Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
61 lượt xem

Cảm nhận về bài thơ Quê hương của Tế Hanh – Văn mẫu lớp 8 2023

Bạn đang quan tâm đến Cảm nhận về bài thơ Quê hương của Tế Hanh – Văn mẫu lớp 8 2023 phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Cảm nhận về bài thơ Quê hương của Tế Hanh – Văn mẫu lớp 8 2023

Cảm nghĩ về bài thơ quê hương của te hanh – bài làm của một học sinh giỏi tỉnh nghệ an

thơ tinh tế luôn trong sáng. Dù năm nay nhà thơ đã xấp xỉ 80 tuổi nhưng tâm hồn ông vẫn đọng lại những xúc cảm của thời trai trẻ. quê hương là mạch nguồn giàu tình cảm hy sinh. những bài thơ hay nhất của ông là những bài thơ về đất nước thân yêu của ông.

Độc giả biết đến Tế Hân lần đầu tiên từ bài thơ Quê hương của ông được in thành tập thơ Vội vàng năm 1939. Trong số 14 tập thơ đã xuất bản của Tế Hân, từ khi ông đặt chân đến Phố thơ đến nay, không có tập nào được xuất bản. .không có những bài thơ viết về cố hương. quê quán được trỏ ‘tới

Bạn đang xem: Cảm nhận về bài thơ quê hương

một hệ thống hình ảnh “xao xuyến” suốt đời thơ tinh tế. thuở còn hồn nhiên cắp sách đến trường, quê hương trong mắt cậu học trò tinh nghịch là “những con đường nhỏ bâng khuâng, kéo theo nỗi buồn không bước qua phố” (con đường liêu xiêu), “dòng sông xanh, bóng nước” gương soi trong mái tóc của. những hàng tre ”(nhớ dòng sông quê hương). khi đã ở tuổi trưởng thành “gác súng ngoài nhà ra trận”, tâm hồn nhà thơ vẫn về với sông quê, về vườn xưa, về giếng làng. Xa quê hương từ năm 15 tuổi, mười năm sau, anh vẫn còn xao xuyến khi nghe bài chòi (điệu múa quê hương) trên đài. tình yêu đất nước đã trở thành nỗi khắc khoải khôn nguôi khiến nhà thơ như thấy mặt quê mình hiện lên trước mặt người mình yêu… có thể nói đất nước là nơi xuất phát sự nghiệp của người nghệ sĩ và là cội nguồn từ cội nguồn. đề tài vô tận của thi nhân quang.

Ngay từ bài thơ đầu tiên viết về quê hương, người đọc đã đồng cảm với giọng thơ chân chất, dạt dào cảm xúc. người đàn ông trẻ đến từ biển kể về con người của mình bằng những từ đơn giản:

“Người của tôi từng là ngư dân:

nước bao quanh sông vào buổi trưa từ biển ”.

Sau câu mở đầu giản dị, cảm hứng dường như đã được khơi dậy, nhà thơ bắt đầu say sưa miêu tả vẻ đẹp của quê hương mình:

“Khi trời quang, gió nhẹ, sáng sớm, những người trẻ tuổi đi câu cá.

Con thuyền nhẹ và khỏe như một con ngựa tốt, tung những mái chèo dũng mãnh qua sông.

cánh buồm được nâng lên như mảnh hồn làng vươn tấm thân trong trắng mênh mông đón gió ”….

dòng thơ cứ thế trôi chảy, hình ảnh tự nó như thi nhau đưa đẩy câu thơ kéo theo cảm xúc dạt dào của thi nhân. ngòi bút của nhà thơ chỉ bằng vài nét chấm phá mà cảnh vật như bừng sáng: “trời trong, gió nhẹ, ban mai hồng”. Một ngày mới ở làng quê bắt đầu với sự trong lành của thiên nhiên và tâm trạng ‘phấn khởi’ của người lao động. con tàu “băng băng” ra khơi trong tư thế “ngựa hay”, khi những “chàng trai” vạm vỡ, sung sức vẫy những nhịp chèo vội vã, say mê – “lật mái chèo

đủ sức để vượt sông “. con tàu lướt ra khơi, cánh buồm từ từ vươn lên rồi chợt căng lên do gió … những hình ảnh so sánh đẹp, gợi hình đi vào bài thơ một cách tự nhiên, bình dị, như thể. không tốn nhiều công sức kĩ xảo.

“cánh buồm dang rộng như tâm hồn dân tộc vươn mình mênh mông trong trắng đón gió”.

biết bao bài thơ đã xuất hiện từ cánh buồm kiêu hãnh và thơ mộng. lecmontop (nhà thơ Nga) có bài thơ trữ tình nổi tiếng về ngọn nến khao khát cuộc đời giông bão:

“phía xa, cánh buồm phấp phới trên biển sương mù, tìm về miền đất lạ?

nói lời tạm biệt với đất mẹ? ”

(bản dịch đầy đủ)

Thơ nguyễn binh còn ngọn nến đau thương:

‘“ Anh ấy đi rồi, anh ấy đi đâu?

nến nâu, nến nâu, nến ”…

sau này, hoàng trung thông cũng mượn hình ảnh ngọn nến để nói chuyện với con cháu … có bao nhiêu ngọn nến trong thơ cũng có những cách cảm nhận khác nhau về hình ảnh đó. Đối với linh mục, ngọn nến như một biểu tượng của thị trấn. ngọn nến mong manh như “hồn người” nhưng lại mở rộng “mênh mông” như hồn quê hương rộng mở, vươn lên, được nhân dân yêu thương, đùm bọc… từ một “cánh buồm” rất cụ thể so với “tâm hồn. của phố thị ”vô cùng trừu tượng, nhà thơ đã khơi gợi một không gian bao la cho người đọc những liên tưởng: cánh buồm, hay linh hồn của phố thị, là nơi trú ngụ của con thuyền nhỏ, là lực (góp phần tạo nên gió) đẩy thuyền, là phương tiện cai quản con thuyền… ngư dân ra khơi như mang theo một phần máu thịt của Tổ quốc, cánh buồm buộc thuyền như “linh hồn” của con người, neo giữ họ. … những người đã Xa quê hương lâu, họ thấp thoáng ngọn nến như đã nhìn thoáng qua miền quê yêu dấu … thật tinh tế, với trái tim nhạy cảm của một thi nhân, anh đã nhìn thấy trong ngọn nến, tâm hồn gió lộng của anh. quê hương.

<3

“ngày hôm sau, ở bãi đậu xe ồn ào

tất cả dân làng đông đúc để chào đón con thuyền.

tạ ơn trời biển, những con thuyền đầy ắp cá,

cá tươi có thân màu trắng bạc ”.

Cuộc sống khắc nghiệt, luôn đối mặt với nhiều hiểm nguy buộc người dân nơi đây phải đoàn kết thành một cộng đồng gắn bó. họ cùng chung sức trên những chuyến đi biển và chia sẻ mọi buồn vui. Mỗi khi thuyền ra khơi đánh bắt, cả người ở và người ra về đều cầu trời khấn Phật cho bình an. vì vậy, mỗi gánh cá là một niềm vui, niềm hạnh phúc của mỗi gia đình: “khắp xóm làng nô nức đón tàu”. hơn ai hết ngư dân hiểu: đằng sau vụ đánh bắt “tươi rói” là muôn vàn khó khăn, nguy hiểm mà chính những người thân yêu của họ đã phải trải qua. khi nhà thơ nhân danh mình thốt lên:

“tạ ơn trời biển lặng gió thuyền đầy”

người đọc đột nhiên cảm thấy một niềm hạnh phúc đầy nước mắt lan tỏa trong dòng suy nghĩ rất đỗi bình thường:

“” thăn bạc “ngon của cá tươi”.

giọng thơ hào hứng, sôi nổi ở đoạn đầu, đến đây bắt đầu trầm dần, nhịp thơ chậm lại. ngòi bút của nhà thơ chuyển sang miêu tả chân dung người đánh cá và con thuyền về bến:

“ngư dân da rám nắng,

toàn bộ cơ thể có mùi từ xa;

tàu mệt và đi ngủ trở lại

nghe muối thấm từng chút một vào thớ cổ ”.

Đây là khổ thơ đẹp nhất, gợi cảm nhất của bài thơ, như một tác phẩm điêu khắc thơ. Nếu ở phần trên, nhà thơ thiên về miêu tả vẻ đẹp được nhìn thấy thì ở đây nhà thơ lại thiên về khai thác vẻ đẹp được cảm nhận. do đó, hình ảnh thơ mộng, như thể có

sâu hơn. với “làn da rám nắng” những người đánh cá làm chúng ta liên tưởng đến một bức tượng đồng vạm vỡ. hình ảnh đẹp như tượng mà ấm áp cuộc đời, bởi: “toàn thân thở cùng hương xa”. nhà thơ đã thơ hóa một hiện tượng bình thường trong đời sống hiện thực – nước mặn của biển thấm vào da người đánh cá tạo thành hương vị riêng trên cơ thể anh ta – gợi lên một hình ảnh rất lãng mạn: người đánh cá sau chuyến phiêu lưu trên biển, trở về, cũng mang trong mình hương vị nồng nàn của vùng biển lạ. và con tàu, được thể hiện như một xác sống, cũng mệt mỏi “nằm” trên bến, lặng lẽ cảm nhận vị mặn của biển ngấm vào cơ thể:

“lắng nghe muối thấm vào vỏ

trong câu thơ nhân hoá con tàu, nhà thơ đã khéo léo kết hợp hai hiện tượng: nước biển mặn thấm sâu vào vỏ gỗ của con tàu ngâm nước lâu ngày, tiếng răng rắc của giường tàu ngâm nước. trong muối phơi mình trên cát … cả người và thuyền, hai hình ảnh đẹp đến say lòng trong trạng thái nghỉ ngơi, thư thái. bao nhiêu tài hoa của nhà thơ đã được dồn vào bốn câu thơ đặc sắc ấy. nếu bài thơ kết thúc ở đây, có lẽ nó có sức gợi như cố thêm khổ thơ cuối:

“Giờ đây khi ở xa trái tim tôi luôn nhớ về màu nước, màu xanh lam, con cá hạc, cánh buồm vôi,

Con tàu nhanh chóng tách khỏi những con sóng và lao ra biển,

Tôi nhớ mùi mặn quá. ”

đoạn cuối bài thơ chỉ muốn tóm lại nỗi nhớ cụ thể của chàng trai. chẳng lẽ thơ không nên nói hết, nói đầy đủ như vậy?

nhưng, đối với vị linh mục, tình yêu chân thành hồn nhiên luôn vượt qua những cách sử dụng kỹ thuật của thơ ca. Dù thời gian, lòng người có đổi thay nhưng tình cảm quê hương vẫn là cội nguồn khơi nguồn từ trái tim nhà thơ, để mỗi khi nhìn thấy biển, nhà thơ lại bồi hồi xúc động:

“biển không yên và háo hức vỗ về nước như con tàu chờ ra khơi”…

Cảm nhận về bài thơ quê hương của te hanh – bài tập 2

quê hương trong mỗi chúng ta là khác nhau. Đó là nơi chúng ta sinh ra, được nuôi dưỡng bằng những lời ru ngọt ngào của mẹ:

Nhà là chùm khế ngọt, cho lũ trẻ trèo hái hàng ngày. quê hương là con đường cắp sách đến trường, con về đầy bướm vàng bay… ”.

Trong văn học Việt Nam, đề tài quê hương luôn là đề tài mở, bởi đây là cội nguồn của mỗi chúng ta, nó thiêng liêng, mỗi vùng miền khác nhau lại mang một vẻ đẹp riêng. Chính vì lẽ đó mà quê hương trong thơ ca luôn ấm áp, trữ tình, giàu cảm xúc, luôn đánh thức niềm tự hào, niềm vui trong tâm hồn mỗi người. tiêu biểu trong số những tác phẩm viết về quê hương là bài thơ “quê mẹ” của nhà thơ te hanh.

thị trấn của tôi ban đầu được bao quanh bởi lưới đánh cá, cách biển và sông nửa ngày đường

Thật dễ dàng để nhận được một bài thơ bắt đầu bằng lời giới thiệu của tác giả về thị trấn ven biển của mình. kinh tế hanh giới thiệu với mọi người nghề chính của quê hương anh trong khổ thơ đầu của bài thơ đó là nghề đánh cá. quê hương của tác giả rất khác với miền quê thôn dã nằm gần biển nhưng “nửa đường nửa biển”, sóng vỗ khắp nơi. cuộc sống mưu sinh của người dân nơi đây là nghề “chài lưới” lênh đênh trên biển. cảnh đi đánh cá được nhà thơ miêu tả thật thơ mộng, đẹp đến nao lòng:

khi trời quang, gió nhẹ, sáng sớm các bạn trẻ đi câu cá

vào buổi sáng khi thời tiết trong xanh: bầu trời trong xanh, gió biển nhẹ, bình minh hồng rực rỡ. ngay lúc đó, thanh niên và trẻ em thị trấn cùng nhau giương buồm ra khơi. nếu câu ba và câu bốn mềm mại, tinh tế thì hai câu tiếp theo lại mạnh mẽ, dữ dội và mạnh mẽ hơn.

con thuyền nhẹ và khỏe như con ngựa có mái chèo, mạnh mẽ vượt sông

Trong hai câu thơ này, tác giả đã sử dụng những động từ và tính từ mạnh: “hung”, “phan” kết hợp với cách so sánh độc đáo làm cho hình ảnh người đánh cá trở nên giàu chất, dáng, giàu đường nét và cá tính mạnh mẽ. việc sử dụng động từ “chảo” đã gợi mở sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tinh tế và sức khỏe của người dân vùng chài. năng lượng căng tràn của những chàng trai thị trấn như truyền hết sang con thuyền, tạo nên một khung cảnh ấn tượng, rất mạnh mẽ và hùng vĩ:

cánh buồm to lớn như linh hồn của con người vươn mình rộng lớn trong trắng đón gió

nhà thơ lấy hình ảnh ngọn nến đại diện cho “hồn người” vì ngọn nến ấy tạo công ăn việc làm nuôi sống người dân miền biển hàng ngày. con tàu lướt ra khơi, cánh buồm từ từ vươn lên rồi đột ngột căng phồng do gió … những hình ảnh so sánh đẹp, gợi hình đi vào bài thơ một cách tự nhiên, giản dị, như thể không cần bất kỳ một kỹ thuật nào. ngọn nến dường như có sức mạnh phi thường giữa không trung hiện lên với vẻ đẹp kiêu hãnh, đầy kiêu hãnh, ngọn nến rung rinh trong gió biển. biết bao bài thơ đã hiện lên từ những ngọn nến đầy kiêu hãnh và thơ mộng. lecmontop (nhà thơ Nga) có bài thơ trữ tình nổi tiếng về cánh buồm khao khát cuộc đời giông bão: “Phía xa cánh buồm chao liệng trên biển sương mù, tìm gì nơi đất khách quê người? nói lời tạm biệt với quê hương đó? “

(bản dịch đầy đủ)

<3

Ngày hôm sau, với rất nhiều tiếng ồn ào trên bến tàu, tất cả dân làng đã kéo nhau ra đón con tàu. “ơn trời biển lặng, thuyền đầy” những con cá tươi có thân màu trắng bạc. người đánh cá có làn da rám nắng, toàn thân tỏa hương xa xăm. con thuyền êm đềm mệt nằm ngả lưng nghe muối thấm từng chút vào vỏ.

Có thể nói, cuộc sống vùng sông nước là cuộc sống vất vả, luôn phải chuẩn bị tâm lý đối mặt với mọi hiểm nguy, buộc người dân nơi đây phải luôn đoàn kết, gắn bó với nhau để hỗ trợ nhau trong việc đánh bắt trên biển. họ cùng chung sức trong các chuyên ngành đi biển và chia sẻ, sẻ chia những gánh nặng, mọi niềm vui nỗi buồn của người khác. Mỗi khi thuyền ra khơi đánh bắt, không chỉ người ra đi mà những người thân ở lại đều cầu trời đất cho một chuyến đi an toàn, may mắn. Kết quả của sự lao động không mệt mỏi này là những vại cá nặng trĩu, là niềm vui, hạnh phúc của mỗi gia đình: “cá tươi roi rói”. Hơn ai hết, người dân hiểu rằng đằng sau những mẻ cá “tươi rói” là những khó khăn, nguy hiểm mà chính những người thân của họ phải trải qua.

hình ảnh những đứa trẻ vùng biển có màu da đặc trưng riêng “rám nắng”, nước mặn của biển thấm vào da người đánh cá tạo thành hương vị riêng trên cơ thể họ gợi lên một hình ảnh vô cùng đẹp đẽ. lãng mạn: chàng ngư dân sau chuyến phiêu lưu trên biển, khi trở về đã mang theo hương vị nồng nàn của biển lạ. cái mùi này chỉ những ai yêu quê hương tha thiết, tha thiết như tác giả mới cảm nhận được. con tàu như ngụy trang thành một con người, cũng mệt mỏi sau những ngày dài lênh đênh trên biển, cũng cần được nghỉ ngơi. chất muối trong vỏ cũng được tác giả cảm nhận khi “thính”, thật độc đáo!

giờ xa rồi lòng tôi luôn nhớ: màu xanh biếc của nước, con cá bạc, cánh buồm vôi, thấp thoáng con tàu vỡ sóng lao ra khơi, lòng nhớ mùi mặn mòi vô cùng!

đoạn cuối bài thơ là nỗi lòng của nhà thơ tinh tế, xa nơi lớn lên, nơi gắn bó bao kỉ niệm tuổi thơ. nỗi nhớ ấy khiến anh không nói nên lời: nhớ màu biển xanh, nhớ con cá bạc, nhớ cánh buồm trắng, nhớ con tàu vượt sóng. anh vẫn nhớ mùi mặn mòi của biển quê nhà, thậm chí đôi khi nhớ quê hương khi bắt gặp hình ảnh con tàu ra khơi. Ta có thể xem đi xem lại những hình ảnh đó, đọng lại trong tâm trí nhà thơ, cuối cùng lại khơi dậy cảm xúc: Nhớ lắm cái mùi mặn nồng!

Bài thơ “quê hương” của te hanh đã vẽ nên một bức tranh làng biển tươi sáng, sống động, lãng mạn và trữ tình, với những hình ảnh chân chất và đầy sức sống của con người, của làng chài và những hoạt động thường ngày của người dân làng chài. bài thơ như một lời thay lời yêu quê hương của những người con xa quê.

Cảm nhận về bài thơ quê hương của te hanh – bài tập 3

Xem thêm: 99 Bài thơ về Phật giáo hay nhất

Với thời gian, Quê hương chí sĩ (1939) thực sự là một mảnh tâm hồn trong sáng mà nhà thơ có được trước cách mạng tháng Tám.

trong khi hầu hết các nhà thơ của phong trào thơ mới đều than thở, xót xa trong điệp khúc của tình yêu đau thương và nỗi cô đơn, thì quê hương của người sĩ phu lại như một vần thơ da diết. , lạ:

thị trấn nơi tôi sống là một làng chài được bao quanh bởi nước, cách biển nửa ngày đường.

khi trời quang mây tạnh, gió nhẹ, sáng sớm thanh niên đi đánh cá, con thuyền nhẹ nhàng, khỏe khoắn như một con ngựa hay với mái chèo, mạnh mẽ vượt qua những cánh buồm dài, những cánh buồm của họ. lớn như linh hồn của con người đang vươn mình trong trắng của họ. Gió hòa cùng họ

te hanh là một nhà thơ lãng mạn, nhiều người cho rằng thơ lãng mạn nên nói đến tình yêu đau đớn, khát khao khát khao. bài thơ này viết năm tôi mười tám tuổi với bao ước mơ tuổi học trò. tác giả xa quê nhớ phố mình ở nhưng cảm hứng thơ chia cắt, không gợi cảm giác xa cách, buồn bã.

XEM THÊM:  Soạn bài văn tế nghĩa sĩ cần giuộc

Thơ hoài cổ thường mang đầy nỗi buồn, bởi đó là ký ức thoáng qua hiện lên trong ký ức, trong hoài niệm. Tôi nhớ luu trong bài thơ buồn và đau lòng của lu:

mỗi khi mặt trời mới gáy theo gà trống, gà trống gáy giữa ban ngày, cảm giác buồn cô đơn, sống lại những ngày tháng đã qua. (mặt trời mới)

nhưng với nét đẹp hanh thông, cũng là một bài thơ hoài cổ, nhưng hình ảnh thơ lại mạnh mẽ, cụ thể, rõ ràng như hiện thực trước mắt, sống động đến vô cùng. khoảnh khắc nhà thơ nhớ về quê hương là:

khi bầu trời trong xanh, gió nhẹ, buổi sáng màu hồng

câu thơ mở ra một không gian trang nghiêm bao la với màu sắc rạng rỡ của biển cả. lời bài hát như tiếng nhạc, tiếng hoa, tiếng sóng và tiếng gió, bản nhạc rất tươi, vui không buồn.

Nhắc lại làng chài, nhà thơ nhớ lại cảnh những đoàn thuyền ra khơi, nhớ lại sức khỏe và sự tự do của những người thanh niên chèo thuyền ra khơi đánh cá. con đò không phải buộc lòng nhớ mãi vườn xưa (làm phủ) hay con đò lười biếng nằm trên dòng sông chảy (anh), mà con đò rạo rực, dường như cũng có sức trẻ, lướt nhẹ. thoăn thoắt trên đầu sóng, ngọn sóng, hóng gió, háo hức:

con tàu nhẹ và khỏe như một con ngựa khỏe tung mái chèo mạnh mẽ qua sông

Khi miêu tả những cánh buồm của con tàu đó, nhà thơ đã nghĩ ra một cách so sánh và liên tưởng tuyệt đẹp:

cánh buồm to lớn như tâm hồn của con người đang vươn mình bao la đón gió

ngọn nến – cái cụ thể hữu hình được so sánh với linh hồn của con người – cái trừu tượng vô hình. tâm hồn của con người là tâm hồn, là nét sâu sắc, thiêng liêng của quê hương, của làng chài mà nhà thơ cảm nhận được qua cánh buồm căng gió. hình ảnh thơ thật khoáng đạt, tráng lệ và có sức tỏa sáng. đây cũng là một phát hiện tinh tế và chính xác của nhà thơ: cánh buồm quen thuộc, gắn bó, không thể thiếu trong sinh hoạt, là biểu tượng của một làng chài.

Nhà thơ còn nhân cách hóa cánh buồm căng gió ấy bằng thân hình cường tráng, khỏe mạnh của một chàng trai đang vươn mình trong trắng mênh mông đón gió. Không hiểu sao đọc câu này của linh mục lại làm mình nhớ đến một câu thơ rất lãng mạn từ to hu trong niềm vui vô bờ bến:

lồng ngực phẳng lặng bốn ngàn năm nay gió lớn thổi mạnh, lòng chợt nắng

ngôn ngữ miêu tả trong câu thơ của vị linh mục giàu giá trị hình ảnh, đường nét phóng khoáng, làm cho con người, con tàu và cánh buồm cũng lênh đênh, bồng bềnh, chuyển động và sống động như những sinh linh.

cảnh người dân chài đi đánh cá trở về trong nỗi nhớ của nhà thơ cũng thật tươi vui, gợi không khí êm đềm, ấm áp:

Ngày hôm sau, có rất nhiều tiếng ồn ào trên các bến tàu trên khắp thị trấn, nhộn nhịp chào đón những con tàu. “ơn trời biển lặng, thuyền đầy” những con cá tươi có thân màu trắng bạc. người đánh cá, nước da rám nắng, toàn thân hít thở hương xa; con thuyền êm ru, mệt nhọc, thảnh thơi nghe muối thấm dần vào vỏ.

như bàn tay điêu khắc, ngôn ngữ hình ảnh của vị linh mục đã tạc nên bức phù điêu uy nghi về một ngư dân khỏe mạnh, chân dung như một pho tượng đồng bằng đồng với làn da rám nắng, toàn thân bốc mùi xa xa. chúng là kết tinh sức mạnh của nắng, gió và sóng biển. Họ là những người con của biển cả.

vẫn cùng con tàu ra khơi, nay trở về sau một ngày chạy đua với sóng gió, nhà thơ nhân hóa mình thành một con người, một hiền nhân với tư thế thư thái, điềm đạm, đầy chiêm nghiệm:

p>

con tàu bình lặng, mệt mỏi và thư thái để lắng nghe cách muối thấm dần vào vỏ.

nghe (cảm thụ bằng tai) nhưng ở đây nghe chất muối ngấm dần vào thớ vỏ; quá trình chuyển đổi là tinh tế. không chỉ con người, mà ngay cả những con thuyền cũng hòa mình vào hương vị của biển, thấy vị mặn của muối biển leng keng trên cơ thể hay đó là những dư vị êm đềm mà giản dị của nhịp sống miền biển.

Tuổi trẻ của người chí sĩ chắc đã nếm trải mùi mặn của cá vàng, trong lời ru, êm đềm của bốn bề sóng vỗ, mới có thể làm nên những vần thơ như thế này. Không phải là con của một ngư dân, người ta không thể viết những câu thơ như vậy. khi biết lặng lẽ chuyển hồn mình vào hồn thơ để lắng nghe, mở rộng mọi giác quan để xốn xang, thấm hết những cảm xúc tinh tế thì mới viết được những vần thơ tài hoa ấy. đó là thứ muối mặn từ từ ngấm vào từng thớ thịt của vỏ tàu, nay đã thấm sâu vào da thịt, tâm hồn mỏng manh trở thành nỗi ám ảnh đầy ma mị, da diết. tinh tế là khôn khéo và tinh tế bởi sống trong lòng của sự vật, có khả năng nghe được tiếng nói của trái tim và cảm xúc của những vật vô tri. tuy nhiên trong lời đường quê, nhà thơ cũng đã đưa hồn vào con đường nhỏ lang thang mang nỗi buồn dọc đường. Cuối bài thơ có hai chữ cần nhớ:

xa rồi lòng luôn nhắc nhớ hương mặn nồng

nhưng ý thơ không gây cảm giác yếu ớt, buồn bã mà vẫn khỏe khoắn, tươi mới. nỗi nhớ ấy gắn liền với những gì thân thuộc của làng chài với màu nước biếc, con cá bạc, ngọn nến vôi, màu sáng, hương vị ấm áp, đậm đà. nỗi nhớ càng dâng cao, cái ác mãnh liệt gợi lại mùi hoa trái nồng nặc.

là hương vị của quê hương, là hương vị của tình thân, của thịt của những người thân.

Bài thơ có thể được coi là hình ảnh của một đất nước tươi đẹp, trong sáng và với những ca từ lành mạnh. Ba hình ảnh nổi bật trong hình ảnh đó: người đánh cá, cánh buồm và con thuyền. từng hình ảnh đẹp, trong sáng, phóng khoáng, tràn đầy sức sống, tràn đầy hương vị của biển. có thể coi đó là một nét riêng, hồn quê mà nhà thơ day dứt suốt đời.

đó là lý do tại sao bức tranh cánh đồng trong ký ức của người chí sĩ không mang một nét u buồn như bức tranh của các thi sĩ mới với chiếc thuyền lười ném trên sông, bức tranh dừng lại, những bông hoa tím rơi. bống (anh), nhưng bức tranh quê với những đường nét tươi trẻ, khỏe khoắn được đúc kết từ tình cảm đậm đà, trong sáng của tuổi trẻ đối với quê hương.

Nếu không gắn và yêu quê hương đất nước bằng những tình cảm trong sáng, đằm thắm thì nhà thơ không thể cảm nhận và diễn tả một cách tài hoa, sinh động vẻ đẹp của vùng quê, cảnh quê trong bài thơ tươi thắm, thiết tha như thế.

Quê hương của người chí sĩ (1939) thực sự là mảnh tâm hồn thuần khiết nhất mà chúng ta tìm thấy trong thơ ca trước cách mạng tháng Tám.

Cảm nghĩ về bài thơ quê hương của te hanh – nhiệm vụ 4

Trong văn học, có rất nhiều bài thơ viết về quê hương, ca ngợi vẻ đẹp của quê hương. mỗi nhà thơ khi viết về quê hương đều mang một vẻ đẹp và một cảm xúc rất riêng đối với mảnh đất thân yêu của mình. Trong số những nhà thơ tôi biết, thinh hanh là nhà thơ có tình cảm sâu nặng với quê hương nên đã viết nên những vần thơ đầy sức sống như có cả tâm hồn ca ngợi mảnh đất nơi mình sinh ra. Đó là một bài thơ đồng quê. Bài thơ được viết vào năm 1939, khi nhà thơ mới 18 tuổi và đang học trường cấp 3 ở Huế. nỗi nhớ phố ve chai, quê hương yêu dấu ở bình dương, quang ngai đã lan tỏa và thấm sâu vào bài thơ. bài thơ chan chứa tình cảm bi thương.

hai câu thơ đầu, tác giả miêu tả “dân tộc tôi”. thân mật, hào sảng, chan chứa yêu thương … tất cả đều được thể hiện qua hai từ “dân ta” ấy:

“Thị trấn tôi đang sống là một nhà sản xuất chai màu đỏ

nước bao quanh sông vào giữa trưa từ biển ”

quê hương là một làng chài, tứ bề là nước, là một thị trấn nghèo ven biển miền Trung “cách biển nửa ngày đường”. con sông mà nhà thơ nhắc đến là sông tra bong chảy qua huyện bình sơn, phía bắc tỉnh quảng ngãi. giọng điệu của trái tim, một cách nói cánh đồng vừa cụ thể vừa trừu tượng.

Sáu câu thơ sau gợi nhớ đến một vẻ đẹp của quê hương: cảnh phố ve chai ra khơi đánh cá. những kỷ niệm về quê hương dường như lọc qua ánh sáng của tâm hồn. có cảnh bình minh trên biển thật đẹp với “gió nhẹ”, “mai hồng”, những đứa trẻ khỏe mạnh “bơi đi đánh cá”. cảnh đẹp trong veo, giọng thơ nhẹ nhàng diễn tả cảnh vật và niềm vui của phố chai nơi biển xa:

khi bầu trời trong xanh, gió nhẹ, buổi sáng màu hồng

những người trẻ tuổi đi đánh cá trên thuyền ”.

dưới đây, hàng loạt hình ảnh so sánh, ẩn dụ mới về con thuyền, mái chèo, cánh buồm … ngựa hay là ngựa non, đẹp, nhanh nhẹn. được so sánh với con tàu “nhẹ tênh như vó ngựa”, tác giả đã dựng nên hình ảnh trẻ trung, sôi nổi, thể hiện tinh thần hăng hái, phấn khởi khi ra đi. từ “tràn đầy năng lượng” được dùng rất hay, rất thích hợp. , được gắn với các từ “người của người” và “ngựa của người” để tạo thành một vẻ đẹp văn chương có hệ thống. những mái chèo như những thanh gươm khổng lồ cắt ngang mặt nước, “vụt” lên một tiếng hùng tráng, chèo lái con thuyền “qua sông dài”. Sau hình ảnh con thuyền và mái chèo là hình ảnh “cánh buồm dựng đứng như một mảnh tâm hồn của con người” – một hình ảnh đẹp tiêu biểu cho cái hồn của làng chài. . so sánh “ngọn nến” to như “mảnh hồn làng” thật hay và độc đáo. ngọn nến vĩ đại tượng trưng cho hình bóng và sức sống của đất nước, nó là biểu tượng của sức mạnh, sự lao động sáng tạo và ước mơ về hạnh phúc và thịnh vượng của đất nước. Nó cũng đại diện cho tinh thần và khát vọng chinh phục biển của những người trẻ đang hừng hực khí thế. cánh buồm ấy với lực “vươn thân trắng mênh mông đón gió”, tạo nên một hình ảnh đẹp, mang đậm dấu ấn công việc và cảm hứng vũ trụ. nến nhân hóa. ba chữ “thân trắng vươn vai” diễn tả một quãng đời trải qua bao mưa nắng, căng thẳng và quyết tâm lên đường. đây là một khổ thơ xuất sắc tả cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi, tự hào ca ngợi sức sống của làng chài thân yêu:

con tàu nhẹ như một con ngựa

di chuyển những mái chèo dũng mãnh để qua sông

ngọn nến lớn như linh hồn của một người

nó vươn mình rộng lớn màu trắng để đón gió…

Những người con xa quê sẽ không bao giờ quên được cảnh dân làng đón đoàn thuyền đánh cá trở về từ biển khơi. các từ láy: “ồn ào”, “rộn ràng” thể hiện niềm vui “nhận tàu”. niềm vui tràn ngập lòng người, nó thuộc về “cả dân làng”. cảnh “vớt thuyền” thực ra là một bữa tiệc lao động của ngư dân:

ồn ào vào ngày hôm sau trong bãi đậu xe

tất cả dân làng chen chúc để chào đón con tàu trở về

Cá “tươi ngon” đầy khoang tàu, được mùa cá, hân hoan trong niềm vui ấm no hạnh phúc, người dân xóm ve chai nhẹ nhàng nói lời tri ân vì đất trời đã cho biển lặng. và điềm tĩnh, chó và mèo “cá đầy thuyền.” Niềm hy vọng và niềm tin thánh thiện “nhờ ơn trời” ấy đã bộc lộ tấm lòng chất phác, nhân hậu của những con người suốt đời gắn bó với biển, trong vui, trong hoạn nạn và với biển. thich hanh hiểu quê hương khi viết:

tạ ơn trời biển êm đềm và thuyền đầy ắp

cá tươi có thân màu trắng bạc.

đọc bài thơ như cảm nhận được cái hồn của bài thơ tinh tế mang âm hưởng của những bài hát được phổ nhạc:

may mắn thay, trời mưa và nắng

cày nông, cày sâu

cảm ơn trời, mùa đông tới sẽ đến,

trau dồi, trau dồi cho tốt …

Tiếp nối mạch cảm xúc, khổ thơ thứ tư của bài thơ nói về cảnh thôn quê với hai nét vẽ trẻ trung, thanh bình. những đứa trẻ làng ve chai có một “làn da rám nắng” khỏe mạnh và dũng cảm, ôn hòa trong sóng gió trùng dương, trong mưa nắng. Chúng mang trong mình hương vị của biển cả. hai chữ “thở” rất thiêng, làm nổi bật cuộc sống lao động hăng say, dũng cảm của những con người mang tình yêu biển cả. hình ảnh thơ mộng với vẻ đẹp lãng mạn:

ngư dân da rám nắng

toàn bộ cơ thể có mùi xa

nét vẽ thứ hai là vẽ con tàu. sau một chuyến đi biển trở về mệt nhoài, anh mệt nhoài nằm bất động trên cầu tàu. con thuyền là biểu tượng cho vẻ đẹp của những con người ve chai, của những mảnh đời trải qua bao khó khăn thử thách:

tàu mệt và đi ngủ trở lại

Xem thêm: Phân tích đoạn trích Nỗi thương mình – Nguyễn Du

Nghe muối thấm từng chút một vào sợi vỏ.

con tàu được nhân cách hóa với nhiều tình yêu. đoạn thơ giàu cảm xúc và triết lí về lao động trong thời bình. từ “nghe” thể hiện một sự chuyển đổi rất tinh tế và thơ mộng. cánh đồng trở thành mảnh ghép tâm hồn của người con xa xứ.

đoạn cuối bài thơ là tiếng lòng bồi hồi nhớ quê hương. điệp ngữ “nhớ” làm cho giọng thơ nghiêm trang, ai oán, da diết. xa quê phải “nhung nhớ” không nguôi. gợi nhớ “màu nước biếc” của sông, biển của làng chài. nhớ “con cá bạc”, nhớ “ngọn nến vôi”,… thấp thoáng trong nỗi nhớ là hình ảnh con thuyền “rẽ sóng ra khơi” chiến đấu. xa quê nên anh “nhớ” hương vị của biển, hương vị của làng chài thân thương “mùi mặn quá”. tình cảm thấm nhuần từ ngữ, màu sắc, vần điệu. thơ còn là tiếng nói của tâm hồn dạt dào nỗi nhớ quê. dịu dàng, trìu mến, cảm xúc bao la:

xa rồi lòng tôi luôn nhớ

màu nước xanh, cá bạc, cánh buồm vôi

Con tàu quay đầu nhanh chóng và chạy ra khơi.

Tôi thực sự nhớ mùi.

Bài thơ quê hương có nhan đề rất gợi: “chim bay ngang biển mang tin cá”. là bài thơ do cha của nhà thơ sáng tác. nỗi nhớ quê hương, dạt dào nỗi nhớ người cha kính yêu trong hồn thơ hy sinh. Sau đó, năm 1963, khi sống ở miền Bắc, trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, trong bài thơ “học về ngày mất của cha”, ông bùi ngùi nhớ lại:

cuộc nổi dậy cần vua thất bại

người cha cay đắng trở về quê hương của mình

… vịnh quê hương với mấy vần thơ:

những con chim bay dọc biển để mang tin tức về cá

nhà ở cạnh hiên, gần mái nhà ”.

Chúng ta có thể cảm nhận được câu thơ đó, chúng ta có thể nắm bắt được tình yêu và niềm khao khát quê hương của mình qua bài thơ tuyệt tác này.

bài thơ “quê hương” đã có một chặng đường gần 80 năm. nó gắn liền với tâm hồn trong sáng, với tuổi trẻ của thiên chức. Thể thơ 8 tiếng, giọng thơ giàu sức gợi cảm. những câu thơ về dòng sông, con thuyền, cánh buồm, hang đá, người đánh cá, bến tàu… và nỗi nhớ của người con xa quê thật hay, da diết, thể hiện một tâm hồn thơ đẹp. nghệ thuật xóa mờ, sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ, so sánh, nhân hóa và chuyển đổi cảm giác khá thành công, tạo nên những vần thơ trữ tình đầy chất thơ.

Trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại, tác phẩm này của tác giả Tế hanh được coi là bài thơ đầu tiên, bài thơ “xúc động” nhất viết về quê hương. đã khơi nguồn cho nên nhiều bài thơ hay sau này nối tiếp nhau như: “ngoài sông du” (hoàng cẩm), “quê hương” (giang nam), “nhớ sông quê hương” (tế hanh), “quê hương” (do trung quan) … người đọc tìm thấy hình bóng của tuổi thơ cùng hiện hữu với quê hương. quê hương của một người đã trở thành của nhân dân và mãi mãi!

Cảm nghĩ về bài thơ quê hương của te hanh – bài tập 5

Ta có thể thấy trong thơ ông hơi thở nồng nàn của người dân xứ biển, hay dòng sông nắng chiều gắn với tình yêu quê hương sâu nặng của nhà thơ. bài thơ “quê hương” là kỉ niệm sâu sắc về tuổi thơ, là tác phẩm mở đầu cho cảm hứng về quê hương trong thơ hi sinh, bài thơ được viết nên bằng tất cả tình yêu thiên nhiên thơ mộng, anh hùng, quật cường, yêu thương con người cần cù lao động.

bài thơ được viết bằng một dòng tám chữ kết hợp các vần đối, vần xen kẽ, thể hiện phần nào nhịp sống hối hả và nhộn nhịp của một làng chài ven biển:

XEM THÊM:  Tranh minh hoa bai tho em yeu nha em

thị trấn nơi tôi sống, vốn là một ngư dân, được bao quanh bởi một con sông vào buổi trưa từ biển khi bầu trời trong xanh, gió nhẹ, những người trẻ tuổi đi câu cá vào buổi sáng.

Quê hương trong tâm thức của những người con Việt Nam là mái đình, là gốc giếng nước và canh rau muống chấm tương.

và quê hương trong tâm trí của te hanh là một làng chài nằm trên cù lao giữa sông và biển, một làng chài được bao bọc bởi sóng biển. một khung cảnh làng quê như mở ra vô cùng sinh động trước mắt ta: “trời trong – gió nhẹ – ban mai hồng”, không gian như kéo dài ra, trời như cao hơn, ánh sáng chan hòa.

bầu trời trong xanh, gió nhẹ hiu hiu, ánh nắng chói chang của buổi bình minh đang đến gần là dấu hiệu cho thấy một ngày mới bắt đầu, một ngày mới với bao hy vọng, một ngày mới với bao nhiệt huyết và cảm xúc đau thương của biết bao con người trên những con tàu ra khơi:

con tàu nhẹ và khỏe như một con ngựa khỏe tung mái chèo mạnh mẽ qua sông

Nếu phần trên là mô tả hiện trường, thì đây là phần mô tả về lực lượng lao động thú vị và sôi nổi. con thuyền được so sánh với con ngựa khiến câu thơ có cảm giác mạnh mẽ hơn, thể hiện niềm vui sướng, phấn khởi của người dân chài. Ngoài ra, các động từ “xông xáo”, “vụt sáng”, “vượt lên” thể hiện ấn tượng khí thế vô cùng dũng cảm, quyết liệt của con tàu, toát lên sức sống căng tràn, đầy nhiệt huyết. vượt lên trên những con sóng. đánh gió con tàu ra khơi với tư thế vô cùng kiêu hãnh và oai hùng:

cánh buồm lớn như linh hồn của con người vươn tấm thân trong trắng đón gió …

Từ hình ảnh thiên nhiên, tác giả đã liên tưởng đến “tâm hồn con người”, phải là tâm hồn nhạy cảm với cảnh vật, một tấm lòng gắn bó với quê hương của con người mới có thể viết được như thế. cánh buồm trắng vốn là hình ảnh quen thuộc nay trở nên rộng lớn, tự nhiên cánh buồm trắng đón gió vượt biển như tâm hồn con người hướng về tương lai tốt đẹp, có lẽ nhà thơ chợt nhận ra hồn quê ấy. là trong những ngọn nến. hình ảnh bài thơ trên vừa thơ mộng, vừa hùng vĩ vừa thể hiện chính xác hình thức, vừa gợi được hồn của sự vật.

chúng ta có thể thấy rằng sự so sánh ở đây không làm cho sự miêu tả cụ thể hơn, mà là gợi ý một vẻ đẹp bay bổng có ý nghĩa to lớn. đó là cái tinh tế của nhà thơ. qua câu ca dao này cũng có thể hiểu thêm bao nhiêu tình cảm thiêng liêng, bao nhiêu hy vọng vào cuộc sống mưu sinh của ngư dân đã gửi gắm vào cánh buồm căng gió. dấu chấm lửng cuối bài thơ cho ta ấn tượng về một không gian mở ra đến vô cùng, vô tận, giữa mênh mông sóng nước, hình ảnh con người trên con thuyền nhỏ không phải đơn độc mà là chủ động, là miền của mỗi người. bản chất riêng.

Toàn bộ bài thơ là cảnh quê hương và những người dân chài ra khơi đánh cá, thể hiện nhịp sống hối hả của những con người năng động, trong mắt họ là niềm xúc động, hy vọng và lạc quan. mỗi ngư dân đều mong một buổi sáng làm việc đạt nhiều kết quả tốt đẹp:

ngày hôm sau, trên bến tàu ồn ào hẳn lên, dân làng xúm xít đón tàu tạ ơn thần, biển lặng, cá đầy ắp, thân trắng bạc đầy cá.

các tính từ “ồn ào”, “rộn ràng” chắt lọc không khí sôi động, náo nhiệt của những cánh buồm đón đoàn thuyền đánh cá. người đọc cảm thấy mình thực sự được sống trong môi trường ấy, được lắng nghe những lời cảm ơn chân thành về sự bình yên của đất trời, biển lặng để ngư dân trở về an toàn, tàu thuyền no nê, thấy lòng mát rượi. và cá ngon ”. bạc trắng “. Nền kinh tế không mô tả việc đánh bắt cá là như thế nào, nhưng chúng ta có thể hình dung rằng để đạt được kết quả như mong đợi là những giờ làm việc không mệt mỏi.

Sau chuyến đi là hình ảnh con thuyền và những con người trở về nghỉ ngơi: người đánh cá có làn da rám nắng, toàn thân căng tràn hơi thở, hương vị xa xa của con thuyền lặng đi, nghe chút muối. từng chút một. ít thấy trong vỏ

Có thể nói đây là những dòng hay nhất và tinh tế nhất của bài thơ. với cách miêu tả hiện thực, hình ảnh “làn da rám nắng” dường như để lại ấn tượng sâu sắc thì câu thơ sau lại miêu tả với cảm xúc rất lãng mạn “cả thân hình căng tràn hương vị phương xa” – dáng người vạm vỡ của người đánh cá. là thấm đẫm hơi thở của biển, của vị mặn của đại dương bao la. cái đặc biệt của câu thơ là gợi được cả tâm hồn và tầm vóc của con người vùng biển. hai câu thơ tả cảnh con thuyền bất động trên bến cũng là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo.

nhà thơ không chỉ nhìn thấy con tàu bất động trên bến, mà còn thấy sự mệt mỏi của nó. giống như những ngư dân, con thuyền có vị mặn của nước biển, con thuyền như đang lắng nghe vị mặn từ đại dương ngấm vào từng thớ vỏ của nó. con thuyền trở nên chuyển động hơn, nó không còn là vật vô tri vô giác mà đã trở thành người bạn của ngư dân. Nếu bạn không phải là một người câu cá, bạn không thể viết được quá hay, thật tinh và bạn chỉ có thể viết được những câu thơ đó khi tâm hồn tinh tế của bạn hòa quyện với cảnh và cả tâm hồn bạn lắng nghe. có tiếng gió hú êm đềm ngày mới, tiếng sóng vỗ thủy triều, tiếng người đánh cá, âm thanh lắng đọng trong từng thớ thịt của con tàu.

có lẽ, cái chất mặn mà ấy cũng đã ngấm sâu vào da thịt, vào tâm hồn nhà thơ để trở thành một nỗi ám ảnh ma mị, sắc bén. đặc điểm tinh tế và tài hoa của người chí sĩ là “nghe thấy cả những điều vô hình, vô thanh như“ mảnh hồn làng ”trong“ cánh buồm căng ”, cơn say tàu về bến…” nói từ đáy lòng. của trái tim mình là khi nhà thơ bày tỏ tình yêu của mình. tình cảm của một người con xa quê hương, hướng về quê hương đất nước:

Giờ xa rồi lòng luôn nhớ nước xanh, con cá bạc, đoàn thuyền vôi, con thuyền rẽ sóng ra khơi nhớ mùi mặn mòi

Nếu không có những câu thơ này, chúng ta đã không biết rằng nhà thơ đã xa quê. chúng ta thấy trước mắt mình một khung cảnh vô cùng sống động, nhưng nó được viết ra từ tâm trí của một cậu học sinh. để từ đó ta nhận thấy quê hương luôn ở trong tiềm thức của nhà thơ, quê hương luôn hiển hiện trong từng suy nghĩ, từng cảm xúc. Nhớ về quê hương, anh chực vỡ òa trong câu nói hết sức giản dị: “Nhớ lắm mùi muối”. Quê hương là mùi mặn của biển, quê là nước xanh, màu cá bạc, vôi nến.

màu sắc của quê hương là màu trong sáng và gần gũi nhất. Tôi yêu những hương vị đặc trưng của xứ sở đầy quyến rũ và ngọt ngào. chất thơ của người chí sĩ bình dị như chính con người của mình, bình dị như chính con người quê hương mà da diết, sâu lắng. do đó làm toát lên hình ảnh thiên nhiên tươi sáng, thơ mộng và hùng vĩ trong cuộc sống lao động hàng ngày của con người.

bài thơ gợi ấn tượng khó quên về một làng chài cách biển nửa ngày sông, rực rỡ sóng vỗ, nắng vàng. hồn sông biển ấy đã là nguồn cảm hứng từ bao đời nay từ thuở “ngàn hoa” cho đến những ngày thu đông phương bắc. vẫn còn đó tình yêu sâu đậm và ấm áp của người con xa quê:

Tôi dang tay để giữ nước dưới đáy sông và mở nước để giữ mình trong bụng. chúng tôi lớn lên từng ngày, mỗi người chúng tôi sớm hôm quay đầu câu cá ven sông, cày mưa nắng ruộng, tôi cầm súng trường đi kháng chiến mà lòng như mưa, gió biển vẫn về bên bờ sông (nhớ sông quê hương – 1956)

với tâm hồn giản dị và tinh tế, ông xuất hiện trong trào lưu thơ mới nhưng ông không có những suy nghĩ nhàm chán về cuộc sống, trốn tránh thực tại, chìm đắm trong cái tôi riêng tư như bao nhà thơ đương thời. thơ te hanh là hồn thơ đã hòa quyện với hồn người, hồn dân tộc, trong “những cánh buồm giương lên như một mảnh hồn làng”. “quê hương” – hai chữ thân yêu, quê hương – niềm tin và nỗi đau của con người thân yêu nhất, hy sinh, thiêng liêng nhất, trong sáng nhất. Bài thơ với âm điệu mạnh mẽ, hình ảnh sinh động tạo được cảm xúc nơi người đọc, ngôn ngữ hùng hồn gợi lên một khung cảnh địa phương rất “tinh tế”.

Cảm nghĩ về bài thơ quê hương của te hanh – nhiệm vụ 6

Tình yêu quê hương chân thực, bình dị và tinh tế giúp linh mục ghi lại những cảnh đời rất chân thực nơi phố biển quê hương. đây là bài thơ mở đầu đề tài quê hương, một trong những đề tài thành công nhất trong tập thơ. tên quê hương có phần chung. giá cố định là người dân, dân biển… có lẽ phù hợp hơn với giọng thơ, tình thơ. câu thơ có lời cha của tác giả: chim bay dọc biển mang tin cá hoang nói về một đặc điểm của người dân vùng biển: làng chài. con trai, nhà thơ trẻ, bằng cảm nhận của riêng mình, sẽ miêu tả con người của mình bằng đôi mắt và trái tim trẻ thơ của mình.

hai câu đầu giới thiệu vị trí đặc biệt của thị trấn, nghề nghiệp tiêu biểu của cư dân nơi đây.

Đánh cá là nghề truyền thống của thị trấn. các thị trấn giống như bán đảo, như đảo, được bao bọc bởi nước ở ba mặt. sống quen sông, biển nên đường từ làng ra biển cũng tính bằng đường thủy.

Cảnh con thuyền đưa những chàng trai phố thị ra khơi đánh cá vào buổi bình minh tuyệt đẹp, dưới lũy tre hiện lên đầy khí thế trẻ trung nhưng cũng không kém phần sâu lắng, tươi mới. thanh niên bơi thuyền như những quý ông, quý ông tài hoa. con tàu dưới bánh lái như con ngựa cưỡi sóng lướt theo sông dài ra biển xa. cánh tay săn chắc, cơ bắp cuồn cuộn, gợn sóng, lấm tấm mồ hôi trong nắng mai; mái chèo bổ sung nước, làm cho con thuyền nhảy, lướt, phấn khởi, phấn khởi và tự tin.

nhưng hình ảnh kỳ lạ và đáng ngạc nhiên nhất của bài thơ là sự so sánh:

ngọn nến lớn như linh hồn của một người

linh hồn của làng chài đã được hình dung và cụ thể hóa bằng hình ảnh những cánh buồm trắng, cánh buồm nâu no gió, căng phồng, vươn cao vươn ra biển lớn. ngọn nến gợi lên những chặng đường dài, những ước mơ hoang hoải, sừng sững và lãng mạn của tuổi trẻ với bao hoài bão. cánh buồm như cánh chim trời, như muốn rời khỏi cột buồm, lướt qua bầu trời xanh thẳm, đó là tình quê, tình người hồn nhiên, trong sáng và nồng nàn.

Hai khổ thơ tiếp theo tả cảnh đoàn thuyền trở về trong niềm hân hoan chào đón của người dân làng chài. những bài thơ hiện thực nhưng không kém phần lãng mạn, nhân hậu. cảnh lao động gấp gáp, tình đời của những người làm nghề buôn bán. làn da ngăm đen, rám nắng của những thanh niên ngày đêm phơi mình trong nắng gió, bão bùng, vẻ đẹp và sức khỏe của những ngư dân trẻ gắn liền với bao chuyến đi biển gian nan, nguy hiểm. Nhìn những ngư dân, tôi như nghe thấy tiếng thở nặng nhọc của họ, ngửi thấy hương vị nồng nàn, mặn mòi của biển và muối qua hơi thở ấy. do đó, hình ảnh thực bị mờ đi đôi chút, chân dung người đánh cá mờ đi và xao xuyến trong tình yêu và niềm tự hào của những người con xứ biển.

Hai câu cuối miêu tả cảnh con thuyền bất động, mệt mỏi trên bến là sự hình dung và nhân hoá tư thế, tâm trạng của người dân làng chài sau những chuyến đi xa trở về để nghỉ ngơi, thư giãn. thư giãn, cả hai mệt mỏi và buồn chán thích thú, say sưa.

Vì vậy, dù đã trưởng thành, đi học, đi làm xa, mỗi khi nghĩ về quê hương, làng chài nghèo ven biển miền Trung, tôi lại nghĩ đến màu nước xanh, cá bạc, của bờ cát. những hình ảnh, tình tiết và hương vị đậm đà nhất vẫn là: Thương nhớ mùi mặn nồng.

mùi nồng của muối, cá, của gió, của nắng và của sóng là một đặc điểm riêng của hồn quê đã ám ảnh nhà thơ suốt cuộc đời. dòng cuối bài thơ như một lời thủ thỉ nỗi nhớ quê da diết, bồi hồi. lòng trung thực của nhà thơ thật tuyệt vời. không có linh hồn mà không thể viết những lời như vậy. (hòa hợp)

Cảm nghĩ về bài thơ quê hương của te hanh – bài tập 7

nỗi nhớ quê hương nơi phương xa trở thành dòng cảm xúc dạt dào, lấp lánh suốt một đời người. làng chài nghèo trên một cù lao trên sông nước bao quanh, cách biển một ngày đi bộ, dòng sông đã nuôi dưỡng tâm hồn thi nhân, trở thành điểm tham khảo để viết nên những vần thơ say đắm, hùng hồn. trong dòng cảm xúc ấy, quê hương là một khởi đầu thành công rực rỡ.

Có lẽ nhà thơ đã viết đất nước của mình bằng cả trái tim, yêu thiên nhiên thơ mộng, hùng vĩ, yêu những con người lao động đầy nghị lực, với những kỷ niệm thiết tha nhất. thật sinh động hiện ra trước mắt chúng ta hình ảnh: khi bầu trời trong gió nhẹ, ban mai ửng hồng; thanh niên thị trấn bơi thuyền đi đánh cá, hình ảnh mái chèo căng buồm no gió:

con tàu nhẹ như một con ngựa. phang mái chèo, mạnh mẽ vượt quá sức căng. ngọn nến lớn như tâm hồn của một dân tộc. vươn mình trắng muốt mênh mông đón gió.

Giữa mênh mông nước, hình ảnh con tàu kiêu hãnh, khỏe khoắn dưới bàn tay điều khiển khéo léo của chàng trai đang lướt êm ả trên sóng qua hình ảnh so sánh như một chú ngựa đẹp. bằng ngôn từ sinh động, nhà thơ đã khắc họa tư thế tự hào chinh phục sông dài, biển rộng của người dân làng chài. Thơ như băng tiến, như bay tới trời với con tàu, với cánh buồm! Thích nhất hanh thông đã cảm nhận hết cuộc sống lao động của làng quê nên nghĩ: ngọn nến to như một mảnh linh hồn của làng quê. Bao nhiêu tình cảm thiêng liêng, bao nhiêu hy vọng vào cuộc sống mưu sinh của người lao động đều gửi gắm vào đó. ngay cả cảnh đẹp và ồn ào khi đón thành quả lao động cũng được miêu tả vui vẻ:

ngày hôm sau ồn ào trên đường hạ cánh. tất cả dân làng xúm xít đón thuyền. Ơn trời biển lặng, thuyền đầy cá. cá tươi có thân màu trắng bạc.

Ở đoạn trước, khi tả cảnh con thuyền ra đi mạnh mẽ trên sông dài, bức thư đã đông cứng và phơi bày. lúc này, giai điệu thơ thảnh thơi lắng đọng dần làm nức lòng người dân địa phương theo những con đò trở về nằm bất động trên bến. Cũng chính từ đây mà ra đời những câu thơ hay và ý nhị nhất của đất nước:

ngư dân có làn da rám nắng. toàn bộ cơ thể có mùi từ xa. tàu đã mệt và lại nằm xuống. lắng nghe chất muối thấm vào da.

Chỉ ai là con của vạn chài mới có thể viết được những câu thơ như vậy. chẳng khác nào việc chạm khắc để tạo nên bức tượng ngư ông giữa trời lộng gió với hình dáng, màu sắc, hương vị không lẫn vào đâu được. tượng đài thở bằng cái vị xa – vị mặn của biển, của những chân trời bao la mà họ vẫn thường chinh phục. cái muối mặn ấy đã ngấm vào thân xác của những ngư dân quê hương, thấm dần vào thân thuyền hay thấm sâu vào da thịt, vào tâm hồn mỏng manh để trở thành một thứ xúc cảm huyền ảo, hoài niệm. một tâm hồn như vậy khi khao khát nó không thể nhẹ nhàng và bình thường được. những hình ảnh quê hương đã trở thành nỗi nhớ xao xuyến, da diết: Thương nhớ hương mặn nồng: câu thơ cuối thể hiện rõ tâm hồn nghiêm túc, chân thành trước thực tại.

quê hương hy sinh đã cất lên khúc ca trong trẻo, thiết tha về làng chài đã từng ôm ấp, ru ngủ tuổi thơ. bài thơ đã góp phần bồi đắp trong mỗi người đọc tình yêu quê hương đất nước.

Xem thêm: Viết bài văn thuyết minh về thành cổ quảng trị

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Cảm nhận về bài thơ Quê hương của Tế Hanh – Văn mẫu lớp 8 2023. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.