Văn học so sánh mới với tư cách lý thuyết và phương pháp


Steven Tötösy de Zepetnek (*)

 

Về nguyên tắc, bộ môn Văn học so sánh (VHSS) xét toàn bộ là một phương pháp trong nghiên cứu văn học ít nhất theo hai cách. Thứ nhất, VHSS  nghĩa là sự hiểu biết về hơn một ngôn ngữ và một nền văn học dân tộc, và/hoặc nó nghĩa là sự hiểu biết và vận dụng các bộ môn khác vào và để nghiên cứu văn học; thứ hai, VHSS có mộng tưởng bao gộp cả Kẻ Khác, là một thứ văn học bên lề theo vài nghĩa bên lề của nó, một thể loại, các kiểu văn bản khác nhau. Xét về lịch sử, đúng là VHSS đã cho thấy sự tập trung vào các nền văn học châu Âu, sau đó là vào văn học châu Âu và châu Mỹ, do đó sự phê bình hiện nay nhằm vào thuyết “dĩ Âu vi tâm” của bộ môn là đáng phải chú ý (xem Bernheimer). Tuy nhiên, đồng thời bộ môn này cũng chú ý đến các nền văn học “Khác” nhiều hơn bất kỳ nền văn học dân tộc nào. VHSS thực chất có nội dung và hình thức khiến cho việc nghiên cứu văn học mang tính chất liên văn hóa và liên bộ môn được dễ dàng và nó có một lịch sử chứng minh cho nội dung và hình thức này. Được khẳng định trên sự vay mượn các phương pháp của các bộ môn khác và trên sự áp dụng phương pháp thích hợp vào khu vực nghiên cứu ngôn ngữ đơn lẻ mà nghiên cứu văn học thường có xu hướng bỏ qua, bộ môn này khó định nghĩa vì nó mang tính phân mảnh và đa nguyên. Nhưng nó là một bộ môn có lịch sử riêng biệt và có hứa hẹn. Thêm nữa, triển vọng và phương pháp so sánh đã tự chứng minh là không thể thiếu được trong các bộ môn khác như “sinh lý học so sánh” hay lịch sử, nơi mà như gần đây chúng ta được biết, viễn cảnh so sánh đã cho chúng ta cơ hội tốt để đánh giá lịch sử so sánh có thể đóng góp cho tri thức hiện đại như thế nào… Trong cuốn Trí tưởng tượng so sánh, Fredrickson đã hoan nghênh xu hướng ngày càng tăng lên của giới sử học Mỹ viết sử từ “viễn cảnh so sánh” bằng cách dùng các thí dụ nước ngoài để lý giải cái gì là riêng biệt của xã hội Mỹ.

Và còn sự biện minh nào khác nữa không, ngoài sự quả quyết là VHSS đóng góp cho “tri thức hiện đại” mà chúng ta, các nhà so sánh văn học, đã nêu lên? Trong các cuộc tranh luận mới đây về VHSS, sự cách tân cũng là một vấn đề được quan tâm lớn (và cần thiết). Do vậy, theo mục đích phương hướng và cách làm VHSS của tôi, cũng như về một vài phương diện là cách làm VHSS “Mới”, tôi sẽ đề xuất một phác thảo VHSS dưới dạng một Tuyên Ngôn. Hình thức Tuyên Ngôn vì tôi tin vào lợi thế của sự rõ ràng về mặt thuật ngữ và cách nói “bốp chát” về bộ môn thay vì cách đặt vấn đề thông thường mang tính thăm dò và giả thuyết. Tính vấn đề trong đề xuất của tôi không phải nằm trong bộ môn chung chung, mà là trong việc áp dụng khung lý thuyết tôi đưa ra, một sự áp dụng theo dẫn luận của tôi về VHSS Mới. Mục tiêu kèm theo của tôi ở đây là giới thiệu Cách Tiếp Cận theo lối Hệ Thống và Kinh Nghiệm đối với Văn Học và Văn Hóa, một  cái khung và phương pháp luận mà tôi tin sẽ là cách tiếp cận có tính cách tân lý thuyết và tính chính xác phương pháp luận để nghiên cứu văn học và văn hóa. Và thứ ba, tôi sẽ chứng minh tính hiệu dụng của khung kết hợp – tức là VHSS và các tiếp cận hệ thống và kinh nghiệm – đối với các khu vực, văn bản, vấn đề khác nhau của và trong văn học. Phần cuối công trình có tầm quan trọng đặc biệt: trong khi những trình bày của tôi không phải là một toàn thể cố kết về mặt đề tài thì chúng cho thấy một sự đa dạng lớn, nơi cách tiếp cận tôi đưa ra trong VHSS có thể được áp dụng thành công và bao trùm nhiều lĩnh vực nghiên cứu tiềm tàng về văn học và văn hóa. Điều này cũng quan trọng bởi vì trong bối cảnh chung của việc nghiên cứu văn học và văn hóa, nó là sự ứng dụng một khung lý thuyết, nơi bản chất của mọi cách tiếp cận được chứng thực và hợp thức hóa hoặc tự bị bác bỏ. Tôi cũng muốn nói thêm ở đây rằng trong khi những luận giải của tôi trong sách này là gắn với văn học hiện đại và đương đại hoặc với các vấn đề của văn học, thì cái khung đề xuất vẫn có thể dùng được cho các thời kỳ và các thể loại khác, và tôi đã chứng minh điều này bằng những nghiên cứu về các văn bản văn học thế kỷ XIX, trong khi các học giả dùng cách tiếp cận đó đã công bố một khối lượng lớn các công trình liên quan đến các thời kỳ và các thể loại trên mọi lĩnh vực.

Xem xét lịch sử và tình hình hiện nay của VHSS đã có sự nhất trí về bản chất có vấn đề của nó và trên một số phương diện, tình hình có vấn đề này là rất cấp bách. Susan Bassnett trong cuốn sách nổi tiếng Comparative Literature: A Critical Introduction (1993) đã viết: “Hiện nay theo nghĩa nào đó VHSS đã chết”. Trong khi Bassnett có thể nói đúng là VHSS tại các trung tâm truyền thống – Pháp, Đức, Mỹ – đang trải qua những thay đổi cả về học thuật và thiết chế và sự để mất vị trí là do các yếu tố như nước Anh giành quyền lý thuyết, sự tác động của các nghiên cứu văn hóa, số lượng giảm sút các giảng viên VHSS thì tình trạng vắng mặt này đang diễn ra tại các trung tâm của bộ môn và liên quan đến bối cảnh thuyết “dĩ Âu vi tâm” và trung tâm Âu- Mỹ tự nhiên vốn có của nó. Rõ ràng, câu nói của Bassnett về cái chết của VHSS chính là xuất phát từ thuyết “dĩ Âu vi tâm” mà bà muốn lật đổ và phản đối trong cuốn sách của mình. Và vì vậy, đáng ngạc nhiên là Bassnett lại không chú ý đến sự phát triển mạnh mẽ của bộ môn và triển vọng của nó ở ngoài các trung tâm truyền thống của bộ môn. Trong hai thập niên gần đây VHSS đã cho thấy nhiều hứa hẹn ở một số nước và một số nền văn hóa, nơi bộ môn này chưa phát triển mạnh, hoặc trong một số trường hợp là chưa bao giờ có. Đáng chú ý là trong khi các trung tâm truyền thống của bộ môn – hai ông một bà là Pháp, Đức, và Mỹ – chỉ đang cố gắng duy trì nguyên trạng của bộ môn, thì ở Trung Quốc (đại lục), Đài Loan, Nhật Bản, Brazil, Arhentina, Mexico, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Italia, Hy Lạp, các đại học ở các bang của Đông Đức cũ, bộ môn này đang trỗi dậy và phát triển mạnh mẽ, điều này có thể là do sự xuất hiện các tạp chí VHSS mới, có thêm các giảng viên mới về VHSS, sự tăng lên các ấn phẩm, v.v…

Nhìn vào sự bấp bênh về mặt học thuật đã được bàn cãi nhiều và nguy cơ về thiết chế của bộ môn VHSS thì việc tra vấn và ý muốn xác định lại bộ môn – bất luận trong bối cảnh nào – là một đòi hỏi hợp lý và hợp thời. VHSS vẫn là một cách tiếp cận dàn trận và một bộ môn của nghiên cứu văn học. Thế nhưng, nó cung cấp cuộc đối thoại có ý nghĩa giữa các nền văn hóa và các nền văn học, đấy là một đặc điểm của nó về lý thuyết, trong ứng dụng, ở cấp học cơ sở cũng như cao hơn. Nó vẫn tiếp tục có người ủng hộ, có các sinh viên, các môn đệ, những người này đánh giá cao sự nhấn mạnh của VHSS vào tri thức cũng như sự bao gộp Kẻ Khác vào trong một định nghĩa rộng nhất của quan niệm và thực tại của nó, bản chất quốc tế và toàn cầu của nó, tính liên bộ môn của nó, tính uyển chuyển của nó, mục tiêu của nó cũng như khả năng dịch một nền văn hóa này sang một nền văn hóa khác thông qua các thao tác và tình yêu đối thoại giữa các nền văn hóa. Tuyên Ngôn dưới đây được xây dựng theo cách để bao gồm được các các nguyên tắc lẫn các trở ngại.

