TIN TỨC - SỰ KIỆN»

THƯ MỜI VIẾT BÀI THAM GIA HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA “VĂN HỌC VÀ GIỚI” (THÔNG BÁO SỐ 1)

Khoa Ngữ văn, Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế phối hợp với Tạp chí Nghiên cứu văn học – Viện Văn học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đồng tổ chức Hội thảo Văn học và giới. Hội thảo là dịp để các nhà nghiên cứu, giảng dạy văn học trình bày, thảo luận các vấn đề về giới trong văn học, các mối quan hệ liên ngành giữa văn học với các khoa học xoay quanh vấn đề giới.

LÝ THUYẾT PHÊ BÌNH»

Các thế giới khả hữu trong lý thuyết văn học

Khái niệm tính hư cấu (fictionality) có mặt ở trong những diễn ngôn của rất nhiều bộ môn khác nhau và việc hiểu được tính hư cấu, vì thế, cần có một hướng tiếp cận liên ngành. Tính hư cấu là một tính chất chuyên biệt của các văn bản văn học, và chính vì thế, nó hình thành nên một chủ đề khả dĩ đối với nghiên cứu văn học

  • Liên văn bản chưa được xác định

    Vấn đề mà tôi muốn nói đến ở đây là sự nhầm lẫn thường xuyên diễn ra giữa tính liên văn bản (intertextualité) và liên văn bản (intertexte). Liên văn bản là tập hợp các văn bản có thể được coi như là các văn bản mà chúng ta đã có trước đó

  • Ý thức hệ hậu thuộc địa

    “Chủ nghĩa hậu thực dân/hậu thuộc địa” (postcolonialism) là thuật ngữ được sử dụng để định danh cho một loại hình nghiên cứu học thuật liên ngành kết hợp giữa chính trị, lí thuyết và lịch sử; được xây dựng nhằm mục đích tạo ra một diễn đàn xuyên quốc gia cho những nghiên cứu lấy nền tảng là bối cảnh lịch sử của chủ nghĩa thực dân cũng như bối cảnh chính trị của những vấn đề đương đại của quá trình toàn cầu hóa.

  • Chủ nghĩa Marx – phân tâm của Herbert Marcuse

    Dự án kết hợp phân tâm học với chủ nghĩa Marx đã được thực hiện bởi các nhà phân tâm học hậu Sigmund Freud. Bắt đầu từ Wilhelm Reich (1897-1957) qua công trình Chủ nghĩa duy vật biện chứng và phân tâm học (1929), sau đó được Erich Fromm, Herbert Marcuse… kế thừa, triển khai trong nhiều công trình gây tiếng vang lớn.

THỂ TÀI PHÊ BÌNH»

Sự ra đời của văn học so sánh trong thời đại lãng mạn và những bước khởi đầu của nó

Văn học so sánh ra đời trước hết gắn với các tư tưởng là chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa thế giới và chủ nghĩa lịch sử – tất cả đều là sản phẩm của thời đại Lãng mạn.

  • Nhà thơ Nam giới hư cấu giọng nữ

    Theo chúng tôi, hiện tượng nhà thơ nam giới trong văn học Việt Nam hư cấu giọng nữ có thể lý giải bằng một số lý luận khác nhau.

  • Tính phổ biến và tính đặc thù của văn luận phương Đông –phương Tây

    Nói về tính phổ biến, tính toàn nhân loại của văn hóa (trong đó có văn học) và tính đặc thù riêng của từng khu vực văn hóa, từng dân tộc thì giới nghiên cứu đã nói nhiều. Nhưng trong lĩnh vực nghiên cứu so sánh văn luận phương Đông –phương Tây thì vấn đề này hiện còn gây ra những băn khoăn, những tranh luận. Để hình dung rõ điều này, chúng tôi xin chọn phân tích từ góc nhìn so sánh Đông-Tây một phạm trù lý luận của phương Tây-mimesis (mô phỏng) như một nghiên cứu trường hợp.

  • Thủ pháp tự sự mới về nhân vật của Nho Lâm Ngoại Sử

    Ngô Kính Tử là một phong cách hiện thực độc đáo trong tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc. Phong cách đó khiến ta nghĩ đến chủ nghĩa hiện thực kiểu Trekhov trong văn học cổ điển Nga trăm năm sau. Chủ nghĩa hiện thực của Ngô Kính Tử là một chủ nghĩa hiện thực tỏ ra càng “đáng tin”, càng gần gũi với cuộc đời hơn

LỊCH SỬ PHÊ BÌNH»

Trường phái phê bình mới: xưa và nay (3)

Những đóng góp to lớn, có vẻ rõ ràng, của các nhà Phê bình mới cho nghiên cứu văn học đang ngày càng bị phủ nhận hoặc đơn giản là không được nhắc tới. Có lẽ nhiều người ủng hộ các quan điểm khác đơn giản là không thấy rằng chỉ sau khi trường phái Phê bình mới rộ nở ra thì các cơ sở học thuật về “văn học” – các khoa tiếng Anh, các ngôn ngữ hiện đại, văn học đối chiếu, nghiên cứu phụ nữ, nghiên cứu người da đen, ngay cả nghiên cứu Kinh Thánh – mới có được một trình độ đáng kể nào đó về học thuật văn học nẩy nở, và trở thành các đế chế mạnh mẽ về học thuật tại các trường đại học

  • Trường phái phê bình mới: xưa và nay (2)

    Trong suốt thời kỳ thống trị kéo dài của trường phái Phê bình mới, ít nhất đối với những người “quan sát” Phê bình mới, Ransom là tiếng nói bảo thủ, nếu không phải luôn là người phát ngôn được ưa chuộng.

  • Trường phái phê bình mới: xưa và nay (1)

    Xuất phát tại London ngay từ đầu năm 1907, từ cái hơi khá mỏng manh của các ý tưởng ban đầu của chủ nghĩa tân thời của Pound, chủ nghĩa hình thức đã phát triển trong cả nửa đầu thế kỷ 20 và thống trị cách lập luận Anh-Mỹ về phê bình trong suốt 25 năm, kể từ khoảng năm 1935. Những người thực hành chính yếu nhất là T. S. Eliot, I. A. Richards, John Crowe Ransom, Allen Tate, Robert Penn Warren, Cleanth Brooks, và William Wimsatt

  • Văn học so sánh ở Việt Nam từ 1986 đến nay

    Trên thế giới, văn học so sánh – một phân nhánh của nghiên cứu văn học đã xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở châu Âu (năm 1886 được coi là năm khai sinh ra bộ môn Văn học so sánh). Những nước có phong trào nghiên cứu văn học so sánh phát triển mạnh nhất thời bấy giờ là Pháp, Đức, Anh, Mỹ, Thụy Sĩ

CHÂN DUNG PHÊ BÌNH»

CHU VĂN SƠN TÙY BÚT

Chu Văn Sơn về cơ bản là một kẻ duy mỹ. Với nghiên cứu phê bình, anh sắm vai săn tìm, phát hiện Cái đẹp trong những áng văn. Đến lượt tùy bút, anh thủ vai kiếm tìm và biểu đạt Cái đẹp ngoài cõi sống.

  • Đỗ Lai Thúy và phê bình phân tâm học Việt nam

    Trong khoa học, không có lời nói cuối cùng. Những công trình khoa học đích thực bao giờ cũng gợi dậy ở người đọc cảm hứng tranh luận. Đây cũng chính là điểm thành công trong phê bình phân tâm học của Đỗ Lai Thúy. Tác phẩm của ông gợi dậy ở độc giả hứng thú tranh luận ngay ở một vài luận điểm cốt yếu mà ông tỏ ra tâm đắc nhất

  • Thầy tôi

    Nếu như có một người mà lại khiến tôi không bao giờ hết ngạc nhiên về cái gọi là năng lượng tinh thần thì đó chính là thầy tôi, PGS.TS La Khắc Hòa

  • Thiếu Sơn, nhà văn chính trực (1908 – 1978)

    Từ bỏ một vị trí ổn định mà nhiều người mơ ước, Thiếu Sơn chọn sống cuộc đời đạm bạc, dành hết tâm lực và thì giờ vào sự nghiệp đấu tranh cho độc lập dân tộc bằng ngòi bút. Những bài báo của ông trong thời gian này được tập hợp trong tập tiểu luận chính trị Giữa hai cuộc cách mạng (Nxb. Mạch Sống, 1947). Năm 1948, Thiếu Sơn đã từ chối lời mời làm Bộ trưởng Bộ thông tin cho chính phủ Nguyễn Văn Xuân.

NHỮNG VẤN ĐỀ HIỆN THỜI CỦA PHÊ BÌNH»

Nghiên cứu văn học phải trở thành khoa học

Từ trong bản chất, điều duy nhất mà khoa học có thể phục vụ con người ấy là làm cho nó thỏa mãn nhu cầu tìm kiếm chân lí.

  • Trả lời nhà báo Thụy Khuê

    “Không dễ dàng, cũng không dễ chịu, khi phải từ bỏ sự ngưỡng mộ [dành cho Bakhtin] từng được chia sẻ bởi cả một thế hệ, nhất là khi rất nhiều tên tuổi lớn đã tham gia vào việc xây dựng nên sự ngưỡng mộ ấy, và khi sự ngưỡng mộ đó đã tạo cảm hứng cho biết bao nhiêu công trình. Tuy nhiên, các thông tin tích lũy được mà ngày nay chúng ta có đang buộc chúng ta phải từ bỏ, vì sự trung thực của trí thức và vì sự thật” .

  • Vấn đề đánh giá văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới

    Từ 1986 trở đi, khi đã được cởi trói và tự cởi trói nền văn học đã vận hành theo hướng tự do hơn, dân chủ hơn. Các năng lực sang tạo có cơ hội được giải phóng, đánh thức, các tìm kiếm cá nhân được kích thích, tôn trọng. Đó là tiền đề để đổi mới toàn diện nền văn học từ hệ thống quan niệm đến cảm hứng sáng tác, hệ thống thi pháp thể loại, phương thức tiếp cận và phong cách cá nhân.

  • Văn xuôi thế hệ các nhà văn nữ sau 1975- từ diễn ngôn giới

    Trong tiến trình văn học Việt Nam, ở những giai đoạn trước, sự có mặt của nữ giới không chiếm ưu thế. Những năm 60/thế kỉ XX, một số cây bút nữ đã khẳng định vị thế trên văn đàn nhưng chưa thành một lực lượng chủ yếu. Đặc biệt, ở bộ phần văn học miền Nam, đội ngũ nhà văn nữ bắt đầu gây ấn tượng ở số lượng cũng như chất lượng. Dẫu còn nhiều chỗ cực đoan, sai lệch, nhưng văn học miền Nam Việt Nam đương thời ghi nhận sự đóng góp của nữ giới trong thành tựu chung không thể chối cãi

THIẾT CHẾ XÃ HỘI CỦA VĂN HỌC»

Văn học các nước thế giới thứ ba trong kỷ nguyên của chủ nghĩa tư bản đa quốc gia

Một đánh giá từ các cuộc trao đổi gần đây giữa giới trí thức tại các nước thế giới thứ ba đó là: hiện nay đang có một sự trở lại đầy ám ảnh của bản thân vị thế dân tộc. Tên của các quốc gia trở đi trở lại như một hồi chiêng, đánh động tới “chúng ta” và đặt ra cho chúng ta những câu hỏi – chúng ta phải làm gì và làm như thế nào, những gì chúng ta không thể làm và những gì chúng ta làm tốt hơn quốc gia này hay quốc gia kia, đâu là những đặc điểm riêng biệt của chúng ta?

  • Nhân ngày thơ Việt Nam, nhớ lại một bản thảo bị mất

    Các nguồn tài liệu trên hợp thành tập bản thảo mà tôi đặt tên là “Các hội nghị văn hóa toàn quốc, 1946, 1948. Sưu tập tư liệu”, Nguyễn Thành và Lại Nguyên Ân sưu tầm; Lại Nguyên Ân biên soạn. Bản đánh máy chữ dày trên 300 trang giấy khổ A4.Bản thảo được biên tập rồi đưa đọc duyệt, tất cả đều trôi chảy. Chỉ có khâu in ra sách là thành vấn đề. Thời kỳ ấy các NXB đã có loại “sách nhà nước đặt hàng”, làm bằng kinh phí do ngân sách cấp, sách in ra phải dành phần lớn để chuyển cho hệ thống thư viện thuộc các sở văn hóa các tỉnh, hầu như không được bán. Nếu muốn làm sách để bán, NXB phải chịu toàn bộ kinh phí in ấn.

  • Ghi chép từ Hội nghị nhà văn đảng viên 6-1979

    Cuối cùng, Chế Lan Viên còn ngoặc được vào cái ý là nghiên cứu văn học đến đâu chưa nói, nhưng văn viết ra phải có văn. Nếu không, tôi đề nghị lập một cái hội lý luận riêng, chứ không để như thế này mãi được, không để cho các nhà lý luận thô thiển thao túng cả văn chương… Một đề nghị rất hợp lý đấy. Đến mức, sau khi ông Chế Lan Viên nói xong, trong hội nghị thấy truyền tay nhau một cái giấy cáo phó, ý như thể là Chế Lan Viên đã làm một công việc sinh phúc là khai tử cho Vũ Đức Phúc

  • Đề cương Đề dẫn thảo luận ở Hội nghị đảng viên bàn về sáng tác văn học (năm 1979)

    Gần đây trên  trang web của nhà phê bình Vương Trí Nhàn có đăng 2 kỳ  Ghi chép về Hội nghị nhà văn đảng viên ( 6 -1979). Theo Vương Trí Nhàn, ” Sự kiện  6- 1979  chính là báo trước sự kiện 1986 -1990, một bước đổi mới tự phát rồi đến  giữa chừng đảo […]