Ý nghĩa thực sự của quy phạm học thuật


 Trí Hiệu Dân

Mấy năm gần đây, trạng huống hỗn loạn trong lĩnh vực nghiên cứu học thuật gây lo lắng trong xã hội. So với chuyện hàng giả, hàng chất lượng kém tràn ngập thị trường hiện nay, hiện trạng học thuật cũng chẳng tốt đẹp hơn là mấy. Có ý kiến cho rằng có đủ thứ nguyên nhân dẫn đến việc các công trình nghiên cứu và luận văn luận án học thuật đã suy đồi tới chỗ biến thành chiếc “chìa khóa” mở cửa bình xét chức danh. Từ hình thức cho đến nội dung các sản phẩm đó chẳng khác gì văn bát cổ khoa cử ngày xưa[1]. Cũng có người nói, nhiều học giả trong lớp trẻ chất đống các thuật ngữ khoa học xã hội nhân văn phương Tây trong các công trình của mình, ngó qua đã đủ khiến độc giả phát hãi mà kì thực thì đó cũng chỉ là một loại gọi là văn bát cổ Tây Dương mà thôi […]. Hết thảy những chuyện đó đều là biểu hiện nổi bật của tình trạng học thuật đã mất đi quy phạm của nó. Như chuyện các viện nghiên cứu khoa học xã hội trong nước mỗi năm cho ra lò bao sản phẩm nghiên cứu hàng trăm trang, in ra vứt sọt rác thành giấy lộn thì chỉ họ mới biết cụ thể, người ngoài khó mà hình dung được.

Nếu nói, quy phạm hóa học thuật chủ yếu là nhằm chống lại tình trạng suy thoái trong học thuật hiện nay thì việc học thuật bản thổ hóa trên một mức độ nào đó mà nói lại là sự biểu hiện của nguyện vọng hòa nhập thế giới của các nhà nghiên cứu lớp trẻ. Về mặt lí luận, việc xác lập quy phạm học thuật và việc thực hiện học thuật bản thổ hóa vốn không có gì mâu thuẫn. Lịch sử học thuật hiện đại Trung Quốc chứng minh điều đó. Chẳng hạn, quan điểm nghiên cứu học thuật phải vận dụng hệ thống các phương pháp của phương Tây kết hợp với nền tảng và bản lĩnh Hán học thâm hậu của Sài Nguyên Bồi[2], chủ trương chỉnh lí vốn cổ một cách thiết thực của Hồ Thích[3], thể nghiệm “viễn cảnh mới của tư tưởng Nho gia” của Hạ Lân[4],… đều là những ví dụ tích cực. Vấn đề hôm nay là, chúng ta một mặt đã khinh bỏ truyền thống trong khi đối với văn hóa phương Tây cũng chỉ biết nửa vời nhưng lại muốn tiến lên trình độ học thuật quốc tế tiên tiến. Như thế chả hóa ra kì quặc hay sao? Vậy nên, khi người ta đang phát sốt lên trước cái gọi là bá quyền văn hóa thể hiện ra ở những là hậu hiện đại chủ nghĩa, hậu thực dân chủ nghĩa của phương Tây thì tốt nhất ta hãy bình tĩnh thừa nhận bản thân lạc hậu và không ngại suy gẫm cho kĩ lời dạy của cổ nhân – “Đến bên miệng vực ngắm cá không bằng lui về mà đan lưới”.

Không nhớ ai là tác giả bức biếm họa vẽ cảnh đá bóng mà bóng thì nằm lăn góc sân trong lúc hai đội đứng tranh luận vấn đề hình nhi thượng học của môn túc cầu. Nín cười lại nghĩ đến câu danh ngôn của Hồ Thích “Nghiên cứu cho nhiều, bớt bàn chủ nghĩa”. Đáng tiếc, do nguyên nhân chính trị mà câu đó bị phê suốt mấy chục năm. May là giờ đây trước ngưỡng cửa thế kỉ mới, người ta cũng đã mỏi mệt với đủ thứ chủ nghĩa, bắt đầu nảy nở ý thức tìm tòi nghiên cứu giải quyết vấn đề. Đây mới chính là lối ra của chuyện quy phạm hóa khoa học xã hội.

Dù thế nào đi nữa, đề xuất được vấn đề suy thoái học thuật và nhân cách giới khoa học đã là khơi ra được một đầu mối tích cực. Tiếp theo công việc còn nhiều, đường đi còn dài. Chúng ta một mặt phải truy tìm nguyên nhân chính trị kinh tế và giáo dục dẫn đến suy thoái trong học thuật mặt khác cũng phảm tìm câu trả lời làm sao để ngăn chặn được sự suy thoái đó ở bản thân năng lực trình độ và đạo đức của giới khoa học. Nói tóm lại, chỉ khi tập trung sức lực vào việc xác định đúng vấn đề và hướng giải quyết thì việc quy phạm hóa học thuật khoa học xã hội mới không biến thành một khẩu hiệu trống rỗng.

12/1995

Lê Thời Thôi dịch từ nguyên bản tiếng Trung

學術規範的真諦  trong sách《往事知多少》 tác giả智效民, 云南人民出版社 xuất bản, 2004

[1] Văn bát cổ – thể văn ứng thí dưới thời Minh Thanh. Đề bài trích dẫn từ Tứ Thư và Ngũ Kinh, văn bài số chữ từ 300 cho đến 500 (thời Minh) tăng đến 700 chữ (dưới thời Càn Long). Quy cách bố cục 4 đoạn 8 vế văn biền ngẫu đối ứng. Tính cách hình thức hóa cao độ và sự sáo mòn giáo điều cùng cực về nội dung khiến cho nó vừa vặn trở thành một phương tiện khoa cử thoái hóa. Tư tưởng gia đời Thanh Cố Viêm Võ so sánh cái họa của thể văn trường quy này với đại nạn đốt sách chôn nho của Tần Thủy Hoàng. Nhiều người đổ lỗi lạc hậu của Trung Hoa cho thể văn này nhưng chúng tôi thì lại nghĩ một thể văn chẳng làm hại nổi một quốc gia. Vấn đề là ở thể chế quy định dùng thể văn ấy cho khoa cử tuyển hiền tài làm những bài luận về một thứ tri thức kinh viện giáo điều. Khoa cử bát cố kéo dài mấy trăm năm khiến ta liên tưởng đến đêm trường trung cổ Âu châu (chú thích trong bài của người dịch).

[2] 蔡元培 (Cai Yuanpei) – Bộ trưởng đầu tiên của Bộ giáo dục Trung Hoa Dân Quốc (Giáo dục bộ Tổng trưởng), hiệu trưởng Đại học Bắc Kinh thời gian 1916-1927. Chủ trương một nền giáo dục chú trọng Đức-Trí-Thể-Quần-Mĩ (德, 智, 體, 群, 美). Ba yếu tố đầu ta đã nghe quen, hai yếu tố sau “quần” (Collective) và “mĩ” (Beauty) tạm cắt nghĩa là giáo dục năng lực chia sẻ kết nối cộng đồng (sống trong tập thể) và giáo dục thẩm mĩ.

[3]  胡適 một trong người cầm đầu phong trào Ngũ Tứ, từng là Hiệu trưởng Đại học Bắc Kinh, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Trung Hoa Dân Quốc tại Hoa Kì. Viện trưởng Viện Hàn lâm Khoa học dưới thời Dân Quốc.

[4] 贺 麟 (He Lin 1902-1992) nhà triết học Trung Quốc hiện đại, một trong những đại biểu của trường phái Tân Nho Gia của triết học Trung Quốc hiện đại. Hạ được xem là người khai sinh “tân tâm học” (1940) kết hợp chủ nghĩa Hegel mới với tâm học của Lục Cửu Uyên và Vương Dương Minh.

Nguồn: Bản đăng trên Phê bình văn học do dịch giả gửi.

Leave a Reply