Nguyên tắc chung thứ nhất của VHSS là định đề rằng trong nghiên cứu, sư phạm và tìm tòi văn học, điều quan trọng không phải là “cái gì” mà là “thế nào”. Điều này nghĩa là  phương pháp có tầm quan trọng đặc biệt  trong VHSS nói riêng, và do đó, trong nghiên cứu văn học và văn hóa nói chung.

Nguyên tắc chung thứ hai của VHSS là định đề về lý thuyết cũng như phương pháp luận cho sự chuyển động và đối thoại giữa các nền văn hóa, các ngôn ngữ, các nền văn học, và các bộ môn. Tuy nhiên, quan điểm và hệ tư tưởng gốc này thể hiện một trong những trở ngại chính mà VHSS phải đối mặt liên quan đến sự tự sống và tự phát triển của nó. VHSS – kể từ khi khởi đầu vào thế kỷ XIX – đã phải đối mặt với sự đòi hỏi về ưu thế trí tuệ và cảm xúc và theo sau đó là sức mạnh thiết chế, của các ngôn ngữ và văn hóa dân tộc. Vậy nên, những khái niệm gắn kết về sự loại bỏ và sự tự quy chiếu của việc nghiên cứu ngôn ngữ và nghiên cứu văn học đơn độc và kết quả của chúng vạch ra chặt chẽ các ranh giới bộ môn là những khái niệm mà VHSS dựa vào để đưa ra trường nghiên cứu lựa chọn và đối chiếu.

Nguyên tắc chung thứ ba của VHSS là nhà nghiên cứu so sánh phải có cái nền chuyên sâu về mấy ngôn ngữ và nền văn học cũng như các bộ môn khác trước khi nghiên cứu chuyên sâu lý thuyết và phương pháp luận. Tuy nhiên, nguyên tắc này tạo ra một số vấn đề cơ cấu trúc và quản lý trên các cấp độ thiết chế và sư phạm. Chẳng hạn, làm sao người ta được phép phát triển – cả về mặt trí tuệ cũng như về mặt thiết chế – từ trọng tâm vào một nền văn học dân tộc (loại trừ) sang các nguyên tắc bao gộp và liên bộ môn của VHSS? Giải pháp thiết kế VHSS chỉ như một bộ môn sau đại học là không ổn và phản tác dụng. Thay vào đó, cách giải quyết nên là cho phép sự đối chiếu song hành trong cách tiếp cận học thuật, trong cấu trúc thiết chế và trong thực tế quản lý.

Nguyên tắc chung thứ tư của VHSS là nó quan tâm tới nghiên cứu văn học liên quan với các hình thức diễn đạt nghệ thuật khác (các nghệ thuật thị giác, âm nhạc, phim ảnh) và liên quan với các bộ môn khác trong khoa học xã hội và nhân văn (sử học, xã hội học, tâm lý học). Trở ngại ở đây là sự chú ý đến các trường biểu hiện khác và các bộ môn nghiên cứu khác sẽ dẫn đến chỗ thiếu một cái khung được xác định rõ ràng, dễ nhận biết, chuyên nhất, có tính lý thuyết và phương pháp luận cao của VHSS. Có vấn đề định danh và gọi tên do cách tiếp cận đa chiều và song song. Vậy nên, sự thiếu các sản phẩm được thừa nhận và dễ nhận biết đó dẫn đến những khó khăn của bộ môn khi tự định hình mình bên trong bộ máy liên ngành của sự thừa nhận học thuật và sức mạnh thiết chế. Bởi vậy đáng tiếc là nhìn trong bối cảnh toàn cầu, sự hiện diện về mặt thiết chế của VHSS tại các khoa trường đại học thật là nhỏ nhoi khi so với sự hiện diện và sức mạnh của ngôn ngữ và văn học dân tộc.

Nguyên tắc chung thứ năm của VHSS là thừa nhận và nghiên cứu song song các ngôn ngữ và văn học đơn lẻ trong bối cảnh cách tiếp cận và chức năng so sánh nhưng chú ý hơn đến tiếng Anh. Đây là nguyên tắc tổ hợp của cách tiếp cận và phương pháp luận. Sự chú ý đến tiếng Anh như một phương tiện giao tiếp và tiếp cận thông tin không nên xem như là một thứ Âu-Mỹ trung tâm luận. Ở bán cầu Tây và ở châu Âu cũng như ở nhiều lĩnh vực (bán cầu) văn hóa khác, tiếng Anh đã trở thành cầu nối của sự giao tiếp, học thuật, công nghệ, kinh doanh, công nghiệp. Tình hình mới này trên toàn cầu quy định và ghi nhận rằng tiếng Anh đang có tầm quan trọng tăng lên trong học thuật và sư phạm, kể cả nghiên cứu văn học. Phương pháp tổ hợp và song song ở đây là vì VHSS không mang tính tự quy chiếu và loại trừ, đúng hơn, việc dùng song song tiếng Anh đã thực sự biến thành một công cụ để giao tiếp trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập văn học. Do đó, trong VHSS việc dùng tiếng Anh sẽ không phải là thể hiện bất kỳ hình thức nào của chủ nghĩa thực dân – mà nếu có vậy thì người ta sẽ không đếm xỉa tới nó, hoặc dùng tiếng Anh đấu tranh với nó hơn là chống lại tiếng Anh – theo như nguyên tắc Một đến nguyên tắc Ba. Và một điều cũng hiển nhiên nữa là riêng người nói tiếng Anh cũng cần đến các thứ tiếng khác.

Nguyên tắc chung thứ sáu của VHSS là nó tập trung vào văn học bên trong bối cảnh văn hóa. Điều khẳng định tập trung vào văn học này – văn học bậc cao, văn học phổ cập, hay bất kỳ kiểu văn học nào khác – không hề là tự nhiên nhi nhiên. Có lẽ, nó quan trọng liên quan đến sự nổi lên gần đây của các nghiên cứu văn hóa/có tính chất văn hóa là bộ môn, xét ở cấp độ thiết chế, thường hay gắn với sự chú ý vào các phương diện của văn hóa là nơi văn học không phải là yếu tố hàng đầu. Ở đây, trở ngại không phải là cách tiếp cận hay phương pháp khi so với VHSS. Đúng hơn, trở ngại là ở vị trí thiết chế của các nghiên cứu văn hóa và tác động bên lề của nó đến nghiên cứu văn học.

Nguyên tắc chung thứ bảy của VHSS là cách tiếp cận bao gộp mang tính lý thuyết và phương pháp luận cũng như tính tư tưởng và chính trị. Sự bao gộp này mở rộng đến tất cả các Cái Khác, tất cả những cái ngoài lề, thiểu số và ngoại vi, và nó bao gồm cả hình thức và thực thể. Trong khi hệ tư tưởng là một thành tố trong nhiều lý thuyết văn hóa và văn học hiện nay, VHSS được nêu ra ở đây với định đề là sử dụng các phương pháp luận hiển ngôn như được nói ở nguyên tắc thứ tám dưới đây.

Nguyên tắc chung thứ tám của VHSS là nó chú ý và nhấn mạnh phương pháp luận nghiên cứu liên ngành (một thuật ngữ khung) với ba kiểu phương pháp luận chính là: xuyên ngành (phân tích và nghiên cứu bên trong các bộ môn của khoa học nhân văn), đa ngành (phân tích và nghiên cứu của nhà khoa học có sử dụng các bộ môn khác), bội ngành (phân tích và nghiên cứu của một nhóm làm việc có sự tham gia của mấy bộ môn). Trong trường hợp sau, trở ngại là các nhà nghiên cứu văn học thường hay miễn cưỡng tham gia nhóm làm việc để nghiên cứu văn học.

Nguyên tắc chung thứ chín của VHSS là nội dung của nó dựa trên nghịch lý hiện đại của toàn cầu hóa đối với cục bộ hóa. Có sự phát triển nghịch lý đang diễn ra liên quan tới cả những phong trào toàn cầu và các cách tiếp cận học thuật và sự biểu hiện thiết chế của chúng. Một mặt, quá trình toàn cầu hóa về kỹ thuật, công nghiệp và truyền thông đang diễn ra mạnh mẽ, tăng cường. Nhưng mặt khác, các lợi ích địa phương, chủng tộc, dân tộc, giới, bộ môn… đang lấn lướt trong (quá) nhiều phương diện. Sự cục bộ hóa này có thể thấy ngay trong các thông số thiết chế của chính VHSS. Các giảng viên VHSS – trí thức cũng như nhân viên bộ môn – thường được đánh giá dựa trên học vấn ở một lĩnh vực riêng biệt, nơi một ứng viên cũng có thể tuyên bố (trong trường hợp tốt nhất) có quan tâm đến và /hoặc tri thức về VHSS. Thật tình thì các nhà VHSS trong bối cảnh các nguyên tắc chung nêu trên đây ngày càng là một đồ vật hiếm. Vì thế, trở ngại này có hàm chứa nhiều điều về học thuật cũng như về sư phạm và thiết chế. Như vậy, nguyên tắc thứ chín thể hiện khái niệm làm việc trên dòng chảy được vạch ra bởi VHSS với tư cách nêu ra như một bộ môn mang tính toàn cầu và bao gộp các khoa học nhân văn quốc tế với trọng điểm là văn học.

Nguyên tắc chung thứ mười của VHSS là nó tuyên bố cam kết hướng nghiệp cho những người làm nó. Nói cách khác, tại sao nghiên cứu và làm việc trong VHSS? Lý do là các giá trị học thuật cũng như sư phạm mà cách tiếp cận và bộ môn này đưa lại để thực hiện sự thừa nhận và bao gộp Cái Khác với và bằng sự cam kết hiểu biết chiều sâu một số ngôn ngữ và văn học như những thông số cơ bản. Do đó, bộ môn VHSS như đề xuất sẽ làm cho tri thức ta phát triển qua cách tiếp cận đa diện dựa trên nền tảng tri thức uyên bác và nhiều tầng lớp với một phương pháp luận chính xác.

Song song với tình trạng khó khăn về lý thuyết và thiết chế của bộ môn VHSS, còn có vấn đề chung của các khoa học nhân văn và nghiên cứu văn học. Chúng ta biết rằng các khoa học nhân văn nói chung đang phải trải qua những khó khăn nghiêm trọng và bất ổn về thiết chế – do đó cũng là về trí tuệ – và vì thế nghiên cứu văn học trong diễn ngôn xã hội và dư luận nói chung đang ngày càng trở nên bị đặt ra bên lề, dù đó không phải là việc làm riêng của nó. Sự hoài nghi dai dẳng về tính khoa học trong các khoa học nhân văn có thể suy ra từ cuộc tranh luận hiện nay về việc bổ nhiệm chức danh. Trong bài viết nhan đề “Một cách tiếp cận mới về sự bổ nhiệm và học thức”, Hymie Rubenstein và Rodney Clifton cho biết: “Nếu nhiều nghiên cứu về tính hiệu quả nghiên cứu tại các đại học Mỹ mà có thể phổ quát sang Canađa… thì khi đó… hơn 50% các học giả Canađa công bố tương đương một cuốn sách riêng và ít hơn một tá bài viết nghiên cứu trong cả cuộc đời làm nghề của họ (23, tôi nhấn mạnh). Rõ ràng, mức độ tính hiệu quả sản lượng này là khó biện minh và khó giải thích, và có lẽ nó là một trong những nguyên nhân dư luận xã hội đánh giá thấp các khoa học nhân văn. Tuy nhiên, đã có những đề xuất phương hướng mới bổ cứu tình trạng đó, bao gồm cả sự phát triển và thực hiện  các đội, nhóm làm việc – đây sẽ là một trong những tiền đề cơ bản trong cách tiếp cận hệ thống và nghiệm tôi sẽ đưa ra dưới đây.

Dựa trên tình trạng xáo trộn và bấp bênh của nghiên cứu văn học nói chung và VHSS nói riêng, tôi đề nghị những khung lý thuyết và những phương pháp luận mà tôi thấy có tiềm năng đáp ứng được ít nhất một số sự phê phán tôi đã nói trên. Mặc dù những cách tiếp cận này nói chung có thể coi là có tính “hệ thống” nhưng vẫn có những khác biệt quan trọng giữa chúng và điều này sẽ thấy rõ trong lập luận của tôi. Thêm nữa, còn có vấn đề đặt tên và thuật ngữ: từ 1993 tôi đã chọn tên gọi trước đây là Empirische Literaturwissenschaft (Empirical Study of Literature, Empirical Theory of Literature, or Empirical Science of Literature – Nghiên cứu văn học mang tính kinh nghiệm, Lý thuyết văn học mang tính kinh nghiệm, Khoa học văn học mang tính kinh nghiệm) đổi thành The Systemic and Empirical Approach to Literature and Culture (Tiếp cận văn học và văn hóa mang tính hệ thống và kinh nghiệm – SEALC). Trong khi cả những sự lựa chọn trước đây cũng như lựa chọn riêng của tôi không được chấp nhận rộng rãi ở Anh (xem Andringa 1997), thì tên gọi này đã bắt đầu được nhắc đến và được chấp nhận, và điều này có thể thấy trong các công trình có liên hệ hoặc có nhắc đến các phương diện khung hay các áp dụng của nó. Việc tôi dùng SEALC cũng như những khai triển lý thuyết và phương pháp luận từ khung gốc là bắt nguồn từ công trình Empirische Literaturwissenschaft của Siegfried J. và đồng nghiệp. Tuy nhiên, đồng thời – nhất là ở các ứng dụng của tôi đối với các văn bản văn học và các phương diện của văn học – tôi cũng dựa vào các bộ khung thích hợp khác như lý thuyết đa hệ, lý thuyết thiết chế văn học, lý thuyết hệ thống viết, và các cách tiếp cận bao trùm đã từng có trong VHSS.

Lựa chọn của tôi tập trung vào hai phương diện chính của các bộ khung tương hợp đó, cụ thể là “tính hệ thống” và “tính kinh nghiệm”. Hai yếu tố và nguyên tắc lý thuyết và phương pháp luận này được bổ sung và kết hợp với cái khung VHSS tôi đề nghị qua Tuyên Ngôn VHSS của mình mà tựu trung đưa đến một thứ VHSS Mới (NCL). Như vậy, kiểu VHSS đề nghị và cái khung phương pháp luận chính của SEALC dẫn đến một tổ hợp, ở đó có sự làm phong phú lẫn nhau khả năng tương thích trong lý thuyết, và như tôi sẽ chứng minh, trong ứng dụng. Xét về lịch sử, trong nghiên cứu văn học nguồn gốc của cách tiếp cận hệ thống có thể vạch ra từ cấu trúc luận, xã hội học văn học và phái hình thức luận Nga. Đặc biệt cấu trúc luận đã ảnh hưởng, thông qua Saussure và các nhà hình thức luận Nga, đến nhiều bộ môn như triết học, dân tộc học, nhân loại học, phân tâm học, và xã hội học (xem Bourdieu, Culler, Wilpert). Mối quan hệ đặc biệt giữa cấu trúc luận và các cách tiếp cận hệ thống nói chung thường không rõ ràng. Tuy nhiên, cấu trúc luận thông qua các nhà hình thức luận Nga và trường phái Praha đã được thừa nhận là điểm xuất phát cho thuyết đa hệ (xem Even-Zohar). Trong sự phát triển của các khung lý thuyết như Empirische Literaturwissenschaft (Siegfried J. Schmidt; về lịch sử tư liệu của cách tiếp cận này, xem Viehoff 1991), thuyết thiết chế văn học (l’institution littéraire của Jacques Dubois), quan niệm trường văn học (champ littéraire) của Pierre Bourdieu (về mục từ bách khoa mới đây về Bourdieu và công trình của ông, xem Vulpe), thuyết văn học như một hệ thống (Niklas Luhmann; về thư mục tác động của Luhmann trong các nghiên cứu văn học, xem De Berg 1995b), hay hệ thống viết (système de l’ecrit) của Robert Estivals và các đồng nghiệp (xem Estivals) điều này gián tiếp hơn, còn các bộ môn khác như xã hội học văn học và các lý thuyết truyền thông, các nghiên cứu media nổi lên là các nguồn quan niệm.

Tôi phải nói ngay rằng “tính hệ thống” không nghĩa là “có hệ thống” và “tính kinh nghiệm” không nghĩa là “kinh nghiệm chủ nghĩa”. Nói chung, các lý thuyết hệ thống và thiết chế về văn học, mặc dù có vay mượn từ nhiều bộ môn như toán học, sinh học, vật lý học, và các lý thuyết khác từ khoa học nhân văn và khoa học xã hội, cũng như các bộ khung khác cho nghiên cứu văn học, nhưng chủ yếu bắt nguồn từ xã hội học – nhất là từ Talcott Parsons và Niklas Luhmann – cụ thể, trong một hình thức đặc thù hơn của xã hội học văn học cũng như các lý thuyết truyền thông. Trong bối cảnh đó, cần chú ý rằng cách tiếp cận hệ thống đối với văn học, nói chung, là hướng đến cấu trúc vi mô mặc dù cũng có thể hiểu nó là cấu trúc vĩ mô nếu đặt trong bối cảnh văn học. Cái sau có thể được xem như cách tiếp cận hệ thống đến “các nền văn học dân tộc” trong các công trình như của Dionzuri hay I.G. Neupokoeva. Tóm lại, thuyết hệ thống cho nghiên cứu văn học là “cách hiệu quả nhất tích hợp các yếu tố nghệ thuật/không nghệ thuật” (Zubarrev).

Để đưa lại sự phân loại chi tiết hơn cho khái niệm “văn học như hệ thống” thì các định nghĩa do người đề xướng thuyết đa hệ Itamar Even-Zohar nêu lên là thích hợp. Nhưng trước hết, tôi muốn lưu ý rằng các định nghĩa của Even-Zohar và tương tự rõ ràng đã được đặt vào bên trong khái niệm tiên nghiệm về văn học trong khi chúng cũng có thể áp dụng cho văn hóa. Even-Zohar viết rằng “nếu thuật ngữ “hệ thống” được chuẩn bị để hiểu cả tư tưởng về bộ quan hệ khép kín trong đó các thành viên có được giá trị của chúng thông qua những mặt đối lập tương ứng, và tư tưởng về một cấu trúc mở bao gồm một số mạng quan hệ hiện hành, khi đó thuật ngữ “hệ thống” là chính xác và hoàn toàn phù hợp. Định nghĩa này sau đó được Even-Zohar củng cố với “mạng lưới quan hệ giả thiết là có được giữa một số hoạt động gọi là “có tính văn học” và do đó các hoạt động này tự quan sát thấy qua mạng lưới đó, và “tổ hợp các hoạt động, hay bất kỳ phần nào của cái đó, mà với nó các quan hệ hệ thống có thể giả thiết là hỗ trợ cho sự lựa chọn xem chúng là “có tính văn học”. Định nghĩa của Russell L. Ackoff về tư duy hệ thống – mặc dù không chuyên biệt về quan hệ với văn học và văn hóa – cũng giúp minh họa cách lý thuyết hệ thống có thể áp dụng vào nghiên cứu văn học và văn hóa:

sự khác biệt giữa tư duy Thời Đại Hệ Thống và Thời Đại Máy phát xuất không phải từ việc cái này tổng hợp còn cái kia phân tích, mà từ việc tư duy hệ thống kết hợp cả hai theo một cách mới… Trong cách tiếp cận hệ thống cũng có ba bước: 1) xác định một tổng thể bao chứa (hệ thống) trong đó sự vật được giải thích là một bộ phận; 2) giải thích hành vi hay các đặc tính của tổng thể bao chứa; và 3) sau đó giải thích hành vi hay các đặc tính của sự vật thông qua (các) vai trò hay (các) chức năng của chúng trong tổng thể bao chứa chúng.

Siegfried J. Schmidt đã phát triển, từ triết học như Chủ nghĩa kiến tạo (Constructivism) và Chủ nghĩa kiến tạo cấp tiến (Radical Constructivism) từ cuối thập niên 1970 đầu thập niên 1980 – mặc dù tư duy của Ackoff năm 1981 (thời điểm công bố định nghĩa nêu trên của ông) đã thực sự mang tính “kiến tạo” – và từ thuyết hệ thống chung một sự mô tả phác họa cẩn thận hơn nữa về hệ thống văn học, nhất là trong các tiên đề của sự truyền thông văn học và tương tác xã hội.

Với tư cách một hệ thống tương tác truyền thông, truyền thông văn học phải đáp ứng các điều kiện của hệ thống: nó phải được phân định bằng một đường biên tương đối ổn định giữa nó và các hệ thống khác; nó phải biểu thị một cấu trúc bên trong; nó phải được xã hội chấp nhận và phải thực thi một chức năng xã hội mà không hệ thống nào khác thực thi. Đường biên phân định là do quy ước thẩm mỹ đưa ra. Cấu trúc của hệ thống được xác định bằng sự phân phối các vai trò hoạt động ổn định theo sự mong chờ của xã hội: người sản xuất, người môi giới, và người chế biến sau sản xuất.

Trong sự lựa chọn phân loại khung của Schmidt ở Anh, do chỗ nghiên cứu văn học Anh ngữ coi các thuật ngữ “có tính kinh nghiệm”, “khoa học” có hàm nghĩa tiêu cực, nên thuật ngữ “khoa học” từ sự chỉ định thông dụng hơn trong “Empirical Science of Literature” đã lần đầu tiên dược thay bằng từ “lý thuyết” như trong “Empirical Theory of Literature” (Barsch 1991). Như tôi đã nói trên, đầu tiên, sự lựa chọn của tôi “The Systemic and Empirical Approach to Literature” đã được Schmidt và các đồng nghiệp ở đại học Siegen chấp nhận, rồi từ 1993 tôi mở rộng chỉ định và tên gọi khung và cách tiếp cận thành “The Systemic and Empirical Approach to Literature and Culture”. Trong khi các mục từ điển và bách khoa Đức (thí dụ Barsch 1992; Wilpert) và Hà Lan (Van Gorp) đưa đến sự thừa nhận rộng rãi hơn bộ khung, thì các mục từ từ điển tiếng Anh là mới gần đây (Andringa 1994; Totosy 1993b). Ở nơi khác, thí dụ Trung Hoa lục địa, cách tiếp cận này đã có thể gây ra một cuộc đột nhập và tác động công trình của tôi qua bản dịch tiếng Trung trong cuốn sách nhan đề Wen hsüeh yen chiu ti ho fa hua (Hợp pháp hóa nghiên cứu văn học do Ma Jui-ch’i dịch) với một chương cơ bản về Chủ nghĩa kiến tạo vẫn thấy rõ.

Empirische Literaturwissenschaft vốn gốc là những đề xướng hấp dẫn đặc biệt trong các khu vực nghiên cứu tiếp nhận và cử tọa như Norbert Groeben or Peter Vorderer và trong tâm lý học tri nhận khi nó gắn với các vấn đề của việc đọc (thí dụ Cupchik; Graesser). Trong hai khu vực đó các nghiên cứu dựa trên khung đang phát triển vững chắc (xem Segers). Trong các nghiên cứu truyền thông khái niệm hệ thống đã được xác lập rõ ràng (xem Corner và Hawthorn 13). Bất chấp việc thiếu sự thừa nhận khung trong khoa nghiên cứu văn học nói chung, điều rõ ràng là có sự tăng trưởng đáng kể các công trình sử dụng khung và nó cũng bắt đầu thu hút được sự quan tâm của các học giả làm việc trong văn hóa học (xem, thí dụ Tschernokoshewa). Nói cách khác, một mặt cách tiếp cận Hệ Thống và Kinh Nghiệm liên quan chủ yếu đến văn học trong sự nghiên cứu nó, mặt khác “văn học” tự nó được hiểu là một phân hệ của văn hóa, mà cái này đến lượt lại là phân hệ khác của hệ thống truyền thông.

Giải thuyết về hệ thống tương tác truyền thông văn học: Có tồn tại trong xã hội chúng ta một hệ tương tác truyền thông với các đặc tính sau: a) những tương tác truyền thông xét về chủ đề là định hướng đến các văn bản truyền thông mỹ học ngôn ngữ; b) các hoạt động của người sản xuất và tiếp nhận văn bản tuân theo các quy ước về tính thẩm mỹ và đa trị, còn hoạt động của người môi giới và người chế biến sau sản xuất thì phải tương hợp với các quy ước này; c) hệ thống biểu lộ một cấu trúc bên trong, được phân định với các hệ khác, được xã hội chấp nhận và thực thi những chức năng mà các hệ khác không làm (Schmidt 1982, 103).

Cách tiếp cận theo hướng hệ thống “văn học như thiết chế” lần đầu tiên được lập thuyết cho nghiên cứu văn học là do Jacques Dubois năm 1978. Tuy nhiên, cách tiếp cận hệ thống và cách tiếp cận thiết chế là liên quan với nhau về quan niệm và sự tương tự này có thể lý giải từ xuất phát điểm cơ bản: các thiết chế (hay các phân hệ) là những thành tố của một hệ thống khi mà văn học được nhìn như là một hệ thống của các phân hệ. Cơ bản hơn, định đề mang tính quan niệm và phân loại này có thế rút ra, chẳng hạn, từ các công trình như Institution Building: A Source Book (Xây dựng thiết chế: Sách nguồn) của Melvin G. Blase. Định nghĩa của Blase về thiết chế là “các thiết chế biến đổi bên trong lĩnh vực kinh tế đáp ứng với động thái và sự tăng trưởng kinh tế… [Hệ thống này] xem các thiết chế như những người cung cấp hàng hóa và dịch vụ bên trong hệ thống kinh tế”. Định nghĩa này có thể áp dụng được cho văn học. Theo nghĩa định nghĩa Pháp về l’institution, các nhà xã hội học văn hóa nói chung dùng quan niệm đó bao trùm cả một dải yếu tố tham dự vào quá trình sản xuất, chuyển giao và tiêu thụ các “sản phẩm” văn học, nghệ thuật nghe nhìn, âm nhạc, và các hoạt động văn hóa khác. Những nhân tố này bao gồm các thiết chế vừa theo nghĩa hẹp (tức là các nhà xuất bản, các phương tiện truyền thông, các trường phổ thông và đại học) vừa theo nghĩa rộng, nghĩa “hệ thống” của nó (tức là hệ thống của các phân hệ trong đó chúng tham dự cả về động thái, hoạt động và chức năng). Một định nghĩa tương tự về quan niệm “thiết chế” có thể áp dụng cho khái niệm “thiết chế văn học” là như sau: “[Thiết chế] tự nó tập trung vào việc kết hợp theo chức năng các hiện tượng nêu trên, thể hiện chúng như những tổ hợp các giải pháp cơ bản của hệ thống điều tiết xã hội  theo lối kinh nghiệm” (Lipp).

Các yếu tố chính của sự tương thích giữa thuyết đa hệ, nghiên cứu văn học kinh nghiệm, thuyết thiết chế văn học, hệ thống văn bản viết, trường văn học, và văn học như những cái khung hệ thống – như tôi đã nói: ở đây hiểu chung như là những cái khung hệ thống-thiết chế và các phương pháp luận cho nghiên cứu văn học – là một dải hiện tượng giống nhau được xem là tương quan với nhau và do đó được chỉ định cho sự mô tả và diễn dịch (tức là toàn bộ trường “đời sống văn học” hay “tình trạng tương tác truyền thông văn học-xã hội”), các mô hình khám phá chịu ơn ký hiệu học và ký hiệu học xã hội, xã hội học văn học, các lý thuyết truyền thông dựa trên các lý thuyết mở (tự quy chiếu), và thiên hướng về sự quan sát, kiểm tra thay vì trực giác, suy đoán và mô tả theo kiểu ẩn dụ. Nói cách khác, định đề lý thuyết và phương pháp luận là nghiên cứu văn học sẽ phải tập trung vào “thế nào” của văn học, chứ không phải “cái gì”. Giữa các cách nhìn khác thì định đề này cũng có thể trình bày với khái niệm “người ta làm gì với văn học” (Andringa). Tuy nhiên, điều quan trọng cần phải nói là các cách tiếp cận vừa nêu không loại trừ việc nghiên cứu kỹ văn bản, như nhiều nghiên cứu hệ thống của các học giả đã cho thấy.

Do trực giác là quan niệm chủ chốt trong nghiên cứu văn học và các nhà nghiên cứu văn học thường cho rằng nó không thế trong các khoa học tự nhiên nên cần nói rằng trực giác không được miễn trừ với các khung hệ thống và kinh nghiệm. Ngược lại, trực giác trong các khoa học tự nhiên hoặc trong các khoa học thống kê và vật lý học, chẳng hạn, cũng là yếu tố rất cơ bản và cần thiết của sự nghiên cứu, và sự thừa nhận này giữ lại một yếu tố toàn vẹn trong các cách tiếp cận văn học mang tính hệ thống và kinh nghiệm.

Những yếu tố trong các quan niệm cơ bản của các lý thuyết hệ thống và thiết chế thừa nhận “văn học” theo định nghĩa rộng nhất của nó, nhất là xét từ góc nhìn so sánh đối với nghiên cứu văn học. Định nghĩa gốc của VHSS bao gồm – ngoài cách tiếp cận mang tính lịch sử và truyền thống đến sự “so sánh” các văn bản văn học từ các ngôn ngữ và văn hóa khác nhau – việc nghiên cứu văn bản văn học trong/như quan hệ của nó với các khu vực ngoài văn học (thí dụ xã hội học, sử học, kinh tế, ngành xuất bản, lịch sử của sách, địa lý, sinh học, y học), các nghệ thuật khác, v.v… Nhưng quan trọng nhất – và ở đây bộ môn vẫn giữ vai trò quan trọng lâu nay – VHSS nghĩa là thừa nhận và ràng buộc với văn bản Khác, có thể là “phi chuẩn” (văn học pop chẳng hạn) hay các phương diện văn học và văn hóa của một chủng tộc, một giới, một dân tộc khác – như tôi đã nói ở trên với Tuyên Ngôn VHSS. Với tôi, vai trò lịch sử này của nguyên tắc cơ bản của VHSS là hoàn toàn mang tính hệ thống. Cũng vậy, về VHSS và văn hóa học, trong khi văn hóa học dính đến văn học như một trong nhiều hoạt động văn hóa và sản xuất văn hóa ( xem Bernheimer; Gunew) thì VHSS tập trung vào riêng văn học dù là theo định nghĩa rộng nhất về “văn học”. Theo ý tôi, đây là sự khác biệt quan trọng, hơn thế chủ yếu, làm thỏa mãn điều tôi khẳng định rằng nghiên cứu văn học như một trường nghiên cứu riêng biệt là hợp pháp và cần thiết. Tuy nhiên, như tôi sẽ bàn tiếp trong sách này, trong khi VHSS có cách tiếp cận hệ thống trong lý thuyết và thực hành thì nó lại thiếu phương pháp luận, cụ thể là những định đề thao tác và chức năng mà cách tiếp cận hệ thống và kinh nghiệm đưa lại. Còn nghiên cứu văn học, nói chung được thực hiện như là nghiên cứu các nền văn học “dân tộc”, thì lại thiếu tính hệ thống cũng như các quan niệm nêu trên về sự thừa nhận và ràng buộc. Vậy nên không có gì ngạc nhiên là khái niệm hệ thống – mặc dù đây chưa liên quan đến kinh nghiệm và vẫn chưa có phương pháp luận chính xác – trong nhiều trường hợp là do các nhà so sánh đặt ra trước. Mặc dù, như đã nói, cách tiếp cận hệ thống/thiết chế không thu hút được, theo nghĩa chung nhất, sự quan tâm của các nhà nghiên cứu văn học – trái ngược với các nhà so sánh theo nghĩa trên.

Việc các học giả Bắc Mỹ bắt đầu chú ý đến tầm quan trọng của hệ thống và quan sát (tức là kinh nghiệm), và tới chủ nghĩa thực dụng của nghiên cứu văn học – mặc dù trong các nghiên cứu đó thấy rõ sự thiếu thao tác và chức năng – là hiển nhiên trong các tập sách đã kể trên của Mohanty, Halliburton, Zavarzadeh and Morton, hay cuốn Prescribing the Life of the Mind: An Essay on the Purpose of the University, the Aims of Liberal Education, the Competence of Citizens, and the Cultivation of Practical Reason (1996) của Charles W. Anderson, tập sách biên soạn Rhetoric, Sophistry, Pragmatism (Steven Mailloux chủ biên, 1996), hay cuốn Cultural Prosaics (1998) của William H. Thornton trong đó ông lập luận cho tính khách quan thông qua Bakhtin và thuyết đối thoại.

Trở lại mối quan hệ giữa VHSS và cách tiếp cận hệ thống và kinh nghiệm, bên trong nghiên cứu văn học, bộ môn VHSS vẻ như đang chịu một áp lực mạnh trong những năm gần đây – nhất là ở Bắc Mỹ – và còn nhiều hơn trước đây. Nói chung, bộ môn này chưa bao giờ được thiết chế hóa thành công ở châu Âu lục địa, ở Anh hay ở bất kỳ đâu khác, ngoài Mỹ. Tuy nhiên, như tôi đã nói, trái ngược với sự hủy bỏ về trí tuệ và thiết chế của bộ môn tại Mỹ, thì tại Nam Mỹ và các nước “ngoại vi” ở châu Âu (thí dụ Hy Lạp, Italia, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, v.v…) mấy năm qua có sự phát triển nổi bật của VHSS với tư cách một bộ môn cả về trí tuệ và thiết chế, và ở Viễn Đông (Nhật Bản và Trung Quốc đại lục) VHSS là một trong những bộ môn mạnh nhất của khoa học nhân văn. Trong khi Mỹ vẫn cho thấy, nói về số lượng và tỷ lệ, mạnh về thiết chế của VHSS, thì những năm gần đây các trường văn hóa học, sự chấp nhận (và chiếm hữu) lý thuyết văn học bởi các khoa Anh, và các nghiên cứu truyền thông có vẻ như đã cạnh tranh thành công với VHSS.

Để nhấn mạnh sự dẫn thuyết của tôi và cung cấp một công cụ hữu ích, tôi đưa ra dưới đây những mục từ theo kiểu từ điển các khung lý thuyết đã nêu.

Thuyết nghiên cứu văn học kinh nghiệm (Empirische Literaturwissenschaft)

Phong trào gần đây trong nghiên cứu văn học gắn với việc nghiên cứu văn học như một hệ thống tương (tác) xã hội. Câu hỏi chính là cái gì xảy đến với văn học và xảy đến như thế nào: nó được viết ra, được xuất bản, được phát hành, được đọc, bị kiểm duyệt, bị bắt chước, v.v… ra sao. Nghiên cứu văn học kinh nghiệm khởi nguồn như là sự phản ứng lại, và sự cố gắng, giải quyết vấn đề cơ bản của tường giải học, cụ thể là hiệu lực của sự diễn dịch văn học được chứng tỏ như thế nào. Từ lý thuyết tiếp nhận thấy rõ rằng các sự diễn dịch không chỉ gắn với văn bản, mà còn là, và thậm chí ở mức độ lớn hơn, với độc giả – cả về quy ước cá nhân lẫn quy ước xã hội. Điều này dẫn tới lý thuyết của Chủ nghĩa kiến tạo cấp tiến (tri nhận) dựa trên luận điểm là chủ thể tự xây nên thế giới kinh nghiệm của mình. Hệ quả logic của tất cả những cái này, như thấy trong công trình của Siegfried J. Schmidt là sự tách rời của diễn dịch và nghiên cứu văn học thật sự mang tính khoa học chặt chẽ dựa trên chủ nghĩa kiến tạo cấp tiến. Hệ thống các hành động văn học được quán át từ bên ngoài – không phải được trải nghiệm – và có thể được xác định căn cứ vào hai quy ước (giả thiết) không ngừng được kiểm tra. Các quy ước này là quy ước thẩm mỹ (đối lập với quy ước thực tế trong ngôn ngữ quy chiếu thường ngày) và quy ước đa trị (polyvalence). Như vậy, đối tượng nghiên cứu của nghiên cứu văn học kinh nghiệm không chỉ là bản thân văn bản, mà còn là vai trò của hoạt động bên trong hệ thống văn học, cụ thể là sự sản xuất, sự phát hành, sự tiếp nhận và việc chế biến văn bản. Các phương pháp được dùng chủ yếu lấy từ các khoa học xã hội, lý thuyết tiếp nhận, khoa học tri nhận, tâm lý học. Nói chung, các bước tiến hành trong nghiên cứu kinh nghiệm là nêu giả thiết, đưa nó vào thực tế, kiểm tra và đánh giá. Có một số ý kiến phản đối nghiên cứu văn học kinh nghiệm cho nhiều kết quả của nó là vô bổ như khẳng định cái gì đã biết hay còn nghi ngờ, cho nó mang tính quy giản hóa (tính nhân tạo của bộ khung, sự hạn chế ở phản ứng tiếp nhận của độc giả thay vì nghiên cứu văn bản). Tuy nhiên có thể thấy rõ rằng nghiên cứu văn học kinh nghiệm thông qua cách tiếp cận riêng và sự tập trung vào phương pháp luận là một cách thức nổi bật để khám phá các phương diện xã hội-văn hóa của hệ thống văn học. Nó có đóng góp không thể thay thế đối với sự phát triển một lối nghiên cứu văn học duy lý, khoa học hơn và phù hợp với xã hội hơn. (Trans. A. Tadema. Hendrik van Gorp, R. Ghesquiere, D. Delabastita, and J. Flamend, “Empirische literatuurwetenschap”. Lexicon van literaire termen: stromingen en genres, theoretische begrippen, retorische procédés en stiljfiguren . By Hendrik van Gorp, R. Ghesquiere, D. Delabastita, and J. Flamend. 5th ed.Leuven: Wolters, 1991. 116-17.)

Thuyết thiết chế văn học (l’institution littéraire)

Thiết chế văn học là trường trong đó tất cả kinh nghiệm văn học được thực hiện. Nó bao gồm hai thực tế không tách rời nhau cùng làm việc với nhau để tạo nên độ căng trong các phương thức sản xuất văn học. Ở một cực là thực tế tổ chức, nó gom tất cả tài liệu mang tính kỹ thuật và tổ chức thuộc hạ tầng cơ sở của thiết chế lại với nhau. Ở đây các công nghệ tái sản xuất và phân phối bao gồm truyền miệng, in ấn, điện tử và các phương tiện truyền thông khác. Kinh tế của thiết chế gồm các hệ thống trợ cấp của nhà nước cũng như các ngành văn hóa khác nhau được quy định trao đổi giá trị với các sản phẩm của thiết chế. Đến lượt mình, các kỹ thuật tái sản xuất lại quy định những thực đơn có thể có của phê bình áp đặt giá trị lên sản phẩm văn học. Quá trình này được thực hiện thông qua hàng loạt biện pháp xúc tiến văn học rộng lớn bao gồm bản thân phê bình cũng như các nghi thức nghệ thuật có tính chính thức hơn như các giải thưởng văn học, các liên hoan sách, các quy ước của giới xuất bản, vân vân. Theo cách này, thực tế tổ chức của thiết chế văn học giúp xác lập sự đánh giá của phê bình và đưa lại tính hợp pháp cho các sản phẩm của thiết chế. Ở cực khác là thực tế sáng tạo, nó tập hợp tất cả tài liệu của sự kiện thẩm mỹ đã truyền đời qua cả thiên niên kỷ – tất cả các bộ mã, chuẩn mực, thể loại, chủ đề, phong cách tự sự và tất cả những hình thức nghệ thuật giúp cho việc diễn đạt nội dung văn học. Tin chắc rằng tác giả, độc giả và nhà phê bình văn học là những người tham gia đồng sáng tạo đã được “cấy” vào tác phẩm văn học, thực tế sáng tạo như vậy cũng có tác động đến các khả năng tiếp nhận và phê bình. Các chủ đề và phong cách tự sự đem theo một tầm đón đợi giúp tạo nên cách độc giả thể nghiệm một câu truyện; một thể loại riêng có thể trở nên quen thuộc hơn với độc giả dù cách xa về thời đại, nguồn gốc dân tộc, giai cấp xã hội hay phái tính; và các bộ mã và chuẩn mực viết thay đổi từ thời này qua thời khác. Không một thực tế sáng tạo nào có thể lý giải được nếu lược quy nó về thực tế tổ chức, nhưng đồng thời  hai thực tế làm việc cùng nhau, khi xung đột, khi hòa hợp, nhưng luôn trong cùng một khung quy chiếu. (Greg Marc Nielsen, “Literary Institution.” Encyclopedia of Contemporary Literary Theory: Approaches, Scholars, Terms. Ed. Irena R. Makaryk.Toronto: U ofToronto P, 1993. 580-81.)

Thuyết đa hệ

Lý thuyết mong muốn diễn dịch văn học bên trong cái khung quy chiếu ký hiệu học, trên cơ sở hoạt động chung của các quy luật trong hệ thống truyền thông. Từ thập niên 1970 thuật ngữ này bắt đầu trở nên quen thuộc thông qua công trình của các học giả như Itamar Even-Zohar và Gideon Toury tại Viện thi pháp Porter ở Đại học Tel Aviv. Theo thuyết đa hệ, văn học là một tổng thể phức hợp của các hệ thống – các quan niệm về văn học trên cả cấp độ lý thuyết và thực tiễn – ảnh hưởng qua lại nhau và thường xuyên ở trong các quan hệ mới và luôn thay đổi như là hoạt động của các thang giá trị (chuẩn mực) và các mô hình nổi trội trong những hoàn cảnh đã định. Lý thuyết này khai triển một cách triệt để công trình của nhà Hình thức luận Nga Yuri Tynyanov, người trong thập niên 1920 đã luôn viết rằng văn học không cần nghiên cứu qua bản chất mà là qua các quan hệ. Nguyên lý về các chuẩn mực và mô hình nổi trội trao giá trị có tính tương đối, tính lịch sử cho tất cả các lập trường lý thuyết, trong khi nghiên cứu văn học lại xem xét các chuẩn mực và mô hình mà nhà văn, văn bản và độc giả phải tuân theo. Thuyết đa hệ cũng khai triển một cách triệt để nguyên lý về sự tiếp nhận lịch sử: tất cả các văn bản văn học đều bị quy định về mặt lịch sử, dù chúng có thuộc về các hệ thống nổi trội hay đang nổi trội hay không. Khái niệm hệ thống là một quan niệm mở, có tính lịch sử và tính diễn dịch, nó chỉ ra nguyên lý về trật tự thứ bậc của các quan niệm văn học bên trong một tổng thể phức hợp như các hệ thống và các phân hệ có thể phân biệt; các phân hệ chia sẻ những chuẩn mực và mô hình cố định với các tổng thể rộng lớn hơn. Thuyết đa hệ như vậy đưa tới một cách nhìn mới đối với sự mô tả các nền văn học dân tộc và sự mô tả các quan hệ giữa các hệ thống văn học dân tộc, nhờ đó sự phân định dựa vào các biên giới chính trị và ngôn ngữ trở nên là tương đối – trong một nền văn học riêng lẻ chẳng hạn những thể loại phổ biến vẫn có thể hoạt động trong các mạng lưới quốc tế, trong khi một nền văn học cao hơn vẫn phát triển theo những đường hướng dân tộc. Như vậy, chức năng trung tâm mà dịch văn học có thể thực hiện được trở nên rõ ràng là có ý nghĩa then chốt đối với các quan hệ (tương tác) giữa các hệ thống văn học mang tính dân tộc hay khu vực hơn. Cũng vậy, cơ chế cơ bản của các sự tiếp xúc văn học được nghiên cứu chi tiết hơn qua sự áp dụng lý thuyết này. Do thuyết đa hệ mong muốn nâng sự diễn dịch hiện tượng văn học lên cấp độ nền tảng, nó đưa ra giả thiết rằng tác phẩm có thể làm việc cho các hình thức truyền thông khác (như điện ảnh, hành vi xã hội, các hệ thống văn hóa nói chung). Lý thuyết, xem tính văn học là hàng đầu, khi xem xét các vấn đề tương tác đã mở ra theo hướng chuyển giao lý thuyết và lý thuyết hệ thống chung. Tuy nhiên, sự nghiên cứu mô tả mà thuyết đa hệ cố kiểm tra cho đến nay vẫn chỉ là cách làm tạm thời trong phiên dịch học, và nói chung trong nghiên cứu văn học. Cách tiếp cận đa hệ đến văn học như một phương pháp “khoa học” đúng ra phải nằm trong hệ hình lý thuyết, toàn diện của lý thuyết hệ thống. Trong các bộ môn khác với nghiên cứu văn học như nhiệt động học, sinh học, xã hội học, tâm lý học, những khái niệm như các hệ thống tự điều chỉnh, biến đổi, quấy nhiễu đang hoạt động. Từ viễn cảnh hệ thống, cuốn General Systems Theory (Lý thuyết hệ thống chung, 1968) của Ludwig von Bertalanffy là công trình quan trọng khảo sát tư duy trong các bộ môn khác nhau từ điểm xuất phát chung của chúng. (Trans. A. Tadema. Hendrik van Gorp, R. Ghesquiere, D. Delabastita, and J. Flamend, “Polysysteem(theorie)”. Lexicon van literaire termen: stromingen en genres, theoretische begrippen, retorische procédés en stiljfiguren. By Hendrik van Gorp, R. Ghesquiere, D. Delabastita, and J. Flamend. 5th ed.Leuven: Wolters, 1991. 312-13.)

Thuyết trường văn học (champ littéraire)

Sự điều đình cơ bản nhất là trường văn học với điều kiện, như Pierre Bourdieu đã nhấn mạnh, chúng ta định nghĩa thuật ngữ trong ý nghĩa chặt chẽ và giới hạn chặt chẽ của khái niệm, không quy thuật ngữ và khái niệm về những tư tưởng truyền thống “bối cảnh xã hội” hay “môi trường văn học”. Thuật ngữ này sẽ được hiểu là quy chiếu đến không gian xã hội có tính tự trị tương đối được tạo nên bởi nhóm các người làm, các công việc, và các hiện tượng bao gồm tập quán văn học, một không gian mà các cấu trúc của nó được xác định bằng hệ thống các lực hoạt động trong nó và bởi xung đột giữa các lực đó. Bourdieu định nghĩa trường văn học là “trường lực hoạt động trên tất cả những ai đi vào không gian đó và phù hợp một cách riêng biệt với vị trí mà họ chiếm giữ ở đấy, đồng thời cũng là trường tranh đấu nhằm biến đổi trường lực đó”. Mô hình phân tích này sẽ được sử dụng chỉ cho những thời kỳ và tình hình mà nó thích hợp, như ở Pháp người ta có thể nói đến trường văn học chỉ từ thời kỳ cổ điển. Cuối cùng, khái niệm này sẽ được dùng chỉ với nhận thức rằng sự điều đình không hoạt động theo một hướng riêng lẻ. Trường không chỉ là sự điều đình qua đó những sự xác định xã hội hành động theo ngả văn học mà còn là không gian nơi văn học tạo lập hình dạng phù hợp với logic của những sự điều đình thuộc về không gian đó. Nếu quả vậy, văn học hoạt động trên những lĩnh vực thực tiễn xã hội khác tương ứng với sự điều đình ấy. Bất cứ sự phân tích nào về trường văn học cũng tìm thấy hai chuỗi có sẵn hoạt động trong quan hệ hẹp và thường xuyên. Một mặt, không gian văn học chỉ có thể hiểu được thông qua sự phân tích tình trạng của nó với các trường xã hội khác. Đặc biệt, điều chủ yếu là phải xác định được vị trí cho trường văn học tại các thời điểm lịch sử khác nhau của nó bên trong trường trí tuệ và ở giữa các quyền lực mà nó chia sẻ với tư cách là quỹ tích của quyền lực tượng trưng. Hiệu quả của những sự biến đổi mà trường văn học gây ra tương quan với mức độ tự trị của nó và vị trí của nó trong thang bậc các giá trị văn hóa. Mặt khác, những sự điều đình cũng gắn với các cấu trúc của trường, chúng là “sản phẩm tích lũy của lịch sử riêng của nó” – các thứ bậc và các quy tắc bên trong, sự phân chia nó (ở thế kỷ XIX và XX) thành hai lĩnh vực riêng biệt, sự bá chủ được chấp nhận hay bị phản đối của một trường phái hay một phong trào riêng lẻ, uy tín tương đối phù hợp với từng thể loại, uy quyền và những hạn chế của một thiết chế. Sự phân tích các tác phẩm văn học từ các quan điểm đó (một cấu trúc hẹp của xã hội học văn bản mà một số nhà phê bình đưa ra) cần phải được gắn với sự phân tích các quan điểm khách quan của những người làm tham gia vào sự kiện văn học (tác giả, độc giả, nhà xuất bản). Các hiện tượng mà lịch sử văn học truyền thống cho là tài năng cá nhân (chẳng hạn, sự đối chiếu bao lâu nay giữa Corneille và Racine) hóa ra là hiệu quả của trường. (Alain Viala, “Prismatic Effects.” Trans. Paula Wissing. Literature and Social Practice . Ed. Philippe Desan, Priscilla Parkhurst Ferguson, and Wendy Griswold.Chicago: U ofChicago P, 1989. 259-60.)

Thuyết văn học như hệ thống

Sau sự khởi đầu ngập ngừng vào cuối những năm 1980, cách tiếp cận hệ thống đến xã hội và truyền thông của Niklas Luhmann hiện nổi lên như một trong những lý thuyết xã hội học có uy tín nhất trong nghiên cứu văn học khối Đức ngữ. Có những dấu hiệu rõ ràng là nó cũng đang tiến vào lý thuyết văn học và văn hóa khối Anh ngữ. Khởi đầu như là sự phê phán và mở rộng thuyết hệ thống của Talcott Parsons, cách tiếp cận của Luhmann đã nhanh chóng phát triển thành một lý thuyết hết sức độc đáo, dù cho là hoàn toàn trừu tượng và có lẽ đôi khi quá kỳ khu về quan niệm. Giai đoạn nghề nghiệp đầu tiên của Luhmann (1960-80) được đánh dấu bằng sự phê phán triệt để xu hướng cấu trúc luận của lối tư duy hệ thống và quan niệm con người nặng về mặt xã hội của nó, cũng như tính chất không tưởng vốn có trong các lý thuyết xã hội như của Jurgen Habermas (Luhmann 1982). Giữ lại những nguyên lý trung tâm của giai đoạn đầu, nhưng công trình về sau của Luhmann khác hẳn khi ông tập trung vào truyền thông thay vì hành động xã hội, sử dụng khái niệm autopoiesis (mượn của nhà sinh học Humberto R. Maturana) để mô tả tính tự trị của hệ thống, và nhấn mạnh đến các vấn đề nhận thức luận. Trong công trình sau này, các lĩnh vực hoạt động xã hội khác nhau như kinh tế, chính trị, khoa học, v.v. được nhìn như các hệ thống xã hội tự quy chiếu (“autopoietic”): như các quá trình giao tiếp mà mỗi caiscos động thái riêng của nó, không thể bị bẻ lái bởi một hệ thống xã hội nào khác hay bởi những người tham gia vào đấy. Nghệ thuật, bao gồm văn học, được nhìn như một trong những hệ thống đó. Việc áp dụng thuyết hệ thống vào nghiên cứu văn học tập trung vào cách thức trong đó, theo Luhmann, mỗi hệ thống xã hội tự đẩy mình theo lối tự quy chiếu về phía tính phức tạp ngày càng tăng lên, do đó làm cho môi trường của toàn bộ các hệ thống xã hội khác trở nên phức tạp hơn, điều này đến lượt lại làm tăng thêm nhu cầu về các hệ thống trở nên phức tạp hơn. Theo cách đó, sự tiến triển văn học có thể xem như một quá trình tự trị tuy nhiên có tương quan với sự phát triển xã hội chung hơn (Werber 1995). Như vậy, nghiên cứu hệ thống về văn học được phục hồi ở nơi Yuri Tynyanov và các nhà hình thức luận Nga khác bỏ đi, nhưng với hai sự đổi mới quan trọng. Thứ nhất, nơi hình thức luận Nga bỏ mặc môi trường của hệ thống văn học không được khái niệm hóa về mặt lý thuyết, Luhmann đã đưa lại một lý thuyết xã hội đầy đủ. Thứ hai, trong khi tư tưởng của Tynyanov về phẩm chất khác biệt của văn học và các tác phẩm văn học vẫn chủ yếu nằm ở cấp độ trực giác, Luhmann đã cung cấp một lý thuyết có tính định hướng khác biệt về giao tiếp. Ảnh hưởng của Luhmann tới các ngành khác nhau của cách tiếp cận liên quan về khái niệm của Nghiên Cứu Văn Học Kinh Nghiệm còn bị hạn chế, các tư tưởng của ông bị xem là quá nặng tính triết học đối với nghiên cứu kinh nghiệm đích thực. Tuy nhiên, vẫn có những ý định của Siegfried J. Schmidt và một số đồng nghiệp sử dụng hình thức biến đổi của thuyết hệ thống của Luhmann để phân tích nguồn gốc cấu trúc và sự tổ chức của đời sống văn học hiện đại (Schmidt 1989, 1990). Và như một thành tố chủ chốt của lý thuyết văn hóa theo định hướng kinh nghiệm (Schmidt 1994). Những viễn cảnh mở ra qua sự áp dụng thuyết hệ thống vào các nghiên cứu văn học và văn hóa, và các vấn đề nó gợi lên, có thể đọc thấy trong các số chuyên đề của Canadian Review of Comparative Literature / Revue Canadienne de Littérature Comparée (Tạp chí văn học so sánh Canada) 24.1 (1997), Modern Language Notes (Những ghi chép ngôn ngữ hiện đại) 111.3 (1996), New German Critique (Phê bình Đức hiện đại) 61 (1994), and Theory, Culture & Society  (Lý thuyết, Văn hóa và Xã hội) 11.2 (1994)1

Hải Hà dịch từ tiếng Anh

Theo Steven Totosy de Zepetnek: Comparative Literature:Theory, Method, Application. Amsterdam-Atlanta. GA, 1998.

Chú thích:

(*) Nhà nghiên cứu làm việc về văn hóa so sánh và nghiên cứu truyền thông. Các công trình đã xuất bản của ông bao gồm những bài viết và sách trong các lĩnh vực lý thuyết văn học và lý thuyết văn hóa, tiểu thuyết châu Âu và Bắc Mỹ hiện đại và đương đại, văn học tộc người thiểu số, nghiên cứu cử tọa và độc giả, điện ảnh và văn học, v.v… Cuốn sách mới nhất của ông là Comparative Literature: Theory, Method, Application (1998). Hiện nay ông đang nghiên cứu lịch sử lý thuyết và thiết chế của bộ môn VHSS, một cái khung lý thuyết và phương pháp luận cho văn hóa học so sánh cũng như việc áp dụng cái khung đó cho các lĩnh vực khác nhau của văn học và văn hóa. Bài viết này là chương một của cuốn sách nói trên. Hiện ông đang chủ trương tờ tạp chí mạng về văn học và văn hóa so sánh. Ở địa chỉ: http://clcwebjournal.lib.purdue.edu. Emai: clcweb@purdue.edu

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học số 10-2006. Copyright © 2012 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply