Voloshinov và những luận điểm cơ bản trong kiệt tác Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ


Ngô Tự Lập – Ngô Minh Thủy[1]

Tóm tắt: “Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ” của Voloshinov được xuất bản lần đầu tiên tại Nga năm 1929 và ngày nay được coi là một trong những thành tựu quan trọng nhất của tư tưởng nhân loại trong thế kỷ XX. Nhờ có Roman Jakobson, những ý tưởng của Voloshinov có ảnh hưởng to lớn đối với trường phái ngôn ngữ học Praha, nhưng tại Liên Xô nó bị lãng quên trong suốt mấy thập niên cho đến khi được dịch ra các thứ tiếng phương Tây đầu thập kỷ 1970. Các kiến giải mang tính cách mạng của Voloshinov (và hai người bạn của ông là Medvedev và Bakhtin) có ảnh hưởng to lớn đối với chủ nghĩa hậu hiện đại nói riêng, các ngành khoa học xã hội và nhân văn nói chung.

Từ khóa: Voloshinov, Nhóm Bakhtin, Ngôn ngữ học, Triết học ngôn ngữ, Chủ nghĩa Hậu hiện đại.

*

1. Giới thiệu chung về cuốn “Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ” và tác giả 

“Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ” (CNMVTHNN) được xuất bản lần đầu tiên tại Liên Xô năm 1929 và ngày nay được coi là một trong những thành tựu quan trọng nhất của tư tưởng nhân loại thế kỷ XX. Tác giả của cuốn sách là Valentin Nikolaevich Voloshinov, một nhà triết học và ngôn ngữ học kiệt xuất của Liên Xô và thế giới. Trong cuộc đời ngắn ngủi của mình (ông mất năm 41 tuổi), Voloshinov đã kịp để lại một sự nghiệp sáng chói với nhiều tác phẩm quan trọng, trong đó hai cuốn “Chủ nghĩa Freud: Một phác thảo phê phán” (1927) và “CNMVTHNN” đã trở thành những công trình kinh điển.

Voloshinov sinh ngày 18 tháng Sáu năm 1895 tại St. Petersburg. Ông học một thời gian ngắn tại Khoa Luật Trường Đại học Petrograd trước khi chuyển đến dạy học tại Izocha, một thị trấn phía bắc Nevel. Tại đây, Voloshinov tham gia “Nhóm Nevel” do M. I. Kagan, một trí thức trẻ mới nhận bằng tiến sĩ ở Đức trở về, làm thủ lĩnh. Trong số các thành viên khác của nhóm phải kể đến I. V. Pumpianski, M. V. Yudina, V. Z. Rugevich, B. M. Zubakin và M. M. Bakhtin. Năm 1921, Voloshinov chuyến đến Vitebsk, một trung tâm văn hóa của nước Nga thời đó. Phần lớn các thành viên khác của “Nhóm Nevel”, người trước người sau, cũng chuyển đến Vitebsk. Tại đó, họ tham gia một nhóm khác cùng với I. Sollertinski và P. Medvedev. Medvedev đã ở Vitebsk từ năm 1917 và khi đó đã trở thành một thủ lĩnh văn hóa tại địa phương. Trong cuộc trò chuyện với Duvakin, Bakhtin gọi nhóm này là “nhóm Medvedev”[2]. Tại Vitebsk, Voloshinov giảng dạy tại Trường Đại học Vô sản do Medvedev làm hiệu trưởng, công bố nhiều bài viết về âm nhạc và nghệ thuật trên tạp chí Iskustvo (Nghệ thuật) do Medvedev chủ trương. Với ảnh hưởng của mình, Medvedev cũng giúp nhiều thành viên của nhóm cả về vật chất lẫn tinh thần, đặc biệt là Bakhtin, người bạn bị bệnh viêm xương tủy và không có công ăn việc làm ổn định.

Năm 1922, nối tiếp Medvedev, Voloshinov trở về Petrograd. Năm 1924, Bakhtin cũng chuyển đến đó. Tại Leningrad (Petrograd được đổi tên tháng 1/1924), Voloshinov tham gia salon của nữ nghệ sĩ piano M. V. Yudina. Ông thường đọc thơ, diễn thuyết và trình tấu các tác phẩm âm nhạc. Cũng năm 1924, Voloshinov tốt nghiệp ngành ngữ văn, Trường Đại học học Leningrad và tham gia vào nhóm nghiên cứu phương pháp nghiên cứu văn học dưới sự hướng dẫn của V.A. Desnitski và N. Yakovlev tại Viện Lịch sử So sánh Văn học và Ngôn ngữ Đông Tây (ИЛЯЗВ).Năm 1926, Voloshinov công bố bài báo “Từ trong đời sống và từ trong thơ”, trong đó ông không chỉ đưa ra những tư tưởng nền tảng cho thi pháp xã hội học, mà còn đề xuất nhiều kiến giải mới mẻ về đối thoại, phong cách và sự truyền đạt lời kẻ khác mà ông sẽ phát triển đầy đủ trong cuốn CNMVTHNN”.

Năm 1927, dưới sự hướng dẫn của V.A. Desnitski, Voloshinov bắt đầu viết luận án tiến sĩ, với đề tài là vấn đề truyền đạt lời kẻ khác. Bài báo “Vấn đề truyền đạt lời kẻ khác – một thử nghiệm nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội” được chọn để đăng trong tuyển tập “Chống chủ nghĩa duy tâm trong ngôn ngữ học” (ГИЗ – ИЛЯЗВ, 1928) chính là nội dung phần ba của cuốn “CNMVTHNN”. Năm 1927, Voloshinov cũng công bố một công trình quan trọng khác, đó là “Chủ nghĩa Freud: Một phác thảo phê phán” (ГИЗ, 1927)[3].

Sau đó Voloshinov là Phó giáo sư (доцент) tại Viện Lịch sử So sánh Văn học và Ngôn ngữ Đông Tây (ИЛЯЗВ), Giáo sư tại Đại học sư phạm Leningrad mang tên Gertsen, (Ленинградский педагогический институт имени А. И. Герцена, Viện văn hóa ngôn ngữ Институт Речевой Культуры, ИРК), và Trường Đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ các ngành nghệ thuật Leningrad (Ленинградский Институт повышения квалификации кадров работников искусств, ЛИПКРИ).

Từ năm 1930, ông bị lao phổi nặng và mất ngày 13 tháng Sáu năm 1936 tại Pushkin, Leningrad.

2.Những luận điểm cơ bản trong “Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ”

Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ” (CNMVTHNN) gồm có ba phần. Phần I: Tầm quan trọng của triết học ngôn ngữ đối với chủ nghĩa Marx; Phần II: Những hướng đi của triết học ngôn ngữ Marxist; Phần III: Tiến tới một lịch sử hình thức phát ngôn trong các cấu trúc ngôn ngữ. Mỗi phần, mỗi chương của cuốn sách đều chứa đựng những phát kiến, lý giải sâu sắc và mới mẻ. Dưới đây là một số luận điểm quan trọng trong cuốn sách.

2.1.Phần I: Tầm quan trọng của triết học ngôn ngữ đối với chủ nghĩa Marx

Phần thứ nhất của cuốn sách, Voloshinov viết, “có nhiệm vụ chỉ ra vị trí của các vấn đề triết học ngôn ngữ trong tổng thể thế giới quan Marxist thống nhất.” [tr. 351][4] Cuốn sách của ông là nỗ lực đầu tiên vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng để nghiên cứu ngôn ngữ, một nhiệm vụ mà theo ông là cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng một cơ sở của “khoa học Marxist về sáng tạo tư tưởng” mà theo cách hiểu của Voloshinov chính là ký hiệu học. Ông viết: “Lĩnh vực của tư tưởng trùng hợp với lĩnh vực của ký hiệu. Giữa chúng có thể đặt một dấu bằng”. Trên thực tế ông và Mevedev là những cha đẻ của ký hiệu học Marxist.

