Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
121 lượt xem

Phân tích bài thơ bài ca ngất ngưởng

Bạn đang quan tâm đến Phân tích bài thơ bài ca ngất ngưởng phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Phân tích bài thơ bài ca ngất ngưởng

phân tích bài hát ngất ngưởng của nguyễn công tử giúp người đọc hình dung được cụ nguyễn cong có một lối sống, một lối sống đầy bản lĩnh và dũng cảm. đồng thời cũng để lại trong mỗi người nhiều suy nghĩ và bài học quý báu.

Phân tích một bài thơ hay gồm 3 dàn ý chi tiết và 10 bài văn mẫu hay nhất của các bạn học sinh lớp 11 trên cả nước. Ngoài ra, bạn đọc có thể tham khảo thêm một số bài văn mẫu khác trong chuyên mục 11. Chúc các bạn học tốt.

Bạn đang xem: Phân tích bài thơ bài ca ngất ngưởng

phác thảo để phân tích bài hát tuyệt vời

sơ đồ chi tiết số 1

i. mở đầu

– Về tác giả Nguyễn Công Trứ: một nhân vật lịch sử nổi tiếng gây ấn tượng mạnh không chỉ trong văn học mà còn trên nhiều lĩnh vực khác, thơ ông phản ánh sâu sắc về cuộc đời và thế giới

​​/ p>

– Bài ca ngất ngưởng là một trong những bài hát nói tiêu biểu thể hiện tài năng, ý chí và bản lĩnh cá nhân của nguyen cong

ii. nội dung bài đăng

1. nguồn cảm hứng chính

– “choáng ngợp”: vị trí không ổn định, không ổn định, nghiêng

⇒ tư thế, thái độ, lối sống là bất khả tư nghị, vượt lên trên sự phàm tục của con người.

⇒ lối sống kiên trung của Nguyễn Công Trứ, tác giả đã đánh giá rất rõ tài năng và bản lĩnh của ông, ngay cả khi làm quan, trong và ngoài triều đình, và khi về hưu.

2. 6 câu đầu tiên

– “vũ trụ nội không bổn phận”: thái độ tự tin khẳng định mọi việc trên trời dưới đất đều là bổn phận của tác giả ⇒ tuyên ngôn chí làm trai của nhà thơ.

– “was in the lồng”: Coi việc bước vào thế giới là một công việc ràng buộc, nhưng cũng là điều kiện để tài năng được bộc lộ

– cho biết những gì tôi đã làm được trên cương vị và tài năng của mình:

+ tài năng: giỏi văn chương (khi đỗ thủ khoa), có tài dùng binh (mưu lược)

⇒ Tài năng nổi bật: Văn học Võ thuật

+ khoe khoang địa vị, ưu thế xã hội: tham mưu, thống đốc, tổng trấn (bình định thành tây), phủ Thừa phát lại

⇒ Bà tự hào là người tài giỏi, kiệt xuất, văn chương hiển hách, tài sắc vẹn toàn.

⇒ 6 dòng đầu là lời trăn trối của nhà thơ khi còn là một Thượng Quan, khẳng định lý tưởng tự do tài hoa, kiêu ngạo của một con người có tài năng xuất chúng

3. 10 câu tiếp theo

– cách sống theo ý muốn và sở thích cá nhân:

+ cưỡi bò và mặc quần áo ngựa.

+ đi chùa được thần tiên theo sau.

⇒ sở thích kỳ lạ, bất thường, thậm chí có phần bất cẩn và lập dị

+ hoa cà cũng thật nực cười: nó cho thấy hành động của tác giả là khác thường, ngược đời, trái với quan điểm của các nhà Nho thời phong kiến.

⇒ tính cách của người nghệ sĩ muốn sống theo cách riêng của mình

– quan niệm sống:

+ “thắng thua… đầu sóng ngọn gió”: tự tin so sánh mình với “thượng hoàng”, tức là sống một cuộc đời lặng lẽ, không màng đến những lời ca tụng, mất mát của thiên hạ

+ “khi hát … khi hát”: tạo cảm giác cuộc sống phong phú và thú vị, từ “khi” được lặp đi lặp lại nhiều lần tạo cảm giác vui vẻ liên tục.

+ “không… tục”: không phải phật, không phải tiên, không vướng vào phàm tục, sống ngoài trần gian ⇒ sống như không, sống trong cực lạc

⇒ quan niệm sống khác thường mang đậm dấu ấn của tác giả

4. 3 câu cuối

⇒ khẳng định bản lĩnh, khẳng định tài năng sánh ngang với các danh tướng. giả làm một người hầu trung thành.

+ “ai ở chốn cung đình như ngươi”: vừa hỏi vừa khẳng định quan điểm của người đứng đầu về cách sống “ngất ngưởng”

⇒ bản tuyên ngôn khẳng định cá nhân và mong muốn vượt ra khỏi quan điểm đạo đức thông thường của Nho giáo. với anh, thuốc lắc phải có tên thật và tài năng thực sự

5. đặc điểm nghệ thuật:

– sử dụng thành công kỹ năng hát

– giọng điệu thơ dí dỏm và trào phúng

– sử dụng các tác phẩm kinh điển, kinh điển

iii. kết thúc

– nêu những nét tiêu biểu nhất về nội dung và nghệ thuật của Bài ca ngất ngưởng

– liên hệ để gửi suy nghĩ của bạn

sơ đồ chi tiết số 2

1. mở đầu

– Trình bày những nét khái quát về tác giả Nguyễn Công Trứ (đặc điểm con người, cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, …)

– trình bày những nét khái quát về bài thơ “Bài ca ngất ngưởng” (hoàn cảnh ra đời, cảm hứng chủ đạo, những nét khái quát về nội dung và giá trị nghệ thuật của bài thơ, …)

– cung cấp tổng quan về các bài học kinh nghiệm từ công việc.

2. nội dung bài đăng

a. phân tích bài thơ “Bài ca ngất ngưởng”

* cảm hứng chính của bài thơ – “ngất ngưởng”

– xuất hiện 4 lần trong toàn bộ tác phẩm

– là một từ giàu ý nghĩa:

+ nghĩa đen: mô tả độ cao ở trạng thái không ổn định, sắp rơi nhưng không rơi.

+ trong bài thơ, đó là lối sống và thái độ sống của người nguyễn công tử.

* “choáng ngợp” trong công việc

– câu thơ mở đầu khẳng định mạnh mẽ lí tưởng nam nhi mà tác giả tâm nguyện theo đuổi, đây là lí tưởng chung của những người theo đạo Nho: không có việc gì trên trời dưới đất. không phải việc của tôi.

– Sử dụng một loạt các từ Hán Việt và các phương pháp liệt kê, Nguyễn Công Trứ đã xem xét một cách tài tình hàng loạt chức quan, chức tước mà ông đã nắm giữ, chứng tỏ ông là một bậc minh triết văn võ song toàn.

→ phô trương tài năng và danh vọng không phải là tự phụ, tự phụ, khoe khoang mà dựa vào tài năng và sự nghiệp của bản thân, là cái vỏ bọc bên ngoài để ẩn sâu bên trong là cái tôi ý thức rõ về tài năng và vị thế của bản thân

* “ngạc nhiên” khi quan chức rời đi

– một cách sống khác, khác biệt và có phần mâu thuẫn:

+ con bò vàng được nhà thơ “trang điểm” cho bộ quần áo ngựa.

+ đi thăm chùa cũng đưa một cô gái xinh đẹp xuống nước chào hỏi.

– anh quan niệm sống rõ ràng, không màng chuyện được – mất, khen – chê: đối với anh, giữa cái được và mất, khen và chê không biết cái nào hơn cái nào. cái kia

– đã chọn cho mình lối sống tự do, được tự do làm những điều mình muốn: trân trọng hiện tại, hiện tại và biết cách tận hưởng những thú vui trong cuộc sống là thú chơi đầu tiên, thú vui, nhậu nhẹt và trên hết là tình yêu.

→ thái độ và lối sống của nguyễn công công đã đi quá giới hạn, nhưng ông vẫn luôn là một người đầy tớ trung thành.

b. bài học kinh nghiệm cho bản thân từ bài thơ “Bài ca ngất ngưởng”

– họ cần nhận thức được vai trò và vị trí của bản thân trong cuộc sống và ý thức rõ ràng về tài năng của bản thân

– Có quan niệm sống đúng đắn, sống có lý tưởng thì phải biết thoát ra khỏi cuộc sống bận rộn, tẻ nhạt để sống có ý nghĩa.

– Đừng sống nhỏ nhen, ích kỷ, chỉ quan tâm đến lãi lỗ, khen chê mà quên đi những người xung quanh.

3. kết thúc

hãy khái quát những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của bài thơ, những bài học kinh nghiệm của bản thân và nêu cảm nghĩ của mình.

phác thảo số 3

a) Introduction: giới thiệu tác giả, tác phẩm

– Nguyễn Công Trứ là một nhân vật lịch sử nổi tiếng, người đã để lại dấu ấn không chỉ trong văn học mà còn trên nhiều lĩnh vực khác, văn thơ của ông phản ánh sâu sắc cuộc đời và thế sự.

– Bài ca ngất ngưởng là một trong những bài hát nói tiêu biểu thể hiện tài năng, bản lĩnh và ý thức cá nhân của nguyễn công.

b) phần thân

* nguồn cảm hứng chính

– “choáng ngợp”: vị trí do dự, không ổn định, nghiêng.

= & gt; tư thế, thái độ, lối sống nổi loạn, vượt lên trên phàm tục của con người.

= & gt; phong cách sống kiên trung của Nguyễn Công Trứ, tác giả đã thể hiện rất rõ tài năng và bản lĩnh của ông, ngay cả khi làm quan, trong và ngoài triều đình, và khi về hưu.

* luận điểm 1: tầm nhìn về cuộc sống cực lạc trên con đường công danh và sự nghiệp (6 câu đầu)

– “vũ trụ bên trong mà không hoạt động”: thái độ tự tin rằng mọi việc trên trời dưới đất là nhiệm vụ của tác giả – & gt; câu nói của nhà thơ về ý chí làm con.

– “mr. hello van … in the lồng”: coi việc bước vào thế giới như một công việc ràng buộc, nhưng cũng là điều kiện để bộc lộ tài năng

– cho biết những gì tôi đã làm được trên cương vị và tài năng của mình:

+ tài năng: giỏi văn chương (khi đỗ thủ khoa), có tài dùng binh (mưu lược)

– & gt; tài năng xuất chúng: văn võ song toàn

+ Thể hiện vị thế trong xã hội và hơn hẳn những người khác: Nghị viên, Tổng đốc, Tổng trấn (Bình định thành phố Tây), Phủ doãn Thừa Thiên

– & gt; tự hào là người tài giỏi lỗi lạc, có bằng cấp và tài năng văn chương vẻ vang.

= & gt; sáu dòng đầu là lời tự sự của nhà thơ với tư cách là một Thượng Quan, khẳng định tài năng và lí tưởng tự do cao ngạo của một con người có tài năng xuất chúng.

<3

– cách sống theo ý muốn và sở thích cá nhân:

+ cưỡi bò và mặc quần áo ngựa.

+ đi chùa được thần tiên theo sau.

= & gt; sở thích kỳ lạ, bất thường, thậm chí có phần bất cẩn và ngây ngất

+ hoa cà cũng thật nực cười: nó cho thấy hành động của tác giả là khác thường, ngược đời, trái với quan điểm của các nhà Nho thời phong kiến.

= & gt; cá tính của nghệ sĩ muốn sống theo cách của riêng mình.

– quan niệm sống:

+ “thắng thua… đầu gió”: tự tin so sánh mình với “thượng hải”, nghĩa là sống một cuộc đời bình lặng, không màng đến lãi lỗ của thiên hạ

+ “khi hát… khi hát”: tạo cảm giác cuộc sống phong phú và thú vị, từ “khi” được lặp đi lặp lại nhiều lần tạo cảm giác vui vẻ liên tục.

<3 cuộc sống không giống ai, sống trong cực lạc.

= & gt; quan niệm sống khác thường và lạ lùng mang đậm dấu ấn của chính tác giả.

* luận điểm 3: tuyên bố về sự bất khả chiến bại (3 câu cuối)

– “không trái với nhạc … ý vua ta là ta cho ngươi cả đạo”: Dùng một điển cố, so sánh mình với những người nổi tiếng có sự nghiệp hiển hách như ngưu tầm ngưu, tầm mã, đại phú …

= & gt; khẳng định bản lĩnh, khẳng định tài năng sánh ngang với các danh tướng. tự nhận mình là một người hầu trung thành.

– “ai ở tòa như em”: anh hỏi và khẳng định quan điểm của người đứng đầu tòa về cách sống “choáng ngợp”

= & gt; bản tuyên ngôn khẳng định nhân cách, ước vọng vượt ra khỏi nhãn quan đạo đức thông thường của Nho giáo. đối với anh, thuốc lắc phải có tên thật và tài năng thực sự.

* tính năng nghệ thuật:

– sử dụng thành công kỹ năng hát

– giọng thơ dí dỏm và trào phúng

– sử dụng các tác phẩm kinh điển, kinh điển

c) kết luận

– nêu những nét tiêu biểu nhất về nội dung và nghệ thuật của Bài ca ngất ngưởng

– bày tỏ suy nghĩ của bạn về bài thơ.

phân tích bài hát swoon – mẫu 1

Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) là nhà thơ lớn của dân tộc ta nửa đầu thế kỷ 19. văn học kiệt xuất, tài kinh bang tế thế, danh sách lưu danh sử sách. đôi khi sống cuộc sống của một học giả, đôi khi dẫn quân đi chiến đấu, đôi khi là một người lính thái thú, đôi khi là một sĩ quan. Vinh dự và tủi nhục, trải qua những thăng trầm, nhưng anh luôn sẵn lòng nam nhi, sòng phẳng với những món nợ, sống vì một khát vọng phi thường:

Xem thêm: Top 4 bài cảm nhận về bài thơ Tây Tiến hay chọn lọc – HoaTieu.vn

“Ngài đã nổi tiếng trên trời dưới đất, núi sông phải vang danh”.

Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Công Trứ vô cùng rạng rỡ, thể hiện cá tính sáng tạo độc đáo được thể hiện tuyệt vời qua bài phú “han nho phong phú” và hơn 60 bài thơ nói. vô cùng tài năng. “Bài ca ngất ngưởng” là một trong những bài hát chủ đạo của bức tranh toàn cảnh thơ ca dân tộc. Bài ca dao này có hai khổ thơ thừa, tổng cộng có 19 câu đủ vần, âm nhạc nghiêm trang, du dương, lúc trầm tư, lúc hào hùng, đọc rất thú vị. hieu say là một thể thơ dân tộc, có kết cấu chặt chẽ, chất thơ và sự kết hợp âm nhạc rất hấp dẫn, hài hòa.

Trạng nguyên trở về Chi bộ vào năm 1848, sau gần 30 năm làm quan nguyên soái. bài thơ “khúc tráng ca” được ông viết sau khi về quê. bài thơ gây được tiếng vang như một tự truyện về cuộc đời, qua đó ông tự hào về tài năng, đức độ và danh tiếng của mình, thể hiện một nhân cách, một lối sống tài tử, phóng khoáng.

“choáng ngợp” có nghĩa là không vững chắc, dễ đổ, dễ ngã (Từ điển tiếng Việt). ở bài thơ này, nên hiểu “choáng ngợp” là một con người khác, một cách sống khác và thách thức tất cả mọi người. và sự ngây ngất đã được nguyen cong nâng lên thành một bài hát, thành một giai điệu của tâm hồn với tất cả niềm tự hào và ngây ngất hiếm có.

Khổ thơ đầu đã cất lên tiếng nói, lời phát biểu của một con người, một con người tài hoa. rất trang nghiêm và hùng tráng: “nội vũ trụ mà không bổn phận”: không có việc gì trong vũ trụ mà không phải là bổn phận của ta. cách nói phủ định nhằm khẳng định vị thế của một nhà Nho chân chính. nhưng không chỉ một lần? đôi khi ông viết: “vũ trụ là trách nhiệm của tôi” (những thứ trong vũ trụ là trách nhiệm của tôi ~ – than khóc cho những món nợ; “vũ trụ có nhiệm vụ bên trong” (công việc trong vũ trụ là nhiệm vụ của tôi – gánh vác gánh nặng trong vũ trụ) trung hiếu) có tâm tính đó, là do “hi văn tài đã vào lồng”. hi van la nickname cua nguyen cong tru. “tai bo” là tài lớn, nhiều tài lẻ. trong câu thơ có nhiều cách hiểu khác nhau. “ở trong lồng người phải phù phép vua, vua ở nơi hẹp hòi trái với tài năng vượt qua trời đất” (le tri vien). có người lại giải thích: “cái lồng là trời đất, là vũ trụ”. Nguyễn công trù đã nhiều lần nói: “danh thiên hạ”, hay “bất danh trung thiên hạ” (tan hoan: thế gian, thiên hạ). cách hiểu thứ hai thì hợp lý hơn, vì chỉ khi vào lồng vũ trụ, bạn mới có ý chí chiến đấu, như ông đã nói:

“chỉ làm cho những kẻ nam, bắc, tây, đông, lãng phí sức lực chiến đấu trong bốn vực.”

sau khi xưng danh, nhà thơ đã khẳng định được vị thế của chính mình, cái “tài”, cái nam tính của mình mang tầm vóc vũ trụ.

ông chào văn là người có thực tài và tên thật. học hành thi cử, ông dám nghiệm với mọi người: “nợ có chữ thì phải trả”. Năm 1819, Nguyễn Công Trứ đỗ thủ khoa Trường Nghệ An. làm quan quân vụ, giữ chức tham mưu; làm quan, làm tổng đốc đông (hải đường, quang yên). danh tiếng lẫy lừng vì “làm anh hùng ở đâu đó” (“anh hùng anh hùng”). đứng trên đỉnh cao danh vọng nhờ tài văn, võ, vì đã “văn võ song toàn”, và chính lúc đó, ông đã trở thành “người từ thiên hạ”, người hơn người và thiên hạ. . câu thơ ngắt nhịp (3-3-4-3-3-2), lặp lại từ “khi” ba lần đã tạo nên giọng điệu hào hùng, thể hiện một bản lĩnh phi thường, một bản lĩnh vô hạn.

“khi thủ khoa!

bốn câu tiếp theo (khổ thơ trung tâm), ý thơ mở rộng, tác giả tự hào, khẳng định mình là một con người, một học giả có tài kinh bang tế thế. trong lúc loạn lạc, ông xông pha trận mạc, gánh vác trọng trách trước ba quân – “cờ tướng”. thời bình, ông giúp nước giúp vua và làm “thần hộ mệnh”. Đó là năm 1847, Nguyễn Công Trứ đã đạt đến đỉnh cao danh vọng. ông từng nói: “Khi làm tướng không lấy đó làm vinh, khi làm lính thú không lấy đó làm ô nhục”. Sau 30 năm làm quan, Nguyễn Công Trứ trở về quê hương, năm đó ông vừa tròn 70 tuổi (1848):

“tạo nên giải thưởng hàng năm, con bò vàng và con ngựa được sử dụng nhiều lần.”

Trở lại cuộc sống bình thường, ông già vĩ đại đã hành động một cách nghịch lý, dường như để chế nhạo cuộc sống với tất cả sự xuất thần của nó. vị quan lớn từng là “ngựa, xe ngựa” nay chỉ cưỡi bò vàng, cho bò mặc áo ngựa. cả người và bò vàng đều ngây ngất. như một lời thách đố “mồm mép như thế”. Đến bây giờ, người ta vẫn cười và truyền nhau bài thơ viết trên mo cau của một ông già:

“Xuống ngựa, lên xe, yên lặng suy nghĩ. Mùi giáng chức, thăng chức. Điền Viên đi vòng quanh xe bò, sẵn sàng ngậm miệng thiên hạ.”

Tám câu sau trong hai khổ thơ thừa nói lên một lối sống ngất ngưởng. xưa là một đại thần, một danh tướng – “gươm giáo” – nhưng nay sống nhân hậu, giản dị “nhân hậu”. vãn cảnh chùa, thăm những nơi đẹp như tranh vẽ “bên kia núi mây trắng”, anh mang theo “đôi cô cô”, những cô thiếu nữ xinh đẹp trong “gót chân thần tiên”…

“có núi phủ mây trắng, có gươm giáo cung kính nên bi ai. Thần tiên nương nương theo đỉnh một đôi thím. Phật tổ cũng nực cười, thần ngất ngư.” .. “

Anh ấy đã sống hết mình và chơi hết mình. “phật thủ cũng bâng khuâng, bâng khuâng” là một bài thơ đặc sắc. bản thân bài thơ đã gợi lên một chút hóm hỉnh. Bạn cười hay mọi người cười? Hay là anh ta đang cười nhạo chính mình? đã thoát khỏi vòng danh lợi rồi thì chuyện “lãi lỗ” là chuyện của đời người, chẳng khác nào sự tích “bảy con ngựa bất kham”, đừng bận tâm làm gì! những chuyện “khen, chê” của người ta, mặc kệ, như gió đông (xuân) thổi. nếu bạn có can đảm và tự tin vào đức hạnh của chính mình, bạn sẽ có một thái độ tiêu cực như vậy và dám sống trên tất cả những điều trần tục. bạn có biết rằng Nguyễn Công Trứ là một nhà Nho được đào tạo ở cửa ải, một vị quan lớn của triều Nguyễn, mới thấy được một phần tính cách, tính cách khác người, tính tình phóng khoáng, khí phách, tài hoa hiếm có. ? . không quan tâm đến vấn đề “lãi lỗ”, bỏ ngoài tai mọi lời dị nghị, khen chê, chỉ trích, anh sống thanh thản, hồn nhiên, thanh thản và vui vẻ tột độ. tuy ngây ngất nhưng trong sáng, thanh cao. đây là hai câu thoại tuyệt đẹp trong “bài hát swoosh”:

“bằng cách hát / bằng cách uống rượu / bằng cách uống rượu / bằng cách hát / bằng cách không có thần phật / không có thần tiên / không cản đường.”

cách ngắt nhịp 2, nghệ thuật hòa âm (bằng, tam), nhấn nhá, cách diễn đạt trùng điệp (khi … không …,) đã tạo nên một câu thơ giàu nhịp điệu nhạc. , thể hiện phong thái kiêu sa, yêu đời, khát vọng sống, thanh cao không vướng bụi trần. Nếu chúng ta đọc to và hát, nếu chúng ta lắng nghe tiếng đàn tranh trong nền, nhịp phách và tiếng trống, chúng ta có thể cảm nhận được thơ và nhạc đã hòa quyện vào những câu thơ đẹp như thế! anh ấy thực sự xuất thần nhưng tài năng, nghiệp dư.

phần sắp xếp của bài hát chỉ nói 3 câu. câu cuối cùng được gọi là câu keo chỉ có 6 từ. nên viết đúng như văn bản ‘tuyển tập thơ ca trù’ – xã luận văn học 1987 mới đúng thơ:

“không phải ngược lại, nhạc cũng tiến vào đại sảnh của các vương phủ han, phủ, nghia. Ta ban cho ngươi liêm chính đạo tướng quân, trong triều cũng ngây ngẩn cả người!”

Nguyễn Công Trứ tự hào nói rằng mình là một vị thần trung thành, hoàn toàn là “vua tôi”. đã viết trong bài “duyên nợ”:

“chi tang có hẹn với giang san, hiếu trung hiếu nghĩa, quân tử chi thành.”

tài năng và danh vọng mà nguyễn công tử để lại cho đất nước và nhân dân không kém gì các vị minh quân, nhạc phụ, hán ký, phú thương, các bậc hiền tài của triều đại, song triều ở Trung Quốc. ở hai phép so sánh gần xa, trong và ngoài, bắc nam, tác giả đã kết thúc bài ca bằng một giọng thơ hào sảng, hào hùng của “ông”: “ai trong cung ngất ngưởng như ông!”. cái tôi phi thường của nhà thơ đã bị bộc lộ đến cùng cực.

tóm lại, con nguyên công chính, bạn phải có thực tài, có danh thật, phải “theo vua tôi thẳng” thì mới trở thành “vĩ nhân”, “ngất ngưởng”. và lối sống ngất ngưởng của nguyễn công tử thể hiện tài năng, tài tử, không vấy bẩn, không vướng bận ”, không lối thoát.

tiêu đề, tiêu đề của “bài hát bầu trời” của mr. hi van rất độc đáo. cách thể hiện cái tôi của nhà thơ cũng rất độc đáo. một thế kỷ sau, nhà thơ tan da cũng có nhiều bài thơ nói và viết, đậm chất “ngông”. một bên là xuất thần nhưng tài năng, một bên thì ngốc nghếch nhưng nhàm chán và lãng mạn.

Thơ truyền khẩu của Nguyễn Công Trứ đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật. những câu thơ chữ Hán mang đến sự uy nghiêm và uyên bác. thơ, nhạc hài hòa, hấp dẫn, lôi cuốn.

Trong bối cảnh thơ ca cổ điển Việt Nam, nguyễn công tử, cao ba bất, dương khê, nguyễn khuyến và tân da là những nhà thơ lớn đã để lại một số bài ca dao xuất sắc. Nguyễn cong truân đã tạo nên một giọng ca hùng tráng mạnh mẽ, tài năng hâm mộ xen lẫn khí phách anh hùng, duyên nợ và khí phách nam nhi. Đó là phong cách nghệ thuật, là cốt lõi, là bản sắc của thơ văn, nghị luận Nguyễn Công Trứ. “Bài ca ngất ngưởng” thực sự là một “bài hát của trái tim” của mr. chào van, chúng ta có rất nhiều niềm vui.

phân tích bài hát exultant – mẫu 2

nếu “ca dao thể hiện một người cô đơn và buồn bã tìm kiếm những giá trị đã mất của mình” thì ca khúc nói “một hình thức phổ biến trong ca trù thể hiện một người tài tử thoát ra khỏi vòng quay của cuộc đời”. ra ngoài, thoát khỏi tiếng sáo, thoát khỏi bẩn thỉu, danh lợi, đón lấy khoảnh khắc hạnh phúc của hiện tại. “Về giọng hát, không thể không nhắc đến tác phẩm” Bài ca ngất ngưởng “của Nguyễn Công , một bài thơ kết bài có nội dung phù hợp với chức năng và thể loại. bài thơ thể hiện cái tôi dại dột của tác giả, một lối sống khác, vượt ra khỏi lễ giáo phong kiến, dựa trên ý thức về tài năng và giá trị của bản thân.

Nguyễn Công Trứ là một nhà Nho nghèo, đỗ đạt làm quan, con đường thành danh không dễ dàng, có nhiều thăng trầm. Hầu hết các sáng tác của anh đều bằng chữ nôm, thể loại yêu thích của anh là hát nói vì anh đã có cơ hội tham gia vào bộ môn ca trù vốn khá phát triển ở làng Đập cổ gần quê anh. Chủ đề và nội dung của các bài thơ nói của ông rất đa dạng, như: tình yêu, tiền bạc, ý chí đàn ông, trò chơi và hưởng thụ ….

“Bài ca ngất ngưởng” thuộc chủ đề giải trí và thưởng thức, bài thơ được sáng tác vào năm 1848 trong năm nhà thơ nghỉ hưu, sống một cuộc sống tự do và thoải mái. điều đó được chứng minh rõ ràng bằng từ “quá mức”. Theo nguyen dinh chu, đó là “để diễn tả một tư thế, một thái độ, một tinh thần, một con người vượt lên trên thế gian, sống giữa mọi người mà dường như không nhìn thấy ai, đi giữa cuộc đời mà dường như không nhìn thấy ai. vì tôi chỉ biết bản thân mình, một con người khác và thách thức mọi người. ”

Sáu câu thơ đầu là lời tự thuật về cuộc đời của tác giả tài hoa ở chốn quan trường với những sự việc tiêu biểu. mở đầu bài thơ là một câu thơ bằng chữ Hán thể hiện quan niệm, triết lý sống mà nhà thơ đã theo đuổi. Do cảm hứng phóng khoáng, chơi buông, hát nói được cấu tạo theo lối đặc sắc. trộn chữ Hán với tiếng Việt. hầu hết các bài đều có chữ Hán là lời tựa nói lên một tư tưởng nào đó được đặt ở đầu câu “nội vũ trụ bất tác” nghĩa là vạn vật trên trời dưới đất đều là bổn phận của ta. nó thể hiện sự thống trị của con người trong vũ trụ, con người với tinh thần nhập thế, có trách nhiệm gánh vác công việc của cuộc đời. ý thơ này đã được ông thể hiện nhiều lần trong các bài thơ khác nhau như: “vũ trụ có nhiệm vụ nội tại” và vạn vật trong vũ trụ là bổn phận của chúng ta hay “vũ trụ có trách nhiệm đối với” mọi vật trong vũ trụ đều thuộc về ta, bổn phận của ta. anh luôn xác định cho mình một lối sống tích cực, sống có ích và cống hiến cho đời. Ông chịu ảnh hưởng của Nho giáo từ nhỏ đã kế thừa tinh thần của các bậc tiền bối như Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bặc và Phan Bội Châu là “Nam nhi yếu hi / ha để vũ trụ biến hóa”. đi ”…

thì nhà thơ tự nói về mình, điều hiếm thấy trong thơ ca trung đại. vì con người thời kỳ đó có cái tôi bị che lấp, tác giả ít khi trực tiếp xuất hiện vì con người thời trung cổ không xem mình là trung tâm mà chỉ là một bộ phận của một tổng thể vĩ đại. nhưng ở đây tác giả đã tự tin thể hiện cá tính và con người riêng của mình.

“mr. hi van tai bo quen di lồng, thi thoảng về cung doan thua thien.”

không biết chữ là biệt hiệu của nguyễn công tử. “talent” là tài năng. ông tự khẳng định mình là người có “tài năng xuất chúng” đã bị “giam cầm”, nghĩa là ông coi cương vị làm quan tại triều đình là bị giam cầm trong lồng giam hãm, mất tự do. nhà thơ phải là người phóng khoáng, tự do tự tại, không tham danh lợi mới có thể tự tin bộc lộ mình. ông đã lập một danh sách các chức danh và chức vụ chính mà ông đã nắm giữ. với những câu văn có độ dài ngắn khác nhau, nhịp thơ uyển chuyển, uyển chuyển cùng với việc sử dụng điệp ngữ “khi” và hệ thống từ ngữ tiếng Việt đã thể hiện một cảm hứng tự hào, tự tin khẳng định cái tôi cá nhân của một bậc hiền tài.

phần còn lại là sự phơi bày cách sống khác thường của nhà thơ. một lần nữa xuất hiện một câu thơ chữ Hán “độc cư ly tán” đánh dấu sự kiện chuyển biến trong cuộc đời của nhà thơ với ý nghĩa của cả câu: năm ở kinh đô, ông cởi trần để về hưu, sống một nếp sống như thế nào. của bạn. mong muốn:

“Thật nực cười khi anh ấy sử dụng một con bò và con ngựa bằng vàng.”

chỉ với bốn dòng nhưng hai lần xuất hiện từ “ngông cuồng”, có lẽ nhà thơ quá yêu lối sống ấy. ở những câu thơ trước, nghệ thuật tương phản được sử dụng. chăm ngựa mà dùng ngưu hoàng kim, cung kiếm trong tay nhưng lòng trắc ẩn, nhắc đến gươm là người ta nghĩ ngay đến kẻ sĩ, cách giết người và lòng trắc ẩn, đi lễ chùa để trốn gặp một đôi trai gái. của những người cô ”… chính sự đối lập hoàn toàn về tính cách của nhà thơ đã tạo nên sự khác biệt của anh.

Nguyễn Công Trứ là người có công với triều đình, có công giúp dân trị nước, lấy lại bờ cõi, lập nhiều chiến công dẹp loạn triều đình. ý thức được tài năng của mình, anh đã chọn cho mình một lối sống, một cách sống khác. Trước hết, ông thề phò vua, giúp nước, cống hiến tài năng trí tuệ “dùng hết của cải” (đem hết ý chí dâng hiến thiên hạ) với nam tính của mình. :

“Chúng ta hãy là nam, bắc, đông và tây, để chúng ta có thể chiến đấu thành bốn nhóm”

sau khi hoàn thành trọng trách trên vai của một trí thức yêu nước, ông tự cho phép mình được vui chơi, giải trí với quan niệm “cuộc sống nhàn hạ, đâu có lãi”. Chính vì vậy anh ấy không màng đến chuyện thắng thua, khen chê, chê bai của thế giới, anh ấy bỏ qua tất cả để toàn tâm toàn ý tận hưởng niềm vui cho riêng mình:

“Mất dương, người Thái khen và chê những ngọn cây phong mùa đông”

Hai câu thơ sau với nhịp điệu uyển chuyển 2/2/2/2, 2/2/3, liệt kê những sở thích của tác giả, điều này làm cho câu thơ giàu âm điệu và nhạc điệu. nhịp điệu:

“hát, uống, uống, dong, không phật, không tiên, không vướng”

hai chữ “khi” và ba chữ “không” được lặp lại liên tiếp thể hiện tâm hồn tự do, phóng khoáng không vướng bận trần tục, không vướng bận chuyện trần gian, phong thái ung dung tự tại. Nguyễn Công Trứ dành những tháng ngày tận hưởng những ngày tháng của một kẻ sĩ tài hoa bạc mệnh: “ngoài vòng, chân cao, chân thấp / trên thú thì mặt tỉnh bơ”

cuối cùng, nhà thơ tóm tắt toàn bộ cuộc đời của mình trong ba dòng với một lời khẳng định chắc chắn về tài năng và phẩm chất của mình:

“không ngược lại, nhạc cũng vào phòng han, ta vương phi cho ta một đạo hoàn mỹ trong triều ngây ngẩn cả người”

nhà thơ đã tự xếp mình ngang hàng với các danh tướng của triều đại nhà Hán, đời ở Trung Quốc. trái, nhạc, han, phu là bất tuân, han phi, han ky, phu pop. anh ta định vị bản thân mình, anh ta nhận thức được những đức tính của mình. anh ta lang thang để thỏa mãn riêng mình, nhưng vẫn tuân theo quy tắc của tôi. quả đúng như lời nhận xét của Trần Đình Sử về nguyễn công tử “nhập thế vô ngại, lưu lạc nhưng vẫn trọn nghĩa vua tôi”. kết thúc bài hát tác giả tự xưng là “ông đồ” anh hùng. cái tôi cá nhân của anh ấy được thể hiện, tự tin tuyên bố rằng không có ai như anh ấy tại tòa.

“smiley song” với phong cách nghệ thuật độc đáo sử dụng các câu ám chỉ và cảm thán để làm rõ ngữ điệu, làm nhất quán tính chủ quan của ca từ và giọng điệu có vẻ ngang tàng, thách thức. sử dụng ngôn ngữ thô tục, tiếng lóng trong cuộc sống hàng ngày để tạo ra một giọng nói sinh động, hòa quyện, vừa to vừa nói. Trong một bài thơ có tựa đề, có năm lần nhà thơ dùng từ “lập dị” để nói lên tính cách ngốc nghếch của mình.

Bài thơ đã khắc họa chân dung cụ cố Nguyễn Công, một con người tài hoa, lỗi lạc, vừa làm tròn bổn phận, vừa thỏa chí nguyện của chính mình. bài thơ đã góp phần thể hiện đúng dạng thể thơ hát nói với cấu trúc và chức năng của nó.

phân tích bài hát exultant – mẫu 3

nguyễn công tử là một người tài hoa nhưng nhiều thăng trầm. ông đã để lại cho hậu thế khoảng 150 tác phẩm ở nhiều thể loại, nhưng thành công nhất ở thể loại thanh nhạc. bài hát xuất thần là một trong những tác phẩm thanh nhạc hay nhất thể hiện cá tính nghiệp dư của cô.

Bài thơ được sáng tác trong thời gian ông lui về ở ẩn tại quê nhà. với thể loại hát tự do, phóng khoáng, rất phù hợp để thể hiện tính cách và con người của nguyễn công. văn bản thể hiện rõ ràng lối sống sung sướng của anh ta khi anh ta còn là một người Quan họ, cũng như khi anh ta trở về ở ẩn.

theo quan điểm của nguyễn công tử, ngất ngưởng là biểu hiện của sự kiêu ngạo, thoát ra khỏi khuôn khổ của một xã hội phong kiến ​​chuyên chế. đây cũng là một lối sống có lòng dũng cảm cá nhân, khác với cuộc sống và tốt đẹp hơn cuộc sống.

Sáu câu thơ đầu thể hiện lối sống hào hoa khi làm quan. trên hết là ở anh ý thức trách nhiệm đối với cuộc sống và niềm tự hào về bản thân: vũ trụ bên trong không hoạt động. Anh ấy tuyên bố rằng mọi thứ trên đời này đều do anh ấy chịu trách nhiệm. Những lời nói đó cho thấy Nguyễn Công Trứ đã dám khẳng định ý nghĩa và vai trò của mình đối với đất nước. thể hiện ở quan niệm làm quan rất khác người, vừa mang tiếng vừa là nợ:

ông chào van tai bo đã vào lồng

là một danh xưng vì đây là cơ hội để anh chứng tỏ bản thân, chứng tỏ tài năng của mình hơn người khác, dùng tài năng đó để cống hiến và phục vụ đất nước. nhưng đó là một món nợ bởi vì là một quan chức, anh ta sẽ bị ràng buộc bởi trách nhiệm, anh ta buộc phải chấp nhận một cuộc sống bị hạn chế, mất tự do khi anh ta nắm giữ chức vụ chính thức. vốn là người có tư chất tự do tự tại khi buộc phải kỷ luật cũng là một điều khó khăn đối với nguyễn công. Tuy nhiên, vì tinh thần trách nhiệm, lòng tự trọng và sự tự tin, Nguyễn Công Công đã gác lại những thú vui riêng, đi theo con đường thi cử, đỗ đạt đến chức quan Thượng thư để thực hiện hoài bão giúp nước và thiên hạ. hoài bão lớn lao và cao cả đó là hoài bão của biết bao con người cao cả trong xã hội lúc bấy giờ.

Trong những năm tháng cống hiến cho cuộc đời, anh ấy đã đạt được nhiều thứ và anh ấy tự hào về những gì mình đã làm được, anh ấy đã đóng góp:

Khi thủ khoa, khi tham mưu, khi tổng đốc đông bao mưu lược, tay thoăn thoắt lúc cờ tướng, thỉnh về cung.

Trong cuộc đời làm quan, Nguyễn Công Trứ từng đảm nhiệm nhiều chức vụ khác nhau: Tham tán, Tổng đốc Đông, Tổng trấn Bình Tây, đều là những chức vụ quan trọng trong triều đình. điều đó thể hiện tài năng hơn người của nó. Đồng thời, thể hiện tinh thần trách nhiệm cũng như thái độ tự tin, tự hào của Nguyễn Công đối với thành tích của mình. những cống hiến này không chỉ thể hiện tài năng của anh ấy đối với thế giới mà còn là tình yêu nước của anh ấy.

XEM THÊM:  cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài từ ấy

Khi đang trên đỉnh cao vinh quang, 70 tuổi, Nguyễn công công xin quan về quê cho đến lần thứ mười hai mới được chấp nhận. Trở về quê hương, anh tận hưởng cuộc sống tự do tự tại, rong ruổi khắp núi rừng. hành động của ông khi quan về quê cũng thể hiện một tư thế ngất ngưởng, khác lạ: làm mon men chia năm / mò bò vàng ngất ngưởng. hành động đó như một lời thách thức đối với hệ thống quan trường đương thời, đồng thời cũng khẳng định thái độ không còn hoài niệm về sự phù phiếm do triều đình mang lại. không chỉ vậy, cái chất ngất của ông còn thể hiện ở những nhu cầu, sở thích cá nhân mà các nhà thơ khác ít bộc lộ trực tiếp: chốn bồng lai tiên cảnh: “có núi, có mây trắng”; du ngoạn các chùa chiền: “tay cầm gươm giáo phải từ bi / ngoan đạo theo đôi cô thím / Đạo Phật cũng lố lăng, ngất ngưởng” hay vui thú tụng ca ả đào: “hát hò, nhậu nhẹt, coc coc, khi nao co. phật, không tiên, không vướng ”. Ngoài ra, nó còn thể hiện ở thái độ sống an phận tự tại, bất chấp khen chê, chê bai của dư luận: “Thắng thiên hạ thái bình / khen chê, chê bai đều phơi phới ngọn gió”. . .

anh tự hào, hãnh diện về lối sống cao cả của mình: dù thế nào đi nữa, nhạc cũng vào phòng, phu / nghĩa vua ban cho tôi đạo hoàn mỹ. Nguyễn Công Trứ xếp bên cạnh những bậc hiền tài có nhân cách xuất chúng. khẳng định sự khác biệt giữa cuộc sống và cuộc sống của lối sống ngất ngưởng: ở chốn quan trường, ai ngất ngưởng như ông? câu hỏi tu từ khép lại bài thơ là thái độ tự tin, bằng lòng của người đi trước về lối sống dũng cảm mà suốt đời mình trân trọng. đây là lối sống có trách nhiệm với cuộc đời, cần tận tâm tận lực mới có kết quả. tuy nhiên, bên cạnh điều đó, bạn cũng cần biết cách tận hưởng những niềm vui mà cuộc sống mang lại cho bạn. đó cũng là lối sống lương thiện, dám là chính mình, vượt qua khuôn phép vượt qua lễ giáo rườm rà, đông đúc.

Với thể thơ tự do, phóng khoáng đã giúp Nguyễn Công Cống thể hiện thành công lối sống ngất ngưởng của quan họ. lối sống đó thể hiện nhân cách tự do, phóng khoáng, lối sống lành mạnh, bứt phá trong quan niệm sống, vượt qua sự khắt khe, giáo điều của lễ giáo phong kiến.

phân tích bài hát exultant – mẫu 4

Trong văn học, ngoài cái tôi lãng mạn, hào hoa mà si tình thì còn có một cái tôi tự phụ và kiêu ngạo cũng không kém phần hấp dẫn. Nếu cái “ngông” của Nguyễn tuấn thể hiện ở phản ứng tiêu cực, ngạo mạn với cuộc đời, thể hiện phong cách tài hoa qua lối viết lịch lãm, đặt mình lên trên thiên hạ, thì Nguyễn Công Trứ còn thể hiện sự “ngông cuồng”, phóng khoáng cả về tài năng, trí tuệ và nhân cách được thể hiện rõ nét qua tác phẩm Bài ca ngất ngưởng. có thể nói bài thơ là lời khẳng định của nhà thơ về thái độ sống của mình.

Bài ca ngất ngưởng được sáng tác vào năm 1848, Nguyễn Công Trứ trở về quê hương sau hơn 30 năm làm quan dưới triều Nguyễn. Hơn 30 năm Nguyễn Công Trứ là một chí sĩ, một minh quân và một vị quan lớn, ông đã sống vinh hoa phú quý, thăng trầm. một bản tự truyện về cuộc đời mình, qua đó anh cảm thấy tự hào về tài năng của mình. phẩm hạnh và danh vọng, thể hiện một nhân cách, một lối sống tài tử, phóng khoáng. bài hát nói này có hai câu thơ đôi, 19 câu thơ đầy vần, âm nhạc trầm bổng, du dương, có lúc trầm tư, có lúc hùng tráng, đọc rất thú vị. bài hát là một thể thơ dân tộc, bố cục chặt chẽ, chất thơ và sự kết hợp âm nhạc rất hấp dẫn, hài hòa.

đầu bài thơ là lời phát biểu của tác giả về quan niệm sống của một người đàn ông:

“nội mô phi chức năng”.

(không có gì trong vũ trụ không phải là nhiệm vụ của tôi).

nguyen cong cong muốn khẳng định sự ngu ngốc của chính mình, rằng mọi thứ trên đời này đều là chuyện của mình. đây là sự xác định vị trí của một người, tuyên bố của một học giả tài năng. nếu người viết thường chỉ bày tỏ quan điểm của mình về những khía cạnh khác nhau của cuộc sống và tình cảm của mình với một trong những khía cạnh đó thì nguyễn công công ngược lại, anh cho rằng mình đã là đàn ông thì trên đời không có chuyện gì mà không biết giải quyết. Người là đàn ông không bao giờ được né tránh những việc liên quan đến bổn phận của mình ở thế gian, trên trời dưới đất. Để kiểm chứng quan niệm này, Nguyễn Công Công đã chỉ ra cái tôi của đời mình:

“mr. hi van tai bo nhập lồng khi phát biểu từ biệt, khi tham mưu, khi tổng đốc đông bao thao lược, tay ngây ngất. p>

Là một người có hơn 30 năm kinh nghiệm làm công chức, tác giả đã liệt kê những chức vụ mà mình đã đảm nhiệm trong những năm tháng phục vụ đất nước đó. nghĩa là: “vectorado, cố vấn, toàn quyền định hướng …”. Phải là người tài giỏi, thông minh, lanh lợi, tháo vát nên Nguyễn Công Trứ mới được giao nhiều trọng trách như vậy. chính vì vậy, không có tác phẩm nào mà tác giả chưa từng trải qua, chính vì vậy mà ông khẳng định với những người đàn ông còn lại của cuộc đời này một lý lẽ đanh thép như vậy. bằng chứng mà nhà thơ trích dẫn rất xác đáng, một ví dụ không thể chối cãi cho lập luận ban đầu của ông.

Cứ tưởng chỉ khi làm quan, có chức có quyền, Nguyễn Quận Công mới bộc lộ cái tôi kiêu căng, dị thường như vậy, nhưng không, ngay cả trong sinh hoạt hay khi về quê, cái tôi của ông vẫn là ông. . Nó chưa bị mất nhưng nó tự do hơn:

“phân chia năm con ngựa vàng, con bò cái dùng lúc nào không hay”

Hình ảnh “con ngựa và con bò vàng” thể hiện thái độ giễu cợt của tác giả đối với cuộc sống. anh ta chưa bao giờ thấy cái tôi của mình nhỏ bé và thấp hèn, mà luôn thấy nó lớn lao, sánh ngang với sinh mệnh, nên hiển nhiên có thể giễu cợt anh ta. Ngay cả cây cũng phải cười ngất ngây của nhà thơ:

“Có núi mây trắng có vòm, mà hình thù cố chấp theo đỉnh của mấy bà cô bác cũng nực cười.

Từ giã cuộc sống quan trường, ông trở về với cuộc sống bình dị, đời thường, nhưng lối sống của Nguyễn Công Trứ có gì là tầm thường. bức tranh thể hiện một sự khôn khéo “tu cung mà thành bi”, điều này cũng dễ hiểu vì nhà thơ đã từng là một kẻ ở chốn đông người, gian xảo, nay lại sống cuộc đời của những kẻ tầm thường. “thương xót”. ông đi chùa nhưng cũng phải “đầu đàn bà con”. Thực ra, Nguyễn Công Trứ là người sống rất phóng khoáng, sống hết mình, chịu chơi. anh ta luôn tỏ thái độ tự hào và giễu cợt cuộc đời, khiến ngay cả ông trời cũng phải bật cười vì sự “ngạc nhiên” của chính mình. có thể nói, ít ai lại bất cẩn, nhàn nhã như nguyễn công tử. nhà thơ có phong cách này vì:

“mất dương, người Thái khen và chê ngọn cây phong mùa đông”

địa điểm chính thức bây giờ không có ý nghĩa đối với tác giả. vì anh ta không còn phải phục tùng cấp trên và chỉ huy cấp dưới nữa. mọi lời khen, chê, thưởng phạt cuộc đời của Thượng Quan giờ chỉ đơn giản là hư vô. nhà thơ đã thoát khỏi vòng luẩn quẩn của danh và lợi, để tự do phiêu bạt bốn phương. cuộc sống đó thật đáng ngưỡng mộ:

“Khi hát, khi uống, khi uống, khi không làm phật, khi không thành tiên, khi không vướng vào tục lệ.”

nhà thơ không còn phải vướng bận vào bất cứ điều gì trên đời, ông có thể vui chơi, ca hát, uống rượu một cuộc sống tự do, phóng khoáng hơn bao giờ hết. sau bao nhiêu năm cống hiến và phục vụ triều Nguyễn, cuối cùng tác giả cũng có thể tận hưởng trọn vẹn cuộc sống của chính mình một cách “xuất sắc” nhất. thái độ và phong cách này vốn có từ khi nhà thơ bắt đầu làm tiếng Quan Thoại, nhưng càng rõ ràng hơn khi ông lớn tuổi và nghỉ hưu.

ba dòng cuối của bài thơ nói rằng “không có ai ngây ngất hơn tôi”:

“không phải ngược lại, âm nhạc cũng tiến vào phòng han, ta vương cho ta một đạo hoàn ở triều đình ngây ngẩn cả người!”

Nguyễn Công Trứ đã tuyên bố trước mọi người rằng ông là một trung thần trung thành với triều đình, so sánh ông với các anh hùng như nhạc phi, hán ký, phú thương … của triều đại, đảng tông. Trung Quốc. công lao và đóng góp của ông rất nhiều và to lớn. giọng văn nhã nhặn, hào hùng như lời khẳng định đầy tự hào của tác giả về bản thân. vì vậy anh ta tuyên bố: “Ai trong tòa án cũng được tôn trọng như bạn!” câu thơ cuối tường thuật lại nội dung của toàn bài thơ, đó là sự làm sáng tỏ, lý giải quan niệm đạo làm người của nhà thơ trên trời dưới đất. Bằng cách khẳng định thái độ sống của mình, ông muốn nhắn gửi đến các đấng nam nhi thiên hạ phải biết trọng nghĩa khí với trời đất, “tề gia trị quốc, bình thiên hạ” là bổn phận của mỗi người. câu nói tuy ngắn gọn nhưng súc tích, thể hiện sự chắc chắn trong ý chí của một người đã làm quan.

bài thơ trọn vẹn với nội dung mà nó truyền tải, người đọc nhất định sẽ hiểu được cái “ngông cuồng” trong thơ của nguyễn công. Bằng tài năng, kinh nghiệm và những đóng góp của mình cho quê hương, đất nước, tác giả đã khiến mọi người ý thức hơn về trách nhiệm của mỗi người, đặc biệt là một người con đối với cuộc sống. vì vậy, cái tôi “lấn át” của nhà thơ không phải là thái độ tiêu cực mà là sự khẳng định bản thân, là dũng khí sống ở đời và lối sống tài hoa bạc mệnh.

Chỉ qua một bài thơ ngắn mà tác giả đã truyền tải toàn bộ lối sống và cách nhìn của mình về cuộc sống. thể thơ độc đáo với nhịp điệu rõ ràng, nhấn mạnh phong thái hơn người của Nguyễn Công Trứ. Khi đọc bài thơ, chúng ta càng thấy khâm phục những người đàn ông xả thân vì nông thôn trong thời kỳ phong kiến, đồng thời chúng ta cũng cảm kích trước thái độ và tinh thần sống của tác giả.

phân tích bài hát swoon – mẫu 5

Đối với các nhà thơ nửa đầu thế kỷ 20, không thể không nhắc đến nhà thơ – ông. Đây là một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử, là một nhân vật thực sự muốn lập công, coi trọng đạo làm con và có cách sống rất riêng, luôn tự do, phóng túng.

Nguyễn Công Trứ được coi là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất đương thời, ông có công lớn trong việc nâng thể giọng thành một thể thơ có khả năng biểu đạt cảm xúc phong phú và tinh tế.

Trong số những bài thơ Nguyễn công được sáng tác theo thể song thất lục bát, nổi tiếng nhất là bài thơ ngất ngưởng. Đây là tác phẩm được sáng tác sau khi tác giả rời bỏ chức quan trở về quê hương sống cuộc sống ẩn dật. đây cũng là lúc tính hống hách vốn có, tính hách dịch của đàn anh lớp trên bộc lộ hết mức. dẫu sao ông cũng là người dũng cảm, giàu nhân cách, khi còn làm quan, không được sống tự do, vẫn phải tuân theo luật lệ của triều đình. Và như sử sách ghi lại, trong nhiều triều đại phong kiến, triều Nguyễn vẫn được coi là triều đại có nhiều thể chế gò bó, phi lý và vô nhân đạo nhất.

bằng một bài ca tuyệt vời, nguyễn công trù đã đưa ra một cách lý lịch và bìa bài thơ rất sinh động và độc đáo, người đọc có thể cảm nhận được một cách sống khác biệt và khác lạ. các tác giả. lối sống của họ tương phản với lối sống của tập đoàn, trái với quan niệm chính thống thời bấy giờ.

trước hết, nhan đề của bài thơ khiến người đọc phải chú ý và suy nghĩ. Nét độc đáo của Nguyễn Công Trứ thể hiện ở cách đặt tựa bài thơ: Bài ca ngất ngưởng. theo cách hiểu thông thường, tháp chỉ cao chứ không bền, dễ gãy. ví dụ: cái bình để đi ra ngoài. hơn nữa, xuất thần còn có nghĩa là người đi đứng thẳng, đi loạng choạng, có lúc tiến, có khi nghiêng phải, có khi nghiêng trái … đọc kỹ bài thơ, ta có thể nhận thấy tên bài thơ, điều gì đóng góp quan trọng. để thể hiện thái độ, tư thế của nhân vật trữ tình: tác giả luôn vượt lên trên hủ tục, sống trong tập thể, giữa những con người nhưng cuộc sống khác nhau, con người khác nhau, không phân biệt người.

Nguyên công tử thường dùng để chỉ những người đàn ông theo tinh thần Nho giáo. trong bài luận của mình về việc trở thành một đứa trẻ, nhà thơ nói:

người đàn ông tạo ra phía bắc, đông, tây vì lãng phí sức lực khi chiến đấu trong bốn vực

Trong bài ca ngất ngưởng, cụ Nguyễn Công Trứ cũng mở đầu bằng một câu chữ Hán tựa như tuyên ngôn thể hiện ý chí làm người trước đây: không có việc gì trên trời dưới đất mà không phải là bổn phận của chúng ta:

nội mô phi chức năng

đây chính xác là những gì nguyễn công thật nghĩ. tuy nhiên, ông luôn được nhắc đến trong nhiều bài thơ trong suốt cuộc đời sáng tác của mình, vũ trụ có bổn phận nội (vũ trụ là bổn phận của ta – gánh nặng của đạo hiếu), vũ trụ tự có trách nhiệm (trong vũ trụ là bổn phận của ta – các nhà bình luận) . theo quan niệm của Trạng nguyên, đã xuất thân là tu mi, ắt có tên có núi, có sông, làm nên việc lớn, được ghi vào sử sách. cái hay của câu thơ mở đầu là triết lí sống đúng đắn và tình cảm chân thành của tác giả. Để xã hội ngày càng tiến bộ thì mỗi người phải tự khẳng định mình, phải cố gắng hết sức mình để làm điều gì đó có ích trong cuộc sống để tự hào với mọi người. khát vọng đó, quyết tâm đó là chính đáng, rất đáng trân trọng; nhất là khi được bày tỏ trực tiếp với thái độ chân thành của nhà thơ.

Tiếp theo, Nguyễn Công Trứ xưng vương, khẳng định tài năng của mình:

ông chào van tai bo đã vào lồng

Trong một thời gian dài, câu này có ít nhất hai cách hiểu. cách hiểu thứ nhất cho rằng: ông hi van, một người tài hoa, đã bước vào vòng hoàng đế (với tư cách là một con chim yêu tự do, thích bay trên bầu trời cao rộng, nay bị nhốt trong lồng), và do đó, ông có thể không sống cuộc sống mà anh ta muốn. cách hiểu thứ hai: ông là người tài hoa, có thể sánh ngang với trời đất; lồng ở đây được hiểu là trời đất, vũ trụ, theo quan niệm xưa thì đất vuông, trời tròn. có lẽ cách giải thích thứ hai thuyết phục hơn, nhất quán hơn cách giải thích thứ nhất; đặc biệt nếu nó nằm ở nguồn cảm hứng xuyên suốt bài thơ, thì cách giải thích này càng có thẩm quyền. Hơn nữa, nội dung của hai dòng đầu thường sẽ chi phối toàn bộ bài thơ, nhưng cảm hứng chủ đạo trong bài thơ này là niềm tự hào và ngất ngây, không phải than thở trước sự mất tự do. hi van la nickname cua nguyen cong tru. nói thẳng về bản thân, hét lên tên của một người và nói đó là một cách rất tốt để thể hiện nguyễn công. trước khi thổi kèn lớn, hồ ly xuân hương cũng đã từng gọi:

Miếng trầu cau nhỏ xinh này đã được làm sạch rồi

(mời trầu)

và tác giả truyện kiều cũng đã từng xưng tên mình trong câu thơ than thở của doc tieu thanh:

<3

nhưng thực tế chưa ai xưng danh để rồi dám khẳng định mình là người tài hoa như Nguyễn Công Trứ. tuy nhiên, câu thơ của tác giả nói về chính mình, nhưng cũng giống như nói về người khác, nói với sự tự nhiên và hồn nhiên.

khi thủ khoa, khi tham mưu, khi thống đốc đông, kể cả chủ đông, tay ngây ngất, lúc bình, lúc đánh cờ tướng, thỉnh về dinh của đoàn thua thien

Đoạn thơ trên bộc lộ sự tự khẳng định, tự hào về tài văn, võ. tuy nhiên, cái hay của đoạn thơ trên trước hết xuất phát từ thái độ chân thành, hồn nhiên, thật thà của tác giả. Tiểu sử Nguyễn Công Trứ Quả có ghi: Năm 1819, ông thi đỗ Hương cống; bảy năm sau, Nguyễn Công Trứ làm Thượng thư bộ công và năm 1831, ông trở thành Tổng đốc tỉnh Đông (Hải An). năm 62 tuổi được cử đi đánh thành tây … tuy là người xuất thân làm quan nhưng Nguyễn Công Trứ đã từng chỉ huy côn đồ ở biên giới phía Bắc, đánh giặc ở biên giới Tây Nam, rồi bị trấn áp. . nổi loạn.

Sau câu thơ đầu tiên đã bàn ở trên, điều rất quan trọng là tạo điều kiện cần thiết để tác giả bộc lộ một lối sống ngất ngưởng ở những câu thơ sau bằng một giọng tự sự nhưng rất duyên dáng của anh ta. của cuộc sống:

môn học giải phân số hàng năm. con bò vàng và con ngựa được mặc. ở đó núi mây trắng bao phủ, tay cầm cung phải bi thương. dừng lại.

Đối với những người giàu có và quý tộc ngày xưa, ngựa là phương tiện di chuyển chính. cưỡi ngựa là biểu hiện của sự sang trọng và quyền lực. nhưng ông lão vĩ đại không giống người đời: không cưỡi ngựa mà cưỡi cỗ xe do con bò vàng kéo, rong ruổi khắp nơi. Ngoài ra, trước cửa xe, anh còn để lại bốn câu thơ bằng băng phiến:

Xuống ngựa, lên xe, tưởng rằng người thường mùi suy thoái, thăng quan tiến chức; dien vien dạo quanh xe bò với chiếc khăn che mặt sẵn sàng che miệng thiên hạ

Trên thực tế, có một sự tương phản mạnh mẽ trong con người của Nguyễn Công Trứ. sự tương phản này tạo nên sức hấp dẫn của tác giả, một tay xuất thần: một con bò vàng đeo dây nịt ngựa, cúi đầu chào từ bi, đi chùa mà mang theo một cặp dì ghẻ. điều đó làm cho ống xả êm ái cũng có cảm giác ngốc nghếch.

thì tại sao Nguyễn công tử sống giữa chốn phồn hoa danh lợi mà vẫn bình thản, tự tại bình thường trong cuộc sống, nhất là đối với một vị quan triều đình ở một nơi vốn dĩ bất công? Có lẽ vì một lẽ đơn giản trong tiềm thức, trong ý thức sâu xa của anh, anh không màng đến những được và mất trong cuộc sống. Tôi còn nhớ trong gần ba mươi năm làm quan, có lúc Nguyễn Công Trứ làm tướng, có lúc chỉ là lính thái thú vùng biên ải. tuy nhiên, anh ấy luôn bình thản như gió xuân, mặc kệ người ta khen hay chê:

mất dương quang, thiên hạ thanh cao, khen chê ngọn đông phong.

và gốc rễ của thái độ sống này, của sự xuất thần này, là nhận thức đầy đủ về bản thân, về cá nhân của mình, cũng như ý thức về tài năng và đức tính của một người.

ở câu cuối của bài thơ, một lần nữa, cụ Nguyễn Công Trứ đã nhấn mạnh cảm hứng dạt dào với câu: “ai ngất ngưởng ở triều đình như em?”. cụm từ nghi vấn, nhưng là một câu khẳng định: trên đời này không có ai độc đáo, cao ngạo và xuất thần như nhà thơ Nguyễn Công Trứ.

Lấy bối cảnh thời phong kiến, Bài ca ngất ngưởng có ý nghĩa về nhiều mặt. ít nhiều nó báo hiệu sự thức tỉnh của lương tâm cá nhân, cá nhân trong hoàn cảnh mà bản ngã không được thừa nhận. ghi một bước tiến quan trọng trong lịch sử dân tộc theo hướng dân chủ hóa.

Ngày nay, lối sống và cách sống hào hoa của Nguyễn Công Trứ có thể cần được nghiên cứu một cách cân nhắc. tuy nhiên, bài thơ ngất ngưởng vẫn có ý nghĩa, trước hết là vì nó khuyến khích người đọc sống mạnh mẽ, sống có ích để cuộc sống ngày càng ý nghĩa hơn, không chấp nhận cuộc sống tẻ nhạt, vô nghĩa.

phân tích bài hát exultant – mẫu 6

ngay cả khi chưa có tước vị, Nguyễn Công Trứ đã từng tự hứa với mình: “có danh với trời, ắt có tên với núi, có sông” (đi tự vịnh). không có thì thôi, chỉ cần có quyết tâm và đặc biệt là có tài, nhưng hai thứ đó, nguyễn công công nghĩ mình có đủ. Được hỗ trợ bởi những thành công trong sự nghiệp, theo thời gian, sự tự tin của anh ấy ngày càng mạnh mẽ. anh ta ngây ngất và cảm thấy rằng anh ta được hưởng cực lạc: ngây ngất trong cuộc sống và trong thơ ca, ngây ngất từ ​​khi còn là một học giả, khi anh ta ở giữa hư không cho đến khi anh ta ở ngoài vòng tròn. với anh, ngất ngây là một giá trị, một sự khẳng định giá trị. tự nhiên là bạn có cả một bài thơ về xuất thần, đặt nó ở mức độ ý thức, tức là nói về nó, nói về nó trực diện -chúng ta đang nói về bài thơ xuất sắc- hay nhất của nguyễn công tru: bài hát xuất thần!

Từ trước đến nay, trong cuộc sống, từ ngất ngưởng vẫn được dùng, hiểu theo nghĩa chính: một là tư thế ngồi, tư thế tồn tại bấp bênh trên cao, lắc lư, dễ ngã, dễ ngã; thứ hai là cách sống, thái độ sống, cách ứng xử có phần khác biệt, thậm chí bất chấp những chuẩn mực thông thường được mọi người chấp nhận.

trong bài thơ của Nguyễn Công Trứ, từ “phi thường” được dùng chủ yếu với nghĩa thứ hai, nghĩa là chỉ một phạm trù tinh thần. qua bốn lần xuất hiện ở các câu then chốt (câu cuối mỗi khổ thơ) và ở vị trí câu then chốt (chữ cuối cùng, trừ dòng 19, điều không được phép theo kiểu vần của thể loại), từ “ngất ngưởng” đã đảm nhận thế. đóng vai trò chính trong việc làm nổi bật chủ đề của tác phẩm.

Tham khảo: Soạn văn 9 bài các thành phần biệt lập

nhân vật trữ tình của bài thơ gần như trùng khớp với tác giả. Có thể coi đó là một bài thơ tự phụ vì xuyên suốt tác phẩm nhà thơ nói thẳng về mình, về một sự nghiệp có thể gọi là vẻ vang, một lẽ sống không ai bằng và một thái độ rất tự trọng, tự tại. mực ống. nhưng cách tự bảo đảm của Nguyễn Công Trứ cũng rất độc đáo. tác giả đã sử dụng nhiều từ và cụm từ khác nhau để gọi nó: mr., mr. chào van tai bo, mr. ngất đi và đôi tay xuất thần (còn có câu “phường han, phủ”). Khi đọc lần đầu, người đọc dễ nghĩ rằng ai đó đang nói về Nguyễn Công Trứ, bởi vì ông, đôi bàn tay đã được sử dụng như đại từ ngôi thứ ba. ở đây nhà thơ đã khách thể hoá mình, tự tách mình ra để xét mình mà không sợ cái “tôi” này là “nhỏ”. nó cần một người rất tự tin để làm điều này. nhà thơ ý thức rõ đó là giá trị hiển nhiên giữa cuộc đời, không thể phủ nhận. ông tự hào đặt mình ngang hàng với những nhân vật lỗi lạc trong quá khứ. cấu trúc câu ni… ni (“không tồi, nhạc cũng đồng, phú”) thể hiện thái độ tự trọng rất dứt khoát. Tôi nghĩ tôi đã nghe anh ấy nói: “Không sao đâu, phải không?”.

Bài ca ngất ngưởng thuộc thể loại thơ nói ngọng, gồm 19 dòng. Đi vào câu thơ đầu tiên, chúng ta đã thấy một con người xuyên qua trời đất:

vũ trụ bên trong không phụ trách. hi van tai khoa đã vào lồng. khi thủ khoa, khi làm tham mưu, khi đốc đồng, kể cả thao lược, bàn tay xuất thần.

câu thơ chữ Hán mở đầu toát lên giọng điệu trang trọng, rắn rỏi, khẳng định mạnh mẽ lí tưởng nam nhi mà tác giả tâm nguyện: trong thiên hạ, không gì là việc của mình. Tất nhiên, đây là lý tưởng chung của những người lớn lên trong môi trường Nho học và Nguyễn công tử không phát triển thêm được nữa. nhắc lại, nhà thơ chỉ muốn tái hiện trạng thái sung sức khi quyết định vào lồng. Dư âm ở câu thứ hai là một lời hứa, một thách thức, với tôi và với cuộc đời, rằng: hãy chờ xem! về hai chữ trên lồng có người cho rằng nó có vị đắng, thể hiện ý thức nô lệ, nô lệ của chốn quan trường. nhưng theo mạch thơ, “lồng” ở đây trên hết là sự lồng vào nhiệm vụ. nói về bổn phận là nói về luật của nó, không được quên. đã chơi thì phải chấp nhận luật chơi: đồng ý cho qua, đồng thời cũng phải thể hiện tài năng và lòng tốt của mình. hơn nữa, nếu “lồng” là nô lệ thì ý nhà thơ muốn nói ở đây hàm chứa niềm tự hào: dù ở trong lồng, ta vẫn phải ngất ngây, vẫn khẳng định mình như mọi khi, không phải là giai cấp. Nguyễn công quả quả có “kiêu” khi tự nhận mình là người có năng khiếu, thiên phú (tài năng) và tinh thông võ nghệ (kể cả chiến thuật). nhưng anh ta đã “kiêu ngạo” một cách hoàn toàn chính đáng.

Trong nửa đầu của khổ thơ thứ hai, anh ấy tiếp tục điểm lại những cột mốc đáng nhớ của thái giám:

khi chúng ta chơi cờ tướng, đôi khi chúng ta quay trở lại cung điện của thắng thua …

thủ khoa, cố vấn, thống đốc, đại tướng, bộ trưởng chính phủ, làm việc gì cũng thuộc hàng “đầu bảng”! cụm từ “khi” (cùng với từ “khi”) tạo nhịp độ nhanh cho câu thơ, biến toàn bộ câu thơ thành một đoạn phim quay nhanh, kể lại công nghiệp làm giàu của những con người sống vĩ đại. đáng sống ngoài ra nó còn thể hiện thái độ hy vọng của tác giả khi “kể” lại cuộc đời mình, thấy mình có thể “vỗ tay” khi món nợ đã được trả một cách công bằng. hoàn toàn có thể hiểu được tại sao khi rời thủ đô về quê, anh ấy lại ngốc nghếch như vậy:

thực hiện giải thưởng phân đội hàng năm, con ngựa vàng và con bò đang đeo nó.

Chắc hẳn, kể lại những sự kiện trong ngày đáng nhớ ấy, cụ Nguyễn Công Trứ vẫn thấy rất thú vị. thực ra anh ta là người biết hưởng thụ những hành vi vô lương tâm của bản thân. khinh ở đây là khinh đời, đối với những người không đủ dũng khí rời bỏ chức quan. dù sao thì với anh ấy, mọi thứ chỉ là một trò chơi. anh ấy đánh giá cao những gì anh ấy đã làm, nhưng đánh giá cao không có nghĩa là chỉ bám vào nó. những gì anh ấy có không chỉ có vậy, thậm chí với nhiều người, “chuyện ấy” đã có ý nghĩa rất lớn. với từ “ngất ngưởng” ở câu cuối cùng của khổ thơ thứ hai, người ta hình dung một cách sinh động dáng ngồi khom lưng của tác giả trên lưng con bò cái tơ vàng được “trang điểm” trong bộ áo ngựa – một tư thế vui đùa đầy khiêu khích, khiêu khích với “cả và “thế giới, trước hết là với hàng ngũ đông đảo các quan lại lớn và nhỏ tại triều đình.

bỏ lại sau lưng một cuộc chiến đấu hào hùng, trở về cố hương, nhà thơ thả hồn mình vào mây trắng trên đỉnh núi cao:

Kìa núi mây trắng bao phủ, tay cầm kiếm cung phải bi ai. thần tiên theo đỉnh mấy bà cô bác, ngất xỉu cũng nực cười.

Ý tưởng của các khổ thơ đưa người đọc vào cõi riêng tư, tĩnh lặng, hư vô về cuộc sống. thực ra cũng có một phần, vì màu mây trắng tồn tại trong văn học như một biểu tượng của cuộc sống thanh cao, ẩn dật. người ta nghĩ về nó rất nhiều khi họ muốn hoặc khi họ trút bỏ được những ham muốn trần tục. nhưng trường hợp của nguyễn công tử thì khác. điều anh muốn kể vẫn là biểu hiện của cái tôi kiêu ngạo vốn có trong “môi trường” mới, không phải trong lồng nhiệm vụ. cũng có nhiều câu chuyện thú vị. nhà thơ nói đùa về sự nhập vai cố tình không trọn vẹn và nửa vời của mình. wow, cung và tay kiếm bây giờ cũng nên từ bi! Anh ấy đã thực sự trở thành một người ăn chay? Không ! Hãy xem cách anh ấy làm du lịch trong chùa. khi bạn đến đất nước đó, bạn cũng phải chào. loại trừ văn học dân gian, đây có lẽ là lần đầu tiên trong văn học viết mà chúng ta biết đến một người bình dân như vậy. nguyễn công tử có đủ tài, đủ sự khéo léo để làm cho mình, nếu không phải là đồng phạm thì cũng phải nở nụ cười thật tươi tha thứ cho mình.

Đối với nguyễn công tử, việc được tháo dây ấn và trả lại cho vua là điều kiện cần để những người khác trong đó có cơ hội phát biểu. rõ ràng anh ấy biết cách sống cho chính mình:

mất dương dương thái thái, khen chê đỉnh đông phong. hát, uống, chém, dong, không có phật, không có tiên, không có vướng.

sống, trung thực nghĩa là biết quý trọng hiện tại, biết hưởng thụ và thưởng thức những thú vui của cuộc sống như thưởng ngoạn cảnh quan thiên nhiên, chùa chiền, mê ca hát, thú uống rượu và trên tất cả là tình yêu. bạn đã là một người nghiệp dư, làm thế nào bạn có thể thờ ơ với tất cả những điều đó? mất hết nên chúng ta hãy từ tốn, đừng “mím môi” coi trọng vấn đề. “khen và chê đầu phong” trước hết là sự ngu dốt, bỏ qua những lời đàm tiếu, nhưng sau đó là cảm giác nhẹ nhõm của một con người tự do, biết sống vượt lên trên những chuẩn mực đạo đức lỗi thời, chừng mực và khắc khổ. Nguyễn công thật tự nhận mình là người “không phật, không tiên, không vướng”. Chưa kể phong tục là điều mà người có học, người đàng hoàng thì không ai muốn, nhưng tốt như phật, tiên sao lại không quan tâm? trong thực tế, điều này liên quan đến một lựa chọn cá nhân, không nhất thiết phải có thái độ dị ứng với các giá trị khác tồn tại trong cuộc sống. nguyễn công tử thấy mình không giống phật nên nói vậy (phật nào tiên nữ đi chùa dẫn cả đàn con đi hát) và anh cũng hài lòng về điều đó. Các vị Phật và tiên nữ là hình mẫu của một thế giới khác, thế giới siêu nhiên. Họ không biết cách tận hưởng những thú vui trong cuộc sống. Còn tôi, tôi là người sống giữa cuộc đời, vậy tại sao tôi lại chối bỏ những niềm vui mà cuộc sống mang lại? Giống như phật và tiên nhưng không giống chính mình có nghĩa là gì? tuy nhiên, chúng tôi không phải là giáo dân, chúng tôi đã tham gia vào trò chơi với ý thức văn hóa, với lòng dũng cảm của một người tin tưởng vào tài năng và phẩm giá của mình, và đối mặt với cuộc sống với tinh thần tự do. Chúng tôi khác với những người để mình bị bản năng tình dục chi phối, không biết “chơi” theo kiểu tài tử, tài hoa và có gu thẩm mỹ tinh tế, sành điệu.

có nhiều từ ngữ ngoài từ “ngạc nhiên” xuất hiện trong hai khổ thơ 3, 4: phúng phính, toàn đỉnh, âm dương và phơi phới. rõ ràng trọng tâm của bài thơ là miêu tả cảm xúc và trạng thái tinh thần của tác giả khi thoát ra khỏi lược đồ, khác với đoạn trước thiên về tóm tắt thành tích. từ “kìa” cũng được kết hợp với sự miêu tả, như muốn giới thiệu cho người đọc một khung cảnh thật dễ chịu. Nhìn chung toàn bài thơ mang một nét hài hước rất lôi cuốn, điều này cho thấy nhà thơ khá tự hài lòng về bản thân, kể cả tự giễu cũng là tự giễu mình với một tinh thần rất tự tin. từ “khi” được dùng xen kẽ các âm, thanh trong câu “khi ca, khi đến, khi cac, khi thương” ngoài ý nghĩa liệt kê gắn với khái niệm thời gian, còn mang thêm sắc thái biểu cảm rõ ràng, thể hiện sự sự nghiêng mình thoải mái của nhà thơ trong những cuộc chơi bất tận.

thái độ sống, lối sống của nguyễn công trước đây khi ở ngoài vòng cương tỏa có những biểu hiện rất cụ thể. nhưng anh không thể nghĩ rằng anh hoàn toàn khác với con người trước đây của mình. thực ra vẫn chỉ có một vị Nguyễn công tử rất kiên định, thôi, khi đã làm quan về hưu, ông càng có điều kiện bộc lộ tư duy trác táng, hưởng lạc (sống vui, sống sung sướng) của bản thân. anh ta không mâu thuẫn với chính mình trong bất cứ điều gì khi anh ta tập hợp một người theo đạo và một người lang thang làm một, trong một bản tóm tắt rõ ràng và hài lòng về cuộc đời anh ta trong khổ thơ cuối cùng:

không ngược lại, âm nhạc cũng vào phòng của các vua han, phủ và ngay thẳng, ta ban cho bọn họ thanh liêm chính đạo, ai trong triều đình cũng ngây ngất như ngươi!

Tính phóng khoáng, mặc dù được thể hiện ở mức độ cao, nhưng không đưa nhà thơ đến một thái độ hư vô. trước sau, ông vẫn là một nhà Nho có tinh thần nhập thế và luôn tâm niệm “phép vua tôi tiên thiên hạ”. câu thơ vừa trích dẫn không được viết để bảo vệ, như một số người hiểu nó. đối với nguyễn công tử, hành đạo cần có hiệu quả, tu hạnh cần phải “say sưa”, tất cả đều có ý nghĩa. thực hành và ứng xử không thể được đặt trong một mối quan hệ độc quyền.

Nhìn chung, bài ca ngất ngưởng khẳng định lí tưởng sống hoà hợp giữa cuộc đời và bản thân. cả bài thơ là giọng điệu khẳng khái. Tôi không thấy hối hận hay nghi ngờ gì ở đây. Nguyễn Công Trứ đã chứng tỏ tài năng của mình bằng việc thực hiện lí tưởng yêu nước Trung Quân, thực hành đạo nghĩa cứu đời. ông đã duy trì bản tính hào phóng và phóng khoáng của mình cả khi mới nhậm chức và khi phục vụ chính thức. Không giống như nhiều người, ông đã cam chịu vị trí của mình trước bao nhiêu cám dỗ một cách nhẹ nhàng và kín đáo. anh ấy bước vào trận đấu một cách thoải mái, như một người đam mê, dám cống hiến hết mình. anh ấy có thể nói một cách không xấu hổ, với bản thân và với thế giới, “người nào cũng xuất thần trước tòa như anh ấy vậy”.

XEM THÊM:  Soạn bài Cô bé bán diêm | Ngắn nhất Soạn văn 8

với một con người, điều khó khăn nhất là kiến ​​thức bản thân. nguyễn công truân là người tự biết mình. sự hài lòng của anh ta được đảm bảo bởi một cuộc sống dư dả, bởi sự hiểu biết của bản thân. nó không gây “lóa mắt”, ngược lại tạo được sự tôn trọng ở mọi người, ở người đọc.

Nói đến sức hấp dẫn của ngôn từ thơ trong bài ca ngất ngưởng, có lẽ không thể bỏ qua cách sử dụng ngôn ngữ truyền miệng táo bạo của nhà thơ. khi bạn đi ra ngoài, hãy sử dụng các đại từ như anh ấy, tay. thể hiện hồn thơ “núi nọ mây trắng”. khi buộc phải so sánh, “không tệ, âm nhạc cũng thuộc loại han, phu”, …

thì nhiều từ thông tục và thông tục đã được “vận dụng” một cách linh hoạt. là trong lồng, tay kiếm và cung, một vài dì, vô lý, chỉ đường. Do đó, tính chất ngôn từ đã tạo cho bài thơ một vẻ đẹp sinh động và gần gũi, hoàn toàn phù hợp với tính cách của tác giả và cũng phù hợp với âm hưởng đối thoại mà ông muốn có (không phải đối thoại trực tiếp mà đối thoại ngầm với các hình thức khác của cuộc sống, lối sống – tầm thường và khiêm tốn). nhờ cô ấy, chúng tôi nhận được bài thơ như lời nói trực tiếp hoặc giọng nói. người đọc hoàn toàn có thể hình dung rằng đi kèm với những câu thơ là ánh mắt giễu cợt, nụ cười hóm hỉnh và dáng vẻ đung đưa của một người đang bình thản bước qua cuộc đời.

câu thơ được nói là “hình thức thơ của cá nhân và con người tự do”. số lượng giọng không hạn định trong câu thơ và không giới hạn số câu trong bài thơ (nhất là với thể thơ thất ngôn tứ tuyệt) đã cho phép tác giả thể hiện một cách vui vẻ nguồn cảm hứng dồi dào của mình. không những vậy, việc chuyển đổi các vần bằng, vần xen kẽ trong câu văn, khổ thơ; sự biến đổi đa dạng trong nhịp điệu của khoảng dừng; phép trộn nửa thông báo và nửa ngôn ngữ han; sự xuất hiện của nhiều từ lóng, nhiều ám chỉ đã tạo cảm giác cho nhà thơ không phải đối diện với sự gượng gạo, muốn kể, muốn tả, muốn nghiêm, muốn đùa. điều quan trọng là anh ta có thể tận dụng tính chất tự do và dân chủ đó của thể loại này để bày tỏ tình cảm và suy nghĩ của mình. Có thể nói, với thơ và khẩu, Nguyễn Công Trứ đã hoàn toàn là chính mình. thơ nói đã mang lại cho nền văn học Việt Nam một danh nhân Nguyễn Công như chúng ta đã biết, và ngược lại, thể thơ nói đã có một vị trí vinh dự trong thể loại văn học của dân tộc.

phân tích bài hát swoon – mẫu 7

Nguyễn Công Trứ không chỉ là một nhà văn mà còn là một nhà thơ, nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam nói chung và văn học trung đại nói riêng. Nguyễn Công Trứ sáng tác rất nhiều, nhất là thơ và văn, qua những sáng tác này càng thể hiện rõ nét phong cách độc đáo của ông. và có thể nói bài thơ “Bài ca ngất ngưởng” – tác phẩm được coi là bản tổng kết cuộc đời của Trạng nguyên là một trong những sáng tác tiêu biểu nhất của ông.

đọc bài thơ “ngất ngưởng” của nguyễn công, người đọc sẽ dễ dàng nhận ra “thừa” là cảm hứng xuyên suốt bài thơ, nó xuất hiện bốn lần trong tác phẩm. vậy từ “ngạc nhiên” trong bài thơ nên hiểu như thế nào? Như chúng ta đã biết, “nghiêng” là một từ lóng dùng để chỉ độ cao: cao hơn người, vật khác và luôn trong tình trạng nghiêng, đổ, không hoàn toàn ổn định nhưng cũng không thể đổ. được thôi.

tuy nhiên, trong vở kịch, “bất ngờ” không được dùng với nghĩa đó, mà được dùng ở một cấp độ nghĩa khác, đó là phong cách sống và thái độ sống của tác giả. và với cách hiểu đó, chúng ta sẽ thấy bài thơ có nhiều điều hay và thú vị.

trước hết, trong sáu dòng đầu của bài thơ, tác giả đã thể hiện rõ sự xuất thần khi đương chức. Trước hết, sự xuất thần của quan văn thể hiện ở chỗ khẳng định được vai trò, vị trí của một người trên trời dưới đất:

vũ trụ bên trong không hoạt động. Ông. chào van tai đã vào lồng

với hai câu thơ, tác giả đã thể hiện thái độ của mình về vị thế của mình. đối với ông, vạn vật trong vũ trụ, trời đất đều là việc của ông, đồng thời ông coi luân hồi là cách để thể hiện tài năng và trí tuệ của mình. và rồi từ câu nói đó, anh ấy đã thể hiện, thể hiện tài năng và vị thế của mình:

khi thủ khoa, khi tham mưu, khi tổng đốc đông bao mưu lược, tay ngất ngưởng khi trở về phủ tướng quân.

Trong bốn câu thơ, tác giả đã sử dụng hàng loạt từ Hán Việt: thủ khoa, tham mưu, đồng đốc, v.v. cùng với lối liệt kê, điệp ngữ, từ đó cho người đọc thấy được tài năng và chức tước của ông. Có thể thấy, Nguyễn Công Trứ là người văn võ song toàn, giữ nhiều chức vụ quan trọng trong đời làm quan. Như vậy, trong sáu dòng đầu của bài thơ, tác giả đã nói lên tài năng và danh vọng của mình với một thái độ trang trọng, nhấn mạnh và tự hào.

Không chỉ ngất ngây ở chốn quan trường, Nguyễn Công Trứ còn ngất ngây trong nếp sống sau khi công quan về hưu được thể hiện chân thực, rõ nét trong mười ba câu còn lại của bài thơ. Trước hết, lối sống ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ khi về hưu được thể hiện ở một lối sống khác, khác biệt và dung dị.

bác sĩ phân đội hàng năm của những con bò và ngựa vàng ấn tượng

hai câu thơ đã gợi lên trước mắt ta tư thế lom khom của tác giả trên lưng con bò vàng được trang trí bởi những chiếc bẫy ngựa – một dáng vẻ khác thường, như muốn khiêu khích, cám dỗ. rồi thả hồn vào mây trắng, núi cao, dáng vẻ hào hoa của tác giả vẫn không thay đổi:

Có núi mây trắng, cung kiếm mà hình chữ dung mạo theo hết đỉnh núi, có một đôi Phật cũng nực cười.

có lẽ trong văn học chúng ta chưa từng thấy một người nào đi ngang qua chùa như Nguyễn Công Trứ. vãn cảnh trong chùa, một nơi cao quý, trang nhã nhưng lại có người hầu gái. ngoại hình của anh ấy, cách sống đó cũng khiến tôi phải chào và cười.

Đồng thời, trong lối sống của mình, Nguyễn Công Trứ không quan tâm nhiều đến thắng thua, khen chê, chê bai vì đối với ông, ông không biết cái nào hơn cái nào.

Khi mất dương, người Thái khen và chê ngọn đông phong.

Hơn nữa, ở Nguyễn Công Công, chúng ta còn thấy được một phong cách sống tự do và thỏa mãn, làm những gì mình muốn, không vướng bận những hủ tục.

uống rượu, ca hát, uống rượu đồng, không phật không tiên, không vướng bận

thì có thể thấy, thái độ và lối sống của nguyễn công trước khi nghỉ hưu có những biểu hiện rất cụ thể. tuy nhiên, anh vẫn tìm thấy nhiều điểm tương đồng với kiếp trước, anh vẫn là một người hầu trung thành. và sau đó, anh tự tóm tắt cuộc đời mình một cách rõ ràng và hài lòng ở những dòng cuối cùng của bài thơ.

không tồi, âm nhạc cũng vào phòng han, vương phi ban cho ta một tôn tử hoàn mỹ ngây ngẩn cả người!

Tóm lại, bài thơ “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ với giọng điệu khẳng khái, lối nói táo bạo đã một lần nữa cho ta thấy vẻ đẹp nhân cách của tác giả: một con người tài hoa, lí tưởng sống chan hoà giữa cuộc đời và chính mình. . .

phân tích bài hát đang hot – bài mẫu 8

Nguyên công tử tự, hiệu là hi văn, sinh năm 1778, quê ở thôn uy viên, huyện nghi xuân, tỉnh hà tĩnh. Thân sinh là Nguyễn Tốn, hiệu Đậu Hương Công, từng làm Tri phủ Tiên Hưng (Thái Bình), sau do phong trào phản đối Tây Sơn nên triều đình phong cho ông là Đức Nghi Hầu.

Nguyễn Công Trứ là một cá nhân hiếm có, tài năng về nhiều mặt, sớm vạch ra con đường thăng tiến trong sự nghiệp, được vinh danh. Thời trẻ, Nguyễn Công Trứ siêng năng học hành nhưng đến năm 42 tuổi mới thi trượt. Cuộc đời làm quan của ông thăng trầm bất thường nhưng ông luôn ấp ủ chí lớn, giữ vững đạo nghĩa của Trung Nguyên Quận Công bằng việc hăng hái làm tròn chức trách, nghĩa vụ, thậm chí nhiều lần đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa của nông dân. , nhưng bạn không thể đánh mất yếu tố tiến bộ của cây nho chân chính.

Khi còn là một Thượng thư, ông đã nổi tiếng về tính chính trực. trong việc thu hồi đất trống, đắp đê lấn biển. Nguyễn Công Trứ đã đem lại lợi ích cho nhân dân nhiều nơi, nhất là vùng Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình). Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, tuy đã 80 tuổi nhưng Nguyễn Công Trứ vẫn dâng sớ cầm quân đánh giặc. cùng năm đó, anh ấy qua đời.

nguyễn công tử là một hiện tượng đặc biệt về một học giả có cuộc sống phóng túng và tính cách tự do, độc đáo. phần còn lại của thơ Nguyễn Công Trứ gồm khoảng 50 bài thơ, hơn 60 bài ca trù và một bài châm biếm, tất cả đều được viết bằng chữ viết. Ngoài ra, còn có một số bài thơ chữ Hán và một số câu đối.

Song of Ecstasy là tác phẩm được viết sau năm 1848, khi Nguyễn Công Trừng Quán quân về hưu. đây là tiếng thơ sau cuộc đời thăng trầm. Thời kỳ suy tàn của chế độ phong kiến ​​ở Việt Nam được đánh dấu bằng sự xuất hiện của một con người khao khát tự do (như con chim trong lồng nghiêm trang), một anh hùng “thời loạn” (như xu hai trong truyện Kiều). ), người phụ nữ “nổi loạn” (trong thơ hồ điệp hương) …

cũng là phản ứng trước hoàn cảnh, nhưng ở nguyễn công tử, biểu hiện chủ yếu là quan niệm và lối sống dưới dạng phóng đại hình ảnh của một cá nhân lên thành hài hước. trong mắt người dân và danh dự của người Hy Lạp, đó là sự xuất thần. bài thơ được viết theo thể ca trù hay còn gọi là ca dao, một thể thơ tự do về nhịp điệu và từ ngữ. ở đây, hãy trổ tài phù hợp với nội dung cảm xúc của bài thơ.

kết cấu của bài thơ gần giống bài thơ nói, được chia thành nhiều đoạn gọi là khổ thơ). mỗi đoạn đều kết thúc bằng một câu có từ “bất ngờ”, soi sáng những góc độ khác nhau về hình tượng nhân vật trữ tình, dựa trên cảm hứng nhân văn chủ đạo và ý nghĩa chống phong kiến.

Con người tuyệt vời của nguyen cong trước hết là con người tài hoa và danh vọng. Dòng mở đầu bằng chữ Hán tóm tắt quan niệm của Nguyễn Công Trứ về thân thế: “Nội vũ trụ không có phận sự”. Đây là quan niệm mà ông đã nêu trong nhiều bài thơ, cho rằng con người chúng ta do “ý trời sinh ra” (“trời đất sinh ra ngô đồng ý” – trời đất sinh ra ánh sáng có ý định), thì nó là cần thiết để có một trách nhiệm. trách nhiệm, phải gánh vác công việc của thế giới (vũ trụ phụ trách “- mọi việc trong vũ trụ đều do chúng ta đảm nhiệm).

Ở Nguyễn Công Trứ, quan niệm này gắn liền với tư tưởng “dĩ hòa vi quý”, với ý chí làm người và chí khí anh hùng mà ông theo đuổi bằng tất cả sự tự tin và lạc quan trong suốt cuộc đời. . đằng sau ý niệm đó là sự hiện diện của một người nổi tiếng và tài năng:

<3

lời tự sự thông qua các nhân vật tên tuổi, quan lại, nhân tài đã lột tả được ý thức về bản thân của một cá nhân, mức độ bộc lộ diện mạo: “ông tơ bà nguyệt”. câu thơ còn mang ý nghĩa trào phúng: người to lớn như vậy mà nhốt vào lồng chật hẹp. nhưng trò đùa nhỏ này thực chất là để khẳng định lòng tin của công chúng đối với nguyen cong.

Bạn không biết rằng địa điểm chính thức có đầy những sợi dây có thể buộc lại. về hình thức diễn đạt có sự kết hợp có hệ thống từ Hán – Việt và từ ngữ: Từ Hán Việt về quan lại, chức tước thể hiện tài năng thành đạt gắn liền với xã hội phong kiến.

còn, nom là những từ ngữ thông dụng được sử dụng linh hoạt trong các câu thơ dài, ngắn, nhịp điệu nhịp nhàng, mở rộng thể hiện một cá thể tự do, đồng thời chỉ rõ cội rễ của giới hạn trong con người đó là gì: “bao gồm những chiến lược thao túng đã trở thành bàn tay xuất thần ”. do đó, con người xuất thần ở đây chính là con người cũng là cơ sở để con người vượt qua mọi giới hạn.

Sự ngất ngây trong thơ nguyễn công công là sự ngất ngây của sự đạt được và mất đi cuộc sống. Cuộc đời của Nguyễn Công Trứ được ghi nhận về những thành tích và sự thăng quan tiến chức.

“dĩ hòa vi quý, cờ tướng thỉnh về cung thắng thua.”

nhưng cũng có những thất bại, cay đắng. Sử sách ghi lại, Nguyễn Công Trứ trở thành tướng quân, khi bị tước làm thái thú, sự thăng tiến hẳn là nhờ tài năng siêu việt. nhưng những gì về hạ cấp? và có những bình luận công khai. Nguyễn Công Trứ đã thấy rõ đằng sau những bất công mà ông phải gánh chịu là mặt tối của xã hội phong kiến. khi cần thiết, anh ta tố cáo gay gắt:

“trạng thái của cô chủ thật kinh tởm, hình như cái túi đã đầy.”

(thuộc về hiện trạng)

tuy nhiên, cách thể hiện thái độ mà nguyễn công công đặc biệt chọn là đối lập tính cách của mình với bình thường bằng một thái độ tự mãn và một nụ cười tự mãn. Sử sách chép lại, khi về hưu, Nguyễn Công Trứ thường cưỡi con bò vàng đến nhạc ngựa và còn buộc một con nai sừng tấm vào đuôi con bò, cho rằng đó là để che miệng thiên hạ. và coi đó là một thứ thuốc lắc: “cưỡi ngựa vàng, đánh giày cho bò và đánh giày.”

Bên trong tiếng cười và cử chỉ đó là triết lý tự nhiên của sự được và mất: “thắng, thua, dương và tăng”. Nguyễn Công Trứ đã áp dụng câu chuyện kinh điển “ngựa quen đường cũ” để vạch trần bản chất của xã hội và đưa ra quan điểm của mình. xã hội đầy biến động của triều đại nguyễn thành thiếu đi kịch bản “chó lên, xuống chó” và đó là mảnh đất sinh ra khái niệm may rủi.

có điều là ở một người có bản lĩnh và lòng tự tin như Nguyễn Công, quan niệm đó không thể biến thành hoài nghi làm nản lòng mọi người hoặc đẩy họ đến tư tưởng “không cho đi” của người xưa. ngược lại, nó mang lại cho bạn một lý lẽ để bạn không phải lo lắng về cuộc sống “nóng lạnh” và thêm phần “âm thịnh dương suy”.

tuy nhiên, đối mặt với “được và mất” cũng đồng nghĩa với việc đối mặt với giàu sang, nghèo khó, danh dự và xấu hổ, vốn là những giá trị vật chất và tinh thần truyền thống. nếu hiểu như vậy thì chúng ta sẽ thấy những người “dương thế” và “áp đảo” thực sự là những người có tài năng và phẩm chất vượt lên trên những thế lực đã ngự trị lâu đời trong đời người.

sự thái quá còn thể hiện ở phong cách và lối sống. ở Trạng nguyên có con người lý tưởng của bậc phong kiến. nhưng cũng có những cá nhân sống trọn vẹn; có người hành động nhiệt tình, lạc quan và người có thú vui theo đuổi thú vui: “kiếm cung… đôi gái” Nguyễn Công đã dồn hết tài năng và cảm hứng để vẽ nên bức tranh cuộc sống bằng ngôn từ . : từ ngữ miêu tả màu sắc, đường nét {“phau phau”, “đầy đỉnh”, “phơi phới”), những ám chỉ kết hợp với nhịp thơ phóng khoáng (“hát, uống … không phật, không tiên …”)

Khả năng biểu đạt phong phú của tiếng Việt đã thể hiện rõ sự trác táng, ham mê của con người họ Nguyễn. tuy nhiên, đây không chỉ đơn giản là một nhu cầu thơ theo chủ nghĩa khoái lạc. Nguyễn Công Trứ đã nêu lên những gì được miêu tả như một phong cách, một lối sống và dụng ý nghệ thuật của nhà thơ là biến nó thành một hình tượng trái với những giáo điều phong kiến.

Tư tưởng Nho giáo đòi hỏi mỗi người phải có trách nhiệm với cộng đồng, nhưng lại phủ nhận cái “tôi” và áp đặt một lối sống khắc nghiệt và vô nhân đạo lên con người. và Phật giáo, Đạo giáo dẫn dắt con người trên con đường giải thoát và giải thích rằng việc đáp ứng các nhu cầu của cuộc sống con người là nguyên nhân của đau khổ. Từ cuộc sống mà mình sở hữu, Nguyễn Công Công đã hướng về “cõi tiên”, “phật cảnh” vì nhìn thấy ở đó một thế giới thiên nhiên tươi đẹp gắn với những tư tưởng siêu hình thời phong kiến ​​để vươn lên một kiếp người đích thực.

đoạn cuối bài thơ Trạng nguyên tập hợp nhân cách của ông với những đặc điểm: tài hoa, có hoài bão lớn, sống trong xã hội phong kiến ​​không thể không thấy con đường và lí tưởng của xã hội là thi thố tài năng, lập thân. sự nghiệp; cá tính mạnh mẽ, tự tin và ý thức cá nhân có đủ điều kiện chủ quan và tiền đề xã hội để chống lại hoàn cảnh và giải phóng nhân cách. tổng hợp những khía cạnh đó ở một người, tạo ra một phong cách sống tuyệt vời.

từ “bàn tay ngất ngây”, “ông phật cũng lâng lâng, ông ngất ngưởng” đến “trong triều đình ai ngất ngây như ông”, bài thơ đã mang đến sự khẳng định, hơn là khẳng định bản thân. từ một con người điển hình trở thành một loại người có bản chất phi chính thống khoác lên mình màu sắc hiện đại “tôi” trơ trẽn tồn tại giữa lòng xã hội phong kiến.

phân tích bài hát hot – mẫu 9

nguyễn công tử, một cái tên thực sự quen thuộc và gần gũi đã được nhiều người Việt Nam từ xa xưa nhắc đến như một lời tri ân thành kính đối với công lao khai phá ra hai vùng đất trù phú: tiền:. hải (thái bình) và kim sơn (ninh bình). nhưng không phải vì thế mà chúng ta quên đi một nghệ sĩ tài hoa, một con người đầy cá tính đã khẳng định được cái tôi riêng của mình, hun đúc nên một nhân cách, một dũng khí trong cuộc sống và sáng tạo nghệ thuật. “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ sẽ cho chúng ta thấy rõ bản lĩnh bất khuất của chính bà.

Theo “Từ điển tiếng Việt”, xuất thần được hiểu là ở một vị trí không vững chắc, lắc lư, nghiêng ngả như sắp đổ, tuy nhiên, hai chữ xuất thần trong bài thơ lục bát này phải được hiểu theo một nghĩa nào đó. ngược lại, ở đây cực lạc phải được hiểu là gắn liền với một cách sống, một thái độ sống.

Có như vậy chúng ta mới hiểu được con người Nguyễn Công Công: một con người có lối sống khác biệt, bất chấp mọi thế lực của cuộc đời, một lối sống được khẳng định bằng tài năng tuyệt vời của ông. cả bài thơ không chỉ là lời giải bày nỗi niềm của riêng mình mà còn được xem như một lời tự thuật về cuộc đời, là niềm tự hào đối với một con người có nhiều công lao, tiền tài. Đồng thời cho ta thấy một lối sống tài tử phóng khoáng của Nguyễn Công. đông lạnh

mở đầu bài thơ là lời khẳng định về quan niệm sống của một con người: vũ trụ bên trong không hoạt động. (không có gì trong vũ trụ mà không phải là nhiệm vụ của chúng ta). Câu thơ âm vang chắc nịch, khẳng định mạnh mẽ và tự hào về quan niệm đạo làm con của Nguyễn Công. đây là một quan niệm cho thấy rằng nguyễn công tử luôn ý thức về bản thân và luôn xác định được vị trí của mình trong cuộc sống.

Điều này đến từ một học giả tài năng. Câu nói này của Nguyễn Công Trứ đã được khẳng định như một chân lý và lặp đi lặp lại như một mệnh đề quen thuộc trong thơ ông. vũ trụ phụ trách (mọi thứ trong vũ trụ đều thuộc trách nhiệm của chúng ta – nợ đấu tay đôi). hay trong bài “loan luân báo hiếu”, nguyễn công trù cũng nêu rõ: vũ trụ có bổn phận sân hận (việc trong vũ trụ là bổn phận của chúng ta)

Nói điều này để khẳng định rằng, nguyễn công tử luôn xác định cho mình một quan niệm sống tích cực, đồng thời thể hiện rõ ý thức tự giác của tác giả. Chính vì luôn ý thức được vị trí của mình trong trời đất mà Nguyễn Công Trứ không ngại khẳng định quyết tâm làm trai của mình, tác giả lần lượt chứng tỏ cho người đọc thấy tài năng và cái tôi của chính mình:

ông hi van tai bo nhập lồng khi diễn thuyết từ biệt, khi tham mưu, khi đồng toàn quyền bao mưu lược, tay ngây ngất.

Trạng nguyên vừa khai khoa, vừa khẳng định tài năng (tài năng lớn, nhiều mặt) của mình với các tên thật: Thủ khoa, Tham tán, Thống lĩnh. câu thơ được viết so le thành một nhịp ngắn chậm rãi với việc sử dụng phép điệp ngữ để tạo nên một câu nói đầy tự hào. Tuy nhiên, trong bài thơ không chỉ xuất hiện một thiên tài nguyễn công mà còn là một thiên tài kinh tế nguyễn công nữa:

lúc thái bình, cờ tướng, thỉnh về cung thắng thua.

như vậy qua đây chúng ta có đủ cơ sở để khẳng định một người có tài năng thực sự và luôn ý thức được tài năng của bản thân. Đây cũng là sự khẳng định cái tôi của Nguyễn Công Trứ, là một phần của phẩm chất mà ông tự hào gọi là Bàn tay tĩnh lặng. để chúng ta có thể hiểu cực lạc theo nghĩa tích cực, bao gồm cả sự khẳng định bản ngã của mỗi người. Một tên nguyễn công, tài giỏi như vậy, nhưng khi trở về đời thường, hắn lại là một kẻ kiêu ngạo và giễu cợt:

tiến sĩ của sự phân chia hàng năm của năm con ngựa vàng và con bò mặc quần áo cho anh ta.

vì vậy anh ấy không ngại thể hiện một cách sống rất khác biệt và khác biệt:

Có núi có mây trắng, có kiếm có cung, nhưng hình dáng của tiên cố chấp theo hết đỉnh của mấy bà cô chú cũng nực cười.

Ông là một nhà Nho, ông đã từng là một danh tướng, ông đã từng đánh trận đó, nhưng ông đã sống một cuộc sống giản dị nhân ái như vậy. tuy nhiên, lối sống đó của quần chúng nói trên không bình thường chút nào: đi lễ chùa mà nói: “thần tiên theo đầu mấy dì” là coi thường người đời, chế giễu cuộc đời, có lẽ hiểu như vậy là một. -sang. vì nguyen cong cong là người biết chơi theo quan niệm sống hết mình và chơi hết mình.

trong thế giới của trò chơi … Tôi biết rằng mùi chơi không dễ dàng với nhiều người hoặc anh ấy đã từng tuyên bố rằng nếu anh ấy không chơi thật thì ai bù cho … nên cũng có thể hiểu rằng đó là một lối sống phóng túng, không chịu bó buộc. bài thơ được Nguyễn Công Trứ miêu tả bằng nụ cười hóm hỉnh của tác giả, nhiều niềm tự hào, có lẽ là tiếng cười trước sự khen ngợi và chê bai của thế gian, có lẽ là cả hai, vì một điều đơn giản.

mất dương, người Thái khen, chê ngọn đông phong

Con nguyên công tử, một khi đã ra khỏi vòng danh lợi, những điều được, mất và chỉ trích trong cuộc sống phải bỏ qua, giống như gió đông thổi qua. điều này chỉ có thể đạt được khi mọi người tin tưởng vào tài năng của họ. đó cũng chính là nét ngất ngây của Nguyễn công tử chứa đựng cốt cách sống phóng túng hiếm có của ông. Đó là lý do tại sao anh ấy có một cuộc sống hạnh phúc và cao quý:

Khi hát, khi uống, khi uống, khi không có phật, khi không có tiên, bạn không bị cuốn theo thói quen.

Câu thơ được ngắt hai nhịp, kết hợp với cách diễn đạt lặp lại tạo nên câu thơ chậm rãi, thể hiện phong cách nhẹ nhàng, thanh cao của nhà Nho Nguyễn Công. một thái độ sống như vậy xuất phát từ một con người luôn chắc chắn về bản thân, luôn tự ý thức về bản thân. sự tự kiểm tra được thể hiện hết sức rõ ràng trong khổ thơ cuối:

không tồi, âm nhạc cũng vào phòng han, vương phi ban cho ta một tôn tử hoàn mỹ ngây ngẩn cả người!

Nguyễn Công Trứ đã tự khẳng định mình là người trung nghĩa, tuân theo đạo vua tôi, điều này càng khẳng định quan niệm về người con của tác giả ở đầu bài thơ. so với các anh hùng như yue fei, han ky, phu bo … từ triều đại han, tong ở trung quốc.

Tác giả đã khẳng định tài năng và công lao của mình bằng lối viết anh hùng. đó cũng có thể coi là lời tuyên bố tự hào về bản thân tác giả. Sau đó, Nguyễn Công Trứ đã tự hào tuyên bố: Ai trong triều đình ngất ngưởng như người!

như vậy đến đây chắc hẳn chúng ta đã hiểu rõ về sự xuất thần của nguyễn công tử. đó không gì khác hơn là thái độ và cách sống của một nhà Nho tài tử. Nguyễn Công Trứ có được điều đó từ tài năng, tên tuổi, từ việc hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. vì vậy sự xuất thần của anh ấy không phải là tiêu cực mà là sự khẳng định bản thân, lòng dũng cảm sống trong cuộc sống và một lối sống nghiệp dư và tài năng.

cùng với những bài thơ khác như đi tự vịnh, chí làm trai, đấu nợ, trả lòng trung nghĩa… bài thơ ngất ngưởng đã một lần nữa vẽ rõ chân dung nhà thơ. đây là cách sống, là phong cách nghệ thuật của con người và thơ văn của Nguyễn Công Trứ – phong cách xuất thần.

phân tích bài hát đang hot – mẫu 10

Nguyễn Công Trứ là một người thông minh, tài giỏi, có nhân cách nhưng cuộc đời làm quan lại nhiều thăng trầm. ông đã để lại nhiều sáng tác độc đáo trong kịch bản du mục cho thế hệ sau, và ca hát được cho là thể loại mà ông thành công nhất. thuộc thể loại thanh nhạc, “el canto ectático” có thể coi là một trong những sáng tác tiêu biểu nhất của ông. tác phẩm thể hiện rõ bản lĩnh cá nhân của nhà thơ và gợi lên trong mỗi người những bài học sâu sắc, quý giá.

Như bạn có thể thấy, “sự ngạc nhiên” là nguồn cảm hứng chính xuyên suốt và xuyên suốt toàn bộ bài thơ. Với bốn lần xuất hiện trong tác phẩm, từ “bất ngờ” mang nhiều ý nghĩa độc đáo. theo nghĩa đen, bạn có thể thấy đó là một từ lóng dùng để chỉ độ cao ở trạng thái không ổn định, sắp rơi nhưng không rơi. tuy nhiên, trong bài thơ, “ngạc nhiên” còn có một nghĩa khác, đó là phong cách sống và thái độ sống của Nguyễn Công Trứ. thì toàn bộ tác phẩm “Bài ca ngất ngưởng” sẽ được đào sâu để làm rõ hơn phong cách xuất thần ấy của nhà thơ.

<3

vũ trụ bên trong không theo trật tự, thưa ông. chào van tai đã vào lồng

Ngay trong câu thơ mở đầu, việc sử dụng câu thơ chữ Hán đã gợi lên sự trang trọng, vững chãi, từ đó khẳng định lí tưởng cao cả của nhà thơ: thân như người đứng giữa đất trời, không việc gì vượt quá trách nhiệm của mình.

Có thể thấy đây là lý tưởng chung của những người đi theo con đường Nho học và nguyễn công tử cũng không ngoại lệ. nhắc đến lí tưởng ấy là cách để nhà thơ bộc lộ lại tâm huyết của mình khi quyết định vào lồng. để rồi từ lý tưởng, từ việc khẳng định vai trò của mình, Nguyễn Công Công đã không ngần ngại phô trương tài năng và vị thế của mình.

khi thủ khoa, khi tham mưu, khi tổng đốc đông, kể cả kinh lược gia, tay ngất ngưởng khi trở về phủ tướng …

Có thể thấy, Nguyễn Công Trứ là một con người văn võ song toàn, điều đó được thể hiện rõ nét qua việc sử dụng các cụm từ “kỳ nghỉ”, “mưu lược”. Hơn nữa, bằng cách sử dụng một loạt từ Hán Việt và cách liệt kê, Nguyễn Công Trứ đã khéo léo sửa đổi hàng loạt chức quan mà ông từng đảm nhiệm: nghị viên, tổng đốc, tổng trấn, phủ, v.v. từ “khi nào” đã tạo nên nhịp điệu dồn dập của lời thoại, khiến cả bài thơ như một thước phim ghi lại những dấu mốc trong sự nghiệp của tác giả. đặc biệt tác giả đã nói về tài năng và vị thế của mình với tất cả sự trang trọng và tự hào. Tuy nhiên, tài năng và sự nổi tiếng của Nguyễn Công Trứ không phải là viển vông, viển vông, khoe khoang mà dựa vào chính tài năng và thành tích của ông. cuối cùng là phần thi tài năng, để chứng tỏ rằng danh hiệu chỉ là cái vỏ bên ngoài để ẩn trong đó là cái tôi rất ý thức về tài năng và vị thế của bản thân.

không chỉ “choáng ngợp” khi làm quan, Nguyễn Công Trứ còn tỏ rõ thái độ hào sảng khi về hưu, sống sung túc.

thực hiện giải thưởng phân đội hàng năm, con ngựa vàng và con bò đang đeo nó.

hai dòng thơ dường như đã vẽ ra trước mắt người đọc một hình ảnh ngất ngưởng đang ngồi khom lưng trên lưng một con bò vàng được “trang điểm” bằng những chiếc bẫy ngựa – một tư thế đầy cám dỗ nhưng tác giả lại giả vờ thích thú trước sự khinh bỉ của mình. cho nhiều bộ phận. và sau đó “sự lập dị” của anh ấy trở nên rõ ràng hơn trong cảnh anh ấy đi tham quan ngôi đền.

Kìa núi mây trắng bao phủ, tay cầm kiếm cung phải bi ai. thần tiên theo đỉnh mấy bà cô bác, ngất xỉu cũng nực cười.

có lẽ trước khi có Trạng nguyên, người ta chưa từng thấy ai vãn cảnh chùa với thái độ như ông: viếng chùa còn đưa cả gái đẹp xuống nước chào hỏi. chưa nói đến văn học dân gian, có lẽ đây là lần đầu tiên trong văn học viết xuất hiện hình ảnh một ông đồ bình dân như vậy. và một lần nữa có thể thấy những câu thơ trên đã thể hiện cách sống khác biệt, khác biệt và có phần trái ngược nhau của nguyễn công.

Không dừng lại ở đó, Nguyễn Công Trứ còn là người có quan niệm sống rõ ràng, không màng chuyện được – mất, khen – chê.

thắng thua dương người quyền quý, khen chê phơi phới ngọn đông phong.

với tác giả, lịch sử được và mất, khen chê và chỉ trích trong cuộc sống không phải là mối quan tâm chính, và do đó không quan trọng nhiều đối với ông. với anh, giữa được và mất, khen và chê không biết cái nào hơn cái nào nên mất hết. và có lẽ, dựa trên quan niệm này, anh đã chọn cho mình một lối sống tự do, tự do làm những điều mình muốn.

khi hát, uống rượu, uống rượu, chia tay, khi không có phật, không có thần tiên, không vướng bận.

Có thể thấy, nguyễn công tử đã chọn cho mình lối sống thỏa mãn dục vọng của bản thân, coi trọng hiện tại, hiện tại, biết tận hưởng thú vui của cuộc sống, uống rượu và hơn hết là tình yêu làm thú vui hàng đầu. và có lẽ vì lý do này mà anh tự nhận mình là người “không phật, không tiên, không vướng”. Dường như thái độ sống và lối sống của Nguyễn Công Trứ đã vượt ra khỏi khuôn phép, nhưng không thể nghĩ rằng ông hoàn toàn khác với ông trước đây. bởi vì, ở nguyễn công chính luôn nhất quán.

không ngược lại, âm nhạc cũng vào phòng, han, phủ, chỉ cần, vua ta ban cho ta đạo tuyệt sắc, ở trong triều ta cũng có thể xuất thần như hắn!

Debauchery, “ngông cuồng” của Trạng nguyên, tuy thể hiện ở mức độ cao, nhưng vẫn là một nhà Nho với tinh thần nhập thế và luôn quan niệm “phép vua phải chu toàn đạo”. linh mục chung “, luôn là một đầy tớ trung thành.

thì có thể thấy, “khúc tráng ca” đã thể hiện được bản lĩnh của người nguyễn công nhưng đồng thời cũng gợi lên trong mỗi người những bài học quý giá, ý nghĩa. Trước hết, mỗi người phải nhận thức được vai trò, vị trí của bản thân trong cuộc sống, đồng thời phải có ý thức rõ ràng về tài năng của bản thân. Ngoài ra, bạn phải có một quan niệm sống đúng đắn, có lý tưởng sống, phải biết vượt lên trên cuộc sống tẻ nhạt và chật hẹp để sống một cuộc đời có ý nghĩa. Đặc biệt, đừng sống nhỏ nhen, ích kỷ, chỉ lo cho mình được, mất, khen chê mà quên đi những người xung quanh.

Tóm lại, với đặc điểm của thể loại hát nói và lối nói đậm chất ngôn tình, “Bài ca ngất ngưởng” đã giúp người đọc hình dung được một cụ Nguyễn công với một lối sống, một lối sống đầy bản lĩnh và dũng cảm. đồng thời cũng để lại trong mỗi người nhiều suy nghĩ và bài học quý báu.

xem thêm: phân tích 6 cụm từ đầu tiên của bài hát tuyệt vời

Tham khảo: Thơ Về Hoa Lan ❤️️ 1001 Bài Thơ Hay Về Lan Rừng

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Phân tích bài thơ bài ca ngất ngưởng. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.