Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
154 lượt xem

Phân tích bài thơ đất nước của nguyễn đình thi

Bạn đang quan tâm đến Phân tích bài thơ đất nước của nguyễn đình thi phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Phân tích bài thơ đất nước của nguyễn đình thi

Phân tích bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình g để thấy được một hình ảnh đất nước vừa mang sắc thu êm đềm, hương thu tràn trề, vừa bát ngát trường tồn của quân và dân ta. Sức cản.

Nguyễn Đình Nguyên là một kiệt tác mà người đọc luôn tìm thấy sự tươi mới, và cảm giác tự hào dân tộc cứ phảng phất trong tâm hồn chúng ta. Vậy sau đây là dàn ý chi tiết với 5 bài văn mẫu hay nhất mời các bạn học sinh lớp 12 cùng theo dõi.

Bạn đang xem: Phân tích bài thơ đất nước của nguyễn đình thi

Phân tích dàn ý bài thơ “Cái nước”

1. Mở

– Đây là một bài thơ hay của Nguyễn Đình và thực dân Pháp trong cuộc kháng chiến.

– Bài thơ mở đầu “Quê mẹ” được chọn là bài thơ hay nhất vì nó bộc lộ trực tiếp cảm xúc về mùa thu mới trên đất mẹ.

2. Nội dung bài đăng

– Các khổ thơ gốc là những đoạn thơ rời nhau của hai bài thơ khác nhau, có sửa chữa và sửa chữa nhỏ.

– Mở đầu, nhà thơ lặng lẽ nhớ lại hình ảnh “mùa thu tàn” và hình ảnh “người tàn” trong một bầu không khí “bất an”. angst là chủ đề chính của câu đầu tiên này.

– Tiếp theo, tác giả thể hiện niềm vui sướng trước sự chung sống hài hòa của con người và loài vật khi chứng kiến ​​âm điệu khao khát của “mùa thu này”

-Vùng Thu Giải Phóng Đất Trời. Từ “lắng nghe” không chỉ thể hiện một trạng thái cảm xúc lúc bấy giờ mà còn thể hiện rõ phong cách lắng nghe hay một cách nhìn nhận cuộc sống mới của nhà thơ.

– Bắt đầu từ niềm vui nói trên, đoạn thơ chuyển cảnh rất tự nhiên, một mặt nhấn mạnh cảm giác thân thuộc về đất nước, mặt khác thể hiện niềm tự hào, vui sướng của nhà thơ trước cảnh đẹp. dân tộc.

– Phần cuối của bài thơ dẫn dắt người đọc suy ngẫm về truyền thống hào hùng của đất nước, nơi làm nổi lên một nét đặc sắc, rất Nguyễn Đình Thi về Tổ quốc Việt Nam.

3. Kết thúc

-Trong bài thơ “Hồn quê”, cảm hứng thời đại dường như hòa vào cảm hứng lịch sử thành một vần thơ đẹp như thế.

Phân tích bài thơ Đất nước – Bài mẫu 1

Có lẽ trên đời này không có nhà thơ nào và cũng không có bài thơ nào là nhà thơ thực thụ, bài thơ về đất nước, về quê hương. Vì đất nước này sẽ luôn là nguồn cảm hứng sáng tạo cho các thi nhân. Nhưng tình cảm của mỗi người đối với đất nước được hình thành theo những cách khác nhau, với những nội dung mang nhiều màu sắc riêng, dựa trên cảm nhận của chính họ.

nguyễn đình thi là nhà thơ viết nhiều về đất nước này. Nhưng có lẽ không ở đâu trong thơ và sáng tác của ông, cảm hứng về đất nước lại nổi bật và tập trung như bài thơ Đất nước.

Bài thơ “Guo” của Ruan Dingshi được viết từ năm 1948 đến năm 1955, nhưng so với bên kia Dương Giang của Huang Jian, đất nước của Ruan Ding ngắn hơn, nhưng Huang Jian chỉ viết nó trong một đêm, Ruan Dingshi trong bảy hoặc tám năm. So sánh như vậy, cảm hứng nông thôn của hai nhà thơ khác nhau rất nhiều về mặt này:

Bên kia sông Đuống, cảm hứng trào dâng, tình cảm thôn quê rạo rực: đêm dài hành quân đẫm máu. Càng xem lại “tiền sử” của bài thơ và đọc kỹ bài Tổ quốc, tôi càng thấy đó là một cuốn sách dạy nấu ăn, nỗi nhớ nghề nấu nướng, niềm vui bếp núc và tình yêu thương thầy.

Là một thanh niên sống và làm việc tại Hà Nội, Nguyễn Đình Thi đã viết về đất nước, trước hết là về Hà Nội, thủ đô của đất nước, thủ đô trong tâm trí anh, Hà Nội toát lên một không khí đầy màu sắc. Lấp lánh trong gió thu.

Buổi sáng mát mẻ như buổi sáng cũ. Gió thu mang hương cốm vàng mới. Nhớ những ngày thu. Lòng Hà Nội buổi sáng se lạnh

Phố dài có chút hỗn loạn, người đi trước, thềm nắng không nhìn lại, lá rơi đầy

Mùa thu năm nay khác rồi, tôi đứng vui nghe núi đồi, gió thổi rừng trúc rung rinh trời thu thay áo lam, cười vui …

Nhắc đến đất nước là nhắc đến Hà Nội, không phải ngẫu nhiên mà mùa thu Hà Nội lại đến. Đất nước ta mùa nào cũng đẹp, nhưng đẹp nhất là mùa thu, còn mùa thu nào đẹp và “mát” hơn Hà Nội? Đặc biệt vào mùa thu, nơi đây lại một lần nữa đánh dấu mốc son lịch sử – “Thành phố nắng vàng Ba Đình” trong “Tháng tám mùa thu xanh thẳm” (tou huu). Vì vậy, không cần đợi đến bốn chữ nổi tiếng, ngay từ những đồng tiền đầu tiên, đã có chút chấn động, xào xạc trong tâm hồn:

Buổi sáng mát mẻ như những buổi sáng cũ. Gió thu mang hương cốm vàng mới. Tôi nhớ những ngày thu ở phương xa

Nostalgia liên quan đến nỗi nhớ. Nỗi nhớ bắt đầu từ mùa thu, và mùa thu ở “phương xa” được gợi lại từ “mùa thu này”. Rõ ràng là hai mùa thu như phản chiếu nhau khiến tâm hồn nhà thơ tỏa sáng muôn phương. Cái cảm giác “mát mẻ” ấy thường lắm, cứ đến mùa thu Việt Nam là mùa thu Hà Nội.

Cái “xa” đã “cứng” giữa hai mùa thu, còn lại gì? Mùa thu Hà Nội xa rồi, “mát” vẫn “mát”, vẫn đẹp và thơ. Nhưng đó là một vẻ đẹp buồn. Phố xá vắng tanh, đổ nát, những thửa ruộng bậc thang ngập nắng lá vàng úa. Những cơn gió đầu mùa có thể mang hơi lạnh đi dọc những con phố cổ vắng. Vào khoảnh khắc chuyển mùa, khoảnh khắc chia tay, có một nỗi buồn man mác, da diết.

Mùa thu năm nay vẫn “mát mẻ” như “buổi sáng”, nhưng cũng “khác hẳn”. Điều khác biệt là “người đi trước không nhìn lại” ai “mùa thu đã xa” nay đang “đứng trên núi”, “nhớ” mà “nghe” ở những đỉnh cao của cuộc Kháng chiến chống Nhật xâm lược Việt Bắc. Lòng người đã đổi nên gió cũng đổi, tiếng nói cũng đổi, hương thơm cũng đổi:

<3

Đây là làn gió trong sự hồi sinh, màu sắc mới, tiếng cười. Địa chỉ ở trên có một chút thay đổi, “Tôi nhớ”, “Tôi rất muốn nghe nó”. Đoạn tiếp theo, “tiếng cười vui” của “chúng tôi” đã vang vọng đất trời mùa thu.

Bầu trời trong xanh, đây là núi của chúng ta, đây là đất nước của chúng ta …

Các từ “của chúng tôi” và “chúng tôi” nghe chắc chắn, tự hào vì tin yêu, “chúng tôi” tự hào về chủ quyền “đất nước của chúng tôi”, “đất nước của chúng tôi” và niềm tự hào “vĩ đại”.

Ruộng thơm, đường rộng, sông dày phù sa …

Tự hào về truyền thống “không bao giờ phai nhạt” của ông cha ta:

Thì thầm tiếng đất về đêm, ngày xưa nói chuyện

Ở trên, chúng ta nghe thấy “tiếng cười” vang vọng đâu đó trên bầu trời “trong vắt”, và ở những dòng cuối cùng của phần đầu bài thơ, chúng ta nghe lại giọng nói thần thánh từ Thánh địa, mà nhà thơ gọi là “Đất” ngôn ngữ “. Vì vậy, cảm hứng về đất nước của Nguyễn Đình trong đoạn đầu bài thơ là niềm vui của chủ nhân.

Đó là một niềm vui, một nỗi nhớ da diết và xao xuyến trong tim, một niềm hy vọng trong tim đã trở thành một tiếng nói riêng, một “mùa thu” của riêng nó mà nghe mênh mang và sâu lắng: trong lòng. Sâu thẳm của bầu trời, trái đất, và linh hồn của những người đã chiến đấu.

Như đã nói ở trên, đất nước do Nguyễn Định thành lập từ năm 1948 đến năm 1955. Phần thứ nhất hoàn thành năm 1948 (“Buổi sáng mát như ban mai”), phần thứ hai (“Đêm hội ngộ”) tiếp tục từ năm 1949 đến năm 1955.

Nguyễn Đình Thi dường như đang đợi lịch sử viết xong bản sử thi dân tộc của mình, rồi mới viết tiếp phần thứ hai. Có lẽ vì thế, tuy có xu hướng tạo hình tượng chung chung nhưng lời bài hát vẫn vang vọng âm vang cuộc đời anh hùng dân tộc quyết chiến, quyết thắng, cũng như âm vang của phong trào quần chúng cải cách ruộng đất:

<3

Nhịp điệu rộn ràng bước vào “Liên minh” của Công nhân, Nông dân và Binh lính:

Nhà máy hun hút sương núi, còi vang đồng ruộng. Ôm đất nước, áo quần rách rưới, anh hùng đứng lên

Nhưng đất nước của Nguyễn Đình sẽ không sôi động đến thế nếu những biểu tượng khái quát trên chỉ dựa trên ý nghĩa lịch sử, sự thật. Nhiều biểu tượng được kết tinh từ kiến ​​thức cá nhân, từ quan sát và kinh nghiệm của một nghệ sĩ sống trong Kháng chiến. Vì vậy, Đất nước của Nguyễn Đình có nhiều đau khổ, nhiều đường nét tỏa sáng tinh hoa của cuộc đời thi nhân và con người.

Khi anh ấy viết:

Ôi miền quê đẫm máu, dây thép gai xuyên thủng bầu trời chiều, những đêm hành quân, bỏng rát, khắc khoải, nhớ nhung người tình của mình

Sau đó, chúng tôi hiểu rằng đó là nỗi đau thông thường xen lẫn nỗi đau riêng tư được kích hoạt bởi một nỗi nhớ phảng phất. Trong đó có kỷ niệm về cuộc hành quân buổi chiều của Bắc Giang: nhìn lên núi non, hàng rào kẽm gai nơi đóng quân của địch như một vết xước “cắt ngang trời chiều”.

Nỗ lực chuyển sang màu đỏ trong chiều tà, những rãnh bị cày xới ở nông thôn như “rỉ máu”. Những chi tiết rất thực, rất sống động ấy đã đi vào bài thơ và trở thành biểu tượng cho nỗi thống khổ của dân tộc trong kháng chiến chống Pháp. Không còn là hình ảnh của một thời đại, mà là hình ảnh của những cuộc chiến của các triều đại đã qua, không còn là hình ảnh của những làng quê Bắc Bộ mà là hiện thân của mọi làng quê, mọi miền quê dưới chân quân xâm lược.

Những hình ảnh đau thương ấy sẽ còn “nung nấu” “đêm dài hành quân”, nhưng cũng chính từ miền đau thương sâu thẳm ấy, những ánh sao của tình yêu và nỗi nhớ đang tỏa sáng, khắc khoải. Đó là ánh mắt của “người tình”, là nỗi nhớ khắc khoải nhưng cũng đầy thôi thúc và xác tín.

Trong bài thơ “Nhỡ mắt người yêu” của Nguyễn Đình ta như nghĩ đến một vì sao lấp lánh thường trở lại nhiều lần (bài thơ viết cạnh ga Tây: “Nhớ em bằng đôi mắt cười”, trước khi kể cho em nghe). : “Những tia lửa bay cao của chúng ta – hãy trở thành những vì sao trong mắt người xử sự”, trong ký ức: “Những vì sao nhớ một người, nhưng những vì sao lấp lánh – trong mây soi sáng con đường của những chiến binh” …)

Nhưng đặc biệt ở “Đất nước”, “Mắt người tình” gợi lên nỗi nhớ da diết khôn nguôi về tình nghĩa vợ chồng và nỗi nhớ người yêu. Bởi vì ánh sáng chợt bùng cháy trong tâm hồn ấy chứa đựng nỗi đau, nỗi nhớ, nỗi buồn và niềm vui, niềm tin, tình yêu và hy vọng, cả riêng lẻ lẫn tập thể. Toàn bộ bài thơ kết thúc bằng một cảnh tượng hùng vĩ:

Tiếng súng nổ kinh thiên động địa, mọi người lao vào bờ như thủy triều. Nước Việt Nam từ máu, lửa, bùn, đứng lên tươi sáng

Cảnh tượng kỳ vĩ này cũng là một biểu tượng chung của đất nước đang phát triển mạnh mẽ và kiên cường từ đau thương và gian khổ. Nhưng đó là một bức tranh sống động. Tiết lộ chân thực về chiến thắng Điện Biên Phủ: Chiều ngày 7/5 lịch sử, đội quân “mặc quần áo”, “anh hùng cao thẳng” phất cờ chiến thắng trên nóc nhà bại tướng de Castries.

Cảnh tượng ấy đã được nhiều nhà quay phim, nhiếp ảnh ghi lại nhưng ít nơi nào gây ấn tượng mạnh với chúng tôi như nơi đây, nơi có cái gì đó ngỡ ngàng như sự vĩ đại của đất trời, của lịch sử lao động cũng vậy. Trước mắt bạn là một “Việt Nam máu lửa – rũ bùn đứng lên …” chói lọi, đó là “bùn mà đứng lên” của Fudong Tianwang trong Chiến tranh chống Pháp.

nguyen dinh thi là một bài thơ đặc sắc về đề tài này. Đặc sắc nhất là cảm hứng của chính ông về đất nước của mình: một đất nước gắn liền với mùa thu, với niềm vui và nỗi nhớ của những người làm chủ nó, một đất nước tươi đẹp trong khốn khó và đau khổ. Chính nhà thơ đã viết:

Tôi yêu bạn như tôi yêu đất nước của tôi, khó khăn và đau đớn, tươi mới và bất tận

(ghi nhớ)

Có lẽ vì thế mà trong những vần thơ hay về đất nước của nhiều thi nhân, người đọc vẫn không thể quên được những câu thơ tuyệt vời của ông về phố phường Hà Nội, về “miền quê máu lửa”. -Dây thép xuyên thủng bầu trời chiều ”và về“ Việt Nam đẫm máu ”và lửa – Gạt bỏ bụi bẩn, đứng lên sáng ngời”.

Phân tích bài thơ Đất nước – Bài mẫu 2

Dân tộc là một chủ đề lớn trong suốt lịch sử văn học, nhưng ở mỗi thời kỳ văn học, nó lại được các nhà thơ khai thác ở những góc độ khác nhau. Trong thời kỳ chống Pháp, có nhiều tập thơ khắc họa hình ảnh đất nước buồn và hào hùng, trong đó nổi tiếng nhất là Đất nước của Nguyễn Đình. Bài thơ này là cả một hành trình nhận thức về đất nước của tác giả.

Từ ba bài thơ Trong sáng như xưa (1948), Đêm mít (1949) và Đất (1965), Nguyễn Đình đã tập hợp được đất nước. Cả bài thơ thể hiện sâu sắc ý chí độc lập, lòng yêu nước, căm thù giặc, tự hào về sức mạnh qua cảm nhận tinh tế về mùa thu dân tộc và bức tranh đau thương của quê hương anh hùng. Kháng chiến chống Pháp.

Bài thơ là tập hợp và ghép nối của nhiều bài thơ nhưng không làm mất đi sự thống nhất tổng thể, thay vào đó chúng phát triển theo các chu kỳ cảm xúc tinh tế với những ý tưởng khá nhất quán. Bài thơ bắt đầu bằng dòng cảm xúc của Guoqiu, nhưng thời gian và địa điểm khác nhau:

Buổi sáng mát mẻ như những buổi sáng cũ. Gió thu thổi hương cốm mới. Tôi nhớ mùa thu xa xôi ấy.

Vào một buổi sáng mùa thu ở Chiến khu Việt Nam, nhà thơ chợt cảm thấy cái se se lạnh đầu thu giống như “buổi sáng xưa” khi nhà thơ ra đi, quyện trong gió thu nhè nhẹ. Những bông lúa xanh vẫn thổi gợi nhớ hương thơm rất đặc trưng của mùa thu Hà Nội. Gần gũi với cuộc sống hàng ngày của người dân thủ đô. Nhịp thơ dường như chậm rãi, nhẹ nhàng, nỗi nhớ nhà thơ cứ dạt dào dạt dào:

Xem thêm: phân tích khổ cuối bài thơ vội vàng

Buổi sáng se lạnh ở trung tâm thành phố Hà Nội, những con phố dài hơi buồn tẻ, nhưng người đi trước không ngoái lại, đằng sau những bậc thang đầy nắng, lá đã nở rộ.

Đó là “ngày thu nơi xa” – ngày thu trước cách mạng, khi nhà thơ phải tạm biệt thủ đô, lên đường. Anh ấy cũng viết về cảnh mùa thu, nhưng thơ của Ruan Kun chứa quá nhiều mơ hồ và tội lỗi; thơ của Chunhuan có bao nhiêu mối tình lãng mạn, và biết bao nỗi sầu của con nai vàng giẫm lên lá chết.

Trong thơ Nguyễn Đình, cảnh mùa thu Hà Nội chỉ hiện lên trong dòng hồi tưởng, tuy đẹp nhưng cũng mang một nét tĩnh lặng, buồn man mác. Đó là bức tranh mùa thu của những năm tháng đau thương của đất nước: sương giá ở trung tâm Hà Nội. Trong thơ Nguyễn Khuyến nói đến tiết trời mùa thu là “ao lạnh, mùa thu nước trong” – tiết trời chính là mùa thu. Thơ của Ruan Dinh cũng nói về mùa thu, nhưng là đầu thu.

Từ “Leng Zao” rất gợi cảm: mùa thu hơi se lạnh, mặc dù vừa đến nhưng không phải là “hiện tượng ngoại da” (từ dùng của Ruan Tuan) mà đã thấm vào trong ” Trái tim “của Hà Nội”. Điều này có nghĩa Với tất cả không gian, cây cối, hoa lá, con người và phố phường đều cảm nhận sâu sắc cái lạnh của mùa thu. Cái “chớm” ấy không ngọt ngào như cái lạnh đầu mùa, nhưng không phải là cái mát của mùa hè nhưng là sự kết hợp của hai mùa.

Có lẽ chỉ có mùa thu, gió thu Hà Nội mới có thể mang đến cho người ta cảm giác thời tiết như vậy. Hà Nội mùa thu, gió thổi nhẹ trên những con phố dài cổ kính, không phải là gió “heo may” mà chỉ ở mức “hơi heo may”. Điều đó có nghĩa là nó chỉ đang ở giai đoạn “sơ khai”.

Dường như mọi thứ chỉ mới bắt đầu, rất nhẹ nhàng nhưng lại khiến người đọc cảm nhận được sự thay đổi, khởi đầu mới nơi biên ải. Nhà thơ đã nhận ra Hà Nội đã nhận ra “hơi thở nhẹ nhàng” của mùa thu. Tất nhiên, con người ta khi ra đi trong hoàn cảnh ấy, dù mục đích là gì, tuy bề ngoài đã tạo nên sự mạnh mẽ, dứt khoát, dứt khoát “không ngoảnh lại”, nhưng sâu thẳm trong lòng vẫn đầy hoài niệm. Hoài niệm, vẫn thấy rõ những gì ở sau Hà Nội: sau thềm nắng, lá rơi đầy.

Bài thơ này có tính chất âm nhạc và hình ảnh trong hoàn toàn mùa thu của mặt trời và những chiếc lá. Đây có phải là mùa thu đặc trưng nhất ở Hà Nội? Màu vàng của nắng hòa quyện với màu vàng của lá tạo nên một khung cảnh ngập tràn sắc vàng xua tan cái “lạnh buổi sáng” của “may mắn”. Cảnh đó là phông nền hoàn hảo cho tâm trạng đó. Như thể thời gian và không gian đã thay đổi, sự nhẹ nhàng, điềm đạm của Hanoi Zi rất phù hợp với giọng thơ và tâm trạng của người đã khuất.

Từ mùa thu năm trước, nhà thơ mang mùa thu của cách mạng, mùa thu của độc lập dân tộc vào khung cảnh hiện nay của Chiến khu Việt Nam:

Mùa thu năm nay khác rồi, em vui đứng nghe đồi trong núi, gió thổi rừng trúc, trời thu đã thay đổi, em khoác lên mình bộ áo lam, nói cười rôm rả

Nếu bảy bài thơ đầu được viết dưới dạng một bài thơ bảy chữ, gần như hoàn toàn là một bài thơ khải huyền bảy chữ, thể hiện cảm xúc tĩnh lặng và trang trọng phù hợp với lối diễn tả hoài niệm, thì những bài thơ sau được viết theo thể hình thức thơ tự do, thể hiện sự phấn khởi vui tươi, rộn rã tiếng cười. Bài thơ “Mùa Thu Này Có Khác” là một bài thơ chuyển cảnh, đó là lời khẳng định, cũng là tiếng thở dài vui sướng, nhưng sao mà nghe thật xót xa!

Qua đây có thể thấy, thiên nhiên được nhân cách hóa không chỉ bằng màu sắc, âm thanh mà còn bằng cả tình người. So với mùa thu xưa, cái “khác” rõ nhất của mùa thu năm nay là “niềm vui”: niềm vui trước hiện thực khách quan trở thành niềm vui của chủ thể trữ tình, còn khi được thể hiện thành cảm xúc thơ thì niềm vui ấy lan tỏa đến từng cảnh vật tả cảnh. những ngọn núi, Rừng và Bầu trời. Tiếng cười “trời ơi đất hỡi” thực sự trở thành cảm giác như được hòa vào núi sông, lan tỏa niềm vui khắp nơi.

XEM THÊM:  Phân tích kế hoạch bài dạy môn ngữ văn

Rõ ràng, cảm giác mùa thu gắn liền với niềm vui, tình yêu và niềm tự hào được làm chủ một đất nước. Trong tầm nhìn say mê của nhà thơ, đất nước nào cũng tươi đẹp, trải dài, rộng lớn, phì nhiêu, tiềm tàng một cuộc sống ấm no hạnh phúc. Kết quả là tâm trạng của nhà thơ chuyển từ ngây ngất sang khẳng định chắc nịch:

Trời xanh, đây là của chúng ta, núi là của chúng ta, đồng ruộng là của chúng ta, đường rộng, sông đục ngầu

Đoạn điệp khúc “Chúng tôi” vang lên qua trái tim của cả thế giới. Qua Cách mạng Tháng Tám, ông đã giành lại Tổ quốc bằng chính mồ hôi xương máu của mình, đó không chỉ là ý thức làm chủ đất nước, mà còn là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Đoạn thơ là lời khẳng định liên tục, chóng vánh, chóng vánh của nhà thơ và dân tộc Việt Nam trước nền độc lập của đất nước.

Với mùa thu tươi đẹp ngày hôm nay, với độc lập chủ quyền nắm chắc trong tay, người ta không thể không nghĩ đến cội nguồn sâu xa đã gây ra sự thay đổi mạnh mẽ như vậy. Đây không chỉ là sức mạnh của hiện tại, mà còn là sức mạnh của các phương tiện truyền thông từ thế hệ này sang thế hệ khác. Lặng lẽ, giản dị nhưng bất khuất và anh dũng:

Đất nước của chúng tôi, đất nước của những người không bao giờ chết. Đêm thì thầm trong tiếng đất, và ngày xưa nói về nó.

Đây là đất nước của tình yêu, đất nước của “Con Rồng cháu Tiên”. Đó là một cảm giác như đang ở trong nước. Trong bài thơ này, Nguyễn Đình định nghĩa dân tộc là đất nước của những anh hùng.

Mỗi thời, tinh hoa ấy vẫn vang mãi trong hồn thiêng sông núi. Thế trận của dân tộc được đúc kết trong chiều dài lịch sử của tâm hồn và lòng dũng cảm của dân tộc ta. Nghe âm vang tổ tiên, nghe hồn thiêng đất nước, niềm tự hào quê hương trỗi dậy trong lòng.

Với lòng yêu nước, tự hào về đất nước, Nguyễn Đình đã trăn trở về cuộc kháng chiến gian khổ, gian khổ mà cảm hứng chủ đạo là lời khẳng định về quê hương đất nước của nhân dân, nghĩa là cách mạng quyết định bằng sức dân. Dường như đây là quy luật tất yếu – kẻ thù đến xâm lược quê hương, đất nước, những người hiền lành, tốt bụng lại trở thành những con người nung nấu lòng căm thù:

Từ những gốc tre dịu dàng, tiếng nói căm thù cất lên.

Vẫn ở cội nguồn của hận thù, hai bài thơ là ấn tượng nhất:

Ôi, vùng quê đẫm máu, dây thép gai xuyên thủng bầu trời chiều.

Dưới ánh nắng chiều, những cánh đồng bằng lăng nhuộm đỏ máu, hàng rào thép gai của kẻ thù dựng lên, chọc thủng bầu trời, bầu trời nhuộm một màu đỏ, như thể đang rỉ máu. Đây là hình ảnh có thật mà Nguyễn Đình đã nhận ra trong cuộc hành quân, nhưng kết hợp với cách miêu tả rất gợi của nhà thơ, cộng với thán từ “Ôi” ở đầu câu thơ, hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng cho nỗi thống khổ của dân tộc trong chiến tranh, bị tấn công. của kẻ thù Chiếm đồng thời lên án, lên án tội ác của kẻ thù tàn bạo.

Một quốc gia khác, nơi đã chứng kiến ​​nhiều đổ máu, là dấu vết của sự tàn bạo của kẻ thù. Chiến tranh có nghĩa là tàn phá, đau khổ và chết chóc. Nhưng bên cạnh nỗi đau ấy, cuộc sống vẫn trôi, tình cảm con người vẫn ở mức đẹp nhất:

Những đêm dài hành quân, cháy bỏng, khắc khoải, và mất đi đôi mắt của người tình.

Đây là một điều thường xảy ra khi những người lính ra trận. Luôn có nỗi nhớ trong hành trang của họ. Ngoài nỗi nhớ người thân còn có nỗi nhớ người yêu nơi làng quê. Trong nước, cụ Nguyễn Đình Thi cũng nói về nỗi nhớ ấy vơi đi bao nỗi đau vì quê hương bị diệt vong.

Có thể nói, nhà thơ đã kết hợp cái “tôi” với cái “tôi” rộng lớn. Nói chung về cá nhân, đó là loại cảm giác đặc biệt rất thực, hàng ngày. Những khoảnh khắc “nhớ nhung trong ánh mắt lo âu” ấy là những giây phút thanh bình và lãng mạn quý giá trên con đường với những cơn mưa không ngớt. Những người luôn sưởi ấm trái tim của những người lính xa quê.

Những người dân chất phác của đất nước này đã chiến đấu bằng sức mạnh của lòng căm thù, bằng sức mạnh bất khuất của tổ tiên họ, bằng sức mạnh của sự gắn bó thân thuộc với cuộc sống. Mỗi ngày, sức mạnh của những ước mơ giản dị, về cuộc sống gia đình bình yên – mọi thứ đều trở thành những điều tuyệt vời:

Một quốc gia đón nhận những người mặc quần áo đứng lên trở thành anh hùng.

Những anh hùng này, theo lời của nguyễn đình thi. “Kháng chiến toàn thắng”, chính họ đã làm nên hình ảnh đất nước tươi đẹp, huy hoàng trong vinh quang chiến thắng mai sau:

<3

Bài thơ bốn dòng tái hiện toàn bộ quá trình vươn lên của dân tộc, trải qua bao gian khổ, hy sinh để giành lại độc lập từ tay quân thù. Chỉ có thấu hiểu những gian khổ ấy, chúng ta mới hiểu hết được giá trị của cuộc sống độc lập và tự do. Bốn bài thơ được viết theo thể bảy chữ, tạo thành một bản hùng ca thể hiện niềm tự hào về lịch sử và con người Việt Nam. Và tất cả những tâm tư, tình cảm bị kìm nén, sự hận thù bị kìm nén cuối cùng cũng bộc phát thành tiếng nổ lớn:

Tiếng súng nổ kinh thiên động địa, mọi người lao vào bờ như thủy triều. Nước Việt Nam từ máu, lửa, bùn, đứng lên tươi sáng

Bài thơ ngắn gọn, nhanh như bước chân chạy, thể hiện khí thế, sức mạnh của lòng căm thù giặc cao độ (thể hiện qua hình ảnh “đầu súng nổ trời”). Thứ vũ khí áp đảo và tiêu diệt toàn bộ quân địch bằng sức mạnh của dân tộc bị áp bức, bóc lột và thống trị gần một thế kỷ, được thể hiện bằng hình ảnh “dân vỡ bờ như thủy triều”, được lấy từ lâu đài. bờ biển “.

Đất nước và con người Việt Nam đã vươn lên một cách thần kỳ từ kiếp sống nô lệ tăm tối dưới bùn đen, vượt qua trận chiến máu lửa ác liệt, chiến thắng vẻ vang. Giống như một di tích lịch sử được nhà thơ khắc họa rõ nét.

Có thể nói, từ một chi tiết có thật của trận Điện Biên Phủ, nhà thơ đã được nâng lên thành thế trận của cả dân tộc, đúc kết đầy đủ tinh thần của cả dân tộc. Nhân dân ta đã đánh bại hoàn toàn thực dân Pháp và lật đổ ách thống trị hàng thế kỷ của chúng. Hòa bình lập lại, nước ta hoàn toàn độc lập, dân tộc ta hoàn toàn tự do. Bài thơ kết thúc bằng địa vị vươn lên của đất nước và dân tộc Việt Nam.

Nội dung giàu cảm xúc kết hợp với chính luận, hình thức thơ uyển chuyển, nhịp thơ tự do, hình ảnh thơ uyển chuyển, chọn lọc, ngôn ngữ thơ cô đọng, giàu sức gợi đã để lại ấn tượng sâu sắc. Điều ấn tượng và rõ nét nhất là bài thơ đã dựng nên một tượng đài hùng vĩ trong thơ ca về chiến thắng của Tổ quốc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp lâu dài, gian khổ nhưng anh dũng, kiên cường.

Phân tích bài thơ Đất nước – Ví dụ 3

“Đất nước” là bài thơ nổi tiếng nhất của Nguyễn Đình. Bài thơ này được sáng tác trong một khoảng thời gian dài (1948-1955) cùng với sự phát triển của đất nước và dân tộc. “Đất nước” được in trong tập thơ “Người lính” của tác giả.

Bài thơ “Đất Nước” của Nguyễn Đình Thi nói lên tình cảm của đất nước Việt Nam và những con người Việt Nam hiền hòa, cao đẹp đã anh dũng vùng lên trong đau thương, chiến thắng kẻ thù. Sức mạnh siêu việt. Hai câu đầu nói về vẻ đẹp của xứ sở mùa thu:

Buổi sáng mát mẻ như buổi sáng xưa, gió thu đưa hương cốm vàng mới.

nguyễn đình thi chỉ gợi sắc thu, khí thu (mát mẻ), gió thu mang hương thu (hương cốm mới). Cách viết súc tích mở ra nhiều liên tưởng về bầu trời trong xanh và ngọn gió thu mát rượi lay động lòng người, về cơn gió thu nhè nhẹ thổi từ đồng lúa mang đến cho người ta một hương vị cốm mới. chóng mặt. Đây là vẻ đẹp thanh bình, đẹp đẽ được truyền từ đời này sang đời khác trên đất nước này. Đoạn tiếp theo là nỗi nhớ của “Người dưng” về “mùa thu đã xa” – Mùa thu Hà Nội:

Nghĩ về ngày thu xa xôi ấy, về buổi sáng se lạnh ở trung tâm Hà Nội, những con phố dài và thân hình hơi thu lại, Meera đứng sau thềm nắng mà không ngoảnh lại, với những chiếc lá rơi khắp sàn.

“Sớm lạnh” là chỉ cái lạnh của đầu thu, chỉ buổi sáng và buổi chiều của kỳ thi mới “buổi sáng se lạnh”. Hà Nội dường như đang mở lòng đón nhận “buổi sáng se lạnh” đầu thu. May mắn ở khắp mọi nơi. Mùa thu lá vàng bay đi, cuốn theo gió, để lại dư âm của mùa thu trên phố dài.

Cảnh chia tay phố cũ trong “Người chết” thật hoang vắng và vắng lặng. Những người chinh phụ của thời đại “ôm nhau nhớ nhau” lần lượt ra đi, cố kìm nén biết bao suy nghĩ buồn bã. “Đừng ngoảnh lại” là một trạng thái tâm tư của các vị khách. “Cõi chết” cách năm gian cửa, chốn tình xưa càng ngày càng xa Dù “đầu không ngoảnh lại” vẫn cảm nhận được bao nhiêu nắng thu Lá thu rơi đầy “vỉa hè”. , và Phố Tây phía sau tôi. Nhà thơ tả ít, nhưng gợi nhiều.

Tâm trạng của những người ra đi vào một sáng sớm chớm thu như đọng lại trong một khung trời mùa thu Hà Nội với nắng vàng và lá rụng. Có người cho rằng cách ngắt nhịp để cảm nhận cái hay của khổ thơ cuối: 3/4 hoặc 4/3, có người cho rằng nên ngắt nhịp 2/5 để làm rõ chủ đề trữ tình với không gian nghệ thuật: đằng sau thềm nắng, lá có Đầy.

Qua bài thơ này, ta thấy bút pháp nghệ thuật của Nguyễn Đình thật là tài hoa. Lời thơ trong trẻo, buồn man mác. Vẻ đẹp và hồn quê, hồn quê Hà Nội như được thanh lọc trong tâm hồn tác giả và trở thành hành trang của người “chết”. Cuộc đời đổi thay, đất nước đổi thay, nên vẻ đẹp của mùa thu dân tộc cũng trở nên kỳ dị. Câu thơ dài bảy tiếng bỗng ngắn lại, giọng thơ như rưng rưng xúc động:

Mùa thu năm nay khác rồi, em đứng vui nghe đồi trong núi, gió thổi rừng trúc, trời thu đã thay áo mới, em cười rộn rã.

Không gian nghệ thuật được nhắc đến là đồi núi chiến khu, “rừng trúc rung rinh” trong gió thu. Trong suốt mùa thu, bầu trời bao la, náo nhiệt, tươi sáng, như được “khoác áo mới”. Vùng quê mùa thu đẹp đến lạ thường và tràn đầy sức sống. Có màu thu của “lam lam” và giọng nói xúc động của “nghiêm nghị nói cười”. Hình ảnh “ta đứng nghe” thể hiện một trạng thái tâm tư, một cử chỉ, một cảm xúc thơ, một niềm tự hào về vẻ đẹp và niềm vui của mùa thu trên đất nước. Đó là mùa thu của Chiến khu Việt Nam, mùa thu của Kháng chiến chống Pháp.

Những câu thơ bảy, năm vần đan xen tạo nên âm hưởng hùng tráng, mạnh mẽ. Hình tượng dân tộc mang đậm nét “trời xanh”, “núi rừng”, cánh đồng, con đường, dòng sông không chỉ là tấm gấm thể hiện hồn quê, mà còn là bao tình yêu, niềm tự hào về đất nước đã vững bền. bốn nghìn năm.

Các dòng chữ “đây là của chúng ta” và “kia” (cánh đồng, con đường, dòng sông) được sử dụng làm dấu và cao của bài Quốc ca, thể hiện ý chí vươn lên của quân và dân ta là không ngừng hoàn thiện bản thân và tinh thần của đất nước với tư cách là những người làm chủ đất nước. Ngọn gió thời đại, ngọn gió cách mạng, ngọn gió kháng chiến đã làm cất cánh những vần thơ về mùa thu và cảnh làng quê của Nguyễn Đình. Đây là câu thoại hay nhất trong bài thơ “Đất Nước” được hàng triệu người Việt Nam nhớ đến suốt nửa thế kỷ qua:

Trời xanh đây là của ta, núi là của ta, ruộng thơm, sông đỏ phù sa.

Trong phần tiếp theo, tác giả nói về nhà nước và quốc gia. Bài thơ vang lên một tuyên ngôn về đất nước và vị trí của Việt Nam trong giai đoạn lịch sử:

Đất nước của chúng tôi, đất nước của những người không bao giờ chết. Đêm thì thầm trong tiếng đất. Âm vang của thời xưa.

Câu thơ lục bát đột ngột được rút ngắn xuống còn ba tiếng, vần (ẩn-thổ) như dồn nén, dồn nén khiến giọng điệu cả bài thơ sâu lắng, hào hùng, thể hiện niềm tự hào, tự hào về truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc. Tiếng của tổ tiên, tiếng gươm vẫy vùng trên sông Bachtang, tiếng “tướng quân” ​​của Chen Guotuan, tiếng “cúc ngô đồng ngọc” của Ruan Cui,… đất trời ”trong đêm vẫn“ vọng cổ đàm ”, nhắc nhở con cháu về sau. cao Đi đầu trong việc bảo vệ và xây dựng một quốc gia luôn vững mạnh và bền vững.

Phần thứ hai của bài thơ viết về bếp lửa quê hương. “Ồ” thốt lên với nỗi đau nghẹn ngào:

Ôi, miền quê đẫm máu, dây thép gai đâm thủng bầu trời chiều, đêm dài hành quân, bỏng rát, khắc khoải nhớ nhung người tình.

Những từ như “đổ máu”, “tan nát” diễn tả tình cảnh đau thương của đất nước bị giặc chiếm đóng và nhân dân ta bị kẻ thù tàn sát dã man. Những luống cày, ruộng “rỉ máu”. Các tiền đồn của địch được thiết lập khắp nơi. Bầu trời của Tổ quốc đang bị “xé nát” bởi cùng một hàng rào thép gai. Những người lính ra trận với sức mạnh của lòng căm thù giặc, tình yêu quê hương đất nước. Những từ như “cháy” và “lo lắng” thể hiện quyết tâm và cảm xúc mạnh mẽ, sâu sắc này.

Trong cuộc chiến đấu gian khổ, vẻ đẹp của quê hương “bừng sáng”. Lòng căm thù giặc càng trở nên “sục sôi”. Các từ “bay, thẳng, nhóc” thể hiện lòng căm thù, khinh bỉ của nhân dân ta đối với quân xâm lược.

Kẻ thù phương tây, kẻ chủ đất nát cổ lũ trẻ lột da.

Độc lập, tự do là lý tưởng chiến đấu, là niềm tin “tiến lên, quyết thắng”. Tác giả phủ nhận kẻ thù “không nhắm được”, “không bắn được”, từ đó khẳng định sức sống bền vững của đất nước ta và tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Câu thơ như sự thật lịch sử được cô đọng lại thành:

Có chim trên trời và hoa dưới đất. Nhân dân ta yêu Tổ quốc.

Kháng chiến chống Pháp (1946-1954) là cuộc chiến tranh nhân dân toàn quốc, toàn diện, lâu dài và nhất định thắng lợi do Đảng và Bác Hồ lãnh đạo. Cả nước, cả dân tộc vùng lên. Từ núi rừng chiến khu đến đồng ruộng, làng quê, những cảnh quay hào hùng đang được dàn dựng trên khắp mọi miền đất nước:

Những cuộn dây khói của nhà máy trong sương mù núi.

Xem thêm: 1000 câu hỏi trắc nghiệm Ngữ văn lớp 7 có đáp án, chọn lọc

Anh ấy là một nông dân mặc áo lính. Những anh hùng của thời đại đều là những “người mặc áo thường dân”, đó là các quốc tịch La Venkhao, Gu Qinglan, Ruan Guozhi, Ruan Thijian, Ke Wendan, Wendi….

Một quốc gia đón nhận những người mặc quần áo đứng lên trở thành anh hùng.

Con đường ra trận đầy thuốc súng, kéo dài hơn 3.000 ngày. Bao nhiêu giọt sương máu. Trong “nắng như thiêu”, trong “mưa”, trong những trận chiến đấu, hy sinh, niềm tin vào ngày mai chiến thắng, độc lập dân tộc, hòa bình tỏa sáng trong lòng quân và dân ta như ngọn lửa hừng hực. Như “xuất sắc” của Dawn:

<3

Viết thành một bài thơ:

Dân chúng dâng lên như nước, phá vỡ bờ biển Việt Nam, nước rung chuyển đất khỏi máu lửa, có thể đứng lên ánh sáng.

Tác giả đã từng sử dụng thành ngữ, tục ngữ “tức nước vỡ bờ” để ca ngợi nghĩa cử và sức mạnh quyết chiến, quyết thắng của dân tộc ta. Tác giả cho rằng “Đứng lên bi tráng, hiên ngang” là hình ảnh những người lính Điện Biên dũng cảm lao ra khỏi chiến hào trong cuộc tổng tiến công đầu tháng 5/1954.

“Quách” là hồn thơ của những chiến binh, tiêu biểu cho tứ hồn thơ của Nguyễn Đình. Với đề tài quê hương đất nước trong chiến tranh, Nguyễn Đình giàu chất thơ, trữ tình, kết hợp hài hòa với chất chính luận sâu sắc, đã để lại nhiều bài thơ hay, xúc động. Ngôn ngữ bài thơ trau chuốt, sắc sảo, dạt dào cảm xúc. Sự biến đổi của thể thơ: bảy chữ, sáu chữ, có khi đan xen với ba, năm tiếng của câu thơ làm thay đổi giọng thơ: có lúc hoang hoải, có lúc khắc khoải, có lúc dữ dội.

Trong những năm dài kháng chiến chống Nhật, hình tượng Tổ quốc vừa mang sắc thu, hương thu, bát ngát của quân dân ta vừa mang vẻ đẹp dịu dàng. “Đất Nước” là một bài thơ nổi tiếng mà người đọc luôn thấy tươi mới, và cảm giác tự hào dân tộc cứ bay mãi trong lòng mỗi chúng ta.

Phân tích bài thơ Đất nước – Ví dụ 4

Đất nước là chủ đề được nhiều nhà văn, nhà thơ quan tâm. Tuy nhiên, đây là một môn học khó. Nếu cảm xúc không đủ mạnh, không đủ sâu sắc và khả năng khái quát còn hạn chế, tác phẩm chắc chắn sẽ rơi vào khuôn khổ, dàn ý và bị chia cắt theo lối tu từ. Nhưng những nhân vật thơ mãnh liệt luôn tìm đường đi, để đất nước ngày càng xuất hiện những bộ mặt mới, sáng bóng, đa dạng với những nội dung lịch sử cụ thể.

Nguyễn Đình Thi Quốc là một bài thơ hay. Không thiếu tính khái quát, nhưng vẫn thấm đẫm ấn tượng, một thứ tình cảm đặc biệt và tình người (nhất là cảnh nhân dân nổi dậy chống Pháp). Như vậy, bài thơ không rơi vào suy tư, mà thay vào đó có được một bầu không khí của cuộc sống hiện thực, có khả năng hấp thụ chất thơ đôi khi chỉ chứa đựng “đủ”, “hiểu” và “bề nổi”. “

XEM THÊM:  Tả Cây Dâu Tây, Tả Quả Dâu Tây ❤️️ 15 Bài Văn Hay Nhất

Như có người nhận xét, lời thơ không rõ ràng lắm. Đọc qua phần đầu, khó có thể hình dung được dòng cảm xúc hay hình ảnh chủ đạo của bài thơ. Phải chăng việc kết hợp bài “Mát như ban mai” (1948) với bài thơ “Đêm hội ngộ” (1949), rồi kéo dài sang Tạo quốc (1955), đã làm nên nét riêng của bài thơ này?

Xét một cách khách quan, quá trình hình thành độc đáo của bài thơ này phản ánh rõ nét hành trình của nhà thơ từ nhận diện đến hiểu biết về đất nước. Mọi thứ không phải một sớm một chiều mà đạt được mà cần có sự trải nghiệm, suy ngẫm, nhà thơ phải siêu thoát mình, hòa vào đời sống chiến đấu của cả dân tộc. Còn đối với sự thể hiện tâm hồn thi sĩ, sự lỏng lẻo của kết cấu bề mặt thơ trở thành một sáng tạo thú vị. Vì vậy, trong dụng ý sáng tạo, nhà thơ không nhất thiết phải che giấu hoàn toàn “đường hàn”.

Phần đầu của bài thơ – vẫn được coi là hay nhất – chứa đựng nhiều ấn tượng cụ thể về mùa thu của một đất nước. Thoạt đầu, đó là một cảm giác thư giãn, như thể bạn muốn trôi nhẹ theo hai âm tiết lên đến 12/14 dòng cao độ:

Buổi sáng mát mẻ như buổi sáng xưa, gió thu đưa hương cốm vàng mới.

Gợi nhớ về những điểm tương đồng. Vẻ đẹp vượt thời gian của mùa thu đồng quê gắn liền với nét may mắn và hương lúa dịu nhẹ. Mùa thu năm nay như mùa thu xưa, thiên nhiên vẫn đẹp đến nao lòng. Có sự khác biệt nào giữa tâm trí con người và môi trường xã hội? Nỗi nhớ của tác giả thực sự đã tạo nên một sự tương phản rất tự nhiên, để những bức tranh quá khứ được tái hiện một cách sinh động:

Xem thêm: phân tích khổ cuối bài thơ vội vàng

Buổi sáng se lạnh ở trung tâm thành phố Hà Nội, những con phố dài hơi buồn tẻ, nhưng người đi trước không ngoái lại, đằng sau những bậc thang đầy nắng, lá đã nở rộ.

Có thể nói gì thêm về câu này? Một thời tiết có xu hướng khiến trái tim của chúng ta căng thẳng. Một chú heo con có thể gây ra rất nhiều cảm xúc. Khi mùa thu đến, không gian chợt lắng xuống và để tiếng nói bên trong cất lên. Những con phố dường như dài hơn và mang đầy nét u sầu đặc biệt, tạo nên một phông nền rất phù hợp cho di ảnh của những người đã khuất. Ai đã ra đi ở đây, tác giả không nói rõ, đã rời xa Hà Nội thân yêu với lòng quyết tâm cao độ, cũng giống như những người anh hùng năm xưa không nhìn lại.

Đó có phải là kiểu người được thầm gọi là “người nhà, người lạnh lùng”, và hẳn là rất giống với tính cách của bữa tiệc chia tay, bên ngoài lạnh lùng nhưng bên trong lại lạnh lùng? Thức dậy sau “thềm nắng đầy lá rụng”. Toàn bộ bài thơ rất điện ảnh, và câu cuối cùng miêu tả một cách cận cảnh, cho phép chính cảnh quay nói với người đọc rất nhiều điều.

Câu 2/2/3 ngắt nhịp, như muốn nói lên sự ngập ngừng của những chiếc lá vàng khô rơi và nỗi nhớ sâu thẳm trong lòng những người quyết định rời Hà Nội, lên đường. Bề ngoài, họ không “đi một bước rồi dừng lại một giây”, nhưng trong sâu thẳm, mỗi chiếc lá rụng đều để lại trong họ một nỗi buồn dịu dàng. Từ gần đến xa, rồi từ xa đến gần, những câu thơ tiếp theo làm tăng thêm cảm giác về mùa thu, đưa người đọc trở về với hiện tại, bình yên trong niềm vui giao hòa giữa lòng người và cảnh vật.

Mùa thu năm nay có khác, em đứng giữa trời thu nghe gió rừng trúc thổi Em thay áo lam, nói cười.

“Mùa thu nay khác rồi” là tiếng kêu so sánh được biến thành tiếng khóc thừa nhận sự khác biệt giữa hai thời đại, tiếng kêu khẳng định niềm vui mới sắp đến. Câu thơ năm ký tự bỗng xuất hiện sau câu bảy ký tự với nội dung mạch lạc, giọng điệu rõ ràng. Nó chứa đựng cả xúc cảm và tri giác, đồng thời diễn giải sâu sắc tư thế đứng, nghe của nhà thơ trong khung cảnh thiên nhiên vô cùng tự do: “Ta vui nghe trong núi”.