Những kiến giải của Voloshinov về sự hiểu và về cơ chế hoạt động của ký hiệu hết sức mới mẻ và độc đáo: “…hiểu một ký hiệu có nghĩa là đối chiếu ký hiệu cần phải hiểu đó với một ký hiệu khác đã quen thuộc; nói cách khác, sự hiểu đối đáp lại ký hiệu bằng ký hiệu. Chuỗi sáng tạo tư tưởng và sự hiểu như vậy – đi từ ký hiệu đến ký hiệu và từ ký hiệu đó đến một ký hiệu mới – là một chuỗi nhất quán và liên tục: từ một mắt xích ký hiệu, cũng tức là một mắt xích vật chất, chúng ta di chuyển một cách liên tục đến một mắt xích ký hiệu khác. Không nơi nào bị đứt đoạn, không nơi nào chuỗi xích ấy rơi vào cái thực tại bên trong phi vật chất, không nơi nào không hiện thân thành ký hiệu.” [tr. 355] Có thể thấy rằng những kiến giải này chính là ý tưởng trung tâm trong lý thuyết về văn bản của các nhà tư tưởng Hậu hiện đại như Roland Barthes, Derrida, Foucault… và nhất là Kristeva với khái niệm liên văn bản của bà.

Một luận điểm quan trọng khác của Voloshinov là bản chất liên cá nhân của ký hiệu: “Ký hiệu chỉ có thể xuất hiện trên lãnh địa liên cá nhân, và lãnh địa này không phải là “tự nhiên” theo nghĩa trực tiếp của từ này: ngay cả giữa hai homo sapiens ký hiệu cũng không xuất hiện. Hai cá nhân cần phải được tổ chức theo nguyên tắc xã hội, phải tạo thành tập thể, chỉ khi đó giữa họ mới có thể hình thành môi trường ký hiệu. Ý thức cá nhân không những không thể giải thích bất cứ điều gì ở đây, mà ngược lại, chính nó cũng cần được giải thích từ môi trường tư tưởng xã hội”. [tr. 356]

Luận điểm này dẫn đến một kết luận quan trọng: tư tưởng không xuất phát từ thiên nhiên như trong quan niệm của chủ nghĩa duy vật cơ học ngây thơ và tâm lý học khách quan hiện đại, cũng không xuất phát từ ý thức như cách hiểu của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa thực chứng tâm lý, mà có bản chất ký hiệu và được tạo ra trong quá trình giao tiếp xã hội của tập thể có tổ chức.

Trong các ký hiệu, theo Voloshinov, ngôn từ là ký hiệu thuần khiết nhất và có tính biểu đạt cao nhất. “…từ đồng hành với mọi sáng tạo tư tưởng nói chung. Từ đồng hành và chú giải mọi hành vi tư tưởng. Quá trình tìm hiểu bất cứ hiện tượng tư tưởng nào (tranh vẽ, âm nhạc, lễ nghi, hành động) đều không thể diễn ra nếu không có sự tham gia của ngôn ngữ bên trong. Mọi thể hiện của sự sáng tạo tư tưởng – tất cả các dạng ký hiệu phi ngôn ngữ khác – đều thấm đẫm dòng chảy lời nói, lơ lửng trong nó, không thể tách rời hoặc ly khai hoàn toàn khỏi nó”. [tr. 359]

Voloshinov chỉ ra rằng lời nói tạo ra một thứ như là khí quyển tư tưởng bao quanh mọi ký hiệu văn hóa, khi ký hiệu ấy được tiếp nhận và được hiểu: “Không ký hiệu văn hóa nào, một khi được tiếp nhận và được hiểu, lại đứng cô lập, lại không gia nhập vào khối thống nhất của ý thức tạo nên bằng lời nói. Ý thức có khả năng tìm ra cách tiếp cận nó bằng lời nói. Do đó, xung quanh ký hiệu tư tưởng dường như hình thành những vòng sóng lan tỏa của các hồi đáp và âm vọng bằng lời. Mọi khúc xạ tư tưởng của thực tại đang hình thành, bất kể vật liệu mang nghĩa của nó là gì, đều kèm theo sự khúc xạ tư tưởng bằng ngôn từ như là hiện tượng đồng hành tất yếu”. [tr. 359]

Rất tinh tế, Voloshinov nhận ra rằng mỗi thời đại và nhóm xã hội có những hình thức giao tiếp tư tưởng đời sống riêng biệt, được quy định bởi các quan hệ sản xuất và hệ thống chính trị-xã hội. Thực tại được phản ánh trong ký hiệu không chỉ được phản ánh mà còn bị khúc xạ do sự giao thoa của các lợi ích xã hội khác nhau trong một tập thể ký hiệu. Tuy nhiên, khác với cách tiếp cận quan điểm Marxist một cách máy móc, Voloshinov khẳng định rằng “Giai cấp không trùng với tập thể ký hiệu, tức là với tập thể những người sử dụng chung các ký hiệu giao tiếp tư tưởng. Do đó, cùng một ngôn ngữ có thể được các giai cấp khác nhau sử dụng. Hệ quả là, trong mỗi ký hiệu tư tưởng có sự giao thoa của nhiều trọng âm khác nhau. Ký hiệu trở thành vũ đài đấu tranh giai cấp”. [tr. 366] Cái “khối thống nhất của ý thức tạo nên bằng lời nói” không phải là cái gì khác hơn là cái “diễn ngôn” của chủ nghĩa Hậu hiện đại sau này; còn ở “sự giao thoa của nhiều trọng âm đánh giá khác nhau” trong mỗi ký hiệu chúng ta thấy thấp thoáng khái niệm “interpellation” của Althusser.

Những luận giải về vai trò quyết định của quan hệ sản xuất và hệ thống chính trị – xã hội, đối với các liên hệ bằng lời nói giữa người với người và mọi hình thức và phương pháp giao tiếp lời nói của họ dẫn Voloshinov đến những những ý tưởng về loại hình lời nói. Ông viết: “Mỗi thời đại và mỗi nhóm xã hội đều có danh mục những hình thức giao tiếp tư tưởng đời sống riêng. Tương ứng với mỗi nhóm các hình thức cùng loại, nghĩa là, với mỗi loại hình lời nói trong đời sống, là một nhóm chủ đề riêng. Giữa hình thức giao tiếp (ví dụ: giao tiếp kỹ thuật trực tiếp trong lao động), hình thức phát ngôn (ví dụ: lời đáp ngắn trong công việc) và chủ đề của nó tồn tại một sự thống nhất hữu cơ không thể tách rời. Do đó, việc phân loại các hình thức phát ngôn phải dựa trên sự phân loại các hình thức giao tiếp lời nói. Các hình thức giao tiếp lời nói này được quy định hoàn toàn bởi các quan hệ sản xuất và hệ thống chính trị – xã hội”. [tr. 363]

Ý tưởng về các loại hình lời nói, đến lượt nó, lại là cơ sở cho một cách nhận thức lại bản chất và vai trò của các thể loại văn học.

2.2.Phần II: Những hướng đi của triết học ngôn ngữ Marxist  

Trong phần thứ hai, Voloshino tập trung giải quyết những vấn đề cơ bản của triết học ngôn ngữ như sự hình thành ngôn ngữ, tương tác lời nói, sự hiểu, ngữ nghĩa… và đặc biệt là vấn đề về thực tại của các hiện tượng ngôn ngữ mà theo ông là vấn đề trung tâm của khoa học về ngôn ngữ.

Như chúng ta đều biết, ngôn ngữ học phương Tây, cũng có nghĩa là ngôn ngữ học thế giới, ra đời nhằm giải mã và giảng dạy ngôn ngữ lạ trong các văn bản thiêng liêng, mà Voloshinov gọi là “xác chết của các ngoại ngữ, được bảo quản trong các tượng đài văn bản.” Ông viết: “… định hướng ngữ văn này, ở một mức độ rất đáng kể, đã quyết định toàn bộ tư duy ngôn ngữ học châu Âu. Lối tư duy này hình thành và trưởng thành trên xác chết của ngôn ngữ viết. Hầu như tất cả các phạm trù, cách tiếp cận và kỹ năng của lối tư duy này được phát triển trong quá trình làm sống lại các xác chết đó”. [tr. 407]

Tư duy về ngôn ngữ ở châu Âu, cho đến đầu thế kỷ XX, có hai xu hướng khác nhau căn bản trong việc giải quyết những nhiệm vụ chính của ngôn ngữ học. Hai xu hướng tư tưởng triết học ngôn ngữ đó được Voloshinov gọi là «chủ nghĩa chủ quan cá nhân » và «chủ nghĩa khách quan trừu tượng».

Chủ nghĩa chủ quan cá nhân coi hành động sáng tạo lời nói cá nhân là cơ sở và coi tâm lý cá nhân là cội nguồn của ngôn ngữ. Vì thế, nhiệm vụ của ngôn ngữ học, nói cho cùng, quy về việc nghiên cứu các quy luật tâm lý cá nhân trong hoạt động sáng tạo ngôn ngữ. «Ngôn ngữ, từ quan điểm này”, Voloshinov viết, “tương tự như các hiện tượng tư tưởng khác, đặc biệt là nghệ thuật và hoạt động thẩm mỹ». [tr. 386] Người đặt nền móng và cũng là đại diện xuất sắc nhất của «chủ nghĩa chủ quan cá nhân», theo Voloshinov, là Wilhelm Humboldt.

Khác với xu hướng thứ nhất, xu hướng thứ hai, Chủ nghĩa khách quan trừu tượng, cho rằng trung tâm tổ chức của các hiện tượng ngôn ngữ là «hệ thống ngôn ngữ, như là một hệ thống các hình thức ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng của ngôn ngữ ». Theo quan điểm của xu hướng này, mặc dù mỗi phát ngôn là duy nhất, nhưng nó đồng thời cũng có những yếu tố ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa đồng nhất, lặp đi lặp lại, và do đó là chuẩn cho mọi phát ngôn, cái đảm bảo sự thống nhất của một ngôn ngữ và sự hiểu của mọi thành viên trong một cộng đồng. Các quy tắc ấy tạo nên một hệ thống ngôn ngữ hoàn toàn độc lập với các hành động, ý định hay động cơ sáng tạo cá nhân. «Từ quan điểm của xu hướng thứ hai không thể nói gì về sự sáng tạo ngôn ngữ có chủ định của cá nhân người nói. Ngôn ngữ đối diện với cá nhân như là thứ quy tắc bất biến và bất khả xâm phạm, mà từ phía cá nhân chỉ có thể chấp nhận. Nếu một cá nhân không tiếp nhận được quy tắc, thì nó không tồn tại với anh ta như một hình thức ngôn ngữ, mà đơn thuần là một khả năng tự nhiên của bộ máy tâm-vật lý cá nhân. Cá nhân tiếp nhận hệ thống ngôn ngữ từ cộng đồng những người nói dưới dạng đã hoàn chỉnh, và mọi thay đổi bên trong hệ thống này nằm ngoài ý thức cá nhân của anh ta. Hành động phát ra một âm thanh bất kỳ chỉ trở thành một hành động ngôn ngữ trong chừng mực nó tương thích với một hệ thống ngôn ngữ – bất biến tại mỗi thời điểm và không thể tranh cãi đối với cá nhân». [tr. 391] Đại diện xuất sắc nhất của chủ nghĩa khách quan trừu tượng là Ferdinand de Saussure.

Ferdinand de Saussure (1857 – 1913), với tác phẩm Cours de linguistique générale (Giáo trình ngôn ngữ học đại cương) do học trò in năm 1916 sau khi ông mất, được công nhận rộng rãi như là cha đẻ của ngôn ngữ học hiện đại. Saussure quan niệm ngôn ngữ như là một hệ thống ký hiệu mang tính đồng đại. Trong hệ thống này, mỗi tín hiệu được tạo nên bởi một cái năng biểu (signifier; trong ngôn ngữ nói, đó là âm) tương ứng với một nghĩa mà ông gọi là cái sở biểu (signified). Theo Saussure, ý nghĩa hoàn toàn do sự khác nhau giữa những cái năng biểu quyết định. Mối quan hệ giữa cái năng biểucái sở biểu mang tính võ đoán. Chẳng hạn, âm “h-a-i” tương ứng với “cao” (high) trong tiếng Anh, nhưng lại có nghĩa là “số hai” trong tiếng Việt.

Một trong những điểm quan trọng nhất trong lý thuyết ngôn ngữ của Saussure là sự phân biệt giữa lờinói(parole), tức những gì chúng ta nói trên thực tế, và ngôn ngữ (langue), một hệ thống khách quan được chia sẻ như nhau bởi mọi thành viên của một cộng đồng ngôn ngữ. Theo Saussure, đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học là ngôn ngữ (tức là cái hệ thống chung đồng đại của cộng đồng), chứ không phải là lời nói.

Cấu trúc luận ngôn ngữ của Saussure có ảnh hưởng rất to lớn trong thế kỷ XX không chỉ đối với ngôn ngữ học mà cả với nhiều ngành khoa học xã hội nhân văn khác.Trong lý luận văn học, điều này có thể thấy ở Chủ nghĩa hình thức, coi văn chương là một thứ ngôn ngữ đặc biệt, khác với ngôn ngữ hàng ngày. Từ ngôn ngữ học, cấu trúc luận tràn vào các lĩnh vực khác. Vào khoảng đầu thập kỷ 1960, khi cấu trúc luận đạt đến thời hoàng kim của nó, người ta được nghe thấy tính từ “cấu trúc” trong rất nhiều lĩnh vực nghiên cứu: nhân chủng học cấu trúc của Claude-Lévi Strauss, tâm phân học cấu trúc của Jacques Lacan, phê bình văn học cấu trúc của Roland Barthes, và cả chủ nghĩa Marx cấu trúc của Louis Althusser.

Voloshinov cho rằng cả Chủ nghĩa khách quan trừu tượng lẫn Chủ nghĩa chủ quan cá nhân đều không có khả năng tiếp cận bản chất thực sự của ngôn ngữ.

Trước hết là chủ nghĩa khách quan trừu tượng.Voloshinov bắt đầu bằng câu hỏi: «Hệ thống các chuẩn mực ngôn ngữ tự đồng nhất – nghĩa là hệ thống ngôn ngữ như cách hiểu của các đại diện của xu hướng thứ hai – là có thực đến đâu?». Ông trả lời: nếu nhìn nhận một cách thực sự khách quan, một hệ thống bất biến các quy tắc tự đồng nhất như vậy không tồn tại trên thực tế. Ngôn ngữ, Voloshinov chỉ rõ, là một quá trình hình thành liên tục của các quy tắc ngôn ngữ: “Hệ thống đồng đại, do đó, nhìn từ quan điểm khách quan, không tương ứng với bất kỳ thời điểm thực nào của quá trình phát triển lịch sử. Và quả thật, đối với nhà sử học ngôn ngữ, đứng trên quan điểm lịch đại, hệ thống đồng đại là không có thực và chỉ là một thứ sơ đồ ước lệ dùng để ghi lại những sai lệch xảy ra tại mỗi thời điểm thực”. [tr. 402]

Hệ thống ngôn ngữ đồng đại nếu tồn tại thì cũng chỉ tồn tại từ quan điểm ý thức chủ quan của cá nhân người nói, tức là từ quan điểm của một thành viên của cộng đồng ngôn ngữ tại một thời điểm lịch sử. Nhưng ngay cả phương thức tồn tại của ngôn ngữ trong ý thức chủ quan của người nói cũng không tồn tại trên thực tế, mà chỉ là một sản phẩm trừu tượng hóa. Hệ thống ngôn ngữ, trong quan niệm của chủ nghĩa khách quan trừu tượng, là sản phẩm của sự tư biện bên trên ngôn ngữ, được thực hiện không phải bởi ý thức của chính người nói ngôn ngữ đó và không phục vụ cho mục đích trực tiếp của sự nói, mà bởi nhà ngôn ngữ học vì những mục đích đặc biệt của mình. Voloshinov khẳng định: «đối với người nói, hình thức ngôn ngữ quan trọng không phải như là một tín hiệu (сигнал) ổn định và luôn luôn tự đồng nhất với chính mình, mà như là một ký hiệu(знак) linh hoạt và luôn luôn thay đổi». [tr. 404]

Ở đây, cần đặc biệt nhấn mạnh sự phân biệt của Voloshinov giữa tín hiệu ký hiệu: «Tín hiệu (сигнал) là cái cố định nội tại, vật duy nhất, trên thực tế không thay thế cái gì, không phản ánh hoặc khúc xạ cái gì, mà chỉ đơn thuần là một phương tiện kỹ thuật để dẫn chiếu đến vật này hay vật khác (xác định và cố định) hoặc đến hành động này hay hành động khác (cũng xác định và cố định!) Tín hiệu trong bất cứ trường hợp nào cũng không thuộc về lĩnh vực tư tưởng, tín hiệu thuộc về thế giới của những đồ vật kỹ thuật, về các công cụ sản xuất hiểu theo nghĩa rộng. Thậm chí còn xa lạ với lĩnh vực tư tưởng hơn nữa là những tín hiệu liên quan đến phản xạ. Các tín hiệu này không có bất kỳ mối liên quan nào đến kỹ thuật sản xuất, xét trong mối quan hệ với cơ thể của động vật thí nghiệm, tức là, như là tín hiệu đối với nó. Với tư cách như vậy, chúng không phải là tín hiệu, mà là một dạng kích thích đặc biệt; chúng chỉ là công cụ sản xuất khi ở trong tay người làm thí nghiệm. Những sai lầm nhận thức đáng buồn và thói quen cố hữu của tư duy máy móc là những lý do duy nhất khiến người ta cố gắng biến những “tín hiệu” này thành một thứ gần như là chìa khóa để hiểu ngôn ngữ và tâm lý con người (nội ngôn từ)». [tr. 404-405]

Trong phần này, Voloshinov phân tích sâu hơn về sự hiểu, nhất là tính tích cực và tính tình huống. Ông chỉ rõ rằng quá trình hiểu tuyệt đối không phải là một quá trình nhận biết tín hiệu, mà là quá trình hiểu ký hiệu: “Chừng nào một hình thức ngôn ngữ nào đó còn đơn thuần là tín hiệu và tín hiệu đó được nhận biết bởi người hiểu, thì đối với anh ta nó hoàn toàn chưa phải là hình thức ngôn ngữ. Không có tính chất tín hiệu thuần túy ngay cả khi bắt đầu học tiếng. Ngay cả khi đó, hình thức cũng được định hướng trong một bối cảnh cụ thể, và ngay cả khi đó nó đã là một ký hiệu, mặc dù vẫn hiện hữu các yếu tố của tính chất tín hiệu cùng sự nhận biết tương ứng”. [tr. 405]

Thế nào là hiểu? Lý giải thiên tài của Voloshinov thể hiện ở đoạn dưới đây: “Ý thức ngôn ngữ của người nói và người nghe – hiểu, như vậy, trong thực tế xử lý tiếng nói sống động, hoàn toàn không phải liên hệ với hệ thống trừu tượng các hình thức tự đồng nhất quy chuẩn của ngôn ngữ, mà với lời nói, theo nghĩa là tập hợp các ngữ cảnh có thể sử dụng của một hình thức ngôn ngữ nhất định. Từ, đối với người nói bằng bản ngữ – không phải là một mục từ trong từ điển, mà một từ đã được sử dụng trong vô số các phát ngôn của các đồng thành viên A, đồng thành viên B, đồng thành viên C… của cộng đồng ngôn ngữ, và được chính người đó dùng trong các phát ngôn đa dạng của mình. Nếu muốn đi từ đây đến một ngôn từ tự đồng nhất trong hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ nhất định – nghĩa là đến một từ trong từ điển – cần phải có một sự định hướng cụ thể, đặc biệt. Vì vậy, thành viên của một tập thể ngôn ngữ bình thường không bao giờ cảm thấy sự trói buộc của các quy tắc ngôn ngữ bất di bất dịch. Hình thức ngôn ngữ chỉ thể hiện giá trị chuẩn mực của nó trong những trường hợp xung đột cực kỳ hiếm hoi, không điển hình cho đời sống ngôn ngữ bình thường (đối với con người hiện đại – gần như chỉ có trong ngôn ngữ viết)”. [tr. 405-406] Nói cách khác, bất kỳ từ nào cũng có thể có vô số nghĩa tùy thuộc vào ngữ cảnh, và từ điển chỉ đơn thuần là một bản liệt kê một số nghĩa ở những bối cảnh ít nhiều điển hình trong đời sống mà thôi.

Chủ nghĩa chủ quan cá nhân cũng coi phát ngôn độc thoại là thực tại cuối cùng, đồng thời là điểm xuất phát, của tư duy về ngôn ngữ. Điều khác biệt chỉ là ở chỗ họ coi cái phát ngôn độc thoại ấy là sản phẩm của một hành động hoàn toàn cá nhân, một biểu hiện của ý thức cá nhân. Voloshinov viết: «Định nghĩa đơn giản nhất và thô mộc nhất của nó là: một cái gì đó được hình thành và xác định, bằng cách này hay cách khác, trong tâm lý cá nhân và được thể hiện ra bên ngoài đối với những người khác nhờ một số ký hiệu bên ngoài». [tr. 419]

Lý thuyết về biểu hiện của chủ nghĩa chủ quan cá nhân giả định hai yếu tố: cái được thể hiện (bên trong) và sự thể hiện của nó ra bên ngoài cho những người khác thuộc cùng một cộng đồng ngôn ngữ và tham gia vào cuộc trò chuyện. Theo lý thuyết này, toàn bộ sức mạnh sáng tạo và sự tổ chức biểu hiện được tạo nên ở bên trong trước khi di chuyển ra ngoài. Do đó, nhiệm vụ của nhà ngôn ngữ học là xuất phát từ sự thể hiện bên ngoài rồi thâm nhập vào bên trong để giải thích các hiện tượng ngôn ngữ. Lý thuyết này, theo Voloshinov, sai lầm từ gốc rễ: “Trải nghiệm – cái được biểu hiện – và sự cụ thể hóa bên ngoài của nó, như chúng ta biết, được tạo ra từ cùng một vật liệu. Bởi lẽ, không có trải nghiệm bên ngoài sự thể hiện bằng tín hiệu. Vì vậy, ngay từ đầu, đã không thể bàn về sự khác biệt nguyên tắc về chất giữa cái bên trong và cái bên ngoài. Hơn thế nữa, trung tâm tổ chức và hình thành [trải nghiệm – NTL và NMT] không nằm bên trong (tức là, không ở trong một vật liệu của ký hiệu bên trong), mà ở bên ngoài. Không phải trải nghiệm tổ chức sự biểu hiện, mà ngược lại, sự biểu hiện tổ chức trải nghiệm, lần đầu tiên mang lại cho nó một hình thức và tính định hướng”. [tr. 420]

Voloshinov chỉ ra rằng trên thực tế, mọi phát ngôn đều được xác định bởi các điều kiện thực tế, đặc biệt là bối cảnh xã hội gần nhất và có tính định hướng giữa những cá nhân có tổ chức về mặt xã hội – ngay cả trong trường hợp không có người nghe thực sự. Khi đó, luôn luôn có một người nghe được người nói/viết hình dung như là đại diện điển hình của một nhóm xã hội nhất định. Voloshinov nhận định về tính định hướng của từ: “Từ luôn định hướng tới người nghe, định hướng tới điều sau: ai là người nghe – người đó có thuộc về cùng một nhóm xã hội hay không, địa vị cao hơn hay thấp hơn (địa vị xã hội của người đối thoại), có hay không liên quan đến người nói bởi một mối quan hệ xã hội gần gũi (cha, anh em, vợ chồng, v.v). Không thể có cái gọi là người đối thoại trừu tượng, có thể nói vậy; bởi vì, nếu có, người đó và chúng ta sẽ không có một ngôn ngữ chung, cho dù là theo nghĩa đen hay nghĩa bóng (…) Thế giới bên trong và sự tư duy của mỗi người đều có một khán giả xã hội ổn định của mình, trong môi trường đó mọi suy luận, động cơ nội tâm, đánh giá v.v… được hình thành. Người càng có văn hóa thì khán giả xã hội này càng gần hơn với khán giả bình thường của sự sáng tạo tư tưởng, nhưng trong mọi trường hợp, người đối thoại lý tưởng không thể ra khỏi biên giới của một giai cấp nhất định và một thời đại nhất định”. [tr. 420]

Như vậy, theo Voloshinov, từ không phải là một âm thanh cụ thể trong một hệ thống và tương ứng với một sự vật ổn định nào đó, mà được xác định như nhau bởi cả hai yếu tố, của ai và cho ai. Với tư cách là một từ, nó đích thị là sản phẩm của mối quan hệ của người nói và người nghe. Mỗi từ đều biểu hiện “một người” trong quan hệ với một “người khác”.

Cá nhân người nói, Voloshinov khẳng định, về bản chất là một sản phẩm của các mối quan hệ xã hội. Điều này rất đúng với khẳng định nổi tiếng của Marx: “Con người là tổng hòa của các quan hệ xã hội”. Những trải nghiệm bên trong của các cá nhân cũng là một địa hạt xã hội; toàn bộ quá trình biểu hiện, từ trải nghiệm bên trong tới sự cụ thể hóa bên ngoài của nó dưới dạng “phát ngôn”, đều nằm trọn trong trong địa hạt xã hội: chỉ có tiếng kêu bản năng của động vật, ông viết, mới có thể được coi là sản phẩm của bộ máy sinh lý của cá thể, còn ngay cả những phát ngôn thô sơ nhất của con người đã mang tính xã hội, đã được tổ chức trong các điều kiện xã hội bên ngoài cơ thể. Phát ngôn, như vậy, hoàn toàn không phải là một sản phẩm của cá nhân, mà là sản phẩm của tương tác xã hội.

Voloshinov nhìn nhận các luận điểm cơ bản của chủ nghĩa khách quan trừu tượng như là phản đề của các luận điểm cơ bản của chủ nghĩa chủ quan cá nhân. Cả hai xu hướng đều chưa thể cho ta một cách tiếp cận biện chứng đối với ngôn ngữ thực tế, một hiện tượng mang bản chất xã hội sâu sắc và không ngừng phát triển. Vậy chân lý nằm ở đâu? “Chúng tôi tin rằng – Voloshinov viết – ở đây, cũng như ở bất kỳ nơi nào khác, sự thật không nằm ở trung điểm vàng và không phải là một sự thỏa hiệp giữa các luận đề và phản đề, mà nằm bên ngoài và cách xa chúng, là cái phủ định cả luận đề lẫn phản đề, tức là, là một sự tổng hợp biện chứng”. [tr. 417]

Voloshinov bắt đầu bằng việc xác định đối tượng nghiên cứu – nhiệm vụ đầu tiên của mọi ngành khoa học.

Việc xác định đối tượng nghiên cứu thực sự của triết học ngôn ngữ, trên thực tế, là một công việc rất không dễ dàng. Như Voloshinov phân tích, nếu chúng ta chỉ chú ý đến ngữ âm như là một hiện tượng âm thanh thuần túy, ngay cả khi chúng ta thêm vào đó quá trình sinh lý sản xuất và tiếp nhận âm thanh, thì đó sẽ là một đối tượng nghiên cứu của vật lý học. Ngôn ngữ chỉ có thể nảy sinh trong giao tiếp xã hội có tổ chức. «Để quan sát quá trình cháy, cần phải đặt chất cháy vào môi trường không khí» – Voloshinov viết – «Để quan sát một hiện tượng ngôn ngữ, cần phải đặt các chủ thể phát và nghe âm thanh, cũng như chính âm thanh, vào bầu không khí xã hội. Bởi lẽ, người nói và người nghe phải thuộc về cùng một cộng đồng ngôn ngữ, cùng một xã hội có tổ chức nhất định. Tiếp nữa, cả hai cá nhân của chúng ta phải ở trong cùng một bối cảnh xã hội gần gũi, tức là, họ phải có liên hệ với nhau, với tư cách con người với con người, trên cùng một cơ sở nhất định. Chỉ có trên cùng cơ sở nhất định, thì sự trao đổi bằng lời nói mới có thể diễn ra, bất luận cơ sở chung đó là chung về cái gì, và như ta vẫn thường nói, có tính ngẫu nhiên như thế nào». [tr. 384]

Voloshinov chỉ ra rằng mọi phát ngôn đều chỉ là một điểm trong sự giao tiếp lời nói liên tục, và sự giao tiếp bằng lời nói này cũng chỉ là một điểm trong quá trình phát triển liên tục và mọi mặt của một tập thể xã hội. Vì thế, giao tiếp lời nói chỉ có thể hiểu được trong mối liên hệ với một tình huống cụ thể. «Chính ở đây, chính trong sự giao tiếp cụ thể bằng lời nói, chứ không phải trong hệ thống các hình thức ngôn ngữ, không phải trong tâm lý cá nhân của những người nói, ngôn ngữ sống và phát triển trong lịch sử ». Voloshinov kết luận: «Thực tại đích thực của ngôn ngữ – đó không phải là một hệ thống trừu tượng của các hình thức ngôn ngữ, không phải là phát ngôn độc thoại cô lập, và cũng không phải là hành động tâm lý – sinh lý của việc thực hiện nó, mà là sự kiện xã hội của sự tương tác bằng lời nói, được thực hiện bởi các phát ngôn và các phát ngôn. Như vậy, tương tác lời nói chính là thực tại cơ bản của ngôn ngữ”. [tr. 429]

Vấn đề thứ hai là vấn đề về ý nghĩa, một vấn đề cực kỳ khó khăn của ngôn ngữ học.

Cả chủ nghĩa khách quan trừu tượng lẫn chủ nghĩa chủ quan cá nhân đều không giải quyết được vấn đề, vì cả hai đều nhìn nhận phát ngôn từ quan điểm độc thoại, một chiều. Với chủ nghĩa chủ quan cá nhân, phát ngôn độc thoại là một hành động cá nhân. Với chủ nghĩa khách quan trừu tượng, sự khác biệt của cái năng biểu quyết định sự khác biệt của của cái sở biểu (nghĩa). Thật ra, phát ngôn luôn luôn được xác định bởi các điều kiện thực tế của việc phát ngôn, đặc biệt là bối cảnh xã hội gần nhất chứ không phải chỉ bởi các yếu tố tâm-sinh lý bên trong của người nói hay sự khác biệt của năng biểu. « Định hướng của từ tới người nghe có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Về bản chất, từ là một hành động hai mặt. Nó được xác định ở mức độ như nhau bởi cả hai yếu tố, của ai và cho ai. Với tư cách là một từ, nó đích thị là sản phẩm của mối quan hệ giữa người nói và người nghe. Mỗi từ đều biểu hiện “một người” trong quan hệ với một “người khác”. Trong từ, tôi tạo ra một diện mạo của chính mình bằng lời từ quan điểm của người khác, và nói cho cùng, từ quan điểm của tập thể mà mình là thành viên ». [tr. 420]

Khác với Saussure, Voloshinov phân biệt Chủ đề (“nội dung của chỉnh thể phát ngôn”) với Ý nghĩa (“một tiềm năng, khả năng có nghĩa trong một chủ đề cụ thể”): “Bất kỳ một phát ngôn nào, như là một chỉnh thể, đều có một ý nghĩa xác định và duy nhất, một nội dungduy nhất. Hãy gọi nội dung của tổng thể phát ngôn là chủ đề của nó. Chủ đề phải duy nhất, nếu không, chúng ta sẽ không có bất kỳ cơ sở gì để nói về một phát ngôn. Chủ đề của phát ngôn, về bản chất, mang tính cá nhân và không lặp lại, như bản thân phát ngôn. Chủ đề là biểu hiện của tình huống lịch sử cụ thể đã sản sinh ra phát ngôn. Phát ngôn “mấy giờ rồi?” mỗi lần sử dụng lại có một ý nghĩa khác, và do đó, nói bằng thuật ngữ của chúng ta, có một chủ đề khác, tùy thuộc vào tình huống lịch sử cụ thể (lịch sử ở đây được hiểu với một quy mô rất nhỏ), trong đó nó được phát ra và, về bản chất, nó cũng là một bộ phận cấu thành…Tuy nhiên, nếu chúng ta tự giới hạn ở tính độc nhất và không lặp lại của từng phát ngôn cụ thể cùng chủ đề của phát ngôn ấy, chúng ta sẽ là những nhà biện chứng tồi. Bên cạnh chủ đề, hay đúng hơn, bên trong chủ đề, phát ngôn còn có ý nghĩa. Ý nghĩa, khác với chủ đề, ở đây được quan niệm là tất cả những yếu tố của phát ngôn, được lặp lại và tự đồng nhất ở tất cả các lần lặp lại. Tất nhiên, những yếu tố này là trừu tượng: chúng không tồn tại độc lập và cụ thể dưới hình thức biệt lập nhân tạo, nhưng đồng thời chúng cũng là bộ phận không thể thiếu, không thể tách rời của phát ngôn. Chủ đề của một phát ngôn, về bản chất, không thể chia tách được. Ý nghĩa của phát ngôn, ngược lại, được chia nhỏ thành ý nghĩa của các yếu tố ngôn ngữ cấu thành nên phát ngôn ấy. Chủ đề không lặp lại của phát ngôn “mấy giờ rồi?” gắn chặt với một tình huống lịch sử cụ thể, không thể phân chia thành các yếu tố. Còn ý nghĩa của phát ngôn “mấy giờ rồi?” – là như nhau, tất nhiên, trong mọi hoàn cảnh lịch sử mà nó được phát ra – được tạo nên từ ý nghĩa của các từ, các hình thức quan hệ hình thái học và cú pháp, ngữ điệu nghi vấn v.v…tham gia cấu thành nên nó”. [tr. 433-434]

Derrida về sau cũng phê phán quan điểm của Saussure. Ông viết: “khái niệm được biểu đạt không bao giờ hiện diện trong bản thân nó, trong một sự hiện diện đúng mức chỉ dẫn chiếu đến chính nó mà thôi. Mỗi khái niệm bắt buộc và thực chất được gắn với một chuỗi hay một hệ thống, trong đó nó dẫn chiếu đến một và những khái niệm khác, thông qua sự vận hành hệ thống của những khác biệt”[5]. Derrida minh họa bằng việc thay chữ “e” trong “différence” (Khác biệt) bằng” chữ “a” để sáng tạo ra từ “différance” đồng âm nhưng khác cách viết[6].

Các từ được nói ra đều không chỉ có chủ đề và ý nghĩa, mà còn có sự đánh giá. «Không thể có một phát ngôn mà không có sự đánh giá. Mỗi phát ngôn trước hết là sự định hướng có đánh giá. Vì vậy, trong một phát ngôn trong đời sống, mỗi yếu tố đều không chỉ mang ý nghĩa mà còn có sự đánh giá. Chỉ có những yếu tố trừu tượng, được tiếp nhận trong hệ thống ngôn ngữ, chứ không phải trong cấu trúc phát ngôn, mới tỏ ra không có sự đánh giá. Chủ trương chỉ nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ trừu tượng còn dẫn đến một thực tế là hầu hết các nhà ngôn ngữ học tách rời sự đánh giá với ý nghĩa, xem nó là phụ, là một yếu tố của ý nghĩa, một sự biểu hiện quan hệ của cá nhân người nói đối với đối tượng của lời nói». [tr. 439]Muốn hiểu sự hình thành lịch sử của chủ đề và ý nghĩa do nó thực hiện, Voloshinov kết luận, chúng ta không thể không nghiên cứu sự đánh giá của xã hội.

Vấn đề thứ ba là tính đối thoại và sự tiếp nhận chủ động.

Lý luận về tính đối thoại của ngôn ngữ thường được coi là một trong những điểm độc đáo nhất của Voloshinov nói riêng, của nhóm Bakhtin–Medvedev-Voloshinov nói chung. Theo Voloshinov, phát ngôn độc thoại chỉ là một sự trừu tượng hóa, bị cắt đứt khỏi mọi liên hệ với toàn bộ sự hình thành lịch sử cụ thể của nó, rằng « ý thức ngôn ngữ của người nói và người nghe không phải liên hệ với hệ thống trừu tượng các hình thức đồng dạng quy tắc của ngôn ngữ, mà với ngôn ngữ nói, theo nghĩa là tập hợp các ngữ cảnh có thể sử dụng của một hình thức ngôn ngữ nhất định…Tách rời ngôn ngữ và nội dung tư tưởng của nó – đó là một trong những sai lầm sâu sắc nhất của chủ nghĩa khách quan trừu tượng”. [tr. 406]

Thật ra, như Voloshinov đã chỉ ra, « bất kỳ phát ngôn nào, kể cả một phát ngôn bằng văn bản đã hoàn tất, cũng đều đáp lại một cái gì đó và đều trù tính để có một lời đáp nào đó ». Nói cách khác, ngôn ngữ luôn luôn có tính đối thoại. Hiểu phát ngôn, theo Voloshinov, có nghĩa là tự hướng về nó, tìm cho nó một vị trí thích hợp trong ngữ cảnh, trong quá trình đó chúng ta tìm cho mỗi từ trong phát ngôn một tập hợp các từ đối ứng để lựa chọn. «Như vậy, mỗi yếu tố khả phân mang nghĩa của phát ngôn, và toàn bộ phát ngôn như một tổng thể – được chúng ta phiên dịch sang một ngữ cảnh tương ứng, chủ động khác. Mọi sự hiểu đều mang tính biện chứng. Sự hiểu đối lại với phát ngôn, hệt như những lời đối đáp trong một cuộc đối thoại. Sự hiểu tìm kiếm cho mỗi từ của người nói một phản từ. Chỉ khi cố hiểu một từ trong tiếng nước ngoài ta mới tìm kiếm “chính từ ấy” trong ngôn ngữ của mình mà thôi ». [tr. 436]

Ở Nga, vấn đề đối thoại đã được Iakubinski nghiên cứu trong một công trình công bố năm 1923. Tuy nhiên, Voloshinov là người đưa ra những phát triển căn bản và độc đáo: Ông chỉ ra rằng đối thoại không chỉ là một hình thức giao tiếp cụ thể, mà chính là thuộc tính của mọi hoạt động giao tiếp lời nói.

2.3.Phần IIITiến tới một lịch sử hình thức phángôtrong cácấu trúngôngữ.

Phần thứ ba của tập sách khảo sát một vấn đề rất thú vị: sự truyền đạt phát ngôn của kẻ khác, cũng là một vấn đề rất quan trọng đối với nghiên cứu văn học. Voloshinov viết: “Nhưng bản thân chủ đề của phần thứ ba – vấn đề phát ngôn của kẻ khác – cũng đã rất quan trọng, vượt xa khỏi phạm vi của cú pháp học. Bởi lẽ hàng loạt hiện tượng văn học quan trọng bậc nhất – lời nói của nhân vật (và sự xây dựng nhân vật nói chung), tự sự, phong cách hóa, giễu nhại, – chỉ là những khúc xạ khác nhau của “lời kẻ khác.” Hiểu cách nói này cùng các quy luật xã hội điều chỉnh nó là điều kiện tiên quyết cho việc khảo sát thành công tất cả hiện tượng văn học mà chúng ta đã liệt kê”. [tr. 352]Những khảo sát của Voloshinov về sự truyền đạt phát ngôn của kẻ khác, đến lượt nó, lại dựa trên sự khảo sát sâu sắc và những ý tưởng cực kỳ mới mẻ của ông về cú pháp học.

Trước công trình của Voloshinov, ngôn ngữ học hầu như chỉ giới hạn trong ngữ âm họcvà hình thái học. Vì thế, các vấn đề của cú pháp học cũng được nhìn nhận thông qua lăng kính ngữ âm học và hình thái học. Nhưng, như Voloshinov đã chỉ ra, các vấn đề cú pháp cực kỳ quan trọng để hiểu về ngôn ngữ và sự phát triển của chúng. “Bởi lẽ, trong tất cả các hình thức của ngôn ngữ, các hình thức cú pháp là gần gũi nhất với các hình thức cụ thể của phát ngôn, với các hình thức cụ thể của các phát biểu bằng lời. Mọi sự phân tích cú pháp của lời nói đều là phân tích cơ thể sống của phát ngôn, và do đó việc quy chúng về một hệ thống trừu tượng của ngôn ngữ sẽ vô cùng khó khăn”. [tr. 441-442]

Để nghiên cứu cú pháp một cách hiệu quả, Voloshinov viết, cần phải có một lý thuyết sâu sắc về chỉnh thể phát ngôn, mà đó chính là thứ còn thiếu. “Trên thực tế, tất cả các phạm trù ngôn ngữ, nói một cách công bằng, chỉ áp dụng được bên trong lãnh thổ của phát ngôn. Tất cả các phạm trù hình thái học chỉ có giá trị bên trong phát ngôn; chúng từ chối phục vụ với tư cách như là cái định nghĩa cho chỉnh thể. Tương tự như vậy là các phạm trù cú pháp, ví dụ như phạm trù “câu” – nó chỉ là định nghĩa của câu như là một thành phần bên trong phát ngôn, chứ tuyệt nhiên không phải như là một chỉnh thể”. [tr. 442]

Ngôn ngữ học khi đó cũng chưa hiểu đúng về đoạn văn, cái vẫn được tin một cách máy móc là chứa đựng một ý nghĩa hoàn chỉnh. Hơn thế nữa, nếu như có cái ý hoàn chỉnh ấy, thì đó cũng không phải là một định nghĩa nhìn từ quan điểm ngôn ngữ học. “Thành phần cú pháp học của các đoạn văn vô cùng đa dạng: chúng có thể bao gồm từ một từ duy nhất đến một số lượng lớn các câu phức tạp. Khi nói rằng một đoạn văn phải có một ý hoàn chỉnh, thật ra là chẳng nói bất kỳ cái gì. Bởi lẽ, cái cần có là một định nghĩa từ quan điểm ngôn ngữ, mà tính hoàn chỉnh của một ý, dù ở bất kỳ mức độ nào, đều không phải là một định nghĩa ngôn ngữ. Nếu không thể tách hoàn toàn các định nghĩa ngôn ngữ khỏi các định nghĩa tư tưởng, chúng tôi tin tưởng như vậy, thì cũng không thể thay thế chúng cho nhau”. [tr. 443]

Voloshinov có lẽ là người đầu tiên nhận ra tính đối thoại của các đoạn văn: “Nếu đào sâu hơn vào bản chất ngôn ngữ của đoạn văn, chúng ta sẽ thấy rằng các đoạn văn ấy, trong một số đặc điểm cốt yếu, tương tự như các đoạn đối thoại. Dường như đó là đối thoại được giảm nhẹ và nhập vào các phát ngôn độc thoại. Cảm giác về người nghe và người đọc cũng như những phản ứng có thể có của ông ta là cơ sở của sự phân tích lời nói thành các đoạn, mà văn bản được đánh dấu như là các đoạn văn. Cảm giác về người nghe và dự tính về các phản ứng có thể của ông ta càng yếu thì tính phân đoạn, theo nghĩa là chia thành các đoạn văn, của lời nói càng ít”. [tr. 443]

Để khảo sát một cách hiệu quả các vấn đề cú pháp, đặc biệt là chỉnh thể phát ngôn và đoạn văn, chỉ có một con đường, đó là thông qua sự nghiên cứu các hình thức giao tiếp lời nói và những hình thức tương ứng – đó là kết luận của Voloshinov. Điều đó cũng có nghĩa là “cần phải đánh giá lại một cách toàn diện tất cả các phạm trù ngôn ngữ học chủ yếu”.

Vấn đề về hình thức truyền đạt phát ngôn của người khác (những hình mẫu cú pháp của “lời nói trực tiếp”, “lời nói gián tiếp”, “lời nói cận trực tiếp) cùng các biến thể của chúng vốn không được ngôn ngữ học coi trọng. “Trong hiện tượng này, một hiện tượng thoạt nhìn chỉ là thứ yếu của cú pháp học, người ta đã không nhìn thấy một vấn đề có tầm quan trọng lý thuyết và ngôn ngữ chung vô cùng to lớn”. [tr. 444] Theo ông, cách tiếp cận tốt nhất để khảo sat hiện tượng này là cách tiếp cận xã hội học.

“Lời kẻ khác”, như Voloshinov phân tích, “đó là lời trong lời, phát ngôn trong phát ngôn, nhưng đồng thời, đó cũng là lời về lời, phát ngôn về phát ngôn”. [tr. 445] Phát ngôn của kẻ khác không chỉ là chủ đề của lời nói, mà còn có thể thâm nhập vào lời nói và cấu trúc cú pháp của lời nói, trở thành một yếu tố cấu thành của nó. Những phân tích vô cùng tinh tế của Voloshinov về sự truyền đạt và tiếp nhận tích cực lời kẻ khác trong mối quan hệ với tính đối thoại dẫn đến một luận điểm cực kỳ quan trọng, đó là tác phẩm văn chương luôn luôn không chỉ đa nghĩa mà còn đa thanh, và mỗi tác phẩm văn chương đều là một vùng giao thoa lời nói, giao thoa của các diễn ngôn. Việc khảo sát mối quan hệ giữa các lời nói (của tác giả, người kể chuyện, nhân vật) chính là điểm tựa lý thuyết để nghiên cứu các các phẩm văn học, đặc biệt là tiếu thuyết phức điệu, trong đó các giọng điệu là bình đẳng, như ở Dostoievski hay Nam Cao.

Bằng những nghiên cứu của mình, Voloshinov chính là người đặt nền móng cho siêu ngôn ngữ học.

 

3.Thay cho lời kết

 “CNMVTHNN”, cũng như các tác phẩm khác của Voloshinov và chính tác giả của chúng, có số phận rất long đong. Xuất bản vào thập niên 1920 đầy biến động ở Liên Xô, những tác phẩm của Voloshinov chỉ được biết đến bởi một số không nhiều các chuyên gia, trong đó có Roman Jakobson. Nhờ có Roman Jakobson, những ý tưởng của Voloshinov có ảnh hưởng to lớn đối với trường phái ngôn ngữ học Praha. Trong khi đó, ở Liên Xô, các tác phẩm của ông (và cuốn “Phương pháp hình thức trong nghiên cứu văn học” của Medvedev) bị lãng quên, nói đúng hơn là bị chôn vùi, ở Liên Xô trong suốt mấy thập niên kể từ khi Voloshinov mất (1936) và Medvedev bị chính quyền Stalin xử bắn (1938), cho đến khi chúng được dịch ra các thứ tiếng phương Tây đầu thập kỷ 1970 và nhanh chóng trở thành những cuốn sách không thể không đọc trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.

Khi nói đến Voloshinov và Medvedev, người ta cũng thường nhắc đến Bakhtin – một trong những nhà ngôn ngữ học nổi tiếng đồng thời cũng là một người trong nhóm bộ ba Voloshinov – Medvedev – Bakhtin. Từ đầu thập niên 1970, với sự trợ giúp của học trò, Bakhtin bắt đầu tự nhận là tác giả của cuốn “Phương pháp hình thức trong nghiên cứu văn học” của Medvedev và hầu như tất cả các tác phẩm quan trọng của Voloshinov. Do nhiều lý do khác nhau, mặc dù không có bằng chứng cụ thể, giới học giả đã nhanh chóng tin tưởng và lan truyền rằng Bakhtin là tác giả đích thực (và duy nhất) của các tác phẩm ký tên Voloshinov và Medvedev. Bản thân Voloshinov cũng như Medvedev bị một số tác giả, đặc biệt là học trò của Bakhtin, hạ thấp thành những tác giả xoàng xĩnh, những “học trò” của Bakhtin. Nhưng những nghiên cứu hồ sơ, văn bản và phong cách học gần đây cung cấp các bằng chứng thuyết phục cho phép khẳng định dứt khoát bản quyền trọn vẹn của Voloshinov và Medvedev đối với những kiệt tác của họ.  Ngay từ thập niên 1920, họ đã là những học giả có uy tín, làm việc trong những trường đại học và viện nghiên cứu hàng đầu của Leningrad. Các tác phẩm đã công bố không chỉ là kết quả của chương trình nghiên cứu của Voloshinov và Medvedev tại Viện Lịch sử So sánh Văn học và Ngôn ngữ Đông Tây mà còn là những vấn đề họ theo đuổi trong nhiều năm, từ khi còn là sinh viên, nghiên cứu sinh, cho đến khi trở thành những nhà giáo và nhà nghiên cứu có uy tín. Về vấn đề này, Jean-Paul Bronckart và Cristian Bota đã có một công trình nghiên cứu công phu dày hơn 600 trang, nhan đề “Lột mặt nạ Bakhtine  – Câu chuyện về một kẻ lừa dối, một trò bịp bợm và một cơn mê sảng tập thể”.[7]

Tuy nhiên, ở đây chúng tôi không có ý định bàn luận về vấn đề tác quyền đối với cuốn sách này nói riêng và các tác phẩm đã công bố của ba nhà nghiên cứu nêu trên. Bài viết này chỉ nhằm mục đích giới thiệu những luận điểm quan trọng trong cuốn sách “Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ” – những luận điểm có những ảnh hưởng hết sức sâu rộng đối với ngành ngôn ngữ học trên thế giới. Ngoài ra, cũng không thể phủ nhận một điều là Voloshinov, Medvedev và Bakhtin từng là ba người bạn thân, một bộ ba khăng khít và đối với nhiều vấn đề, quan điểm của họ là quan điểm chung của nhóm hoặc là chịu ảnh hưởng lẫn nhau (Cũng chính vì vậy, trong một số bài viết đã công bố trước đây, khi vẫn có những tranh cãi và chưa có kết luận chắc chắn về tác giả đích thực của một số công trình nghiên cứu liên quan đến ba tác giả, chúng tôi gọi chung là “nhóm Bakhtin”). Mặc dù vậy, trong số ba người bạn – Medvedev, Voloshinov và Bakhtin – theo chúng tôi, người độc đáo và có nhiều cách tân nhất chính là Voloshinov. Hầu như tất cả các ý tưởng mới mẻ làm nên danh tiếng của nhóm ta đều thấy ở tác phẩm của Voloshinov. Có thể nói, Voloshinov (cùng với Medvedev) đã tạo nên nền tảng triết học để Medvedev áp dụng phê bình một trường phái lý luận (Chủ nghĩa hình thức) và Bakhtin áp dụng để nghiên cứu một tác giả (Dostoievski).

 

……………………………….

[1] TS. Ngô Tự Lập: Phó TBT Tạp chí Khoa học Đại học Quôc gia Hà Nội; PGS. TS. Ngô Minh Thủy: Trưởng Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Phương Đông, Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN.

[2] Jean-Paul Bronckart, Cristian Bota, “Bakhtine démasqué”, Droz, Genève, 2011, tr. 264.

[3] Trích hồ sơ Nghiên cứu sinh của Voloshinov, trong М.МБахти́н (подмаской),лабиринт, москва, 2000, tr.573.

[4] Tất cả các đoạn trích từ “CNMVTHNN” trong bài này đều do Ngô Tự Lập dịch từ tiếng Nga, rút từ tập М.МБахти́н (подмаской),лабиринт, москва, 2000, tr. 349-486. Bản dịch đầy đủ của “CNMVTHNN” sắp ra mắt bạn đọc. Trong bài này, số trang của nguyên bản tiếng Nga cuốn “CNMVTHNN”được đặt trong dấu ngoặc vuông.

[5] Derrida, Jacques. “Différance.” trong “Literary Theory: An Anthology”. Ed. Julie Rivkin and Michael Ryan.  Malden: Blackwell, 1998, tr. 392.

[6] Trong tiếng Việt chúng ta cũng có thể làm tương tự: thay “c” trong “Khác biệt” bằng “k” để thành “Khák biệt”.

[7] Xem thêm: Bronckart J-P và Bota C., “Bakhtine démasqué – Histoire d’un menteur, d’une escroquerie et d’un délire collectif”, Droz, Genève, 2011.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Бахти́н, M.M. (подмаской), москва, лабиринт, 2000, tr. 349-486.

2.Bakhtin, M. “Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki”, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch, tái bản lần thứ nhất, Giáo dục, Hà Nội, 1998.

3.Bakhtin, M. “Lý luận và thi pháp tiểu thuyết”, Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn và dịch, in lần thứ hai, Hội nhà văn, Hà Nội, 2003, tr.

4.Bronckart J-P và Bota C., “Bakhtine démasqué – Histoire d’un menteur, d’une escroquerie et d’un délire collectif”, Droz, Genève, 2011.

5.Derrida, J. “Différance”, in “Literary Theory: An Anthology”. Ed. Julie Rivkin and Michael Ryan.  Malden: Blackwell, 1998. 385-407.

6.Titunik, I.R. “The Formal Method and the Sociological Method (M. M. Bakhtin, P. N. Medvedev, V. N. Voloshinov) in Rusian Theory and Study of Literature”, in V.V. Voloshinov, “Marxism and the Philosophy of Language”, Trans. Ladislav Matejka and I. R. Titunik, Harvard U.P., Cambridge, 1986.

Nguồn: Bài đã đăng trên tạp chí “Ngôn ngữ”, ISSN: 0866-7519, số 6(301), 2014, tr. 31-46). Bản tác giả gửi Phê bình văn học.Copyright © 2012-2014 – Phê bình văn học

Leave a Reply