Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
1369 lượt xem

Các nhà văn nhà thơ ở hà tĩnh

Bạn đang quan tâm đến Các nhà văn nhà thơ ở hà tĩnh phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Các nhà văn nhà thơ ở hà tĩnh

Các nhà văn Việt Nam ở tỉnh Hà Tĩnh

tungbach

các bút danh khác: tung chi, ngay với tranh

tên và họ khi sinh: le tung bach. Sinh ngày 15 tháng 3 năm 1949. Quê quán: Xã Sơn Bằng, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. dân tộc Kinh. không có tôn giáo. chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Thư ký tòa soạn tạp chí, nhà báo – Hội nhà báo tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. hiện cư ngụ tại: 74 / b2 truong cong dinh, quận 3, tp vũng tàu. anh gia nhập hội từ năm 2004. t hi tiết về quá trình học tập, công tác và sáng tác: sáng tác thơ từ năm 1967, chủ yếu là thơ, đăng trên các báo, tạp chí Trung ương và địa phương. tác phẩm đã xuất bản chính: t ình mình với những chiếc bóng (thơ, 1990); vịt đực và cái lược gà trống (thơ, 1995); khoảng trời của con ếch (thơ, 2000); người gieo giống (thơ, 2002); đi và thu (thơ, 2005). Giải thưởng văn học: t iếng B Giải tập thơ Người gieo giống tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (2004). giải thưởng cuộc thi sáng tác thơ, truyện ngắn dành cho lứa tuổi mầm non do nhà xuất bản giáo dục và sở giáo dục mầm non – bộ giáo dục và đào tạo tổ chức năm 2005. Suy nghĩ về nghề văn: viết văn, làm thơ là sở thích., đam mê khiến người cầm bút suy tư suốt cuộc đời.

Đức

tên và họ khi khai sinh: pham duc ban. Sinh ngày 10 tháng 01 năm 1949. Quê quán: Xã Vĩnh Lộc, Huyện Can Lộc, Tỉnh Hà Tĩnh. dân tộc Kinh. không có tôn giáo. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin Hà Tĩnh. hiện đang cư trú tại: thành phố hà tĩnh, tỉnh hà tĩnh. đảng viên csvn. gia nhập hội năm 1990. vài nét về quá trình học tập, công tác và văn t: học hết cấp 3, ở nhà làm xã viên hợp tác xã nông nghiệp, sau đó anh đi đến thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước, sau về công tác trong Hội văn học nghệ thuật tỉnh, học năm thứ hai trường Nguyễn Du. kể từ đó, anh vừa làm công tác văn hóa, vừa viết văn. nguyên chủ tịch hội hà tinh vhnt, tổng biên tập tạp chí hồng linh. tác phẩm chính đã xuất bản: t mưa rừng (tập truyện ngắn, 1976); nơi có truyện cổ tích (truyện, 1984); hoa cúc vàng (truyện ngắn, 1984); tiếng chim hót (truyện, 1985); những sai lầm của quá khứ (tiểu thuyết, 1988); vầng trăng khuyết (tiểu thuyết, 1993); đêm dậy (truyện ngắn, 1995); cây cải lên trời (truyện); sương mù chưa tan (tầng giữa); bài ca cổ (truyện kể); câu chuyện còn … (câu chuyện); mạng nhện bạc (tầng giữa); vở diễn la sơn nguyên (kịch dài) giải thưởng văn học: đ t giải a (2 lần), giải b của vhnt nguyễn du. giải a, giải c, giải ubtq, liên hiệp các hội văn hóa việt nam, giải b truyện ngắn báo văn học.

như mọi khi

tên khai sinh đầy đủ: le thi thanh thanh. Sinh ngày 6 tháng 8 năm 1972. Quê quán: Cẩm Vịnh, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh. dân tộc Kinh. không có tôn giáo. chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: phóng viên, biên tập viên báo Công an nhân dân. đảng viên csvn. gia nhập hội năm 2001. Vài nét về quá trình học tập, công tác và sáng tác: Tháng 9/1993, tốt nghiệp khoa sử trường đại học sư phạm vinh. không có điều kiện theo nghề dạy học nên anh về làm việc tại đài phát thanh truyền hình Hà Tĩnh. Từ đó, anh làm biên tập viên rồi trở thành biên tập viên của Đài PTTH Hà Tĩnh. viết báo, viết báo, viết kịch bản cho phát thanh, truyền hình và học cao đẳng báo chí. năm 2002 chuyển sang công an – công tác thời sự an ninh thế giới cuối tháng – báo công an nhân dân. tác phẩm đã xuất bản chính: bão biển (truyện ngắn, 1999); đêm vô thường (truyện ngắn, 2002); dòng sông một bờ (truyện thiếu nhi, 2001); những người bị kết án tử hình nỗi đau của số phận (báo chí, 2005). c Giải thưởng cuộc thi truyện ngắn tạp chí văn nghệ quân đội, 1995. giải tác giả trẻ cho tuyển tập truyện ngắn của ủy ban toàn quốc liên hiệp các hội văn hóa việt nam, giải truyện ngắn hay tạp chí văn học của hội nhà văn việt nam suy nghĩ về nghề văn : Đầu tiên tôi đến với văn học như một cuộc tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống của chính mình. sau đó, những gì tôi suy ngẫm và viết ra đều được độc giả đón nhận. từ đó, tôi cho rằng viết lách là một công việc khó khăn và không hề dễ dàng chút nào. công việc đó sẽ khiến tôi kiệt sức, một công việc buộc tôi phải cống hiến hết mình. văn chương thật tàn nhẫn. Tôi chỉ muốn để lại một cái tên cho thế giới, để khi nó được nhắc đến như thường lệ, ít nhất một số người sẽ biết rằng tôi là một nhà văn.

phan quốc bình bút danh khác: hà bình hưng

Sinh ngày 11 tháng 2 năm 1948. Nơi sinh: Xã Sơn Trà, Huyện Hương Sơn, Tỉnh Hà Tĩnh. dân tộc: Kinh. không có tôn giáo. chức vụ, đơn vị hiện đang hoạt động: Đài phát thanh truyền hình hà tĩnh. hiện cư trú tại: 14 – khối văn trung, phường hưng dũng, thành phố vinh. gia nhập hiệp hội năm 2003. Vài nét về quá trình học tập, công tác và sáng tác: tốt nghiệp cao đẳng mỹ thuật công nghiệp hà nội, bắt đầu làm việc tại công ty văn hóa thông tin lai châu, sau đó chuyển sang đoàn chèo nghệ thuật, xưởng mỹ thuật, trung tâm triển lãm địa phương … Năm 1992, anh học báo chí (tại chức) và về công tác tại Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh Hà Tĩnh. bắt đầu viết từ những năm 70 của thế kỷ 20. bài thơ in đầu tiên là bài Trở về di tốt đăng trên tạp chí văn nghệ quân đội (1969) tác phẩm chính đã đăng: quà trong vườn (thơ, 1989); hay (thơ, 1990); với muôn loài (thơ, 1995); làn sóng tìm em (thơ, 2003). suy nghĩ về nghề văn: thơ lục bát. thơ còn là biểu hiện của ý chí nghệ thuật và sự giải phóng. sức mạnh tiềm ẩn của thơ gửi đi những làn sóng ngôn từ để tìm ra mục đích của thơ. nhà thơ cần tìm ra thứ âm nhạc cảm xúc của riêng mình và nhịp điệu đó tạo nên bản sắc và diện mạo. đóng góp giống như không có khác. thơ như một sự sáng tạo luôn vận động, không ngừng đổi mới.

phan van cac các bút danh khác: sketch van, sketch can

sinh ngày 21 tháng 6 năm 1934. Nơi sinh: Đức Lạc, Đức Thọ, Hà Tĩnh. dân tộc Kinh. không có tôn giáo. chức vụ, đơn vị đang hoạt động: Chủ tịch hội đồng khoa học viện nghiên cứu khoa học, ủy viên hội đồng khoa học viện khoa học xã hội Việt Nam. hiện thường trú tại: 31, ngách 46/12, hao nam, quận đông đa, hà nội. Ông gia nhập hội từ năm 1991. Vài nét về quá trình học tập, công tác và sáng tác: Ông tốt nghiệp đại học năm 1956, giảng dạy ngoại ngữ tại các trường Đại học Nông nghiệp I, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội. Tiếng nước ngoài. , tiến hành nghiên cứu tại viện khoa học giáo dục, bảo tàng thành phố Hồ Chí Minh, viện nghiên cứu thành phố Hồ Chí Minh và viện nghiên cứu han-nom (từ năm 1990 đến năm 2000 ông là giám đốc viện nghiên cứu han-nom); nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Phó Giáo sư Ngôn ngữ học Các tác phẩm đã xuất bản chính: Một số tác phẩm đã dịch: Hát với nhau (1960); thơ tứ tuyệt (1964); Bài ca gió sấm (1965); một nửa số đàn ông là phụ nữ (tiểu thuyết của truong hien luong, 1989); Hồ Chí Minh thơ chữ Hán ra tù trung nhật ký (1992); phong cách nam tính (tiểu thuyết của truong hien luong, 1994); Lửa ghen tuông (Truyện ngắn Đài Loan, 1995); xuân thu thi (1999); thơ của tấn (2002); khu vườn minh họa (1997); hậu duệ của (2000). Nghiên cứu, sưu tầm và trình bày: Tuyển tập Văn học Việt Nam (Tập 11, 1994); Tuyển tập Văn học Hồ Chí Minh (Tập 3, 1995); thơ nguyễn cao (1992); Bia ký Việt Nam từ phương bắc đến các triều đại (chủ biên, 1998); Chữ khắc trong Văn học cổ điển Việt Nam cổ điển (2 tập, chủ biên, 2002); Từ điển Hán Việt (1994); Từ điển Hán Việt (chủ biên, 2002); Những từ có tần suất cao trong Văn học Hán cổ (1999); big Vietnamese Dictionary-han (2006) … t Giải thưởng văn học: giải thưởng văn học của hội nhà văn việt nam năm 2001 cho tác phẩm cổ (dịch). mỗi người đến với nghề tốt nghiệp riêng biệt, gắn với quỹ đạo học tập và làm việc của họ. phiên dịch và giới thiệu văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc là hai lĩnh vực khác nhau nhưng rất gần gũi với nhau và cả hai đều có ích cho việc xây dựng nền văn học Việt Nam hiện đại. Dù có dành cả đời cũng chẳng có ý nghĩa gì, vì công việc đó vô cùng to lớn và nặng nhọc. đóng góp phần nào đó hoặc phần đó.

tiền lương

sinh ngày 15 tháng 12 năm 1929. quê quán: xã phường, huyện đức thọ, tỉnh hà tĩnh. dân tộc Kinh. không có tôn giáo. hiện đang cư trú tại: Hà Nội. đảng viên csvn. ông vào hội năm 1977. một số nét nổi bật trong quá trình học tập, công tác và sáng tác: sinh trưởng trong gia đình có truyền thống hiếu học; quá khứ chung sau cách mạng tháng 8, ông tham gia bộ đội miền nam chiến đấu trên mảnh đất chiến khu v. ông từng làm báo, làm công tác vận tải địch, trực tiếp quản lý tù binh. ngược ra bắc, được phân công công tác trong lực lượng biên phòng, làm báo, tuyên truyền, viết sử; nghỉ hưu với quân hàm đại tá. đỗ trường đào tạo văn nghệ đoàn văn công (1962), tốt nghiệp học viện chính trị trong quân đội (1967-1968). từng là phó ban kiểm tra hội nhà văn Việt Nam (2000-2005). các tác phẩm đã xuất bản chính: ánh lửa (truyện và ký, 1962); ruộng mía (truyện ngắn, 1963); từ núi rừng ba đến (King, 1964); le dinh chinh (truyện ngắn, 1980); rừng biên giới (truyện ngắn, 1984); người thợ săn (truyện, 1984); trận chiến đầu tiên (tiểu thuyết, 1986); rừng của một bai (tiểu thuyết, 1986-1987, hai tập); Em vẫn đợi ngày cưới (tiểu thuyết, 1991); tả và hữu (tiểu thuyết, 2002) .t Giải thưởng tập sự: – Giải thưởng cuộc thi văn nghệ quân đội và truyện ngắn năm 1960 (tuần tra đêm cuối năm). Giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết (Bộ Công an – Hội Nhà văn Việt Nam) 2002.T Suy ngẫm về Văn học: Tôi Đi Theo Nam Bộ Đội Đèo Cả (1946). anh chỉ tham gia chiến đấu được hai trận thì nhà thơ trần mai ninh “phát hiện” khả năng viết báo tường và lui về làm báo xung phong – báo in của binh đoàn 27 (duyên hải Trung Nam)… cho đến tận bây giờ tôi vẫn không quên lời dạy của cụ Chính khi ấy, rằng phải cận quân thì mới viết về quân. Cả cuộc đời cầm bút của tôi chỉ nghĩ về bộ đội, viết về công cuộc bảo vệ tổ quốc. Trải qua ba cuộc chiến tranh vệ quốc, nhiều đồng đội của tôi đã hy sinh vì tính mạng, máu, xương của mình. họ là nơi hội tụ của nhiều mỹ nhân Việt. viết về họ, tôi thấy tâm hồn mình trong sáng hơn. các nhân vật của tôi thúc đẩy tôi sống tốt hơn. người ta không thể nói đến “chân”, “thiện”, “đẹp” nếu người cầm bút không hướng tới cái tốt. Dù trong chiến tranh hay hòa bình, mỗi bước đi của dân tộc ta đều gian khổ. giữ vững niềm tin vào nhân loại! Tôi thường tự nhủ rằng mỗi khi cầm bút.

tiêu điểm (1919-2005)

tên khai sinh đầy đủ: gần cu huy. Sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919. Quê quán: Xã An Phú, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. dân tộc Kinh. không có tôn giáo. đảng viên csvn. Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957). Ông mất tại Hà Nội năm 2005. Vài nét về quá trình học tập, công tác và sáng tác: Từ đầu năm 1942, tôi học nông lâm nghiệp, tham gia hoạt động bí mật và làm thơ. năm 1945 ông tham dự đại hội toàn quốc của phong trào mới và được bầu làm ủy viên ủy ban giải phóng dân tộc, sau cách mạng ông làm bộ trưởng nông nghiệp và thanh tra chính phủ đặc biệt, năm 1946 ông là thứ trưởng bộ nội vụ. thời kháng chiến chống Pháp, ông là Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp rồi Thứ trưởng Kinh tế. từ năm 1949 đến năm 1955: thứ trưởng, tổng thư ký hội đồng quản trị. từ năm 1955 đến năm 1984, thứ trưởng bộ văn hóa. từ năm 1984: Bộ trưởng phụ trách văn hóa thông tin làm việc tại văn phòng hội đồng bộ trưởng kiêm chủ tịch ủy ban trung ương hội ngoại vụ việt nam. nguyên phó chủ tịch liên hiệp hội ubtq việt nam, phó chủ tịch ban chỉ đạo biên soạn bách khoa toàn thư việt nam, đại biểu quốc hội khóa 1, 2, 7, ủy viên hội đồng điều hành unesco 1978-1983, đồng chủ tịch Hội đồng văn học châu Phi-châu Á năm 1962 tại Cairo, đồng chủ tịch hội đồng văn hóa thế giới năm 1968 tại havana, thành viên hội đồng văn học tiếng Pháp 1985-2000. Năm 2001, ông được bầu là thành viên của Viện Hàn lâm Thơ thế giới. tác phẩm đã xuất bản chính: Lửa thiêng (1940); vũ trụ học (1942); kinh (văn xuôi, 1942); mặt trời tỏa sáng mỗi ngày (thơ, 1958); đất nở hoa (1960) bài thơ cuộc đời (1963); hai bàn tay của bạn (thơ, 1967); phu dong thien vuong (thơ, 1968); những năm sáu mươi (thơ, 1968); cô gái mèo (thơ 1972); cuộc hội ngộ tuổi trẻ anh hùng (thơ, 1973); chiến trường gần chiến trường xa (thơ, 1973); những người mẹ, người vợ (thơ, 1974); đời thường, đời thường (thơ, 1975); kính sơn, thủy tinh (thơ, 1976); ngôi nhà trong nắng (thơ, 1978); hạt gieo thơ (thơ, 1984); lửa mặn (2001); cha anh ngàn năm (zhang ca, 2002); dựa vào hai thế kỷ, tao phùng, chim làm gió, ta trở về với biển, bản chất quê hương của chúng ta, thông điệp từ các vì sao và trái đất. Giải thưởng Văn học: Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật đợt I, năm 1996.

nguyễn huệ chi

sinh ngày 14 tháng 7 năm 1938. quê quán: thị trấn đồng thương, huyện can lộc, hà tĩnh. dân tộc Kinh. không có tôn giáo. hiện đang cư trú tại: Huyện Ba Đình, Hà Nội. Ông gia nhập Hội từ năm 1984. Vài nét về quá trình học tập, công tác và sáng tác: Năm 1960, ông tốt nghiệp lớp Văn khoa đầu tiên của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và tham gia hoạt động báo chí (1960-1961). từ năm 1962 đến năm 2003: nghiên cứu viên tại viện văn học. giáo viên ngôn ngữ học. hiện đã nghỉ hưu. Các tác phẩm đã xuất bản chính: Báo chí tư nhân: Vài bộ mặt của thi ca Việt Nam – Giai đoạn Cổ đại – Hiện đại (Tiểu luận, 1983); hoang ngọc thap – lối sống và lối văn (chuyên khảo, tuyển tập, tuyển chọn, 1996). viết chung: Kỷ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Du (nghiên cứu, 1967); nhà yêu nước và nhà văn Phan Bội Châu (khảo cứu, 1970); nguyễn đình chiểu – tấm gương yêu nước và lao động nghệ thuật (nghiên cứu, 1973); Xã hội Việt Nam thời kỳ ly-kỳ (nghiên cứu, 1983); Từ điển Văn học (Nghiên cứu và Biên soạn, 2 tập, 1983-1984, Tái bản có sửa chữa và bổ sung 1 tập, 2004); con đường đến với văn hóa Phần Lan (tuyển tập, 1996); Chủ biên: Nguyễn Trãi – Bản lĩnh và tinh hoa dân tộc (Nghiên cứu, 1981); Văn học Việt Nam về chống phong kiến ​​xâm lược của Trung Quốc (Nghiên cứu, 1982); thơ văn-trần (tuyển tập, khảo cứu, tập, 1977 và 1989); liêu trai chi di (dịch, 1989); suy nghĩ mới về nhật ký trong tù (nghiên cứu, 1990-1993); nhà thơ Nguyễn Khuyến – cuộc đời và thơ (chuyên khảo, 1992-1994)

truong chinh các bút danh khác: nhất văn, nhất chi mai (1916-2004)

họ và tên khai sinh: main boi zhang. sinh ngày 16 tháng 7 năm 1916. nguyên quán: can lộc, hà tinh dân tộc: kinh. không có tôn giáo. gia nhập hiệp hội năm 1957. mất ngày 7-10-2004 tại hà nội. một số nét về quá trình học tập, công tác và sáng tác: chuyên gia nghiên cứu văn học Trung Quốc và văn học cổ Việt Nam, viết phê bình văn học Việt Nam từ năm 1939 đến nay. nhiều năm giảng dạy tại các trường phổ thông và đại học; ông từng là tác giả của sách giáo khoa, giáo trình môn ngữ văn ở các trường phổ thông và cao đẳng. Phó Giáo sư, Giáo sư ưu tú Tác phẩm đã xuất bản: Trong mắt tôi (phê bình văn học, 1939); hoa dã quỳ (nghiên cứu văn học dân gian, 1941); Đề cương lịch sử văn học Việt Nam (Viết chung, 1955); thơ chữ Hán của nguyễn du (khảo cứu, 1965); thơ văn nguyễn công tử (khảo cứu, 1979); Hương Hoa Cánh Đồng (biên khảo, tiểu luận, 1979); tuyển tập chính (1997). nhiều tác phẩm dịch của văn học Trung Quốc: tiếng hét, tiếng động, chuyện xưa viết lại, câu đố (3 tập) giải thưởng văn học so ton.t: giải thưởng nhà nước về khoa học xã hội và nhân văn i, năm 2000 về chính sách tuyển tập sách. suy nghĩ về nghề của văn học: không có gì đặc sắc. Đơn giản là tôi đam mê văn học, thích đưa ra ý kiến ​​của mình về một tác giả, tác phẩm mà mình đã đọc, yêu thích rồi viết, nghiên cứu, trau dồi ý kiến ​​để không mắc sai lầm, thích ứng với thời đại. phản biện, điều tra thì chú trọng tính trung thực hơn, nói thật cảm xúc của mình, không phụ thuộc ai, không theo ai, không có ý kiến, không viết bình luận. Tôi cho rằng sống hay viết lách đều phải có lý tưởng (lý tưởng của thế hệ mình và thời đại của mình). Tôi ghét văn chương sáo rỗng, văn chương thời thượng và xu nịnh. chỉ đơn giản vậy thôi. nhưng đó là lý do tại sao anh ta không được yêu thích, ít được chú ý, bị từ chối hoặc nhút nhát. Dù biết, nhưng tôi không thể thay đổi, hay hối hận, hay than phiền về điều đó, hãy cứ ghi lại từ trí nhớ.

XEM THÊM:  Nhà thơ xuân diệu quê ở đâu

xuan dieu một bút danh khác: cao nha (1917-1985)

tên khai sinh đầy đủ: ngo xuan dieu. Ông sinh ngày 2 tháng 2 năm 1917 tại Bình Định. Nguyên quán: Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. đảng viên csvn. Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957). Ông mất ngày 18 tháng 12 năm 1985 tại Hà Nội. * Vài nét về quá trình học tập, công tác và sáng tác: sau khi tốt nghiệp cấp 3, năm 1940, ông đi làm công chức tại các bang thống nhất của Mỹ. 1943 nghỉ việc ở Hà Nội. Năm 1944 tham gia phong trào Việt Minh. sau cách mạng tháng 8, hoạt động trong hội văn nghệ cứu quốc, thư ký tòa soạn tạp chí tiền phong. kháng chiến chống Pháp làm đài tiếng nói việt nam, hội văn nghệ việt nam, thư ký tòa soạn tạp chí văn nghệ, ủy viên thường trực, ủy viên ban chấp hành hội nhà văn việt nam (khóa i, ii, iii)). đại biểu quốc hội khóa i. Viện sĩ Viện hàn lâm nghệ thuật nước cộng hòa dân chủ Đức (1983). * các tác phẩm đã xuất bản lớn: thơ: thơ văn (1938, tái bản nhiều lần); gửi hương cho gió (1945, 1967); ngọn cờ Tổ quốc (1945, 1961); hội nghị sông (1946); dưới sao vàng (1949); tư chung (1960); mõm – cầm tay (1962); một khối hồng (1964); hai làn sóng (1967); Tôi có đôi mắt trời phú (1970); đôi cánh tâm hồn tôi (1976); thanh ca (1982); một số ít các bài thơ (tuyển tập, pari, 1983); Tuyển tập Phép thuật Mùa xuân – Tập I (1982, 1986). – văn xuôi: phấn thông vàng (1939, 1967); sử thi (1945, 1957); Nam Việt Nam (1945); Việt Nam ngàn dặm (1946); việt nam lâm bồn (1948); ghi lại chuyến thăm Hungary (1956); triều cường (1958). – tiểu luận phê bình: tuổi trẻ với văn học dân tộc (1945); những bước đi trong tư tưởng của tôi (1958); máy mài dao mới (1963); và cây đời luôn xanh tươi (1971); thông tin và những kỹ sư của tâm hồn (1978); Thi nhân cổ điển Việt Nam (2 tập, 1981, 1982); tác phẩm thơ (1984). – bản dịch: nhà thơ nadim timmmeter (1962); được bao bọc bởi tình yêu (1968); thơ nicola ghiden (1982); các nhà thơ bulgarian (1985) … * giải thưởng văn học: giải của hội văn học việt nam 1954-1955 (tập thơ ngôi sao). Giải thưởng văn học nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh đợt i năm 1996. * Suy nghĩ về nghề văn: cách mạng đã mở ra cho tôi những chân trời mà trước đây tôi không thể mơ tới. bây giờ ngày càng có nhiều người đọc sách, đọc thơ. Trước cách mạng, tôi là nhà thơ cho một số ít. sau cách mạng tôi trở thành nhà thơ đại chúng. con dế trên cỏ không tự hót. hát để gặp bạn các nhà thơ muốn bài hát của họ được hàng triệu người nghe. sự công nhận của công chúng là nguồn sức mạnh, nguồn cảm hứng của tôi.

le ba han (1933-2006)

sinh ngày 15 tháng 2 năm 1933. quê quán: đức bong, vũ quang, hà tinh. dân tộc Kinh. không có tôn giáo. gia nhập hiệp hội năm 1994. mất ngày 19 tháng 12 năm 2006 tại hà nội. * vài nét về quá trình học tập, lao động, sáng tác: Thuở nhỏ học cấp 3 ở quê. 1957: Tốt nghiệp Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. 1957-1959: Giáo sư Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. 1959-2000: Giáo sư Đại học Sư phạm Vinh. Từ tháng 9 năm 2000 đến tháng 9 năm 2006, ông là trưởng khoa ngôn ngữ học trường đại học dân lập thành phố Hồ Chí Minh. phó giáo sư ngôn ngữ học. * các công trình chính đã xuất bản: Cơ sở lý luận văn học (tập i, ii, lý luận, đại cương, 1965); cơ sở lý luận của văn học (tập i, ii, lý luận, đại cương, 1980, 1985); thuật ngữ văn học (lý luận, chủ biên, 1974); những bức thư văn học (1974); Phân tích thơ và văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1988); từ điển thuật ngữ văn học (lý luận, chủ biên, 1992); về hàng loạt vấn đề lý luận và nghệ thuật tranh luận trong quá trình đổi mới 1987-1992 (lý luận, chủ biên, 1994); Tinh hoa thơ mới – Phê bình và tư tưởng (Nghiên cứu, biên tập, 1998); dân tộc Nghệ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa (nghiên cứu, chủ biên, 2001). * Tư duy văn học: sau gần nửa thế kỷ tiếp cận với nhiều hệ thống lí luận văn học, tôi nhận thấy vấn đề của tất cả các môn học là văn học và đời sống. có những loại văn học dành cho thời đại và cho cuộc sống, và có những loại văn học của thời đại cách xa thế giới, đó là văn học của những người kém tài năng và cơ hội. danh hiệu nhà văn cao quý chỉ dành cho những người thực sự vì đời, qua văn chương sưởi ấm tâm hồn con người, phấn chấn, tin tưởng và yêu đời. Trong quá trình đổi mới, lý luận văn học Mác – Lê-nin phải biết tự làm giàu bằng cách tiếp thu những tinh hoa của hệ thống lý luận khác, nhưng cần phải luôn vững vàng, sáng suốt để không bị mai một.

le quoc có

sinh ngày 16 tháng 4 năm 1949. quê quán: xã Kỳ Châu, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. dân tộc Kinh. tôn giáo: thiên chúa giáo. chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: khoa toán, đại học vinh. hiện đang cư trú tại: khối 6, huyện bến thủy, thành phố vinh, tỉnh nghệ an. ông gia nhập hội từ năm 2002. * Vài nét về quá trình học tập, công tác và sáng tác: 1969-1976 học sư phạm 10 + 1 và dạy tại Hà Tĩnh. 1976-1982 ông học đại học và lấy bằng thạc sĩ toán tại trường đại học khoa học kỹ thuật vinh. Từ năm 1982 đến nay, ông là giáo sư tiến sĩ, phó giáo sư khoa Toán trường Đại học Vinh. Tháng 12 năm 1002 ông được bầu vào ban chấp hành của hiệp hội nghệ an vhnt (gần vi). * các tác phẩm đã xuất bản chính: lời thề (thơ, 1996); giường tầng vô định (thơ, 1999); thơ trong ký ức (bình luận thơ, 2002); khải (thơ, 2004). * giải văn chương: giải ba cuộc thi thơ tạp chí song lam (1999-2000) bằng peso. giải ba cuộc thi sáng tác văn học thế kỷ báo Tiền phong (1999-2001) với bài thơ “về trời” và giải nhất xuân hương hồ điệp (1997-2002) cho tập thơ Bến quê. vô cực. đoạt giải thưởng xuân hương hồ vhnt (2002-2005) cho tập thơ và bài thơ tưởng niệm. * suy nghĩ về nghề luật sư: Tôi cầm bút chèo con thuyền nhân ái neo cuối trời… Tôi là sinh viên nhiều trường; m • tôi m • tôi vẫn còn là sinh viên. tuy nhiên, tôi tự đi trên đôi chân của mình và điều cơ bản nhất mà thơ tôi cống hiến cho người đọc là tiếng nói của tôi, trái tim tôi, tâm hồn tôi.

hoang ngoc hien

sinh ngày 21 tháng 7 năm 1930. Nơi sinh: Đức phong, Đức Thọ, Hà Tĩnh. dân tộc Kinh. không có tôn giáo. hiện đang cư trú tại: 418 dela thanh, hà nội. đảng viên csvn. ông gia nhập hội từ năm 1987. * Vài nét về quá trình học tập, công tác và sáng tác: Tôi làm giáo viên từ năm 1949 cho đến khi nghỉ hưu. giảng dạy tại đại học sư phạm vinh, đại học văn hóa, trường viết văn nguyễn du. tiến sĩ văn học. * các tác phẩm đã xuất bản chính: Mayakovsky, con người, cuộc đời và thơ ca (nghiên cứu, 1976); mayakovsky, hài kịch (dịch, 1984); văn học Xô Viết đương đại (nghiên cứu, 1987); văn học – nghiên cứu văn học (tiểu luận, phê bình, 1990); văn học gần xa (tiểu luận, phê bình, 2003); triết học văn học và triết học văn học (Bánh xe nhỏ, phê bình, 2006). * Giải thưởng văn học: giải thưởng của hội nhà văn Việt Nam, năm 1985 cho các tác phẩm dịch của mayakovsky, hài kịch. * suy nghĩ của người đọc văn: những bài phê bình hay khiến người đọc yêu thích văn học. Yêu văn học là yêu những giá trị tinh thần, mà sự khô khan là một trong những nỗi khổ của thế giới hiện đại. Cũng giống như các thể loại văn học khác, sáng tác phê bình không thể thiếu cảm hứng sáng tác. một nhà phê bình là người có quan điểm mạnh mẽ (về chủ đề con người, đôi khi là học thuật). cảm hứng phê bình nảy sinh khi ý kiến ​​của một nhà phê bình cộng hưởng đâu đó với một tác giả, tác phẩm nào đó. nhưng ý kiến ​​của nhà phê bình là sản phẩm của suy nghĩ, có ý thức và đồng thời có gốc rễ vô thức (ở đây là kinh nghiệm cá nhân và kinh nghiệm công chúng được lưu giữ) nhà phê bình không thể tránh việc điều tra tác giả hoặc tác phẩm mình phê bình, cuộc điều tra này có thể thay đổi quan điểm phê bình của anh ta, nhưng cuối cùng, viết bản kiểm điểm vẫn là bày tỏ ý kiến ​​của mình. Octavio Paz hoàn toàn có lý: “đối với nhà phê bình, bài thơ là điểm xuất phát của một văn bản khác, của chính anh ta”

phan trung hieu các bút danh khác: trung hieu, chau bao

sinh ngày 2 tháng 5 năm 1962. Quê quán: đức xã, đức thọ, hà tĩnh. dân tộc Kinh. tôn giáo: không thu phí, hiện tại đơn vị công tác: chủ tịch hiệp hội hà tinh vhnt. hiện thường trú tại: huyện tân giang, thành phố hà tĩnh. đảng viên csvn. Anh gia nhập hội từ năm 2005. * Vài nét về quá trình học tập, công tác và sáng tác: 1980-1984 sinh viên khoa văn trường đại học sư phạm vinh. Sau khi ra trường, anh làm việc tại bảo tàng mỹ thuật Liên Xô. năm 1986, anh nhập ngũ về công tác tại doanh trại quân đội Nghệ Tĩnh. 1990 về hoạt động trong hiệp hội nghệ thuật tĩnh vật cho đến nay. * các tác phẩm đã xuất bản chính: giấc mơ bong bóng (truyền thông tập, 1994); thời khắc giao mùa (bút lục, phóng sự, 1998); vườn đất thánh (tập tự truyện, 2000); hành trang bằng đá (thơ, 2002); con nhện bay (tập truyện thiếu nhi, 2004). * giải thưởng học tập: giải nhì giải nguyễn du (1995), ba (2000), lần tư (2005) ba truyện thiếu nhi. giải thưởng của ủy ban quốc gia liên hiệp các nền văn hóa việt nam cho tự truyện Vườn thánh địa. * nghĩ về việc viết lách: đó không phải là một thú tiêu khiển ngẫu hứng và nhàn hạ, mà là một công việc trí óc đầy công phu và gian khổ. khẳng định bản thân trên diễn đàn văn học vốn đã khó, giữ vững và vượt lên chính mình còn khó hơn. văn chương như người đào vàng. hãy cứ sống, đi và viết rồi tự mình chắt lọc và độc giả sẽ giúp bạn phân biệt được những giá trị thực còn lại theo thời gian.

bi viet hoa

sinh ngày 15 tháng 12 năm 1946. quê quán: xuân hô, nghi xuân, hà tĩnh. dân tộc Kinh. không có tôn giáo. hiện đang cư trú tại: không. 8, chua thong street, nhan chinh, hanoi. Ông gia nhập Hiệp hội năm 1997. * Vài nét về quá trình học tập, công tác và sáng tác: Ông tốt nghiệp đại học chuyên ngành văn học Hungary – Phần Lan năm 1987 tại Đại học Budapest, Hungary. thành viên của kalevala (Phần Lan) và xã hội văn học Phần Lan từ năm 1990. * tác phẩm chính đã xuất bản: truyện cổ thế giới (đồng dịch giả, 1990); tiếng đàn katele (trích và dịch sang tiếng Việt từ tuyển tập tiếng Phần Lan kateletare); hiệp hội kalevala helsinxi (1990); raz tatstvan budapetét 1990 với dịch giả người Hungari raz tatstvan budapetét 1990; kalevala (sử thi Phần Lan,

trần kim hoa một bút danh khác: hà châu

. sinh ngày 20 tháng 5 năm 1966. quê quán: xã thach vinh, huyện thach hà, tỉnh hà tĩnh. dân tộc Kinh. không có tôn giáo. chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Trưởng văn phòng đại diện báo phụ nữ thành phố hồ chí minh tại hà nội. hiện đang cư trú tại: số nhà 50b, ngõ 154 doi can, hà nội. đảng viên csvn. gia nhập hội năm 2005. * Vài nét về quá trình học tập, công tác và sáng tác: 1984 đậu đại học. Ông giảng dạy tại Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội từ năm 1988 đến 1995. Sau đó, ông chuyển sang làm báo chuyên nghiệp. * các tác phẩm đã xuất bản chính: Bố ơi mình đi đâu thế (thơ, 1990); quá khứ chân thành (thơ, 1998); mùa xuân (thơ, 2003); bức tranh năm ngoái (bài thơ, 2005). * giải văn nghệ: giải nhì (không có giải nhất) cuộc thi thơ tạp chí văn nghệ quân đội năm 2003-2004. * suy nghĩ về nghề dạy chữ: trong dòng sông thơ ngỡ mình như con sóng nhỏ. Tôi mong rằng làn sóng đó luôn mang tên tôi.

xuan hoai (1941-2006)

tên khai sinh đầy đủ: bui xuan hoai. Sinh ngày 15 tháng 5 năm 1941. Quê quán: Thành phố Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. dân tộc Kinh. không có tôn giáo. hiện đang cư trú tại: không. 8, ngõ 11, đường minh khai, thành phố vinh, nghệ an. Đảng viên csvn: 1969. gia nhập hội năm 1981. mất năm 2006. * Vài nét về quá trình học tập, công tác và sáng tác: Tốt nghiệp loại ưu khoa Toán năm 1962, dạy lớp 12 tại hà tĩnh, sau đó chuyển ngành văn nghệ tĩnh sự kết hợp. nguyên chủ tịch hội văn học nghệ thuật Hà Tĩnh, giám đốc sở văn hóa thông tin Hà Tĩnh. tỉnh ủy viên các khóa 12, 13, 14; đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Tĩnh lớp 11, 12, 13. * Tác phẩm chính đã xuất bản: Quê hương (thơ, in chung, 1971); vườn chim (thơ, 1976); sau những năm tháng (thơ, 1983); dưới mây trắng (thơ, 1987); vũ khúc giữa trưa (thơ, 1991); gửi người xa xứ (thơ, 1998); khói lam chiều (thơ, 2002); những bài thơ xuân và một số tập thơ thiếu nhi. * giải thưởng văn học: giải khuyến khích thơ văn (1969), giải nhất, nhì, ba văn nghệ (nghệ tinh) và giải ba (hà tĩnh), giải thưởng của ủy ban liên hiệp văn học quốc gia Việt Nam 1995, 1998. * tư tưởng về nghề văn: … viết một thời vẫn phải ngẫm nghĩ sâu xa, viết cho một người thì phải nhớ bao nhiêu người đọc đã cẩn thận viết nên những bài thơ nhưng cũng có những bài thơ khiến bạn cảm thấy buồn đau cuộc đời

pham khac e (1902-1995)

sinh ngày 15 tháng 3 năm 1902. quê quán: Đức Nhân, Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Ông mất ngày 22 tháng 6 năm 1995 tại Hà Nội. * Vài nét về quá trình học tập, công tác và sáng tác: Trước cách mạng, tôi từng giữ chức vụ lễ tân văn phòng đồng lý ở triều đình Huế. sau năm 1945 – tham gia kháng chiến, giữ các chức vụ: chánh văn phòng bộ nội vụ; Vụ trưởng Vụ Pháp chế – Văn phòng Thủ tướng Chính phủ; Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. * Các tác phẩm lớn đã xuất bản: Từ Triều đình Huế đến Chiến khu Việt Bắc (Hồi ký, 1983); kể chuyện vua và các quan triều Nguyễn (truyện ngắn, 1986). * từ làm quan cao cấp ở Huế trở thành cán bộ cách mạng của chế độ mới đều là quá trình tự giác ngộ và giác ngộ, quá trình nhận thức và lựa chọn của người cầm bút. Hành trình lên chiến khu Việt Bắc của Phạm Khắc Hòe là hành trình đi tìm dân tộc của một trí thức yêu nước, hành trình của niềm tin vào sự thật lịch sử. anh ta kiên trì một cách thô bạo trên con đường đã chọn của mình. Con đường ấy, như người viết trong hồi ký của mình là: “con đường mà Hồ Chủ tịch đã vạch cho đồng bào… Tôi tự hứa suốt đời phấn đấu noi gương Người, phấn đấu không ngừng vươn lên, cống hiến hết mình. và thân với quê hương, đất nước.

bi hong các bút danh khác: van hong, tan dinh, thanh huong

họ và tên khai sinh: bui van hong. sinh ngày 5 tháng 12 năm 1931. quê quán: phú việt, thach ha, hà tĩnh. dân tộc Kinh. không có tôn giáo. hiện đang cư trú tại: quận bình thạnh, thành phố hồ chí minh. đảng viên csvn. vào hội năm 1984. * Vài nét về quá trình học tập, công tác và sáng tác: vào hội từ tháng 8 năm 1945; tuyên truyền và tổ chức đảng ở nông thôn từ năm 1948. ông bắt đầu viết và in truyện ngắn, phê bình sách từ năm 1951. Sau khi tốt nghiệp đại học văn khoa, từ năm 1962 đến năm 1992 ông làm biên tập viên, rồi trưởng phòng và quản lý. đạo kim biên tập biên tập đồng. * các tác phẩm đã xuất bản chính: trên đất cẩm bình (truyện, 1968); con cá rô không vâng lời mẹ nó (truyện chung, 1969); trái mùa đầu tiên (tổng kết thử nghiệm, 1987); mười năm công nhận (tiểu luận phê bình, 1996); cô gái bướng bỉnh (truyện ngắn, 2001); hương – tình tôi (truyện ngắn, 2002); từ chăn cừu đến kim đồng (tức mười năm bản ghi, bổ sung, 2002); ngày mai sẽ đến tận cùng … (chân dung và ký ức, 2007). * giải thưởng văn học: do ủy ban thiếu niên nhi đồng và hội nhà văn Việt Nam trao tặng cho cuốn Cẩm binh trên đất, năm 1968. * Suy nghĩ về văn học: phê bình là văn học, là khoa học của văn học. phê bình phải vừa đúng vừa hay. với nghệ thuật thiếu nhi, người sáng tạo và nhà phê bình đều phải xuất phát từ trẻ em, vì trẻ em.

duong dinh hy các bút danh khác: gió nam, sao liem, vien ho, cam nhuong

sinh ngày 21 tháng 10 năm 1935. Nơi sinh: cam ranh, cam xoàn, hà tĩnh. dân tộc Kinh. không có tôn giáo. hiện đang cư trú tại: Thành phố Hồ Chí Minh. đảng viên csvn. ông gia nhập hội từ năm 1974. * Vài nét về quá trình học tập, công tác và sáng tác: ông học tại cơ sở nanning (Trung Quốc) những năm 1954-1956; Sau khi tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội, anh tiếp tục công tác trong lĩnh vực báo chí, xuất bản, … trải qua các công việc phóng viên, thư ký tòa soạn, trưởng phòng, phó tổng biên tập, tổng biên tập nhật báo. của thị trấn, khăn quàng đỏ, mỹ nghệ và trang sức … và lao động xã luận. * các tác phẩm đã xuất bản chính: đi học mới (tập truyện ngắn, 1957); Giờ học đầu tiên (1957); ngày mai (thơ, 1972); đường dài (tập truyện ngắn, 1973); lòng chung thủy (tập truyện ngắn, 1975); vườn xưa (2007)… và một số tác phẩm dịch, một số kịch bản phim hoạt hình. * Giải học tập: giải thưởng văn học về đề tài công nhân do Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và Hội nhà văn Việt Nam tổ chức, 1971 (tập thơ Ngày mai). giải thưởng cuộc vận động viết về thương binh liệt sĩ do bộ lao động thương binh liệt sĩ và hội nhà văn tổ chức năm 1974 (tuyển tập lòng trung thành) * Suy nghĩ về nhà văn: Tôi muốn làm thơ, bằng hàng trăm ngàn thứ tiếng , thơ vượt ngàn sông biển, dưới bàn tay người anh. tiếng thơ yêu quý như dòng máu ấm chảy thẳng vào từng trái tim những con người yêu đời, bắt tay vươn lên … (trích “bẻ lá làm thuyền”, 1954).

XEM THÊM:  Dạ Thảo Phương lên tiếng sau đơn tố cáo từ ông Lương Ngọc An

doan tu chạy trốn các bút danh khác: nam hồng, chạy trốn li

Sinh ngày 27 tháng 12 năm 1952. Quê quán: Xã Đức Hòa, sau chuyển về Đức Lạc, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. dân tộc Kinh. không có tôn giáo. hiện đang cư trú tại: huyện cau, hà nội. đảng viên csvn. Anh gia nhập Hội từ năm 1989. * Vài nét về quá trình học tập, công tác và sáng tác: Tốt nghiệp Đại học Văn khoa tại Liên Xô, về làm giáo sư khoa văn Nga tại Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội. Từ năm 1983: chuyển sang làm biên tập viên văn học trong nhà xuất bản. Từng là Ủy viên Hội đồng biên dịch văn học Hội Nhà văn Việt Nam (1995-2005), Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn học nước ngoài (1996-1998), hiện là Chủ tịch Hội đồng Nhà văn Hàn Quốc về Văn học nước ngoài. Nội các, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây. * Các tác phẩm chính đã xuất bản: đã dịch và sưu tầm khoảng bốn mươi cuốn, trong số đó: Tiếng gọi muôn đời (tiểu thuyết của Ivanov, 1986, tái bản 1999); cuộc sống này thật kỳ lạ làm sao (tiểu thuyết của d. granin, 1986, 2004); nguyệt thực (tiểu thuyết của v. teriacov, 1986); sáu mươi ngọn nến (câu chuyện trung gian của v. teriacov, 1987, 2005); trò chơi (tiểu thuyết của bondarev, 1987, bản dịch chung); trái tim chó (tiểu thuyết của m.bungacov, 1988, 1997, 2004); bố già (tiểu thuyết m.puzo, 1987, dịch với trinh huy ninh, 1987); nhật ký vũ trụ ion yên tĩnh (s.lem fantasy, 1988); người thợ thủ công và bông cúc (tiểu thuyết của m.bungacov, 1988, 2004); truyện vừa và truyện cổ a. Kuprin (1994); đêm sau lễ tốt nghiệp (truyện giữa của a.tendriacov, 1994); và hòn đá đó trở thành đấng cứu thế (tiểu thuyết của o. silva, 1997): những suy nghĩ lóe lên (lời xin lỗi của l. les, 2004); seagull jonathan livingston (tiểu thuyết của r. bach, 2004). và chủ biên của nhiều cuốn sách khác. * giải văn học: giải văn học thợ và magarita (tiểu thuyết bungacov) cho bản dịch của hội nhà văn 1990-1991, giải tạp chí văn nghệ quân đội. * Hãy nghĩ về nghề đọc sách: dịch sách phải là một nghề chuyên nghiệp và một nghệ thuật. đó là lý do tại sao người ta gọi nó là dịch thuật. nhưng hiện tại đội ngũ dịch thuật của chúng ta chưa chuyên sâu, tự phát, manh mún như báo chí đã nói nhiều, ngay từ đầu chưa có cơ sở đào tạo chuyên sâu về dịch thuật văn học. Sinh viên ngoại ngữ học dịch thuật chủ yếu làm công việc phiên dịch, tốt nhất là làm công việc dịch thuật, nhưng không chuyên về dịch sách, đặc biệt là dịch văn học. mặt khác, thù lao của người dịch văn học rất thấp. một người phiên dịch giỏi, ngồi dự hội thảo có thể kiếm hàng trăm USD mỗi giờ, trong khi dịch một trang văn học chỉ vài chục nghìn đồng. hơn nữa, không có kiểu đầu tư, ưu đãi vật chất cho người dịch sách. do đó, chất lượng các bản dịch văn học của chúng ta hiện nay kém là điều dễ hiểu.

nguyễn quốc anh

tên và họ lúc khai sinh: nguyễn quốc anh. sinh ngày 20 tháng 12 năm 1944. quê quán: đức hạnh, đức thọ, hà tĩnh. dân tộc Kinh. không có tôn giáo. chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: ủy viên ban chấp hành hội văn nghệ. hiện cư trú tại: 182 cảng phong định, thành phố vinh, tỉnh nghệ an. đảng viên csvn. anh tham gia công tác hội từ năm 2001. một số nét nổi bật trong quá trình học tập, công tác và sáng tác: năm 1963 anh nhập ngũ, anh làm Đại đội trưởng pháo phòng không chiến đấu trong tuyến lửa khu 4, năm 1967, anh làm việc tại tỉnh hà tĩnh (nhà xuất bản sách, gương người tốt việc tốt). Từ năm 1969 đến nay, ông liên tục làm việc tại Hà Tĩnh, Nghệ Tĩnh, Nghệ An. tham dự lớp viết văn của cơ quan quản lý văn hóa quốc gia Việt Nam và khóa học về quảng bá sáng tác văn học của trường; tự học luật và ngoại ngữ. thành viên đoàn luật sư Việt Nam (1985), báo cáo viên Hội đồng giáo dục pháp luật tỉnh Nghệ An. tác phẩm chính đã xuất bản: tình yêu trong sáng (thơ, ấn tượng chung, 1974); và các tập thơ in riêng: hoa trái mùa, gửi bạn bè, đường cỏ gập ghềnh, nhật ký buồn vui lẫn lộn, thư cây, nghìn chân trần. tập truyện: ngọn gió ngàn (2000). giải văn học: giải ba thơ Hà Tĩnh (1967). b giải văn học do Liên hiệp các nhà văn – Bộ GTVT trao cho cây bút ký Chuyện kể trước biển; giải b trong cuộc vận động viết bài cảm xúc của tổng cục công nghệ qĐndvn. và giải b, c, hồ xuân thơ theo suy nghĩ của người văn học: sau khi thành công thuộc về bản năng, muốn viết tiếp thì phải viết có văn hóa. văn hóa càng cao, thời gian địa chỉ càng rộng. với vốn tự học của mình, việc viết lách ngày càng khó, quá khó: vừa để tránh trùng lặp, vừa tránh mọi người. cần một tiếng nói duy nhất để tồn tại. t

cẩm lai bút hiệu khác: viet huong (1923-2006)

tên khai sinh đầy đủ: le thị cẩm lai. sinh ngày 5 tháng 5 năm 1923. quê quán: thach ha, ha tinh. dân tộc Kinh. không có tôn giáo. đảng viên csvn. Ông tham gia công tác Hội năm 1957. Ông mất ngày 1 tháng 9 năm 2006. * Vài nét về quá trình học tập, công tác và sáng tác: Từ tháng 9 năm 1945 đến năm 1948: cán bộ Ban bình dân, kiêm Bí thư Phụ nữ cứu quốc tỉnh Hà Nội. thành phố tinh Ủy viên Ban Chấp hành Hội Văn hóa Cứu quốc Hà Tĩnh. Từ tháng 1 năm 1948 đến năm 1957, đồng chí là cán bộ của Ủy ban Kháng chiến Hành chính Liên khu IV, Chi hội trưởng Liên chi Hội Phụ nữ Cứu quốc của hai cơ quan là Ủy ban Kháng chiến Hành chính và Kho bạc Liên khu IV. Từ năm 1957 đến năm 1959, ông là Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Quảng Bình, Ủy viên Thường vụ Ban Chấp hành Hội Văn nghệ Quảng Bình. 1960-1979: tổng biên tập nhà xuất bản phụ nữ. từ năm 1980: nghỉ hưu * đã xuất bản tác phẩm lớn: thơ: máu trẻ (1947); ban hoa (ấn tượng chung, 1962); lụa (1963); xanh lam (1972); Đất trầm hương (Tổng thể 1978); Màu của biển (1979); hương tưởng niệm (1990); những bài thơ tặng chú (1990); mây hồng (1993); gió xanh (1991); nước mắt cay đắng (1999); để chúng tôi khuyên gió (2000); nghiêng về ký ức (2001); tất cả các loại tình yêu (2002). văn xuôi: tình bạn thơ (1987); trinh tiết (2000); qua những dòng sông (tiểu thuyết, 2002); công chúa battan (bản dịch, 2001). * suy nghĩ về nghề văn: nghề văn là một nghề cao quý, được nhân dân yêu mến. người viết cần luôn tự thúc đẩy mình cả trong công việc và cuộc sống. người viết phải tu dưỡng đạo đức và phẩm chất của mình …

tấn phuong lan một bút danh khác: hoàng lan

sinh ngày 10 tháng 8 năm 1950. Nơi sinh: cam ranh, cam xuyen, hà tĩnh. dân tộc Kinh. chức vụ, đơn vị đang công tác: phó giáo sư, tiến sĩ, viện văn học. hiện đang cư trú tại: số nhà 16 ngách 144/4 đường quân nhân, phường chánh chánh, quận thanh xuân, hà nội. đảng viên csvn. anh gia nhập hội từ năm 2006. * Vài nét về quá trình học tập, công tác và sáng tác: Tôi công tác tại viện văn học từ năm 1972 đến nay. Tháng 12/1996 bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ (nay là Phd). Tháng 10 năm 2000 ông được phong hàm phó giáo sư. * các tác phẩm chính đã xuất bản: phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu (những, 1998, 2002); văn học và nhận thức (tiểu luận, phê bình, 2005). * suy nghĩ về nghề dạy chữ: Tôi tin rằng trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng cần hết lòng ủng hộ mọi nghiên cứu, đổi mới. tuy nhiên, bất kỳ sự đổi mới nào chỉ có thể thành công khi nó có mối liên hệ với truyền thống và vững chắc. không thể nói một tác phẩm hay mà không có khán giả, nhất là khán giả có học. Vì vậy, chỉ chân, thiện, mỹ không chỉ là một trong những mục tiêu phấn đấu của tác giả mà còn của các nhà nghiên cứu, phê bình.

hân hạnh

tên và họ lúc khai sinh: le phong. sinh ngày 10 tháng 11 năm 1938. quê quán: sơn tra, hương sơn, hà tinh. dân tộc Kinh. không có tôn giáo. hiện đang cư trú tại: nhà f1 phòng 302 ngõ 165 đường thái hà, quận đông đa, hà nội. đảng viên csvn. Ông gia nhập Hội từ năm 1979. * Vài nét về quá trình học tập, công tác và sáng tác: Từ năm 1956 đến năm 1959: Học khoa Văn tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Từ năm 1960 đến năm 2003: làm việc tại Viện Văn học. đỗ viện trưởng viện văn học, tổng biên tập tạp chí văn học. tham gia ban chấp hành hội nhà báo việt nam, hội đồng văn học tổng công đoàn và hội nhà văn việt nam, hội đồng khoa học viện khoa học xã hội việt nam, hội đồng tiêu chuẩn giáo viên cấp nhà nước … của phó giáo sư (1984) và giáo sư (1991). * Các tác phẩm chính đã xuất bản: một số số của văn xuôi Việt Nam 1945-1970 (1972); văn học và con người (1976); Văn xuôi Việt Nam hiện thực xã hội chủ nghĩa (1980); Chủ tịch Hồ Chí Minh và Văn học Việt Nam hiện đại (1986); văn học và công cuộc đổi mới (1994); người đàn ông cao lớn – phác thảo sự nghiệp và chân dung (1997); Văn học du hành thế kỷ 20 (1997); Một số bộ mặt văn học và học thuật Việt Nam hiện đại (2001); Văn học Việt Nam hiện đại: Những chân dung tiêu biểu (2001); Văn học Việt Nam hiện đại: Lịch sử và lý luận (2003); viết từ hà nội (2003); Về văn học Việt Nam hiện đại: Suy nghĩ về (2005); người trong văn học (2006)… Ngoài ra, anh còn là chủ biên của hơn 20 tác phẩm tập thể. * giải thưởng văn học: giải thưởng nhà nước về khoa học và kỹ thuật năm 2005. * Suy ngẫm về văn học: trong cuộc sống, cũng như bất kỳ con người nào, mỗi người phải chọn một nghề, tùy theo sở thích và sở thích, khả năng của mình, thấy rằng nghề này là một điều cần thiết của xã hội. Cũng như những người khác, tôi đã chọn một sự nghiệp và đi cùng nó.

vÕ thị kim liên bút danh khác: thuỲ văn

sinh ngày 25 tháng 11 năm 1951. quê quán: can lộc, hà tinh. dân tộc Kinh. không có tôn giáo. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Giáo sư Trường Cao đẳng Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Ông gia nhập hội từ năm 2003. * Vài nét về quá trình học tập, công tác và sáng tác: Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1972. Đã học qua các trường Cao đẳng Sư phạm Hà Bắc, Cao đẳng Sư phạm Quảng Ninh, Cao đẳng Sư phạm Huế, Cao đẳng Sư phạm Tiền Giang. * các tác phẩm đã xuất bản chính: tuyển tập hoa hồng hông (1996); bến yên (1997); sự thay đổi theo mùa (2000); hạt bụi ngoại lai (2003); cỏ tháng giêng (2006) và 17 tiểu thuyết (bút danh thủy văn). kịch bản: Mắt nhung (2005), Tường vi cánh mỏng (2006) * Giải văn học: giải nhì (không có giải nhất) về thơ văn học nghệ thuật Trong lòng mẹ. giải nhì văn nghệ bằng phấn trắng. * Suy nghĩ về nghề văn: Tôi vẫn cho rằng viết văn và làm thơ là một nghề nghiệp. người đã vướng vào nghiệp chướng này, khó bỏ. thành công của mỗi người phụ thuộc vào cái tâm, vào tài năng của mỗi người. nhưng ít nhất nó cũng an ủi được trái tim của chính người viết.

van linh các bút danh khác: thao bun linh, thong van vi chit, tran tung, xuan tuong, tran thach

tên khai sinh đầy đủ: tran spelling linh. Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1930. Quê quán: Huyện Đại Nài, Thành phố Hà Tĩnh. dân tộc Kinh. không có tôn giáo. hiện trú tại: phòng 219 tập thể a5 dạy võ, hà nội. Ông gia nhập Hội năm 1968. * Vài nét về quá trình học tập, công tác và sáng tác: Năm 1945, khi đang học phổ thông, ông nhập ngũ và chiến đấu trên chiến trường vì hòa bình và công lý. năm 1949, ông học đại học để trở thành sĩ quan. 1950-1954 tham gia bộ đội tình nguyện chiến đấu trên chiến trường Lào. Năm 1957, ông làm công việc tư vấn và bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết đầu tay Mùa hạt dẻ. 1960 chuyển nghề biên tập, học đại học. Năm 1965, ông làm chuyên gia văn hóa sang giúp nước bạn Lào. năm 1974, ông làm biên kịch tại một hãng phim truyện Việt Nam. nghỉ hưu năm 1991. * các tác phẩm đã xuất bản chính: tiểu thuyết: Mùa hạt dẻ (1957); goong (1960); đêm sương mù (1963); ở đất bạn (1968); khuôn mặt của một người thân (1972); pa sua (1975); trên biển (1976); ký ức dưới đáy hồ (1976); bên thác (1982); hai bờ của một thung lũng (1984); White Horse with Four Hooves (1988); đêm nhiệt đới (1994); thành phố kết nghĩa (1995); sông gianh (bộ ba, 1999); tự do đầu tiên và cuối cùng (2003); đất nước ông bà anh (2006). Ngoài ra, còn có 23 tập truyện, ký, 3 tập truyện thiếu nhi, 20 kịch bản phim truyện, phim truyền hình và phim hoạt hình. * suy nghĩ về từ: một con gián rơi vào một cái nồi sắt tráng men, cố gắng bò để thoát khỏi đống hỗn độn. Thấy vậy, tôi đã phải thốt lên ồ ồ, bạn có cánh, đúng là một đôi cánh … rồi một ngày nọ, trong lúc đang bế tắc không viết được chữ nào nữa, tôi chợt nghĩ ra câu chuyện về loài gián và tôi. nghĩ rằng: … tâm hồn và trí tuệ mà ông trời đã ban tặng cho nhà văn giống như một đôi cánh bền hơn đôi cánh của một con chim hồng hạc gấp hàng triệu lần. Với đôi cánh ấy, nhà văn vượt qua mọi cám dỗ của hơi men, mọi dục vọng danh thơm, mọi cung điện nguy nga quyền lực, đến thẳng vương quốc ánh sáng diệu kỳ để thực hiện thiên chức cầm bút. vâng và có lẽ, đứt một nửa, người viết cũng đủ hạnh phúc khi từng sải cánh, sải cánh tự do giữa hành tinh bao la …

lời chào

sinh ngày 10 tháng 4 năm 1945. quê quán: Thành phố Đức Thọ, Hà Tĩnh. dân tộc Kinh. không có tôn giáo. chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: ủy viên hội nhà văn hải phòng, tổng thư ký hội nhà văn hải phòng, chi hội trưởng chi hội nhà văn việt nam hải phòng. hiện cư trú tại: 13, điện biên phú, hải phòng. anh gia nhập hội năm 1986. * Vài nét về quá trình học tập, công tác và sáng tác: anh xuất thân trong một gia đình công chức. anh tốt nghiệp trung học, vào quân đội, sau đó được đào tạo tại trường sĩ quan tình báo. tốt nghiệp, sắp làm việc trong hải quân. 1976, về lĩnh vực sáng tác văn học của tổng cục chính trị. năm 1979 tôi học tại trường viết văn nguyễn du. học xong anh về hải quân làm việc. hiện đang sống và viết tại Hải Phòng * tác phẩm đã xuất bản chính: Sóng cửa sông (truyện, 1976); đảo gió (tuyển tập, 1978); Người đàn ông của biển (tiểu thuyết, 1985); đất rừng (tiểu thuyết, 1987); lính thủy (truyện ngắn, 1987); biển gai (tiểu thuyết, 1990); đi mãi không bỏ (truyện ngắn, 2001); tìm kiếm dấu vết của con đường (ký tên, 2004); cỏ mận (tiểu thuyết, 2004) … cũng như viết kịch bản và biên soạn 10 cuốn sách khác. * Giải thưởng Văn học: Giải thưởng Văn học Bộ Quốc phòng 1989 cho tiểu thuyết Người đi biển. Giải thưởng Hoa phượng đỏ – Hải Phòng 1985. Giải thưởng văn học Nguyễn Bỉnh Khiêm – Hải Phòng các năm 1992, 1993, 1994-1995. Giải thưởng Kịch bản phim truyện Bộ VHTTDL năm 2001. Giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết Hội Nhà văn Việt Nam (2001-2004). giải thưởng cuộc thi viết tạp chí quân đội năm 2005; Giải thưởng văn học nghệ thuật Hải Phòng 2006. * Suy ngẫm về văn học: tài năng là món quà trời ban. Trời cho ít, trời cho nhiều. nhưng một nhà văn tự trọng biết viết đến cùng những gì được trao cho mình. ngoài tài năng, để có tác phẩm, người viết phải trung thực với nhận thức và trung thực với nhận thức của mình. viết sai, viết sai hoặc không mong đợi gì. <3

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Các nhà văn nhà thơ ở hà tĩnh. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *