn đề về văn học ông tranh luận đều có thể được truy nguyên từ nền móng siêu hình của nó. Chúng bao gồm bốn lĩnh vực nghiên cứu, được giải nghĩa và thể hiện trong cách nói hiện đại, là: (1) bản thể học, (2) nhận thức luận và nhận thức, (3) đánh giá, và (4) hình thức, và chúng bao trọn cả ngữ nghĩa văn học và ngữ dụng học. Và tất cả các khía cạnh này đều liên quan đến hai tác phẩm đan chéo nhau đó. Khi sự nối kết của Lưu những vấn đề trên luôn được đưa ra, được trung chuyển bởi Kinh Dịch, nó làm cho tác phẩm của Lưu được viết lại, một siêu văn bản của nguyên bản đó là Kinh Dịch, hoặc đúng hơn, Kinh Dịch và Văn tâm điêu longliên văn bản.

Ý niệm của Lưu về nguồn gốc của văn chương, và vì vậy “văn chương” với ý nghĩa xác thực nhất của từ này, là “logocentric” (tâm luận). Như đã nói trong Nguyên đạo (Yuandao), nó bắt nguồn từ Thái Cực (Taiji) [Khởi thủy ban đầu], từ đó phân ra thành âm và dương, tương ứng với những đường vạch liền và vạch đứt quãng. Hai lực lượng này được kết hợp và được trung chuyển bởi một lực lượng thứ ba, biểu diễn bằng một đường thứ ba, cho dù vạch liền hay vạch đứt, đều tượng trưng cho nhân loại. Sự tương tác giữa các mối quan hệ nguyên thủy giữa tự nhiên và con người được thể hiện một cách trừu tượng bằng quẻ. Phần hai của Luận giải về những cụm từ đi kèm, vì vậy mà mở đầu bằng mô tả sau:

Khi bát quái tạo thành các cấp bậc, [cơ bản] những hình ảnh đã hiện diện trong chúng. Và như vậy, khi họ [các nhà hiền triết] nhân đôi chúng, những dòng đã có mặt trong chúng. Khi họ thay đổi phần nhu và cương với nhau [tức là, mạnh mẽ và yếu đuối, dương và âm bát quái], sự thay đổi cũng có trong chúng. Khi họ gắn cụm từ vào các đường nét và biến chúng thành huấn thị, cách thức di chuyển dịch những đường nét cũng có mặt trong chúng. May mắn, bất hạnh, hối tiếc, và ân hận tất cả đều được tạo ra từ cách di chuyển đường này. (Lynn 1992: 75-76).

Toàn bộ hệ thống, chắc chắn rằng, cấu tạo nên con người, được biểu hiện một cách ngắn gọn trong một cụm từ của Phần thứ nhất trong cuốn Luận giải. Mô tả về nguồn gốc hình thành ký hiệu trong cách đọc Kinh Dịch, theo bản dịch của Lynn, “nhà hiền triết đặt ra quẻ dịch và tuân thủ những ý niệm” (1992: 49).

V. Kí hiệu học toàn thư

Xin được tạm dừng ở đây để bàn sang một vấn đề khác về quy tắc sắp xếp lại kí hiệu. Tôi sẽ đưa ra các thể hiện sau đây với mục tiêu thể hiện mức độ khác nhau của sự tái sắp xếp.

1. Các nhà hiền triết đã thiết lập quẻ (gua) để quan sát tượng (xiang), chú giải thêm với các từ (ci), để nói về hung (xiong) hoặc cát (ji).

2. Các nhà hiền triết đã thiết lập một hệ thống ký hiệu để quan sát hiện tượng, và nối kết vào hệ thống ngôn ngữ để nói về điềm báo bệnh tật và/ hay sức khỏe.

3. Các nhà hiền triết đã thiết lập quẻ dịch hiển thị tất cả các kết hợp và hoán vị; và nối vào một hệ thống ngôn ngữ diễn giải, tức là, giải thích bằng văn bản, để hiển thị điềm báo bệnh tật hoặc tốt lành.

4. Các nhà hiền triết đã thiết lập các dấu hiệu (ý niệm (representamen) + đối tượng (object) + sự biểu thị (interpretant), hoặc cái biểu đạt (signifier) + cái được biểu đạt (signified)), khái niệm hóa những gì nó biểu thị, và cố gắng giải thích nó với các dấu hiệu ngôn ngữ.

5. Các nhà hiền triết đã thiết lập hệ thống ký hiệu 1 để quan sát một hệ thống ký hiệu 2, và nối vào hệ thống ký hiệu 1 để giải thích thêm hệ thống ký hiệu 3.

Số 4 và 5 sẽ là ví dụ của những gì tôi gọi tái sắp xếp ký hiệu hoặc chỉnh sửa lại những điều phổ biến sáo rỗng của học thuật Kinh Dịch (Chang 1998). Nhưng những hệ quả của nó có thể khác vì các câu hỏi nêu ra khác nhau. Ví dụ, người ta có thể hỏi: “Có phải kí hiệu bề ngoài của Xiang [hình ảnh, kí hiệu, và chiết tự, voi] hoặc kí hiệu bên trong của nó là các hệ thống cụ thể hay liên hệ thống?” Theo Charles Sanders Peirce và Ferdinand de Saussure, khái niệm biểu thị [của cái biểu đạt (signifier)] và đối tượng của ý niệm chuyển hóa thành kí hiệu, là một phần của nó, hơn là có một cuộc sống bên ngoài kí hiệu.

Những quan hệ ký hiệu học của các trích dẫn ở trên từ Kinh Dịch, trong đó Lưu Hiệp đã sử dụng rất nhiều, không thể nhấn mạnh quá. Thứ nhất, cả hệ thống phi ngôn ngữ và lời nói đều là hệ thống cụ thể. Thứ hai, chuyển vị của hệ thống là có thể, nhưng họ phải tính đến đặc trưng của hệ thống. Thứ ba, bởi vì ngôn ngữ tự thân nó có sự diễn giải và hệ thống diễn giải, tất cả sự diễn giải được tạo ra và tất cả các loại diễn giải đã sử dụng được cung cấp bởi hệ thống 1 (Benveniste 1974). Cuối cùng nhưng không kém phần chắc chắn, trong trường hợp của Văn tâm điêu long, Lưu Hiệp đã phát hiện những dấu hiệu trừu tượng trong tác phẩm nghệ thuật của nhà hiền triết, đặt nền tảng cho lý thuyết phê phán của ông và đóng vai trò như nội dung cho các nguyên tắc tổ chức của sự chuyển đổi hoặc sự xâm lấn. Ông gọi điều này là văn (wen), trong đó đề cập với “mô phỏng”, hoặc “thông điệp”, hoặc bằng lời nói hoặc không lời. Khi ông đặt nó trong đoạn trích của chương hai mang tên Nguyên Đạo [On Tao, Nguồn]:

Mô hình của con người có nguồn gốc từ đấng tối cao, đấng sau cùng. “Bí ẩn trợ giúp các vị thần, những hình ảnh của Kinh Dịch là biểu hiện đầu tiên của mô hình này. Phục Hi bắt đầu [Sách Kinh Dịch] bằng cách vẽ [bát quái], Khổng Tử đã hoàn thiện nó bằng cách viết “thập dực” (10 cánh) [Một trong những thập dực], “Văn ngôn” (Wen-yen) hoặc “mô hình của từ”, được viết đặc biệt để giải thích “Ch’ien” [Càn] và “Côn” [Khôn]. Mô hình của từ thực sự thể hiện cái tâm của vũ trụ! (Liu i.465-522: 15).

Bây giờ, mô hình của con người bao gồm cả hệ thống dấu hiệu đồ họa phi ngôn ngữ, những gì tôi mô tả trước đó là biểu tượng ký hiệu số hoặc hệ thống kí hiệu tượng trưng (semasiography), và sau đó là chuyển vị hệ thống văn tự, định nghĩa đầy đủ là văn (wen) được hiểu theo nghĩa rộng. Mô tả dẫn chứng của Lưu Hiệp, chữ dùng của Kristeva (1974) là “thetic phase”, thiết lập ý nghĩa của con người, tức là, thời điểm kỳ diệu khi con người biết sử dụng ngôn ngữ để xây dựng thế giới và bản thân mình.

Giờ đây với sự xuất hiện của tâm trí, ngôn ngữ được tạo ra, và khi ngôn ngữ được tạo ra, chữ viết cũng xuất hiện. Điều này là tự nhiên. Khi chúng ta mở rộng quan sát của chúng ta, chúng ta thấy rằng tất cả mọi thứ, cả động vật và thực vật, có mô hình của riêng mình. Rồng và phượng báo trước sự kiện kỳ diệu thông qua sự xuất hiện đẹp như tranh của chúng, hổ và báo gợi nhớ cá tính đạo đức của người đàn ông trong trạng thái khác nhau về sọc và đốm màu sắc của chúng. Khắc chạm màu của  đám mây vượt trội hơn những bức tranh trong vẻ đẹp của chúng, và sự ra hoa của cây không phụ thuộc vào những thợ thêu với sự ân điển tuyệt diệu của họ. Có thể các tính năng này có được là do trang sức bên ngoài? Không, tất cả chúng đều tự nhiên. Hơn nữa, âm thanh pha trộn của gió rừng tạo ra những giai điệu tương đương với âm thanh của một ống sậy hoặc đàn luýt, và âm nhạc được tạo ra khi mùa xuân dừng trên một hòn đá du dương như nhạc chuông của một dụng cụ bằng ngọc bích hoặc chiếc chuông. Vì vậy, chỉ khi thiên nhiên tự biểu thị chính nó trong cơ thể vật lý có mô hình chất dẻo, đồng thời, khi nó biểu thị chính nó trong âm thanh, cũng có mô hình âm nhạc. (Liu i.465-522: 13-15).

Đoạn văn trên hoàn toàn chứng minh Lưu Hiệp tự nhận mình là một thành viên của Eco như ký hiệu học toàn thư (Eco 1983). Ông tạo ra một đối tượng ngôn ngữ ký hiệu học, một văn bản, nếu bạn biết, trong đó sử dụng ngôn ngữ để mã hóa các hiện tượng tự nhiên trong lời nói của mình, văn hoặc “mô phỏng”. Mô phỏng là dấu hiệu hoạt động âm giai từ một quẻ đơn giản để tạo ra văn học tinh xảo. Chúng tạo thành cột dấu hiệu không thể nhầm lẫn giữa biết chữ/ văn học, và chi phối tất cả các thể loại lịch sử và các hình thức mà Lưu Hiệp đề cập trong các chương tiếp theo. Thực tế, trong Kinh Dịchvănđược định nghĩa như là nơi mà các mô phỏng hay các văn bản va chạm.

Lưu Hiệp thực sự đề cập đến nó theo cách người xem bói vẫn thực hành nghệ thuật huyền diệu của mình, ngay cả trong phân chia biểu tượng của tác giả về 50 chương trong văn bản, theo thứ tự của bói toán bằng một chiến lược duy nhất về khái niệm và sự thay đổi liên tục của thuật hùng biện. Hãy để tôi đưa ra một ví dụ cho thấy lợi ích của mình trong mô phỏng nguyên thủy của Kinh Dịch. Trong chương đầu với tựa đề Zhengsheng [Bằng chứng từ nhà hiền triết], Lưu cố gắng để chiếm dụng cách thức của bói toán để biện luận và tạo ra văn phong (Huang và Zhang 1986: 369). Cách đọc văn bản khó hiểu:

Đặc trưng chủ yếu của chữ viết là phán đoán phê bình của ông [Nhà hiền triết] biểu tượng cho các quẻ kuai, và đặc trưng chủ yếu của chữ viết là logic rõ ràng của ông là các mô phỏng sau quẻ li. (Liu i.465-522: 25).

Để minh họa, chứng minh, mô tả văn phong của mình, sau đó Lưu trích dẫn Kinh Dịch rằng:

“Khi mọi thứ đã được phân biệt chính xác và ngôn ngữ biểu hiện chúng cũng được thực hiện chính xác, thì tính quyết định của phê bình được hoàn tất.” (Liu i.465-522: 27).

Phong cách của hiền triết được ghi nhận là một ngôn ngữ quan trọng kiên quyết bắt nguồn từ kinh (jing), thực sự là cách đọc dấu hiệu.

Trong cùng một cách như nhà hiền triết lấy cảm hứng từ các dấu hiệu dự đoán cho hiệu năng ngôn ngữ của mình, Lưu cũng nhận thức Kinh Dịch như là một kho tàng liên văn bản phong phú. Trong một chương đặc biệt sử dụng các cổ mẫu văn học và các ám chỉ, ông đề cập đến quẻ của Daxu, có nghĩa là “lưu trữ lớn” [Lynn dịch là “Sự thuần hoá vĩ đại”]. Ông nói:

Lời bình luận của Hsiang về quẻ Đại Súc (Ta-ch’u) nói: “Người đàn ông khôn ngoan tự mình biết những lời nói từ thời cổ và hành động trong quá khứ”, do đó, có thể là nó được bao trùm trong phạm vi của văn học viết. (Liu i.465-522: 395)

Đây là một trích dẫn trực tiếp từ chú giải của kí hiệu quẻ [tượng (xiang)], nơi mà quẻ Cấn (gen) chồng trên quẻ Càn (qian). Dấu hiệu đại diện cho hiện tượng khi trời được bao bọc bởi các dãy núi, và được hiểu là biểu tượng của kho đạo đức phong phú của nhà hiền triết trong tâm của mình (Wang Bi và cộng sự, i.226-249: 81). Nếu chúng ta khảo sát cấp đầu tiên của ngữ nghĩa hóa trong kinh (jing), ví dụ, trong các cụm từ gắn liền với hào (yao), quẻ (gua), và tượng (xiang), người ta sẽ thấy hầu như không có gì như pháp điển hóa dự đoán. Những cách đọc có thể xuất hiện đơn giản, tại những thời điểm trái ngược, vào các thời điểm bất kỳ, nhưng, có hệ thống.

Nhìn trên diện rộng và toàn diện, mô phỏng là một khái niệm mơ hồ để ký hiệu. Sau khi khởi hành từ thiên nhiên, nó thu được những cấu hình bằng ngôn ngữ, có thể nói như nhà thơ, âm thanh của hình dạng và hình dạng của âm thanh. Sẽ là hữu ích để kiểm tra khái niệm văn (wen) của Lưu ở cả hệ thống các mô phỏng sơ cấp và hệ thống mô phỏng thứ cấp. Mô phỏng sơ cấp với mối quan hệ đối ứng giữa văn là dấu hiệu tự nhiên và văn như mô phỏng của con người (của ngôn ngữ), và tất cả các cận mã (subcodes) thứ cấp tạo thành nhiều thể loại và phong cách cụ thể. Trong thực tế, nghiên cứu thực nghiệm của Lưu về thể loại trước thời ông trong phần đầu của Văn tâm điêu long, chẳng hạn như “Chú giải thơ ca”, “Phân tích các Sao”, “Sự minh bạch của Fu”,… tất cả có thể coi như là minh họa cho các chức năng mô phỏng thứ cấp của văn. Mối quan hệ giữa (1) văn tự nhiên, (2) văn như toàn bộ các khía cạnh của mô phỏng sơ cấp của ngôn ngữ, dù là âm vị học, cú pháp, hoặc ngữ nghĩa, và (3) văn như các tính năng chung chung và phong cách trong mô phỏng thứ cấp có thể được trình bày bởi hai lớp biểu thức/ nội dung cấu trúc:

Bảng 3. Mô phỏng thứ cấp

Nội dung                       Kí hiệu tự nhiên (văn)                Kí hiệu chung loại (văn 2)

Biểu hiện                      Kí hiệu con người (văn 1)          = Kí hiệu ngôn ngữ (văn 1)

Thực tế ở đây là ngôn ngữ con người phục vụ như là biểu thức có khả năng, trong ngữ cảnh khác nhau, đại diện cho cả hiện tượng tự nhiên và chung loại và mã phong cách nghệ thuật là sự hiếu kỳ, nhưng hợp lý, và tinh tế hơn với lịch sử của ngữ nghĩa luận, là đặc điểm của Kinh Dịch. Tương tự như là chức năng biểu hiện của văn làm minh chứng điều hòa hai loại nội dung: bản chất và thể loại.

VI. Kết luận

Trong một bài viết trước đó (Chang 1998), tôi mạo hiểm vào sự giằng co giữa logic và hùng biện trong các tác phẩm kinh điển thời Tiên Tần, có thể đặt nền tảng suy lý của “ký hiệu học” hoặc tại bất kỳ sự chỉ dẫn nào để điều tra hệ thống của chúng tôi về bản chất và chức năng của các ký hiệu. Cho dù bằng ngôn từ hoặc phi ngôn từ, các dấu hiệu mà chúng tôi đã xử lý luôn được liên văn bản. Tính năng liên văn bản này, như đã minh chứng trong Kinh Dịch, đúng với dấu hiệu như trình bày, như là một dấu hiệu rõ ràng mà từ đó suy luận về một điều gì đó tiềm ẩn có thể được thực hiện, hoặc như một cử chỉ bằng ngôn từ hoặc phi ngôn từ được tạo ra với mục đích giao tiếp. Hệ thống ký hiệu phi ngôn từ của tượng (xiang) sau sự “logic” đơn giản của riêng nó của nhị phân luận, và rằng hệ thống đơn giản ngay lập tức “ô nhiễm”, có thể nói, bởi sự chồng lên của từ (ci).Việc chuyển đổi các hệ thống dấu hiệu từ phi ngôn ngữ đến ngôn ngữ (trong trường hợp Kinh Dịch), từ ngôn ngữ đến văn học hay từ “sáng tạo” đến “lý thuyết” (trong trường hợp của Văn tâm điêu long), nếu không có sự tái siêu ngữ, không thể giảm mối quan hệ đối ứng giữa đối tượng ngôn ngữ và siêu ngôn ngữ. Ở đây, cấu hình Hjelmslevian của biểu hiện/ nội dung sẽ giúp đánh giá sự tác động qua lại giữa đối tượng ký hiệu học và siêu ký hiệu học của hai văn bản được nghiên cứu (Hjelmslev 1943).

NNC.

(Nguồn: The American Journal of Semiotics 23.1-4 (2007), 1-18 ISSN 0277-7126.

Website: www.forex.ntu.edu.tw/download.php?…318…)

 Nguyễn Ngọc Chiến dịch

 

 Chú thích


[1]   Cho đến nay đã có hàng chục những kho sách cũng như các vấn đề đặc biệt về chủ đề này trong các tạp chí quan trọng, như là Thơ: xem xét các lý thuyết và phân tích văn học 20 (1976), Các dấu 11.4 (1981), Văn bản: xem xét và phê bình của lý văn học 2 (1983), tạp chí American Journal của ký hiệu học (1985). Ví dụ, xem các cuộc điều tra của Morgan (1985) và gần đây, Bernardelli (1997), Yip (1988) là một trong một vài bài đối phó với kái niệm cổ điển Trung Quốc. Cho một so sánh ngắn gọn của hai truyền thồng, xem Fokkema (2000). Bài này ban đầu được trình bày tại các Hội nghị quốc tế về vấn đề thẩm mỹ học ở Đại học Bắc Kinh, Trung Quốc (7-10 tháng 4 năm 2001).

[2]    Ghi chú: những xác định về liên văn bản gần đây của Rifaterre như là một mối quan hệ cấu trúc trừu tượng: “mạng lưới của các mối quan hệ giữa văn bản và các văn khác tạo thành liên văn bản” (1997:23).

[3]   Tại sao ở tuổi năm mươi? Năm mươi có vẻ là một con số nối kết lỳ lạ với Kinh dịch. Theo “Các cụm từ kèm thêm”, “Số lượng mở rộng [thực hành và suy luận] là 50 [cọng cỏ thi]. Trong số này, chúng tôi sử dụng 49” (Lynn 1992: 60). Lưu Hiệp nói, “sự thừa nhận nguyên tắc và định nghĩa các thuật ngữ được thể hiện ở số lượng các thay đổi lớn, nhưng chỉ có 49 chương được sử dụng cho sự giải thích văn học”. (Liu i.465-522: 7)

[4]   Nhị nguyên luận của Hệ thống 1 và sự thiếu rõ ràng của tính logic ở trục biến đổi từ Hệ thống 1 sang Hệ thống 2 và thực sự Hệ thống 3 đã thông báo về cấu trúc 49 chương của Lưu Hiệp và khả năng biến hóa của các khái niệm trong đó.Hai mươi bốn quy tắc của Sikong Tu nên được soi sáng ở góc độ này. Xem ví dụ, thứ tự 24 là liudong [di chuyển] được chú giải trong Kinh dịch “Luôn luôn di chuyển, tràn ngập vũ trụ, đột biến của Trời và Đất, tan biến như thế này”.

[5]    Thích hợp để gọi hệ thống của bát quái và quẻ dịch tiền chữ viết. Quỹ tích dưới thảo luận giải quyết nguồn gốc của văn bản, và ngay lập tức sau khi ám chỉ của ông đối với sáng chế về các mô hình của Phục Hi, Lưu Hiệp đề cập đến tiền văn bản, bao gồm cả ký tự “dây thắt nút” và “sự đánh dấu của loài chim” (Liu i.465 -522: 17).

Tài liệu tham khảo

1.         BENVENISTE, Émile (1974), Kí hiệu học ngôn ngữ, trong Các vấn đề chung trong ngôn ngữ học II (Paris: Gallimard, 1974), 43-66, dịch là “The Semiology of Language” bởi Genette Ashby và Adelaide Russo, Phụ lục Kí hiệu đặc biệt (Berlin: Mouton de Gruyter, 1981), 5-23. Trang tài liệu tham khảo trong bài viết này là bản dịch tiếng Anh.

2.         BERNARDELLI, Andrea (1997), 30 năm khái niệm liên văn bản: 1967-1997, VERSUS: quaderni di studi semiotici 77/78(Tháng 5 – Tháng 12, Milan: Bompiani), 3-22.

3.         CHANG, Han– liang (1988), Tranh luận trên ngôn ngữ: Hướng đến ký hiệu học Tiên TầnPhỏng vấn Tamkang 28.3, 1-29.

4.         CULLER, Jonathan (1981), Giả định và liên văn bản, trong Kí hiệu của Pursuit: Kí hiệu học, Văn học, Giải cấu trúc(Ithaca, NY: Đại học Cornell ấn bản), 100-18.

5.         ECO, Umberto (1983), Những đề xuất về lịch sử ký hiệu học, trong Sự mở rộng ký hiệu học, Tasso Barbé biên tập (Berlin: Mouton de Gruyter), tập 1 của 3, 75-89.

6.         FOKKEMA, Douwe (2000), Viết lại: Các hình thức viết lại trong truyền thống Trung Quốc và Châu ÂuVăn học so sánh: Đông và Tây 1,3-14.

7.         GELB, Ignace J (1963), Nghiên cứu văn bản (tái bản lần 2, Chicago: Đại học Chicago ấn bản).

8.         GENETTE, Gérard (1979), Giới thiệu về nguyên bản (Paris: Seuil), dịch là The Architext: An Introduction bởi Jane L.Lewin (Berkeley: Đại học California ấn bản, 1992). Trang tài liệu tham khảo trong bài viết này là bản dịch tiếng Anh.

9.         (1982) Bản Palimpsestes: Cấp độ thứ 2 của văn học (Paris: Seuil), dịch là Palimpsestes: Literature in the Second Degreebởi Channa Newman và Clause Doubinsky (Lincoln: Đại học Nebraska ấn bản, 1997). Trang tài liệu tham khảo trong bài viết này là bản dịch tiếng Anh.

10.     GREIMAS, Algirdas Julien, and Joseph COURTÉS (1997 – 1986), Ngữ nghĩa học – Từ điển lý thuyết ngôn ngữ I và II(Paris: Hachette), dịch là Semiotic anh Language: An Analytical Dictionary bởi Larry Crist, và cộng sự (Bloomington: Đại học Ấn Độ ấn bản, 1982). Trang tài liệu tham khảo trong bài viết này là bản dịch tiếng Anh.

11.     HJELMSLEV, Louis (1943), Omkring sprogteoriens grundlæggelse (Copenhagen: Đại học Copenhagen, xuất bản năm 1966 bởi Akademisk Forlag) dịch là Prolegomena to a Theory of Language (Khởi đầu cho một lý thuyết ngôn ngữ) bởi Francis J.Whitfield (Madison: Đại học Wisconsin ấn bản, 1969).

12.     (1959), Kiểm tra ngôn ngữ [= Hoạt động xoay vòng ngôn ngữ học Copehagen 12] (Copehagen: Akademisk Forlag).

13.     HUANG, Shouqi, and Shanwen ZHANG (1986), Shilun zhouyi dui wenxin diaolong di yingxiang [Ảnh hưởng của Kinh Dịch đối với Văn tâm điêu long], Wenxin diaolong xuekan [Tạp chí nghiên cứu Văn tâm điêu long] 4,367 – 393.

14.     JENNY, Laurent (1982), Chiến lược của hình thức, trong Lý thuyết văn học đương đại Pháp: về người đọc, Tzvetan Todorov biên tập (Cambridge: Đại học Cambridge ấn bản), 34 – 63.

15.     KRISTEVA, Julia (1969), Shmeiwtikh: Tìm hiểu ngữ nghĩa học. Bộ sưu tập “Tel Quel” (Paris: Seuil).

16.     (1974), Cuộc cách mạng trong ngôn ngữ thơ: Lautréamont và Mallarmé – những nhà thơ tiên phong cuối thế kỷ XIX(Paris: Seuil), dịch là Revolution of Poetic Language bởi Margrat Waller (New York: Đại học Colombia ấn bản, 1984). Trang tài liệu tham khảo trong bài viết này là bản dịch tiếng Anh.

17.     (1980), Cầu khiến trong ngôn ngữ: Một phương pháp tiếp cận ký hiệu học văn học và nghệ thuật, Leon S.Roudiez biên tập, dịch bởi Thomas Gora, Alice Jardine, and Leon S. Roudiez (New York: Đại học Columbia ấn bản).

18.     LIU, Xie. i465 -522, Wenxin diaolong (Văn tâm điêu long) (Bản tiếng Trung). Dịch tiếng Anh. Vincent Yu-chung Shih, The Literary Mind and the Carving of Dragons (Hồng Kông: Đại học Trung Quốc ấn bản, 1983), là bản duy nhất và được sử dụng trong bài báo này.

19.     LYNN, Richard John (1992), Kinh Dịch: Bản dịch mới về chú giải Kinh Dịch của Vương Bật [Dịch từ cổ Châu Á] (New York: Đại học Columbia ấn bản). Tất cả những trích dẫn tiếng Anh trong văn bản đều lấy từ bản dịch này.

20.     MORGAN, Thais E (1985), Có liên văn bản trong văn bản này hay không?: Văn học và phương pháp tiếp cận liên ngành về liên văn bản?, Tạp chí Ký hiệu học Mỹ 3,4, 1-40.

21.     MOU, Zongsan (1974), Caixing yu xuanli [Nhân vật và Siêu hình học] (Đài Loan: Xuesheng shuju).

22.     (1999), Zhouyi di ziran zhexue yu daode hanyi [Chủ nghĩa tự nhiên và những gợi ý trong Kinh Dịch] (Đài Loan: Wenjin chubanshe).

23.     RIFFATERRE, Michael (1978),  Ký hiệu học của thơ (Bloomington: Đại học Indiana ấn hành).

24.     (1999), Sáng tạo văn bản (Paris: Seuil), dịch là Text Production bởi Terese Lyons (New York: Đại học Columbia ấn bản, 1986). Trang tài liệu tham khảo trong bài viết này là bản dịch tiếng Anh.

25.     (1985), Sự biểu thị trong ký hiệu học văn học, Tạp chí Ký hiệu học Mỹ 3.4, 41-5.

26.     (1990), Đáp lại sự cưỡng ép của bạn đọc: Xu hướng liên văn bản, trong Liên văn bản: Lý thuyết và thực hành, Michael Worton và Judith Still biên tập (Manchester: Đại học Manchester ấn bản), 56 – 78.

27.     (1997), Hệ thống ký hiệu liên văn bản, VERSUS: quaderni di studi semiotici 77/78 (Tháng 5 – Tháng 12, Milan: Bompiani), 23- 34.

28.     SAMPSON, Geoffery (1985), Hệ thống văn bản: Giới thiệu ngôn ngữ học (Standford: Đại học Standford ấn bản).

29.     WANG, Bi, Kangbo HAN, và Xì ZHU. i.226 – 249, i.332-380, i.1130-1200. Wang, Han, và Zhu, Nho sĩ các thời kỳ khác nhau, diễn giải lại Kinh Dịch tương ứng với nhiều ghi chú. Nêu ra bởi hai dị bản cổ xưa được biết đến như Kinh Dịch của Wang Han Zhu [một bản chú thích Kinh Dịch của Wang và Han], và phiên bản của Zhu có tiêu đề Zhouyi Benyi [ý nghĩa ban đầu của Kinh Dịch]. Kinh Dịch của Wang Han Zhu và Zhouyi Benyi được kết hợp và tái bản như Zhouyi erzhong [Chú thích của Wang và Han và Zhu Xi Zhouyi Benyi trong một tác phẩm] bởi các nhà xuất bản, Daan Chupanshe, vào năm 1999 tại Đài Loan. Thẩm định bản dịch của Lynn vào năm 1992 dựa trên ấn bản Trung Quốc.

30.     WANG, Renjun (1975), Wenxin diaolong yong yi kao [Về việc sử dụng Kinh Dịch trong Văn tâm điêu long], trongWenxin diaolong yanjiou lunwenji [Tập hợp các tiểu luận về Văn tâm điêu long], Huang Jin-hung biên tập, và cộng sự.(Đài Loan: Jingsheng), 85-144.

31.     YIP, Wai-lim (1988), Mixiang pangtong: Wenyi di paisheng yu jiaohu yinfa [Vang vọng bí mật và Nắm bắt ở bên], trong Lishi chuanshi yu meixue [Lịch sử, Thông diễn học và Thẩm mỹ học (Đài Loan: Dongda), 89-113.

Nguồn: Tạp chí ĐH Sài Gòn, Bình luận văn học, niên giám 2012

Leave a Reply