Hai từ “nghe có vẻ thú vị” nhưng có thể thực hiện được nhiều điều khác. Một cái khác đến từ sự thổi của gió và sự hài hòa của rừng tre. Nó “lật tung” như một làn sóng, mời gọi và đầy tin tưởng, khác với cái cây cổ thụ “xao xuyến” ẩn chứa những nỗi niềm mơ hồ. Bao trùm cả người, cả rừng trúc, cả núi non, trời thu trong lành hay vừa khoác lên mình tấm áo mới. Giữa các câu sáu ký tự, độ dài bảy ký tự khác nhau, bài thơ Năm chữ “Áo mới mùa thu” rơi ngọt ngào, ấm áp, rồi câu thơ chuyển sang ngập ngừng, xúc động sâu sắc “Nụ cười trong xanh nghiêm trang”. / p>

Trong đoạn văn vừa được trích dẫn, có một số chỗ “nan giải” nên gợi ý một cách hiểu khác. Trong niềm vui tràn trề, nơi từng lời nói như toát lên niềm vui, tiếng rào rào lại vang lên trong lòng người một niềm phấn khởi đặc biệt. Câu thơ bè cao bỗng chốc tách ra, bay bổng trong sáng, hồn nhiên, rạo rực. Vô hạn: bầu trời trong xanh, là của chúng ta. , núi là của chúng ta. Lời thơ cao vút nhưng không cao trào.

Cả hai thông điệp đều mang cùng một sự khẳng định mạnh mẽ – khẳng định chủ quyền của chúng ta đối với vùng trời và vùng đất mà chúng ta đang xem xét:

Ruộng thơm, đường rộng, sông ngập nặng.

Tiết tấu nhanh của bài thơ một mặt tiếp tục nhấn mạnh ý thức làm chủ đất nước của cộng đồng, đồng thời gợi lên ý thức rằng bản thân đang nỗ lực để giới thiệu vẻ đẹp của đất nước. Với niềm tự hào và niềm vui. Nếu hai câu thanh “mát-ngọt” kết thúc hai câu trên là điểm nhấn ở phần mở đầu, khiến hình ảnh ấy khắc sâu trong tâm trí người đọc và người chứng kiến, thì hai thanh liền nhau ở vế thứ nhất (Nặng đỏ) ở giữa câu tiếp theo, âm điệu câu thơ giảm dần, hai chữ phù sa xen lẫn hai thanh bằng, bồng bềnh trôi đi như một giấc mơ.

Hát bằng cảm xúc, rồi trầm lắng, sầu muộn, đó là sự chuyển động tuần hoàn của các câu thơ, tạo nên một thế giằng – chùng xen kẽ rất đặc sắc và nghệ thuật. Cuối đoạn thơ này là câu thơ ba nhân vật. Câu “Đất nước ta” ngắn gọn và trang trọng dẫn dắt người đọc suy nghĩ về truyền thống hào hùng của đất nước này:

Đất nước của chúng tôi, đất nước của những người không bao giờ chết. Đêm thì thầm trong tiếng đất. Xưa nói về nó.

Có thể coi hai câu đầu vừa trích là một định nghĩa – một định nghĩa khá cơ bản thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của nhà thơ về đất nước này: Việt Nam – đây là mảnh đất bất khuất. Trong hoàn cảnh chiến tranh, chúng ta có cơ hội thấy rõ hơn bao giờ hết phẩm chất của con người, của đất nước mình. Sau khi định nghĩa đến bằng chứng. Nhưng điều độc đáo là nhà thơ chứng minh không phải bằng lí trí, mà bằng cảm tính.

Những từ “thì thầm” làm cho bài thơ trở nên phong phú và ấn tượng, làm cụ thể hoá quan niệm về “tiếng tổ tiên” thường dùng để giảm bớt tính trừu tượng và mơ hồ. Đây là một minh chứng rất thơ và cũng rất nguyễn đình thi trước khi nói với ai, nó là minh chứng cho những gì mình biết về đất nước, từ tâm trạng mơ hồ phong phú ban đầu trước buổi sáng mùa thu Hà Nội, đến định hướng tái cấu trúc vừa phân tích ở trên Cảm xúc phải là một chặng đường dài để biết.

Khi đi vào trọng tâm của vấn đề, lời thơ trở nên sáng sủa hơn và mạch thơ trở nên rõ ràng hơn. Nếu phần trước mô tả sinh động quá trình nhận thức một khái niệm, thì phần tiếp theo giống như thực hành trải nghiệm nhận thức. Từ “ôi cánh đồng” không phải ngẫu nhiên mà có… cách diễn đạt thơ cũng từ đó mà thay đổi, với những hình ảnh hiện thực giàu tính biểu tượng, song hành, đôi khi xen lẫn những khái quát trực tiếp. .

Việc chia bốn câu theo quy tắc một mặt tạo gánh nặng cho ý thơ, mặt khác dường như cần thiết cho những giải thích, suy luận đòi hỏi sự rõ ràng và logic. Có lẽ phần hay nhất của phần thứ hai của bài thơ là câu này:

Ôi, miền quê đẫm máu, dây thép gai đâm thủng bầu trời chiều, đêm dài hành quân, bỏng rát, khắc khoải nhớ nhung người tình.

Đây là những câu thơ dày dặn, là kết quả của vốn sống dồi dào. Nếu bạn không biết “Đêm dài”, bạn chưa từng thấy ngôi làng bị kẻ thù phá hủy, bạn chưa từng thấy hàng rào gai nhọn chắn tầm nhìn của hoàng đế, nếu bạn hôn một vết bầm đỏ như máu, bạn có thể ‘ t viết câu thơ này. Các từ “chảy máu” và “đập vỡ” không chỉ là một phương tiện tạo hình và chuyển động thơ.

Đây trước hết là một sự đau lòng, một nỗi đau thấu tận tâm can. Và từ gợi hình rất “băn khoăn” trong câu sau. Đây là cuộc sống. Cuộc sống làm cho tình yêu của chúng ta lớn hơn và sâu sắc hơn, giúp chúng ta nắm bắt mạch máu của sự vĩ đại của quốc gia, và làm cho mọi nỗi buồn, niềm vui và cảm xúc thực sự đại diện.

Nếu coi bài thơ này (trong những đặc điểm phù hợp đã nói ở trên) phản ánh chân thực quá trình chuyển đổi và nhận thức chính trị – xã hội của phong cách thơ Nguyễn Đình thì đoạn thơ này đóng vai trò như một bản lề giúp chúng ta hiểu rõ tiến trình của từng giai đoạn. Từ đây, thơ của Ruan Dingshi được hòa nhập vào thơ hiện đại: cảm xúc cá nhân và riêng tư (hiểu theo nghĩa hẹp).

Bắt đầu tắt dần để tiếng nói của người lao động được to và rõ ràng hơn. Sự mở đầu về thời gian (từ “buổi sáng se lạnh” của nỗi nhớ riêng đến những năm tháng đau thương, “ngày nắng đêm mưa cháy chung” cả nước), sự mở ra không gian (từ “lá nắng rơi khắp mặt đất”) Hà Nội quê hương thân thuộc. , đất nước, “Xintiandi” “Nó không còn thuộc về một người nữa, và lịch sử đã có một chiều hướng mới (nhìn từ góc độ lịch sử, một tâm hồn đầy” ức “, đầy” không nguôi “, thậm chí” bay “về một đất nước từ “nỗi đau”, “hận thù” đến “” Lịch sử đi lên “và” phá sản “.

Tất cả những “lời mở đầu” trên giúp cho ý tưởng được khái quát hơn theo phạm vi đề tài, bức tranh cũng mang nét kỉ niệm khác hẳn với bức tranh bày tỏ tình cảm vừa êm đềm vừa sôi nổi trước đây. Lúc này, hình ảnh những người đã khuất xuất hiện ở đầu bài thơ đã tạo nên một hình ảnh lớn: khối đại đoàn kết dân tộc, “vầng trán đầy mồ hôi” đang hiên ngang tiến bước, vững bước vào tương lai. :

<3

Cái “được” lớn nhất ở nửa sau của bài thơ là một chút chất thơ. Giọng nói của một người giống như tiếng nói của một dân tộc “Đứng lên anh hùng”, nói rất nhiều mà không gây ra cảm xúc khó chịu. Lời kêu gọi của nhà thơ về một điều gì đó lớn lao hơn đương nhiên được chấp nhận vì ông đồng cảm với huyết mạch vĩ đại của dân tộc và mong muốn nắm bắt và hiểu được nó.

Khổ thơ cuối của bài thơ là một “đoạn kết” xứng đáng là một bản hùng ca về đất nước:

Tiếng súng rung trời, người nổi lên như nước vỡ bờ. Việt Nam chiến tranh nước từ máu, lửa rung bùn, đứng lên sáng ngời.

Với giọng kể trầm ấm, dày dặn và nhịp 3/4 phổ biến có xu hướng tạo cảm giác uy nghiêm, thanh sáu dường như muốn cô đọng, cô đọng, nhưng vẫn muốn giải tỏa. Cảm xúc vừa được kiềm chế, vừa được giải phóng tự nhiên theo lời nói chạm vào cảm giác, gây rung động hướng lên.

Bài thơ vừa ý nghĩa vừa có sức thuyết phục như một biểu tượng tượng trưng cho hiện thực, không mất đi những dấu vết tình cảm cụ thể (“Rung trời”, “Tình người”). Những bài thơ của Ruan Dingshi thường xuất sắc trong những tình huống tương tự. Bằng cách chọn một hồn thơ có sức cảm hóa và khả năng khái quát mạnh mẽ để giới thiệu những chi tiết của cuộc sống.

Ở bài thơ này, diện mạo của quê hương trở nên muôn màu qua sự cảm nhận và khám phá của một tâm hồn phong phú và ý thức công dân của một nhà thơ. Nhưng về cơ bản, việc phát hiện ra Nguyễn Đình Thi là hướng tới truyền thống anh hùng, bất khuất của đất nước – càng trải qua gian khó, càng tỏa sáng qua bao gian nan thử thách của chiến tranh. Đây là góc nhìn của bản thân nhà thơ, cũng như góc nhìn của lịch sử một thời kỳ nhất định.

Phân tích bài thơ Đất nước – Ví dụ 5

Nguyễn Đình Thi (1924 – 2003) là một nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp. nguyễn đình thi là người đa tài. Thơ của nguyễn đình thi thể hiện sự tìm tòi về hình ảnh. Bài thơ Đất Nước là một phát hiện độc đáo nhất. Tập trung vào hình ảnh đất nước, bài thơ mang hai màu sắc vừa đẹp đẽ vừa kiên cường.

Trước hết, Nguyễn Đình Thi cảm nhận đất nước trong mùa thu hoài cổ và bây giờ là mùa thu. Mùa thu trở thành một biểu hiện liên tục từ hiện tại đến quá khứ và trở lại hiện tại. Nhà thơ mở đầu “đồng quê” với một số suy ngẫm:

“Buổi sáng mát như ban mai, gió thu thổi hương cốm vàng mới”

Không gian rất tươi sáng vào những buổi sáng sớm mùa thu là đặc trưng của những ngôi nhà Việt Nam. Một chút hương vị “ngăn cách” gợi lên rất nhiều. “Vòng tay cốm làng Xianxiang”. Người ta chợt nghĩ đến những câu văn đặc sắc của Hà Nội trong các bài thơ vọng nguyệt, nguyễn tuấn, vu lan … người ta nghĩ đến mẹ, bà, anh của mình. Thật dễ dàng và dễ thương! Từ hương cốm vàng hiện ra mùa thu năm xưa:

“Sáng sớm giữa trung tâm Hà Nội se lạnh. Phố dài có chút âm u nhưng người đi trước không ngoảnh lại. Phía sau hiên nắng, lá đã nở rồi.”

Hai câu đầu là cảnh, hai câu cuối là nhân vật. Cảnh vật năm đó xa cách người hoàn mỹ. Mỗi câu đều ẩn chứa một nét khắc khoải thú vị, như nỗi buồn lặng lẽ của “Phố dài”, nỗi cô đơn của một chút “buổi sáng se lạnh”, vẻ đẹp nhưng nỗi buồn của “bất an” và một chút “may mắn”. Thiên nhiên đẹp và buồn, nhưng người ta không khỏi cảm thấy cô đơn. Những người chết đầy quyết tâm. Những ai vấp ngã dưới tán lá thu rung rinh. Hình ảnh thơ kết hợp cả tinh thần cổ điển và hiện đại.

Nhà thơ cuối cùng đã trở lại trong mùa thu hiện đại. “Mùa thu năm nay thật khác”. Nhà thơ vọng về mùa thu này với tâm trạng tưng bừng. Từ “Stand Happy”, “Piao Piao”, “Change New Clothing”, “Blue”, “Talk and Laugh” và các tác giả khác đều cảm nhận được điệu bộ tự nhiên của “Piao Piao” … Mùa thu hôm nay tràn ngập niềm vui rộn ràng của cuộc sống. Kể từ đó, tâm trạng cô đơn già nua đã thay thế cho tâm trạng rộng lượng và cởi mở.

Từ hình ảnh được phân phối theo địa lý của “Bầu trời xanh”, “Núi”, “Cánh đồng”, “Ngã tư”, “Dòng sông”, v.v., phụ đề “Đây” hấp dẫn như một lời mời. ăn ngon miệng nhé. Các nhà thơ phải tự hào về quê hương của mình!

Trong khi thể hiện cảnh đẹp đất nước vào mùa thu, Nguyễn Đình cũng đã vẽ nên hình ảnh đất nước trong chiến tranh. Đây là một đất nước nghiệt ngã:

“Đất nước chúng tôi, đất nước của những người không bao giờ chết.” Đêm thì thầm trong tiếng đất, và ngày xưa nói về điều đó!

Đất nước này dường như có một sức sống bất diệt. Dân tộc anh dũng, kiên cường đã trở thành truyền thống, được minh chứng bằng câu “không bao giờ rời xa”. Mặt khác, những từ như “ngày và đêm”, “rì rào” thể hiện sức sống và sự tự hoàn thiện ẩn chứa trong mưa đá ngàn năm. Đất nước đau khổ, nhưng vô cùng nổi dậy:

“Ôi miền quê đẫm máu, dây thép gai xuyên thủng bầu trời chiều”

Thán từ “Ôi” nhìn lại cảnh quê ngập tràn cảm xúc. Đất nước lâm vào nỗi đau “chảy máu”, “tan tành”. Tác giả lên án mạnh mẽ tội ác của kẻ thù chà đạp lên quê hương. Sau đó, đất nước cũng thịnh vượng. nguyen dinh thi được diễn đạt theo cách ngược lại.

Chính trong những “năm tháng đau thương”, “xiềng xích” và “súng đạn”, sự tàn khốc khốc liệt của chiến tranh đối lập hoàn toàn với sức mạnh “vùng lên”, “mở cửa” và “nghị lực” của quân đội ta. t lock “,” không bắn được “,” đứng lên “… Đây là sự đối lập giữa nỗ lực và lam lũ” Ngày nắng cháy “,” đêm mưa “và tương lai tươi sáng” Xintiandi “,” Ánh bình minh “. ..Cuối cùng, cả Quốc gia đều “chao đảo”:

“Tiếng súng rung trời, lòng người vỡ bờ Việt Nam như nước. Từ máu, lửa, bùn, đứng lên sáng ngời”

Bốn câu thơ đanh thép, chất chứa bao niềm xúc động của nhà thơ. Hình ảnh “tức nước vỡ bờ” hay “vươn lên khỏi vũng lầy” thể hiện sức mạnh của một cộng đồng vừa đau thương vừa anh dũng. Cũng từ đoạn kết này, người đọc có thể thấy được chiến thắng và niềm tin tương lai của đất nước mà Nguyễn Đình đã và đang chiến đấu.

Bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình đặc sắc ở thể thơ lục bát, diễn đạt liền mạch về cảm xúc, âm hưởng thơ, nhiều hình tượng hấp dẫn, giàu sức gợi. nguyen dinh thi mang đến ca khúc về đất nước mang đậm nét tinh khôi, thủy chung của người Việt Nam.

Tham khảo: 20 bài thơ lục bát về thầy cô làm báo tường hay và ý nghĩa – META.vn

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Phân tích bài thơ đất nước của nguyễn đình thi. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *