Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
154 lượt xem

Đến với Nguyễn Khuyến – nhà thơ trữ tình, trào phúng xuất sắc – TẠP CHÍ TAO ĐÀN

Bạn đang quan tâm đến Đến với Nguyễn Khuyến – nhà thơ trữ tình, trào phúng xuất sắc – TẠP CHÍ TAO ĐÀN phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Đến với Nguyễn Khuyến – nhà thơ trữ tình, trào phúng xuất sắc – TẠP CHÍ TAO ĐÀN

i. nguyễn khuyển, trữ tình làng canh

Phải nói rằng, trong số hơn 400 bài thơ chữ Hán để lại cho đời, Nguyễn Khuyến đã đặt rất nhiều tài năng và tâm huyết vào những sáng tác trữ tình. Xoay quanh chủ đề nông thôn, tác giả đã thể hiện thành công hình ảnh thiên nhiên, con người và cuộc sống nơi đây. như vậy mới kín đáo bộc lộ những trăn trở, tâm sự lớn lao của lòng mình. chiều sâu tư tưởng hòa quyện với nghệ thuật thơ sáng tạo, điêu luyện đã đưa những bài thơ này lên vị trí xứng đáng trong nền thơ ca dân gian dân tộc. Như vậy, trải qua bao biến thiên của thời gian, tên tuổi và những sáng tác của Nguyễn Khuyến vẫn giữ ngọn lửa nồng nhiệt trong lòng công chúng yêu thơ.

Bạn đang xem: Nguyễn khuyến nhà thơ trữ tình

đạt điểm cao, làm quan hơn 10 năm, nhưng bến đỗ duy nhất để yên ổn trong đời chỉ có thể là quê cha, làng Yên Sở, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. đã từng gắn bó, in đậm trong ký ức tuổi thơ của tác giả, giờ đây cái thị trấn nghèo miền xuôi theo ông suốt cuộc đời. điều này đã tạo nên sự hiểu biết sâu sắc và tình cảm đẹp đẽ của người họa sĩ với cảnh vật thôn quê. Suốt cuộc đời, Nguyễn Khuyến luôn sống chan hòa, gần gũi, chân chất với những người nông dân nghèo khổ. xứng đáng là nhà thơ đồng quê với những vần thơ miêu tả chân thực và chân thực vẻ đẹp bình dị của thôn quê, như lời nhận xét của cụ Nguyễn Lộc: “Trước cụ Nguyễn Khuyến, trong văn học Việt Nam đôi khi có tác phẩm viết về nông thôn, những hình ảnh của đồng quê trong văn học nói chung còn nhạt nhòa, có thể nói, lần đầu tiên nông thôn Việt Nam thực sự đi vào văn học. ”

Người dân quê anh không chỉ phải đối mặt với cái đói, cái nghèo mà còn luôn bị đe dọa bởi những thiên tai bất ngờ, dữ dội:

vẹn cả quai bị đứt và vùng ta bị lụt, nhưng lúa năm ba ít thuế một hai còn nguyên vẹn. (nước lũ hà nam)

Những trận lũ lụt thảm khốc cộng với chính sách sưu cao, thuế má cao đã khiến người dân nơi đây lâm vào cảnh nghèo đói, thê lương. câu thơ như một tiếng thở dài, một sự cam chịu, một sự chấp nhận trong giông tố cuộc đời. nhà thơ không thơ hóa vấn đề, ngược lại thể hiện rõ ràng, chân thực tâm lý, nỗi niềm của người nông dân. tài tình hơn, anh còn miêu tả sự tàn phá khốc liệt của cơn lũ nhưng nguyễn khuyển đã phát hiện rất tinh tế:

Bóng con thuyền dập dềnh trên vách sóng vỗ trước nhà. (nước lũ hà nam)

từ một góc nhìn khác, tác giả đã phát hiện ra sự chuyển động kỳ lạ của cảnh vật xung quanh, “xoáy nước”, “long bong” là những từ ngữ rất gợi tình khiến mọi thứ như chao đảo, chao đảo trong cơn lũ. trước khi nước rút chính nhà thơ đã tìm thấy niềm vui xua tan nỗi lo lắng bấy lâu nay.

là một đại gia nổi tiếng, nhưng nguyen khuyen không mâu thuẫn với mọi người như nguyen cong tru. trái lại, tấm lòng của nhà thơ luôn hướng tới cuộc sống khó khăn, chật hẹp của tầng lớp nông dân, luôn dùng tâm hồn mình để thấu hiểu tâm hồn. cảnh ngộ của cuộc sống nông thôn đã được nhà thơ tô đậm bằng “công nông”:

một phần thu thuế, một phần trả nợ, một nửa làm việc, một nửa thu bò sớm nắng trà đá ra chợ mua.

>Việc kiếm được một mảnh đất để cày, xới và thu hoạch vốn đã khó đối với người nông dân, thêm vào đó là các khoản nợ, tiền lương và tiền thuê đất như một gánh nặng đè nặng lên vai người lao động và họ phải tiếp tục công việc. lo lắng và chạy khắp nơi. tuy nhiên, cuộc sống của người nghèo không vì thế mà êm đềm, bình yên. vì sau một vụ thu hoạch, người nông dân bị ám ảnh, sợ mất mùa và lũ lụt:

năm nay tiếp tục cày bừa, mùa màng mất trắng. (trường)

nhưng cuộc sống ấy không thiếu những dịu dàng với niềm vui của ngày Tết đoàn viên:

nhà nhà rộn ràng gói bánh chưng ngoài cửa, chia thịt (cảnh năm mới)

tuy chỉ là một chút vui trong những ngày tết rộn ràng nhưng dường như chẳng ai còn bận tâm đến chuyện nghèo khó nữa. nhà nhà đều sôi sục cùng nồi bánh chưng truyền thống, âm thanh vui nhộn, xốn xang đã xua tan không khí ảm đạm của cuộc sống lầm than thường ngày. còn nhà thơ thì say sưa với không khí yên bình của phố thị:

<3

chẳng may gặp một năm xui xẻo, năm mới cũng ảm đạm hơn:

Trời mưa và bụi, và hơi lạnh để thử rượu vang trên tường, bạn có thể không? mọi người quay lại để tìm hiểu về các khoản nợ của họ và hỏi xung quanh. (thị trường tiền đồng)

Nỗi “xao xuyến” của chợ nghèo cũng là nỗi xao xuyến trong lòng thi nhân. gắn bó với người dân nơi đây, bản thân tác giả cũng cảm thấy xót xa cho hoàn cảnh sống éo le mà mình không thể làm gì hơn.

đọc những câu thơ trên của nguyễn khuyển, hình ảnh người nông dân hiện lên rõ nét hơn bao giờ hết, trước mắt ta là cuộc sống ngột ngạt, khốn khó của người nông dân miền xuôi. như một thước phim quay chậm với những góc quay cận cảnh, góc nhìn với … mỗi bài thơ viết về người nông dân của Yên do đã mang đến cho chúng ta một cái nhìn đa chiều, đầy đủ hơn, trọn vẹn hơn, đó không chỉ là những cảnh quay về cuộc sống của người nông dân. . không chỉ là nông dân phương bắc mà còn là tiêu biểu của cả một tầng lớp dân tộc ta lúc bấy giờ. qua đó, ta thấy được cái nhìn bao dung từ tấm lòng nhân hậu, yêu thương của bộ ba già với mọi người xung quanh. cuộc đời nghèo khó không thể trói buộc được tấm lòng của thi nhân, không thể tầm thường hóa nhân cách cao đẹp của một nhà Nho vĩ đại như thế.

Chính vì tôi luôn trân trọng tình cảm của mọi người, từ anh rể, anh hàng thịt đến anh thợ rèn … nên là bạn thân, là tri kỷ của anh, nguyễn khuyển càng trân trọng anh hơn. Cao Bá Thọ từng nói: “Xưa nay cái khổ của con người chẳng là gì so với chữ tình, nhưng cái khó ở đời thì không gì bằng gặp”. Nên khi bạn tìm được người hiểu mình và tình bạn trong tình bạn, nguyen khuyen đã chân thành chào đón bạn:

Đã lâu tôi chưa đi học mẫu giáo, chợ cũng xa. nước ở chỗ nước sâu, khôn câu cá vườn thưa, vườn rộng, gà khó đuổi. bắp cải đã thành cây, cà tím mới rụng rốn, mướp đã ra hoa. Đầu trò chơi, không có anh chàng nào đến chơi cùng tôi. (bạn đến thăm)

trong “bạn đến chơi nhà” có những điểm giống với “khách” (khách) của nhà thơ xưa. nhà thơ của triều đại tang gia đã mượn sự nghèo khó của mình để làm nổi bật sự đồng hành cao cả của mình:

mâm cơm vì chợ xa nên không có rượu vì nhà nghèo chỉ có củ chưa lọc. Hãy cùng ông già bên cạnh băng qua hàng rào và lấy thêm rượu.

nguyen khuyen đã nhận định rằng tình bạn tự nó là một lễ nghĩa thiêng liêng mà không cần đến của cải vật chất xa hoa, phù phiếm. Chỉ cần họ hiểu nhau, có thể chia sẻ tâm sự với nhau thì đã là “bạn quý” rồi. hay như Ứ trai đã nói với bạn: “hai bữa ăn tết một mặt, gặp nhau thôi cũng đủ hạnh phúc rồi!”.

Tình bạn ấm áp và gần gũi của Nguyễn Khuyến giải thích nỗi đau đớn tột cùng của nhà thơ khi bất ngờ nghe tin bạn mình qua đời “khóc lóc than thở”:

<3

Sự ra đi đột ngột của người bạn thân khiến tác giả bàng hoàng, nỗi đau quá lớn khiến nhà thơ chỉ biết than thở như muốn day dứt nhưng đành chấp nhận hiện thực đau thương ấy. nghĩ về bạn bao nhiêu kỷ niệm trong ký ức của bạn bây giờ như sống lại mấy chục năm gắn bó giữa bạn và nhà thơ đang chạy ngược. tình bạn ấy sẽ sống mãi trong lòng nhà thơ và mãi vẹn nguyên, đẹp đẽ trong lòng người đọc.

nguyen khuyen là một nhà thơ phong cảnh Việt Nam. Qua những vần thơ trữ tình trong sáng, tác giả dựng nên một hình ảnh thiên nhiên thôn quê vô cùng tinh tế và đẹp đẽ. Yen do đã khéo léo ghi lại những nét đặc trưng của buổi tối nông thôn trong câu thơ sắc nét:

tiếng chuông trưa vọng tiếng người không biết chăn trâu thả sườn non ngủ dưới gốc cây. (nhớ cảnh chùa doi)

hình ảnh của một cánh đồng yên tĩnh và thanh bình. Hình ảnh con trâu thuần phục nằm trên triền cỏ xanh mướt dưới bóng cây xanh đã làm nên hồn quê Việt Nam. quê hương mỗi người một nét riêng và trong tâm tưởng nhà thơ, buổi trưa hè ấy đã sưởi ấm cả một thế giới xao xuyến trong lòng.

đôi khi chỉ một chút rùng mình trong cái lạnh đầu năm cũng khiến ta xao xuyến:

trời mưa, trời vẫn hơi lạnh (chợ dong)

và cảm xúc bồi hồi sau trận lụt lớn:

tiếng sáo ngân nga trong buổi tối vọng lại từ con tàu chui qua bóng trăng

Những kỷ niệm sống chung với lũ từ thuở ấu thơ đến khi trưởng thành vẫn còn nguyên vẹn. chỉ những vùng đồng bằng thấp như Yên mới có những hình ảnh sống động như vậy.

Phong cảnh đôi khi là một khu vườn cũ với khung cảnh đơn giản và bình dị:

hoa viên chỗ cũ đã bốn mươi tuổi quay đầu nhìn về phía ngoài sân có mấy chòi thú khâu, cũng lam tuyền âu, ôm xoang ngâm ngồi ở trước ghế sa lon. nước mắt thương nhớ, thương tình lấp đầy mấy tầng người, đừng giận, sẽ không thấy là tóc bạc, sao lại không muốn trở về? (bui vien ex-trach ca – dich)

Cảnh xưa ấy đã làm rung động biết bao trái tim người sành sỏi. tiểu cảnh, đồng quê trông như quê ngoại là quê ngoại của anh. không cần tô màu, chỉ cần phác họa những đường nét tiêu biểu nhất của hồn quê, đó chính là nét tài hoa của Nguyễn Khuyến. những hình ảnh mộc mạc qua lăng kính của nhà thơ trở nên tinh tế, lung linh nhưng chân thực, vô cùng sống động.

nhưng có lẽ nổi tiếng nhất và cũng là tiêu biểu nhất của vùng quê chiêm trũng Bắc Bộ là bộ ba bài thơ mùa thu: “thu vịnh”, “thu điếu” và “ẩm thu”.

Mùa thu ở miền Bắc với tiết trời trong xanh, ôn hòa như một thiên thần dịu dàng giao hòa giữa cái nóng của mùa hè và gió bắc của mùa đông. tâm hồn con người do đó góp phần vào sự thư thái và nhẹ nhõm hơn. và bởi vì: “mùa thu là thơ của đất trời. thơ là thơ từ lòng người ”, chính vì vậy mà đối với các nhà thơ, mùa thu là mùa của cảm xúc, của nỗi nhớ khôn nguôi. tuy nhiên do tuổi tác chênh lệch nên thơ sưu tầm của các thi nhân cũng rất khác nhau. thơ thu nguyên khuyển là một bài thơ làng cảnh việt nam mà chân chất, tuy chất chứa nhiều tâm sự. trong khi các nhà thơ mới như huy cận, xuân điều hay lãng du chỉ mượn cảnh thu, sắc thu, sắc thu để gửi gắm tâm trạng riêng tư của mình.

Vào thời điểm đó, Nguyễn Khuyến cũng đã sáng tác nhiều bài thơ bằng chữ Hán như “mùa thu nhiệt”, “và thu”. tuy nhiên, nổi tiếng nhất vẫn là nhóm ba bài thơ ngã. mỗi bài vẽ nên một bức tranh hoàn mỹ, xứng đáng đứng đầu trong tranh phong cảnh các dân tộc Việt Nam thời trung đại.

tập thơ về mùa thu mang hồn quê. Tất cả những ai đã từng gắn bó với trại Việt Nam đều không khỏi xúc động trước những khung cảnh thân quen ấy. khung cảnh nông thôn bình dị, thân thiện với năm ngôi nhà cỏ đơn sơ nhưng rất gần gũi:

năm ngôi nhà bằng cỏ thấp mà bạn có những con hẻm tối, tối lung linh (ẩm ướt)

Xem thêm: TIỂU SỬ RABINDRANATH TAGORE – THỜI THƠ ẤU, THàNH TỰU CUỘC SỐNG &AMP DòNG THỜI GIAN – TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI-SAO

nơi nhà thơ uống rượu và làm thơ chỉ là một ngôi nhà mái tranh đơn sơ và bình dị ở nông thôn. nếu đó là một thư viện trang nhã hay một sân thượng màu tím tráng lệ thì bài thơ đã không tồn tại cho đến ngày nay. Nó phải là một ngôi nhà cỏ mới là cánh đồng phía bắc.

Khóa học ở vùng đất thấp cũng có một cái ao nhỏ trước nhà. nó là nơi nước ngọt chảy ra:

ao thu se lạnh với làn nước trong vắt (thu hút thuốc lá)

và dưới ánh trăng mờ vào đêm khuya, càng gợi hơn với những chuyển động kỳ lạ:

ao làng tỏa sáng trong ánh trăng (mùa thu ẩm ướt)

nhà thơ đã nhìn trăng qua tấm áo để có được vẻ đẹp rực rỡ như thế. Ánh trăng chiếu từ chiếc áo lên mọi thứ xung quanh, tạo nên những tia sáng “lóa” đó. một chủ đề cũ sờn, đã được nguyen khuyến khích thổi vào một hơi thở mới, một sức sống sáng tạo mới.

những lối đi nhỏ, những bụi tre thực sự là những hình ảnh đặc trưng, ​​tiêu biểu của vùng quê Bắc Bộ:

<3

con ngõ tre quanh co vắng (thu gom thuốc lá)

những cành tre như mang cả tâm hồn và sức sống của chúng. những chiếc lá non điểm xuyết cành trúc cong vút như chiếc cần câu rất uyển chuyển, duyên dáng và đủ hình dáng. “Cần tre” đã lột tả được cái hồn, cái hồn của cảnh vật, là hình ảnh quen thuộc gợi nên hương vị riêng của vùng đồng bằng Bắc Bộ. những con đường nhỏ ngoằn ngoèo dẫn đến từng mái cỏ thật duyên dáng và xinh xắn.

XEM THÊM:  Đôi nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của thi sĩ Xuân Quỳnh

Mùa thu đến, mang theo cả gió lạnh và sương mù hư ảo. tất cả hòa quyện vào nhau tạo nên một sức hấp dẫn đầy mê hoặc. ấn tượng nhất là bầu trời trong xanh chỉ có ở miền bắc vào mùa thu:

bầu trời trong xanh vào mùa thu (vịnh mùa thu) những đám mây lơ lửng trên bầu trời xanh (bốc thuốc lá) bầu trời nhuốm màu xanh lam ( thu thập độ ẩm)

ba lần, nguyen khuyen mô tả màu xanh tuyệt đối đó. từ “blue” không chỉ gợi lên màu sắc cụ thể, mà còn gợi lên chiều sâu đáng kinh ngạc của bầu trời. không gian xung quanh dường như thoáng đãng, sáng sủa và trang nhã hơn rất nhiều. Đó là vẻ đẹp thực sự của bầu trời mùa thu ở nông thôn Việt Nam, không chỉ hiện ra, mà đã hiện hữu, mà bây giờ nó đang được đưa vào thơ ca, mà Nguyễn khuyến cáo nên bỏ đi những ước lệ tượng trưng. Không rực rỡ như màu xanh của bầu trời mùa hạ, màu xanh này gợi lên sự nhẹ nhàng, thư thái của lòng người. nhà thơ xuân sắc miêu tả sắc thu cũng viết:

đổ bầu trời xanh như ngọc qua những chiếc lá (bài thơ đáng yêu)

Đây là một màu gợi lên sự sang trọng, đẹp đẽ, mát mẻ và trong lành, khác hẳn với những gam màu của vùng nông thôn Việt Nam. nhưng không vì thế mà giảm đi giá trị của hai gam màu này mà ngược lại, bức tranh được sưu tầm trong thơ phổ thơ càng thêm phong phú.

một cái ao nhỏ, một hàng rào thưa thớt, một con ngõ nhỏ, lũy tre, một chiếc thuyền nan nhỏ, biết bao cảnh vật đơn sơ nhưng đẹp đẽ, gợi không thể tả.

Hơn nữa, nhờ tài sử dụng ngôn ngữ điêu luyện của Nguyễn Khuyến mà câu thơ uyển chuyển, nhịp nhàng hơn. ngôn ngữ trong sáng, vô cùng giản dị mộc mạc, không chút sắc sảo, trau chuốt mà gợi. người đọc cảm thấy trong thơ ông có sự giao hòa, hòa quyện giữa ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ bình dân. kết hợp với khả năng quan sát biến hóa của những sinh vật vô cùng nhạy bén và tinh tế:

lá vàng bay trong gió (nhặt một điếu thuốc)

các nhà thơ không mang đến cho chúng ta những điều hoàn toàn mới, nhưng nhẹ nhàng nhắc nhở chúng ta về những điều thông thường một cách hiếm hoi và cảm động.

Ông cha ta xưa nay vẫn nói “ngôn tình thơ phú” quả là không tồi. cảnh vật thiên nhiên không bao giờ chỉ là sự minh họa đơn thuần cho tài năng của người nghệ sĩ mà quan trọng hơn, những hình ảnh thơ chính là chìa khóa để chúng ta mở ra tâm hồn của tác giả. Bảo mật cũng là một nội dung lớn trong thơ trữ tình của Nguyễn Khuyến.

trong ba bài thơ mùa thu, nhà thơ yên làm tiết lộ nỗi niềm u uất của lòng mình: hai câu cuối của bài thơ “vịnh mùa thu” là một sự cố tủi hổ tủi thân:

Tôi định đặt bút đi và suy nghĩ về điều đó, nhưng tôi cảm thấy xấu hổ về ông. dao

“cảm hứng” và sau đó là “tư tưởng” đối lập giữa chủ quan và khách quan, giữa mong muốn và thực tế, là một sự không hài lòng của con người. nhà thơ cho rằng “hứng” là ca ngợi mùa thu đẹp và thơ mộng. nhưng lại “toan gác bút” làm thơ rồi mới “mắc cỡ”. Thật là xấu hổ dao tiem, một nhà thơ Trung Quốc nổi tiếng từ triều đại jin. ông nổi tiếng thơ hay, chuyện nọ, chuyện kia, vì sau một năm làm quan ở trạch trạch, ông đã dứt áo ra đi vì không chịu cúi đầu vì ba trận cơm áo gạo tiền. Nguyễn Khuyến cảm thấy xấu hổ vì tâm hồn mang nặng nỗi buồn, vì chưa thật toại nguyện vì còn nhiều sầu muộn. ông cáo quan về ở ẩn vì bất lực trước vận nước. câu chuyện đó vừa đáng tiếc vừa đáng trân trọng. tấm lòng của nhà thơ luôn hướng về đồng bào cả nước. bi kịch của sự nhàn hạ nhưng không nhàn hạ sẽ theo ông mãi trong những năm cuối đời từ khi trở về vườn xưa cho đến khi qua đời.

trong “thu vịnh” và “thu kiều” đôi khi vang lên tiếng ngỗng trời, tiếng lá rơi, tiếng cá bể dưới chân vịt. đạt đến độ “ẩm ương”, không một tiếng động dù là thoáng qua, mà chính là cuộc sống thôn quê, sống giữa bao người dân quê. uống chỉ để vơi đi nỗi sầu, nhưng uống đến say cũng không làm vơi đi nỗi buồn. càng say, càng tĩnh, càng sầu càng sâu. tự nhận mình là một kẻ buôn bán ma túy, nhưng anh ta đã bao giờ say rượu chưa:

anh ấy không bị say vì say từ vùng nước sâu và núi cao (đồ uống trong vườn)

Chính vì vậy “ông già mắt không đỏ” chẳng qua là nỗi buồn vì nước mất nhà tan, vì sự bất lực của chính mình.

Ông chọn lui về sống ẩn dật, nhưng tấm lòng của Nguyễn Khuyến luôn đặt ra cho vận mệnh đất nước. anh cảm thấy xấu hổ vì mình là một trí thức lớn nhưng lại phải bất lực trước thời cuộc:

Những cuốn sách được sử dụng vào ngày đó? người Xiêm nghĩ lại thấy xấu hổ về thân phận cũ của mình (vào ngày xuân họ tiễn đưa con cháu)

và cho đến khi tưởng chừng mình sắp chết, trong “di chúc” anh vẫn phản ánh:

ơn vua mà không bị quả báo, tựa hổ tựa đất, tựa trời

Một người luôn cống hiến hết mình cho đất nước, cho nhân dân như một bậc lão thành thật đáng quý. làm quan là phải trung thực, bộc trực và trực tiếp. khi chỉ là một thường dân, ông luôn dõi theo vận mệnh quốc gia. niềm tin tưởng ấy đối với cuộc đời của cụ Nguyễn vẫn luôn và mãi mãi như tiếng cuốc kêu canh đêm:

mang theo một giọng sầu không rõ ràng, có phải khi máu rơi, mùa hạ vắng vẻ, sáu khắc hồn tan bóng trăng, có phải là hội xuân gọi hay nỗi nhớ quê hương tiếp tục mộng mơ. và khóc? ai đó giục kẻ lang thang chết lặng. (cuốc hỏi cảm hứng)

Qua câu chuyện kinh điển về vua Thục mất nước, làm mỏ, ngày đêm than khóc, bài thơ gợi lên cảm xúc đau thương vì nước mất nhà tan. Mượn hình ảnh tiếng cuốc hè, nhà thơ đã diễn tả nỗi đau chảy máu (máu chảy), nỗi xót xa của chính tâm hồn mình (tâm hồn tan nát) trước cảnh anh linh quê cha đất tổ. tiếng khóc đó vẫn tiếp tục vang lên trong đêm đen hiu quạnh, hiu quạnh. Điều này nhân đôi nỗi đau của Nguyên. xuan dieu hiểu rất rõ cảm giác đó… ”Chúng ta thường nghe thấy âm thanh đau đớn, đáng lo ngại và phán xét của một con chim kêu với màu đỏ, nức nở, gào thét vì đau đớn, khóc ra máu và khóc vì mất nước! Tôi nhớ quê hương ”(thơ Nguyễn Khuyến). sức lay động của trái tim nhà thơ vẫn trường tồn mãi với thời gian. ngưỡng mộ, trân trọng những tấm lòng trên thế giới!

có lẽ niềm an ủi cho nỗi đau của nguyễn khuyển là thái độ bất hợp tác của anh với kẻ thù. đối với hắn, danh lợi chỉ là những thứ phù phiếm, dối trá và lừa lọc của bọn tay sai. do đó, ông lui về quê hương, từ bỏ quan trường đầy sóng gió, để cải thiện tính khí của mình. Thái độ này thường được ngụy biện qua hình ảnh một “bà mẹ khuôn” dù xinh đẹp nhưng vẫn giả điên để dành hết sự quan tâm cho chồng con:

So với danh tiếng của một người mẹ, ngoài bộ dạng trâm anh thế phiệt, cô ấy còn chẳng thèm trưng ra khuôn mặt hồng hào để bôi xấu mình qua mắt thiên hạ. (mẹ khuôn)

khi nguyễn khuyển tự so sánh mình với một hoàng tử nghèo, bị thiên hạ cám dỗ nhưng vẫn giữ trọn vẹn đức hiếu sinh với ông cố:

Ngày trước, bố mẹ tôi bảo tôi chia tay hôn nhân để rồi người ta chê cười, hỏi tôi có yêu anh không thì không sao, nhưng nếu không thay lòng đổi dạ thì sao ‘. t đổi tình thì bà già này xin vay. (cô gái góa vợ)

Tóm lại, tư tưởng và tình cảm của nhà thơ tuy rất kín đáo nhưng đã bộc lộ sâu sắc nhân cách của ông. Trước thời đại điên cuồng, con người có thể không trực tiếp phục vụ đất nước, nhưng họ vẫn có thể bộc lộ hết tình cảm, tấm lòng của mình đối với cuộc sống và con người trong đó.

Như vậy, với những hình ảnh sinh động, tinh tế về thiên nhiên, làng quê, con người đất nước và dựa vào tài vận của đất nước, thơ trữ tình của Nguyễn Khuyến đã giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử sự nghiệp của nhà thơ. đa dạng về nội dung, phong phú và đặc sắc trong cách thể hiện, những vần thơ trong sáng, chân chất sẽ sống mãi trong lòng mỗi chúng ta. Thơ văn Nguyễn Khuyến đã phản ánh cốt cách thơ giản dị, tự nhiên, sâu sắc, tinh tế và sâu sắc. thực tế, “một nghệ sĩ chân chính trước hết phải là một con người chân chính”. Trải qua bao thăng trầm của thời gian, cho đến bây giờ, chúng ta vẫn không khỏi kính phục và ngạc nhiên trước một con người như vậy.

ii. nhà thơ trào phúng nguyễn khuyển:

giai đoạn văn học trung đại kết thúc với thành tựu rực rỡ cuối cùng của hai nhà văn trào phúng – nguyên khuyển. Nếu bon chen mang đến cho người đọc những lời châm biếm, giễu cợt thì nguyễn khuyển lại mang đến cho người đọc một hồn thơ nhẹ nhàng, hóm hỉnh và sâu lắng. Với những sáng tác thấm đẫm chất trào phúng, Nguyễn Khuyến đã thực sự bộc lộ tài năng trào phúng bậc thầy của mình.

Nói đến ông đồ Tam Nguyên Yên Đổ, có lẽ điều đầu tiên người ta nghĩ đến là những vần thơ trữ tình hay và ý nhị viết về thiên nhiên vùng đồng bằng Bắc Bộ, về tình cha con, nghĩa vợ. chồng, bạn bè, hàng xóm rất chân thành và quan tâm. Nguyễn Khuyến là nhà thơ số một của dân chơi cảnh Việt Nam. cảnh vật trong thơ ông trong sáng, đẹp đẽ và mang một màu buồn man mác từ trái tim với cảm xúc của thời cuộc. tập thơ ba mùa thu từ đó trở thành “quán quân” ​​của thơ ca mùa thu Việt Nam.

Ngoài ra, Nguyễn Khuyến cũng có thể được xếp vào hàng những nhà thơ hay nhất Việt Nam khi viết về tình bạn, tình yêu, tri âm tri kỉ, thể hiện qua bài thơ “Khóc Dương Khuê”. Có điều gì sâu sắc hơn không?

Tóm lại, không còn nghi ngờ gì nữa, nguyen khuyen là một nhà thơ trữ tình xuất sắc.

nhưng không dừng lại ở đó, nguyen khuyen đã thực sự gây ấn tượng mạnh với người đọc bởi những vần thơ gợi ra tiếng cười rất riêng: nhẹ nhàng, kín đáo mà sâu lắng, chua xót. tiếp cận những sáng tác trào phúng của Nguyễn Khuyến mới thấy hết cái dung dị, cái giọng điệu độc đáo của cây bút trào phúng này.

Bạn sẽ thấy rằng đối tượng châm biếm trong thơ Yên làm rất phong phú và đa dạng. ông cười bọn quan lại cướp bóc và hại dân, ông cười cho những kẻ ngu si kiêu ngạo, ông cười cho bi kịch chữ Hán cuối ngày, ông cười cho cả vua lẫn tây, và ông cười chính mình. Đó là lý do tại sao tiếng cười có những sắc thái khác nhau. Khi anh ấy nói đùa với bạn, giọng cười của nguyen khuyen rất dí dỏm, gần gũi và duyên dáng:

Tham khảo: Cảm xúc của nhà thơ khi đứng trước lăng bác

Tôi đi học mẫu giáo chưa được bao lâu, chợ xa ao, vườn rộng thưa, khó đuổi gà chửa, đọt bí non mới rụng. ra khỏi rốn dưa đã ra hoa kết trái. khi bắt đầu trò chơi, không có … (bạn đến chơi nhà)

Bằng sự hào hiệp và tấm lòng chân thành của mình, nhà thơ muốn dành những gì ngon, xa xỉ nhất để tiếp đãi bạn. tuy nhiên, ước nguyện đó không thể thực hiện được, tiếc là mọi thứ đã có nhưng hóa ra chẳng được gì vì mọi thứ đều thuộc dạng “tiềm tàng” còn non nên chưa gặt hái được, dù chỉ một miếng trầu làm đầu. . câu chuyện không có hồi kết. Tác giả đang thực sự thể hiện sự giàu có của mình hay đang giải thích về sự nghèo khó? có thể cả hai, nhưng điều đáng nói ở đây là nhà thơ sử dụng một lối văn hoa cường điệu rất đặc biệt, sự thanh đạm của gia đình được phóng đại đến mức tối đa và sự xa hoa cũng được phóng đại, không ít nhằm mục đích đùa cợt bạn đồng thời. thể hiện sự chân thành của bạn. Chính sự đối lập giữa giàu sang và đạm bạc trong cái nhìn khoa trương và hài hước của nhà thơ đã tạo nên cái hài hước rất riêng của Nguyễn Khuyến.

tuy nhiên, sắc thái sống động nhất trong tiếng cười của nguyễn khuyển là tiếng cười hăng hái, tiếng cười có nước mắt, tiếng cười với giọng nhẹ nhàng nhưng không kém phần chua chát. tiếng cười ở đây không còn để mua vui mà là để phê phán, tố cáo hiện thực xã hội. đối tượng đầu tiên trong xã hội cần phải lên án và vạch trần là bọn cầm quyền, bọn tham quan:

Nghe nói bọn trộm cắp, lôi ra giữa đồng để lấy tiền đánh người, xương già của anh có đau không? nay trót dại ngày trước có da trán sần sùi, nếu đi đâu mà rụng mấy sợi tóc thì không nên ăn trộm nữa kẻo mang tiếng dại cho phường người ta. (hỏi về tuần mất mát và trộm cắp)

XEM THÊM:  Thơ tình của các nhà thơ nổi tiếng

với những câu hỏi hết sức tận tình, một ông quan đi lạc và bị bọn cướp đánh tơi tả, nhà thơ đã khiến chúng ta bật cười bởi giọng điệu “tử tế” ấy. nhà thơ đã “hỏi thăm” những điều mà theo phép lịch sự thông thường thì không nên hỏi, không nên nói, đã hỏi thì phải hỏi, phải nói tế nhị, ở đây ông hỏi thẳng, trực tiếp. những câu thơ như những con dao sắc cứa vào vết thương nên càng véo vào càng đau. lúc đầu nhà thơ còn nói ừm, chế giễu, nhưng sau đó, anh ta đã thực sự đả kích. vị quan “đáng kính” chỉ là món hàng để bọn trộm cắp kéo hết nơi này đến nơi khác mà còn bị đánh cho “sứt da trán”, thương quá! nhà thơ cũng bày tỏ sự thương cảm đối với ông quan già nên sau những câu hỏi thăm sức khoẻ ấy, nhà thơ đã cất lời dặn dò “thôi, đừng ăn trộm nữa”. nghe hay làm sao! thực ra toàn bộ bài thơ của tác giả chỉ có một mục đích duy nhất là chọc cười cho người đọc sự “xui xẻo” của quan, để rồi khép lại những lời mỉa mai châm biếm về sự tham lam, hám lợi, keo kiệt không chỉ của tên quan mà còn của bọn quan lại. lúc đó. Mượn câu thành ngữ dân gian xưa “hổ rình mồi”, Nguyễn Khuyến đã giúp chúng ta hiểu sâu hơn bộ mặt thật của bọn quan lại đương thời, những “nạn nhân” bị trộm cướp tài sản!

Hiện thực xã hội xấu xa không chỉ cần được phơi bày trong bè lũ quan lại mà còn ở hiện tượng quá độ nực cười. “Hội nghị phương Tây” đã được viết để lên án hiện tượng này. ở đầu bài thơ, nguyễn khuyển giới thiệu quang cảnh lễ hội náo nhiệt:

Có một lễ hội hòa bình, tiếng pháo nổ, nhiều cờ và đèn treo.

đó là một ngày hội lớn của người Pháp tại Việt Nam, với tiếng pháo náo nhiệt, màu sắc rực rỡ của đèn và cờ rủ … thậm chí những người tham gia lễ hội đó cũng rất hào hứng:

p>

bà lão ngất xỉu khi xem bơi trải, cậu bé cúi xuống hát chèo để dựa vào sức, cây du mà nhiều phụ nữ co lại vì tiền, còn gã béo thì trói năm anh em lại.

Bằng những hình ảnh mang đậm sắc thái thị giác, người đọc dễ hình dung không khí vui tươi của ngày hội, nhưng cũng chính từ những nét miêu tả ấy, giọng điệu đó rõ ràng lên án thói sa đọa, báng bổ của bọn thống trị, quan lại, quan lại. bà quấn quýt ở tư thế “ngớ ngẩn” đến mức đáng thương trong động tác “cẩu thả”. chỉ có hai hình ảnh đối xứng nhau đã phơi bày hiện thực xúc động của đất nước trong kiếp nô lệ, dưới giày dép của quân xâm lược. Đau đớn hơn, những người nô lệ đó không ý thức được nỗi nhục mất nước, thậm chí còn bị cuốn vào những trò chơi mà thực dân Pháp đã bày ra để hạ thấp nhân dân. Nhận thức rõ điều đó, từ ngòi nổ gián tiếp, nguyen khuyen đã trực tiếp chỉ ra:

<3

Nhà thơ đứng từ xa, từ chối tham gia lễ hội huyên náo để miêu tả không khí náo nhiệt của lễ hội, nhận thấy sự nhục nhã của những người nô lệ, và sau đó cảnh báo người Việt rằng họ đang bị mù quáng. Có lẽ ít bài thơ nào mà thái độ trào phúng của Nguyễn Khuyến được bộc lộ trực tiếp như vậy.

xã hội thay đổi, các kỳ thi hanhology như “chợ chiều tàn”. Để giễu cợt cái trò nửa mùa, nửa tây, nửa ta, Nguyễn Khuyến khi ấy đã mượn hình ảnh “ông tiến sĩ giấy”, một loại đồ chơi ưa thích của trẻ con ngày xưa để miêu tả “ông đồ thật”. . “:

cùng cờ, cùng biển, cùng thắt lưng cũng gọi anh là người nghèo

Từ “cũng” kết hợp với nghệ thuật liệt kê cho thấy các sĩ tử thời đó cũng ăn mặc sang chảnh. họ cũng được mệnh danh là “bần cùng” chẳng kém ai, nhưng tấm bằng danh giá và vẻ vang ấy thực chất chỉ là một tờ giấy có đóng dấu son đỏ nổi bật của triều đình mà thôi:

mảnh giấy tạo nên phần thân của chiếc bàn với những dòng son môi rõ ràng

cũng vậy, nghiên cứu sinh, người quyền quý bây giờ không có giá trị gì, anh ta chỉ “nhẹ nhàng” và đơn giản khi tiền bạc có thể mua được. cuộc mua bán này vô cùng có lợi, “giá như danh lợi” vì sự nghiệp của quan chức còn có nhiều ngành nghề khác. tất cả bọn họ chỉ là một lũ ngu xuẩn, bất tài và vô dụng vươn lên đỉnh cao danh vọng chỉ vì tiền. một tiếng cười châm biếm khẽ vang lên, nhưng càng nghĩ lại càng thấy cay đắng.

Với nghệ thuật gây bất ngờ, Nguyễn Khuyến đã tạo ra một bước ngoặt bất ngờ trong thơ của mình:

nghĩ rằng những gì là thật sẽ trở thành một món đồ chơi

tả đồ chơi để kích thích đồ thật, nhưng đồ thật hóa ra đồ chơi là một sự châm biếm thị hiếu của nhà thơ. nó mang lại cho bài thơ nhiều ý nghĩa bất ngờ: đồ chơi, đồ thật, âm thanh thật và giả lẫn lộn và khó phân biệt.

cười người, cười đời chưa đủ, nguyễn khuyển cũng cười, cười vì tài năng mà bế tắc. ta nhận ra trong bài thơ “tiến sĩ giấy” một chút ngậm ngùi, chua xót cho yếu tố tự phê bình mà nhà thơ muốn thể hiện. khi còn là một cậu bé lên ba, anh đã từng vinh danh tổ tiên, nhưng do những lần không giúp được gì cho dân, cho nước, anh cho rằng mình chỉ là một “tiến sĩ giấy” giả danh. Tên tốt. nguyen khuyen lộ ra một tiếng cười đáng thương và chua xót.

Thậm chí, có lúc anh ấy còn chế giễu sự bất lực và yếu đuối của chính mình:

cũng cho rằng mình xấu xí nên bia xanh cũng thành bảng vàng

Với người xưa, cỗ xanh, cỗ vàng chẳng còn nghĩa lý gì khi không thể cống hiến cho vua, giúp nước, giúp dân. từ “tôi” lại thể hiện sự day dứt khôn nguôi, tự khoét sâu vào bản thân để chế giễu mà châm biếm để thấy đời người thật đáng cười biết bao. cười vào chính mình có lẽ là tiếng cười sâu sắc và đau lòng nhất.

Như vậy, những sáng tác trào phúng của Nguyễn Khuyến đã chạm đến hầu hết mọi đối tượng, hiện tượng đáng phê phán trong xã hội nửa thuộc địa, nửa phong kiến ​​đương thời. tiếng cười động viên thực sự mang một ý nghĩa xã hội sâu sắc. Bởi lẽ, Nguyễn Khuyến viết thơ trào phúng không phải xuất phát từ nỗi đau của thế sự, mà xuất phát từ tấm lòng trong sáng và cao cả của một người nghĩa sĩ, một người có tấm lòng yêu nước sâu sắc, kín đáo, cố gắng phản ứng lại cái xấu đen bạc của thời đại. chính nỗi đau của thời cuộc đã làm nên tiếng cười của nguyễn khuyển chứa đầy lòng yêu nước và niềm đam mê với cuộc sống. bởi vì trào phúng về bản chất là một bài trữ tình trong đó tình yêu được thay thế bằng sự căm ghét. Cụ thể ở đây, lòng yêu nước, thương dân được thể hiện bằng việc ẩn dưới sự phê phán sự lố lăng giả tạo của thời cuộc đã hủy hoại biết bao giá trị tinh thần tốt đẹp, quý giá cộng với sự tố cáo tội ác của bọn xâm lược dã man. Có lẽ vì vậy mà Xuân Diệu đã nói: “Nguyễn Khuyến tuy không cầm gươm chiến đấu dưới ngọn cờ Nghĩa Cần Vương, nhưng ông vẫn xứng đáng được xếp vào hạng nhà thơ yêu nước”.

Phải thấy, tiếng cười trong thơ Nguyễn Khuyến rất đặc biệt: nhẹ nhàng, sâu lắng, âm vang không ồn ào nhưng rất xúc động. Với những gì anh viết ra, người đọc càng suy ngẫm, càng hiểu sâu sắc ý nghĩa của bài thơ. trong khi đó, nhà thơ trào phúng – tu bon lại gợi ra tiếng cười dữ dội, dữ tợn, the thé đến mức sến súa.

Cũng nói về cái nghèo, sự tằn tiện của gia đình, si nguyen khuyen nhẹ nhàng bông đùa “bạn đến chơi nhà”, anh bon chen thẳng thắn và chua xót nói về cái nghèo của mình:

Tôi nợ nần chồng chất khi ăn hết nước mắt và mồ hôi.

để chế giễu bọn quan tham lam, nguyễn khuyển đã gửi lời tâm sự đầy xúc động trong việc “hỏi thăm thất tuần trộm cắp”, còn tu bon thì rất mỉa mai khi cùng nhau nhắc lại lời chúc năm mới với các quan:

Nghe anh thầm chúc nhau trăm năm tóc bạc … nghe anh thầm chúc mừng con cái mua lộc mua quýt … mừng nhau giàu sang … mỗi người một ngả. chúc mừng nhiều con cái của những người khác … (chúc mừng năm mới)

Sau mỗi lần nhại lại một điều ước, lại có thêm một cơ hội để vạch trần bộ mặt xấu xa của các Thượng Quan. chúng là một lũ tham sống, sợ chết, bản chất vô liêm sỉ, ngoan cố, vô liêm sỉ thay nhau mua bán bất chính, thể hiện lòng tham vô độ nhưng vô cùng keo kiệt. thì cuối bài thơ, tu bon lại tỏ rõ thái độ muốn tống khứ chúng đi vì trong mắt ông chúng chỉ là một lũ khỉ ăn chơi thác loạn hàng ngày.

đường phố chật hẹp và đầy những người ôm nhau trên núi.

những bài thơ như những đòn roi mạnh mẽ giáng vào những con người đáng ghét ấy. thực ra, lời châm biếm của bạn bon chen rất sắc sảo, cay nồng, không sâu lắng và phiến diện như yên.

cũng nói đến sự thay đổi luân thường đạo lý đáng buồn, còn nguyễn khuyển thể hiện một cách kín đáo trong việc miêu tả không khí vui nhộn của ngày “tây” thì bon bạn đặt ngay cụm từ. câu hỏi lớn cho xã hội:

Có mảnh đất nào như thế này mà không có phố phường giáp bờ sông, vì nhà kia, con cái coi thường cha mẹ, vợ mình, vợ mình, chồng mình. (đất của các vị vua)

Vì vậy, ngay cả khi họ cùng nhau chỉ trích các kỳ thi kanji đang suy tàn, bạn vẫn tiếp tục chửi bới không chút do dự:

<3

do đó, có thể thấy rằng nguyễn khánh và tuồng là hai nhà thơ trào phúng có phong cách rất nổi bật của riêng mình. nhà thơ che lan viên đã tổng kết cá tính sáng tạo của hai nhà thơ này qua hai câu thơ:

Yên rơi nước mắt dù cười nhưng cô ấy không giấu được tiếng cười như kính vỡ.

tại sao nguyen khuyen lại cười rất tươi trong khi bon bạn cười rất dữ dội và sắc sảo? bạn phải thấy rằng mặc dù bon anh và nguyen khuyen sống cùng thời, nhưng nếu bon anh sống ở thành thị – nơi mà anh rất sớm và rất chú trọng đến lối sống hỗn hợp thì ở giữa giai đoạn chuyển giao, nguyễn khuyển quanh năm sống ở vùng quê, sau lũy tre làng với cuộc sống ẩn mình êm đềm. thực tế xã hội mà nguyen khuyen chứng kiến ​​ít trực tiếp hơn nhiều so với thực tế của bạn, vì vậy phản ứng của bon bạn mạnh mẽ hơn và quyết liệt hơn.

cùng là người tài giỏi, nhưng nếu yên làm đại học sĩ với ba lần đoạt ngôi vị “tam phẩm” vẻ vang nhất trong lịch sử học sĩ Việt Nam thì bon chen của bạn đã thi trượt với “tám vị giáo sư chưa phân thắng bại”. các quy tắc ”, và cuối cùng đã đậu kỳ thi“ tú tài ”. vì vậy, tiếng cười của nguyễn khuyển là tiếng cười của những bậc bề trên, luôn ý thức được sự ưu việt của thiên hạ về tài năng và đức độ; cô ấy có một giọng nói ngọt ngào và hóm hỉnh, nhưng rất sâu lắng, chua chát, cô ấy cười nhưng cũng khóc, vì vậy không một giọng nói nào khác có thể thấy được bí mật sâu sắc đó.

Sự khác biệt trong phong cách trào phúng của hai nhà thơ này cũng bởi một nguyên nhân khó tránh khỏi trong sáng tạo nghệ thuật. nghệ thuật là một lĩnh vực của sự sáng tạo, của sự độc đáo. nó không bao giờ chấp nhận bất kỳ sự lặp lại nào, thậm chí không phải sự lặp lại của các chân lý vĩnh cửu. chỉ có một sự thật, nhưng các nghệ sĩ có vô số cách khác nhau, bằng tài năng và tâm huyết của mình, để thể hiện nó. “Văn không cần thợ khéo, làm theo mẫu cho sẵn” là vậy. Vì vậy, dù đã là cuối thế kỷ 20 và cùng chứng kiến ​​sự chuyển mình lố bịch, đồi trụy, cùng chọn một đoạn thơ trào phúng để bày tỏ thái độ sống với Tư Bốn, nhưng họ Nguyễn đã khuyến khích khẳng định cá tính riêng trong sáng tạo của mình. Giống như một nhà Nho vĩ đại sống ẩn dật, sống trầm lặng, tiếng cười của Nguyễn Khuyến thật ý nghĩa, trầm bổng, sâu lắng. Nhờ màu sắc trào phúng đặc biệt đó, tác phẩm và tên tuổi của Nguyễn Khuyến đã khắc sâu trong lòng người đọc nhiều thế hệ trong suốt thế kỷ qua và mai sau.

Tựu chung lại, mảng thơ trào phúng đã góp phần củng cố tên tuổi và vị trí của Nguyễn Khuyến trong văn đàn thi ca toàn quốc. Cùng với Tú Xương, nhà thơ Yên Đổ, ông đã có những thành tựu sớm nhưng lâu dài trong lĩnh vực trào phúng trong văn học Việt Nam. Đúng là dù thời gian có trôi đi thì lớp bụi của nó vẫn không thể làm lu mờ dấu ấn mà Nguyễn Khuyến đã để lại trong tâm trí người đọc, dấu ấn của một nhà thơ trào phúng “tiếng khóc nhưng tiếng cười không giấu được.

nguyen thanh liem

Tham khảo: Nhà văn hóa thiếu nhi quận tân phú

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Đến với Nguyễn Khuyến – nhà thơ trữ tình, trào phúng xuất sắc – TẠP CHÍ TAO ĐÀN. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *