Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
763 lượt xem

Bình giảng tác phẩm truyện Kiều

Bạn đang quan tâm đến Bình giảng tác phẩm truyện Kiều phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Bình giảng tác phẩm truyện Kiều

bình giảng tác phẩm Truyện Kiều – bài 1 (trích Truyện ngôn tình)

đoạn trích “bùa ngải” được trích từ dòng 723 đến dòng 756 của “nữ vương kiều”. Trước đó, Kiều và Kim Trọng gặp nhau ở hội xuân, sau đó tình yêu đơm hoa kết trái giữa hai người. họ đã thề sẽ sống bên nhau trọn đời, nhưng một tai họa ập đến với gia đình xa xứ, phải có ba trăm lạng bạc để mua chuộc bọn vô lại, để cứu cha và em trai khỏi sự dày vò của họ, kiều nữ buộc phải bán mình, đó là lời kể. hy sinh tình yêu của mình với kim trong. Bán xong, được cha và em, Kiều ngồi thẫn thờ nghĩ về thân phận và tình yêu, rồi ngỏ lời cầu hôn em gái Thúy Vân để gả Kim Trọng.

Thủy Kiều là một người con gái vị tha, vị tha, chấp nhận hy sinh để cứu cha và anh trai:

“mọi thứ hỗn loạn

lòng hiếu thảo là trọn vẹn cả hai mặt ”

Giữa lúc gia đình và những người thân yêu bị đe dọa, điều đó không thể nghi ngờ. anh phải chọn ngay giải pháp bán mình chuộc cha, hy sinh tình yêu. Khi cứu gia đình trong cơn sóng gió, Kiều lại một lần nữa cảm thấy mình là người đáng trách vì kim quý. Chàng lo thuyết phục Thuý Vân lấy Kim Trọng, trả nghĩa tình thay chàng. có rất nhiều hình thức thuyết phục, nghệ thuật thuyết phục của kiều nhưng câu nói ấn tượng nhất là:

“Ngay cả khi thịt nát, xương mòn

hãy mỉm cười khi chín suối còn thơm ”

nếu thuy van là con người, kiều nữ tưởng tượng rằng sau khi chết, cô ấy vẫn sẽ được an ủi và bình an. Lúc này, mọi suy nghĩ của Kiều đều dồn vào việc trả nghĩa cho Kim Trọng, bởi Thuý Kiều là người có tình yêu sâu nặng, mãnh liệt. Kiều không phải là người chỉ biết hy sinh, chỉ biết chấp nhận đau khổ, bất hạnh vì nếu như vậy thì nhân vật sẽ không hoàn hảo, chân thực. Kiều cũng là người có tình sâu, cũng biết sống cho mình. cô nhận ra sự trống trải và vô nghĩa của cuộc đời khi không còn duy trì được tình yêu với anh. anh bất giác nhiều lần nghĩ đến cái chết. nhờ thuy van, những tưởng anh có thể được bình yên, nhưng không, trong lòng anh vẫn còn rất nhiều đau đớn và day dứt. cô tự than thở. Tình yêu mãnh liệt này cho thấy Kiều cũng sống theo tình cảm, cảm xúc. càng say đắm trong tình yêu, kiều càng cảm nhận được bản chất bi thảm của tình yêu và thân phận.

để thể hiện sự hy sinh, quên mình của Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng nhiều nghệ thuật nghệ thuật khác nhau, ngôn ngữ của kiều có mục đích thuyết phục rất rõ ràng: nói chuyện với em gái, nhưng anh ta lại dùng những từ như “tin em đi, anh sẽ nói cho em biết”. sau này, ân tình máu mủ ruột rà, .. “thật lòng muốn em gái anh phải thay mình trả nghĩa xứng đáng. Anh kính cẩn nói lên lời thề:” Lời thề non nước. “Anh đã nhiều lần nhắc đến những kỉ niệm tình yêu rất đẹp và thiêng liêng.Nhớ từng chi tiết kỉ niệm cho thấy chàng rất trân trọng tình yêu, chân thành với tình yêu. Kiều cũng nghĩ nhiều đến cái chết, chứng tỏ chàng cảm thấy rõ ràng cuộc đời thật vô nghĩa nếu không sống với chàng Kim, đặc biệt chàng còn tưởng tượng ra cảnh nơi âm u. dương và dương cách biệt, hai bên không thể nói chuyện với nhau “mặt đối mặt”.

Kết hợp hài hòa cả tình cảm và lý trí, nhân vật thủy chung là một loại hình mới của văn học Việt Nam giai đoạn 18 – 19, giai đoạn khám phá thế giới nội tâm phong phú và phức tạp của con người.

bình luận về truyện Kiều – bài 2 (cảnh mùa xuân)

cảnh ngày xuân gồm 18 câu, từ câu 39 đến câu 56 của truyện Kiều, thể hiện phong cách nghệ thuật của thi hào Nguyễn Du. một vẻ đẹp thanh xuân, một niềm vui rộn ràng, rộn ràng cứ trào dâng, lan tỏa, rồi lắng đọng trong lòng ta khi đọc bài thơ này.

Trang thơ của nguyễn du mở ra trước mắt chúng ta. Chẳng phải, sau bức chân dung mỹ nữ là bức tranh phong cảnh mùa xuân trong tiết thanh minh và du xuân của trai tài gái sắc, của chị em thủy chung? Bài thơ tả cảnh ngày xuân gồm 18 câu, từ câu 39 đến câu 56 của Truyện Kiều, thể hiện rõ phong cách nghệ thuật tả cảnh và ngụ tình của đại thi hào Nguyễn Du. một vẻ đẹp thanh xuân, một niềm vui rộn ràng, rộn ràng cứ trào dâng, lan tỏa, rồi lắng đọng trong lòng ta khi đọc bài thơ này.

Bốn dòng đầu của bài thơ đã mở ra một không gian nghệ thuật đầy màu sắc, thơm ngát, đầy mê hoặc và thơ mộng. giữa bầu trời bao la có những cánh én bay từ bờ bên này sang bên kia như những “con thoi”. những cánh én mùa xuân thân thiết biết bao. hai từ “thoi đưa” thật gợi và gợi cảm. cánh én giống như những con ruồi bay ngang, bay lượn, đong đưa; thời gian trôi nhanh, thanh xuân trôi nhanh. thành ngữ – tục ngữ: “thời gian trôi nhanh như ngựa chạy, như nước chảy qua cầu” đã đi vào hồn thơ bao giờ chưa?

sau cánh én “đưa thoi” là ánh xuân, là “ánh sáng” của mùa xuân khi “chín mươi là hơn sáu mươi”. cách tính thời gian và miêu tả vẻ đẹp mùa xuân của các nhà thơ xưa là có thật. nó là thú vị và thú vị. nào là “xuân hương lao” (về chàng trai), cảnh mưa bụi, tiếng chim hót trên đường thi, là tiếng vỗ cánh bướm trong thơ trần tục, và “xuân hồng” (xuân điểu), ” chín xuân ”(han mac tu), v.v. với nguyễn du có nghĩa là mùa xuân đã bước sang tháng ba, “thiêu quang chín mươi tuổi, hơn sáu mươi tuổi”. hai chữ “thiều quang” gợi lên màu hồng của ánh xuân, hơi ấm của khí xuân, sự bao la của đất trời “xuân xanh, nước xuân theo trời xuân” (nguyễn tiêu – thành phố hồ chí minh) .

còn là màu dịu dàng “xanh mướt”, tiếng gọi ngọt ngào của những ngọn cỏ non trải dài, trải dài như tấm thảm “tận chân trời”. là màu “trắng” trong sáng, thuần khiết của đóa hoa lê lẻ tẻ, mới hé nở, hướng về “một vài bông hoa”:

cỏ xanh đến tận chân trời,

cành lê trắng điểm xuyết một vài bông hoa.

Thơ văn cổ đại của Trung Quốc vẫn được coi là vận dụng sáng tạo: “kiếm pháp liên thiên – lê chi vốn sách”. hai chữ “đốm trắng” là nhãn, là hình thức chấm của thơ. cổ kính gợi vẻ đẹp thanh xuân, trinh nguyên của thiên nhiên cỏ cây hoa lá; phong cách nghệ thuật đầy tính nghệ thuật: trên nền xanh của cỏ non có mấy “lê” trắng giữa khu và điểm, giữa nền xanh và nền xanh. màu trắng của mùa xuân. phong cảnh là cánh én “bay”, màu hồng của ánh đèn trời đêm, là “khát vọng mùa xuân” ngây ngất làm say đắm lòng người:

nhìn những bông hoa đang nở,

khao khát mùa xuân hạnh phúc trở lại.

(bài hát khát vọng mùa xuân – fa-da)

cảnh xuân là hình ảnh mùa xuân lộng lẫy, là áng thơ tuyệt tác của cụ nguyễn du để lại cho đời, tô điểm cho cuộc đời mỗi chúng ta. nhà thơ che lan viên có lẽ đã học tốt để viết nên bài thơ xuân hay này:

Tháng 1 và tháng 2 xanh tươi và nhiều cỏ,

ngày thứ hai của tháng Giêng mọc trên bầu trời …

(nghĩa là mùa xuân)

Tám câu thơ sau đây tả cảnh tiệc xuân: “đảng là lăng, đảng là thanh” trong tiết tháng ba. cụm từ: “lẽ… tiệc là…” gợi lên cảnh sinh hoạt lễ hội dân gian từ bao đời nay: “Tháng giêng là tháng vui – Tháng hai trò, tháng ba tiệc”… (ca. dao). khung cảnh đông vui, tưng bừng, huyên náo. trên các cung đường “xa gần”, dòng người đổ về. có biết bao “con én” ăn mừng trong niềm vui “xúc động”, kích thích, thôi thúc. có nhiều tài tử và mỹ nhân “sánh vai” sánh vai, chân ướt chân ráo. dòng người chật ních ngựa xe “đông như nước”, quần áo đẹp đẽ, màu sắc tươi tắn hàng nghìn người, chật kín đường phố “chật như nêm”. các từ láy: “rộn ràng”, “én liệng”, các ẩn dụ so sánh (như nước, như nêm) đã gợi tả không khí lễ hội tưng bừng diễn ra trên mọi miền đất nước. đẹp, sang trọng và thanh lịch:

quyến rũ nữ diễn viên,

Ngựa và xe giống như nước, quần áo như nêm.

Trong dàn tài tử, mỹ nhân “nức tiếng gần xa” ấy, có 3 chị em ngoại quốc. câu thơ “chị em sắm sửa đi chơi xuân” mới đọc tưởng chừng chỉ là một câu quảng cáo nhưng sâu xa hơn, nó chứa đựng rất nhiều cảm xúc: chờ đợi mòn mỏi, những bữa tiệc đình đám, trẩy hội vào xuân với những bộ quần áo đẹp đã được chuẩn bị. , “mua” … biết bao “bóng hồng” xuất hiện đã từng đến với lễ hội chùa hương, hội lim, lễ yên tử, cảm nhận được cái đẹp, cái vui, cái tưng bừng và sức trẻ ở lễ hội đạp xe mà nguyễn du đã nói đến. .

thơ là nghệ thuật của ngôn từ. các từ ghép: “yến / anh”, “chị / em”, “tài / tử”, “giai / nhân”, “ngựa / xe”, “áo / quần” (danh từ); “gần xa”, “chùng chình / nức nở”, “tiệm / sửa”, “tem / đỡ” (tính từ, động từ) được nhà thơ sử dụng với sự chọn lọc tinh tế, làm sống lại không khí trẩy hội mùa xuân, một nét đẹp của dữ liệu dài. . văn hóa của phương đông, của Trung Quốc, của Việt Nam chúng ta và lối sống “giàu có” của phụ nữ ở nước ngoài.

dàn trải / xếp chồng lên nhau,

hóa đơn bay / phun tro tàu con thoi vàng.

Nguyễn Du đã nói về đời sống tâm linh và các phong tục dân gian truyền thống tại lễ tang với nhiều sự đồng tình và tham gia. cõi âm và dương, người sống và người chết, hiện tại và quá khứ cùng tồn tại trong những gò đất “ngổn ngang” trong lễ chôn cất. một trái tim thánh thiện, những niềm tin dân gian chan chứa tình yêu thương. Các diễn viên, diễn viên và 3 chị em ở nước ngoài không chỉ cầu siêu cho các vong linh mà còn bày tỏ niềm tin, niềm mong mỏi về một tương lai hạnh phúc cho tuổi trẻ khi xuân về. Có lẽ sau hai trăm năm, suy nghĩ của mỗi chúng ta đã ít nhiều thay đổi trước cảnh “thoi vàng, tro giấy bay”, nhưng giá trị nhân văn của thơ Nguyễn Du vẫn khiến chúng ta xúc động!

Sáu dòng cuối của đoạn văn ghi lại cảnh các chị em ở nước ngoài tảo mộ dần về quê hương. mặt trời có “ác quỷ” canh giữ ngọn núi. lễ hội, ngày vui trôi qua nhanh chóng:

tà ma, bóng ngả về tây,

XEM THÊM:  The tay son uprising: society and rebellion in eighteenth

hai chị em bước ra và rời đi.

tại sao bạn không buồn? cuối ngày tại sao không buồn? tốc độ chậm nhịp độ cuộc sống dường như dừng lại. tâm trạng thì “rục rịch”, điệu bộ “bảnh bao”, bước đi “rón rén”. một cái nhìn man mác và u sầu: “nhìn thấy” … đối với toàn cảnh, tất cả đều nhỏ bé. con lạch chỉ là “đầu khe”. khung cảnh “trong vắt”, dòng nước uốn mình “oang oang”, chiếc cầu “nhỏ” cuối ghềnh, cả không gian êm đềm, tĩnh lặng, cảm xúc của chị em kiều nữ như dịu lại trong bóng mát. mặt trời, như thể họ đang mong đợi điều gì đó sẽ đến, liệu họ có nhìn thấy nó không? mắt cứ “dõi theo” xa gần:

từng bước qua đỉnh núi,

chế độ xem toàn cảnh có bề mặt thanh.

các từ tượng hình: “thanh thanh”, “bình thường”, “nhỏ bé” gợi sự tàn phai của cảnh vật và sự rung động của tâm hồn người đẹp khi hội tan, ngày tàn. cảm giác xót xa thấm thía và lan tỏa trong tâm hồn đa cảm và vẻ đẹp đa cảm.

Cảnh và thời gian được miêu tả bằng những ước lệ tượng trưng nhưng rất sinh động, gần gũi và thân thuộc với bất kỳ người Việt Nam nào. không còn xa lạ nữa, bởi ngọn đồi nhỏ ấy, dịp cầu nguyện nho nhỏ ấy chính là màu của đồng quê, là cảnh sắc quê hương của quê hương ta. Tính dân tộc là một nét đẹp đậm nét trong thơ Nguyễn Du, nhất là những bài tả cảnh hữu tình kỳ thú.

nhà thơ xuan dieu từng viết: “ôi xuân hồng, anh muốn cắn em”. yêu mười hai điệu múa, tôi không kìm được cảm xúc mà phải thốt lên: “mùa xuân của tôi … mùa xuân thiêng liêng của tôi … đẹp quá, mùa xuân – mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của miền Bắc Việt Nam thân yêu”. nói thêm: mùa xuân tươi đẹp của đất nước thân yêu của chúng ta !, muôn vàn lời chúc, xuân sắc, xuân tình như hoa, thơm trong tim.

Hỡi các kiều nữ, bạn đã nghe bản nhạc vàng của chàng trai vàng trong ngày xuân tươi đẹp vọng về từ xa chưa?

bình luận truyện Kiều – bài 3 (trích Chị em dâu)

nói về nội dung và nghệ thuật của truyện kiều, nguyễn du thực sự là một nghệ sĩ lớn, một danh nhân văn hóa thế giới. dưới ngòi bút tài hoa của anh. rủa du đã xây dựng một hệ thống nhân vật dù chính hay phụ đều có những tính cách riêng biệt và rất chân thực về từng kiểu người tại thời điểm họ sống. Một trong những nguyên nhân thành công trong việc xây dựng hệ thống nhân vật trong Truyện Kiều có thể kể đến lối viết miêu tả ngoại hình khắc họa tính cách, số phận của từng nhân vật. Điều này được thể hiện rất rõ qua đoạn trích Chị em Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.

ở đầu đoạn trích, nguyễn du giới thiệu vẻ đẹp và phẩm giá của hai chị em thủy chung:

người đầu tiên trong số hai người phụ nữ,

thuy kiều là chị, em là thuy van

bộ xương, thần tuyết,

mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.

với nghệ thuật ước lệ và hình thức đối lập của văn học cổ đại. hình ảnh chị em thủy chung hiện lên với dáng người thanh tú như hoa mai, tâm hồn và đức hạnh trong sáng như tuyết. vẻ đẹp của mỗi người đều có nét riêng, ai cũng đạt đến độ hoàn mỹ “mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười”.

ở vẻ đẹp của từng nhân vật được nguyễn du miêu tả mang hơi hướng thơ cổ điển. mỗi nhân vật là một nét vẽ sinh động và đẹp mắt:

với thuy go:

trông vẫn khác

trăng tròn, khuôn mặt đầy đặn

hoa cười, ngọc trang nghiêm,

mây rụng tóc, tuyết nhường màu da.

để miêu tả khí chất, ngòi bút nguyễn du có một hướng đi cụ thể, từ khuôn mặt, lông mày, màu da, màu tóc cho đến nụ cười, giọng nói, phong cách ứng xử. nàng có khuôn mặt xinh đẹp, đầy đặn và sáng như trăng rằm, đôi lông mày đẹp như con ngươi (về chi tiết này, thực tế có nhiều ý kiến ​​khác nhau. Có người cho rằng nhà thơ sử dụng những hình ảnh tượng trưng cho “vẻ đẹp của anh” Đó là không nhằm tả đôi lông mày của Thuý Vân như bộ râu gợn sóng của con trai mà để tả thân hình cân đối, đầy đặn và hoàn chỉnh của chàng). chỉ khi đó bạn mới có thể tạo ra một bức chân dung tuyệt đẹp về cô ấy. khuôn mặt nhân hậu, đẹp như trăng rằm, đầy đặn và tươi tắn … phải đi kèm với thân hình cân đối đó. vẻ đẹp của thùy vân còn được thể hiện qua hình ảnh miệng cười tươi như hoa, làn da trắng hơn tuyết.

thông qua việc sử dụng sáng tạo các biện pháp nghệ thuật ước lệ, nhân cách hoá, giản lược những từ ngữ quen thuộc, tác giả đã khắc hoạ nên một nàng thuỷ chung xinh đẹp, nhu mì, đoan trang, nhân hậu, một vẻ đẹp mà thiên nhiên sẵn sàng nhường cho “mây mất tóc, tuyết nhường màu da ”, như anh dự đoán cuộc đời mình sẽ bình yên, hạnh phúc.

nguyễn du tả thủy văn trước, sau tả thủy kiều, đó là cách tạo ra những điềm báo của nghệ thuật “đòn bẩy” để làm nổi bật tài năng của kiều, nhân vật trung tâm của vở diễn.

kieu sắc hơn và ngọt ngào hơn

so với tài năng là một phần hơn.

Nét vẽ đẹp của thuy kiều hơn nét đẹp của thuy văn. các đường vân được mô tả với vẻ đẹp hoàn hảo. kiều vượt ra khỏi sự hoàn mỹ đó để trở thành cái đẹp tột cùng. bài thơ so sánh nhưng là để khẳng định cái tài hơn người của thủy chung văn mệnh. trong vẻ đẹp “sắc sảo” của kiều còn có cái “mặn mà” của tình người. chỉ khi đó, kiều mới đạt đến mục đích cuối cùng là tình người. chỉ khi đó, kiều mới đạt đến mục tiêu cuối cùng là hoàn thiện.

Chỉ có một vài câu thơ mà cụ Nguyễn Du đã nêu bật được tài năng, vẻ đẹp và tình yêu, ông thực sự tuyệt vời về nghệ thuật miêu tả. Ở điểm này, Nguyễn Du không miêu tả vẻ đẹp của Kiều một cách chung chung mà chú ý đến việc miêu tả đôi mắt:

mùa xuân sơn trang

<3

Đôi mắt đẹp của Thúy Kiều được ví von như “làn nước mùa thu”. mùa thu nước trong, sáng và gợn sóng. đôi mắt đó đẹp, họ có tình yêu và họ có một sức hút mạnh mẽ. đôi mắt ấy ẩn hiện dưới hàng lông mày mềm mại xinh đẹp như núi mùa xuân, càng thêm thanh tú, hài hòa. nếu vẻ đẹp của thủy chung và trời xanh có nhường nhịn thì trước vẻ đẹp của thủy chung, thiên nhiên cũng trở nên ghen ghét, đố kỵ: “hoa ghen”, “liễu hờn”. Với phong cách nghệ thuật ước lệ, tác giả khéo léo sử dụng phép nhân hóa, tạo cơ hội cho người đọc suy ngẫm về quan niệm triết học của Khổng Tử: “nhân duyên tương phùng”, “hồng nhan đa truân”. người tài giỏi như kiều thì sau này khó lập thân.

Kiều nữ không chỉ được nhắc đến với vẻ đẹp “khuynh nước khuynh thành” mà cô còn là một cô gái rất tài năng và thông minh. ông có tài làm thơ, tài hoa, tài hoa. nhưng có lẽ tài năng mới là điểm nhấn:

trí thông minh vốn dĩ là thần thánh,

<3

mức độ ngũ âm của cung điện,

nghề tư ăn nên làm ra từ hồ cầm trịch.

chương được lựa chọn cẩn thận,

một số phận bạc lại càng không có tâm.

vẻ đẹp của kiều nữ đủ khiến cây liễu ghen tị và làm cho nước tràn bờ. rồi tài năng và trí tuệ thiên bẩm “độ”, “đầy mùi”, cùng với tâm hồn đa sầu, đa cảm của chính mình làm sao tránh khỏi sự hủy diệt của số phận nghiệt ngã, và chính tay anh đã bước đi “số phận bạc mệnh” đầu tiên đầy xót xa và đau khổ. Vẻ đẹp, tài năng, tình yêu và số phận của Kiều được miêu tả trong đoạn thơ là dấu hiệu báo trước bi kịch tiếp theo mà chàng phải chịu đựng trong suốt 15 năm sống lang bạt, chìm nổi.

bi kịch của cuộc đời anh ta đáng giá như những người trong câu chuyện nhận xét:

những mầm hoa anh đào;

Người nhặt bạc có tài cả đời.

vẻ đẹp của người tài hoa là vẻ đẹp của những con người thông minh và giàu cảm xúc. Trời xanh đã phú cho nàng cả tài năng lẫn sắc đẹp, rồi cùng nhau dằn vặt nàng với bao khổ nạn theo triết lý nghiệt ngã của số phận “chữ tài, chữ phúc, hận nhau có”. và có lẽ, triết lý nghiệt ngã ấy là sản phẩm của chế độ phong kiến ​​đã trói buộc và đè bẹp những con người tài hoa, chứ không chỉ là những kẻ ngoại đạo. Chính vì vậy, khi viết Truyện Kiều, Nguyễn Du muốn nêu bật sự đối lập hoàn toàn giữa quyền sống của con người, nhất là của phụ nữ và sự áp bức của chế độ phong kiến ​​trong thời kỳ suy tàn. một trong những biểu hiện của cảm hứng nhân đạo trong truyện kí là sự bênh vực giá trị con người. đó có thể là phẩm cách, tài năng, khát vọng, ý thức về bản thân… tài hoa mà Nguyễn du miêu tả trong đoạn trích này là một trong những đặc điểm ông muốn làm nổi bật ở “một con người”. nguồn cảm hứng để mọi người ngưỡng mộ và ca ngợi. có lẽ không ai khác ngoài nguyễn du, không chỉ biết sâu sắc về con người mà còn thấy được giá trị đích thực của con người. đó là điều mà nguyễn du dự định trong tác phẩm vĩ đại này.

đoạn thơ là một biểu hiện độc đáo của nghệ thuật miêu tả nhằm tái hiện một cách sinh động vẻ đẹp, tài năng, nhân cách, số phận và thuỷ chung. Và đằng sau đó là cảm hứng nhân đạo của thiên tài văn học Nguyễn Du.

bình giảng truyện kiều – bài 4 (trích truyện kiều báo thù báo thù)

Trong hành trình lang bạt của cuộc đời, Kiều đã phải nếm đủ thứ cay đắng tủi nhục “hết tai ương này đến tai họa khác” khiến nàng đến tuyệt vọng. trong hoàn cảnh éo le ấy, tu hải xuất hiện như một làn gió mới làm thay đổi cuộc đời của những người Việt Nam ở nước ngoài: tu hải, người anh hùng nghĩa hiệp, không chỉ cứu Việt kiều thoát kiếp xanh, mà còn cứu cả những người đưa từ thân phận hèn mọn xuống trần gian. .vị trí quan tòa người cầm cân nảy mực để thực hiện “quả báo, trả thù”. đoạn trích miêu tả cảnh thủy chung tri ân những người đã giúp đỡ mình, đồng thời trừng trị những kẻ vô nhân tính, độc ác.

cảnh báo “báo thù trả thù” là đỉnh điểm của sự phát triển của tình tiết được kể trong một dòng dài 162 dòng (từ dòng 2289 đến dòng 2450). đối tượng tri ân là các chú tiểu, các quan, các sư, các chú. tên báo thù là hoạn quan, bạc hà, hanh bạc, khuyến ung, mã sinh, tu ba, sở khanh. đoạn trích trong bài giảng đã được lược bỏ, chủ yếu chỉ ra rằng thúy kiều báo đáp công ơn và báo thù của người chú.

XEM THÊM:  Truyện Kiều: Một từ hoa, nhìn ra tiếng Việt

nhân vật của cuộc trò chuyện thân mật, thủy kiều kể lại tất cả những khó khăn của mình. tu hai tức giận sai quân bắt cóc tội phạm, đồng thời mời hảo tâm giao cho Việt kiều xử tội “báo thù, trả thù”.

phiên tòa được mở ra hoàn toàn với “ba quân” gồm những thanh kiếm lớn và những ngọn giáo dài sáng chói, bên trong và bên ngoài, người bảo vệ, cơ thể đó … trong khung cảnh hùng vĩ đó, cực phẩm được đưa từ biển. trình tự rõ ràng: trả trước, trả thù sau.

người chú được mời đến phòng xử án đầu tiên “để gươm đến tay người chú”. Trước khung cảnh hoành tráng của phiên tòa, người chú hoảng sợ đến mức mất mặt “như dính chàm, người như run lên cầm cập”. Người chú lo sợ có lẽ vì tính tình nhút nhát, thậm chí không thể bảo vệ được người mình yêu nên thái giám tự do hành hạ thái giám. hơn ai hết, anh ấy đã khơi dậy nhận thức đầy đủ về vấn đề này, để nỗi sợ hãi của anh ấy được nâng lên mức cao độ. nhưng dẫu sao người chú vẫn được coi là ân nhân của kiều nữ, vì người chú đã cứu nàng khỏi vũng bùn để cưới nàng về làm vợ lẽ và tạo cho nàng những tháng ngày hạnh phúc về cuộc sống gia đình êm ấm. với một người tốt bụng như kiều, anh rất thông cảm cho sự bơ vơ của chú mình và không thể quên được anh. Thực ra, Kiều không buộc tội chàng thư sinh mà càng tỏ ra kính trọng chàng hơn. trong tình nghĩa vợ chồng (dù đã là vợ lẽ), thủy chung vẫn cho rằng “nghĩa tử ngàn đời” nên không việc gì phải phản bội. được người xưa đặt trong mối quan hệ thân tình, kính trọng, thủy chung nên ông có cách dùng từ “tiền bối”, “tiền bối”, “nghĩa phụ”, “cảm ơn” và “samsung” cổ điển. . tình yêu “. Cách nói này phù hợp với tính cách của thuỷ chung. Đó là vẻ đẹp của lí tưởng công lí, của công lí nhân dân, trong đó có lòng biết ơn” ngàn cân treo sợi tóc “mà nói” công ơn xứng đáng. -có duyên gọi là “.đây là nét đẹp của quan niệm về đạo. tấm lòng” nghĩa nặng tình trẻ “là gấm vóc, bạc vàng có thể đo được. Đối với học sinh, kiều đặc biệt hiểu và nâng đỡ. Kiêu hiểu rằng của mình. đau khổ không phải do cậu mình gây ra mà thủ phạm chính là thái giám, chính vì vậy mà khi nói chuyện với chú, kiều nói về thái giám, điều đó cho thấy cơn đau đầu mà tên thái giám gây ra cho cậu vẫn còn quá đau. thái giám, giọng nói của hải ngoại thay đổi hẳn, đó là giọng của một thẩm phán với sự mỉa mai đầy đe dọa:

“vợ của quỷ

lần này gặp lại tên trộm cũ ”

nguyen du đã vô cùng khéo léo khi sử dụng hiệu quả nhất những câu thành ngữ quen thuộc “kẻ cắp gặp bà già”, “con kiến ​​chui vào miệng chén” để thể hiện hành động trừng trị cái ác theo quan điểm. theo quan điểm của người dân, vì vậy ngôn ngữ cũng rất đơn giản và đơn giản theo cách nói của người dân.

sau đây là cảnh thủy chung báo oán. không khí phiên tòa thay đổi mạnh mẽ. giọng nói hài hước, dịu dàng, đằm thắm của một cô gái ngọt ngào, thủy chung, cay đắng và lạnh lùng của một người đàn bà từng trải, đã hơn mười năm nếm trải mọi cay đắng. nay đối mặt với thái giám, thủ phạm chính, kiều diễm sắc bén như ai.

đầu tiên là một cách để quyến rũ đối phương của bạn:

đột nhiên anh ấy nói xin chào tôi:

Quý cô bây giờ cũng đã đến đây.

cách xưng hô với bà vẫn giống như ngày xưa “chào”, “cô”, khi Thủy kiều vẫn còn thân phận người hầu trong nhà, thì cách xưng hô này ngày nay đã thấm sâu vào lòng người. con người “ác ma” nỗi đau của kẻ bị hạ gục. giờ đây thái giám không còn là con gái của “gia đình hoạn quan” nữa mà trở thành tội đồ bị giam giữ tại đây để hầu tòa, nhưng bên ngoài chính là quan tòa là người quyết định tương lai và số phận của thái giám.

tiếp theo

là giọng nói chua xót và cay đắng của nàng thuy kiều.

phụ nữ dễ có bao nhiêu bàn tay,

trong quá khứ, có bao nhiêu đối mặt với cuộc sống này!

thật dễ dàng để trở thành một người đẹp,

càng cay đắng, càng không công bằng.

Phải nói lúc cần thiết, thủy kiều càng lộ rõ ​​tay không vừa. với giọng da diết khiến câu thơ như đọng lại từng chữ, khi lặp đi lặp lại các từ: dễ, dễ, tay, mặt, đời xưa, đời này, mấy khúc ruột, càng cay đắng, càng oan. cách nói này hoàn toàn phù hợp với con người “ác ma” như thái giám “bên ngoài thì nói cười, bên trong thì nham hiểm giết người không dao”.

Giọng Kiều thể hiện rõ nỗi tức giận tột cùng, chứng tỏ nàng đang quyết tâm trừng trị tên hoạn quan theo quan niệm “thâm cung, nghĩa sâu”. Đã thấy rõ thái độ của kiều, nhưng dường như kiều đã từ bỏ vai trò quan tòa mà trở thành kẻ đối đáp ngang ngược với kẻ thù của mình trong thân phận một người đàn bà không ai bằng. hình thức tố cáo cụ thể chỉ ở mức độ chung chung, chứ không phải là sự mất mát của phụ nữ. lợi dụng tình hình này, thái giám đã tìm cách lợi dụng lý lịch của cung nữ để xoay sở. Trong những giây đầu tiên, thái giám “hồn xiêu phách lạc”, nhưng sau đó thái giám nhanh chóng trấn tĩnh “nếu có chuyện”.

rằng: Tôi hơi phụ nữ

ghen tuông cũng phổ biến

suy nghĩ một lúc để viết kịch bản

để tình yêu của tôi không dừng lại

trái tim của chính tôi, những người thân yêu.

Chồng chung không dễ với ai

trót lọt đã gây ra sự cố

Bạn có còn mơ được yêu một bài hát không?

Đúng là câu nói của con nhà thái giám “nói gì trói tay, già cũng đành”. trước hết, hoạn quan dựa vào lòng nhân ái, thương hại của người phụ nữ để tha tội: “rằng:” ta là kẻ ba hoa: ghen tuông vớ vẩn “. Lập luận của thái giám quả là cao siêu trong nghệ thuật đối. phòng the .chỉ trong phút chốc thái giám đã lôi kéo được kiều về bên mình hay chí ít kiều cũng chung một phần “phận đàn bà con gái nhỏ”. Là phụ nữ thì ai cũng như vậy, không riêng gì thái giám. Xin giảm nhẹ mọi tội lỗi cho các cung nữ. , để các chị em dễ thông cảm điều này, nếu thái giám có tội thì cũng là do tâm lý chung của các chị em: “chồng không dễ lấy lòng ai”.

Tất nhiên, hoạn quan biết phải che giấu những gì để thoát khỏi tội lỗi của họ, chẳng hạn như đánh đập, bắt cóc, tra tấn, đày ải và đe dọa đày ải, nhưng họ chỉ thừa hưởng “công” mà họ được ban cho. Kiều viết Kinh ở đồn Quan Âm và cũng bị bắt khi Kiều trốn khỏi nhà thái giám. đây cũng là một thủ đoạn ngụy biện có một không hai, cuối cùng viên thái giám nhận hết tội lỗi và mong tấm lòng bao dung độ lượng của kiều nữ sẽ tha thứ cho mình: “có phải còn do lòng nhân hậu hay không?”.

về độ xảo quyệt, xảo quyệt, hoạn quan không có đối thủ. nhưng với kiều chỉ là một mùa gió sương, khổ nhiều chứ chẳng liên quan gì đến dòng dõi gia đình hoạn quan gian xảo, xảo quyệt của bọn hoạn quan. ngay cả gã đó cũng chẳng là gì đối với tên thái giám đó. thứ nhất là một người đã dấn thân vào thế giới bên ngoài, nhưng khi nói ra thì việc nhẹ là thông cảm và bỏ trách nhiệm. cái giọng điệu “ma chê quỷ hờn” ấy của gã thái giám đã làm xiêu lòng bao kiều bào. Việt kiều đành chấp nhận gã hoạn quan “khôn đến mức không nói nên lời”. viên hoạn quan đã đẩy Việt kiều vào thế khó xử: “có buông thì mấy đời cũng thế; có thì cưng cũng nhỏ”. Thái độ bao dung, độ lượng của Kiều rất rõ ràng, mới đây Kiều đã quyết trả thù để được toại nguyện, để vết thương lòng trong lòng vơi đi đôi chút. nhưng rồi mọi chuyện đảo lộn trong phút chốc, do thái giám “khôn quá” nên cũng tha tội và kiều “hạ lệnh cho quân xuống xin tha ngay”.

phiên tòa xét xử thái giám có một cái kết rất bất ngờ, nhưng thực tế nó cũng phù hợp với logic của đoạn văn, với tính cách của nhân vật. Việc tha bổng cho hoạn quan khỏi kiều không hoàn toàn phụ thuộc vào sự “tự biện minh”, mà chủ yếu vào lòng hảo tâm của kiều bào. Hành vi này của người kiều một phần phù hợp với quan niệm triết học bình dân: “Đánh người bỏ chạy, không đánh người bỏ chạy”. dẫu sao, người thiếu nữ bị bắt tại tòa đã “hồn xiêu phách lạc”, đã “cúi đầu nhận tội”, xin khoan hồng, nghĩa là công lao đã có một phần. việc đổi ngôi đã rõ ràng và kiều trở thành quan tòa có thang đo công lý để xét xử.

đoạn trích Thủy kiều có kết cấu theo tính cách nhân vật, tâm lí con người và đạo lí mang tính chất duy tâm. Thông thường, oán hận của con người sâu sắc hơn ân huệ, trả thù được nghĩ đến trước khi trả thù. nó là tình cảm, nó là tâm lý tự nhiên. nhưng ở đây thì ngược lại. Sự kiện đó đã phản ánh phẩm chất của thủy chung: một người trung nghĩa, vị tha, biết nghĩ cho người khác hơn mình, nên ân hơn báo oán. và đây cũng là công lý của người dân; đánh giá cao lòng tốt hơn là ghét bỏ. đây là những gì chúng ta cảm nhận được từ dòng dõi của dân tộc mình.

đoạn trích Thủy kiều thể hiện tài năng sáng tạo của thiên tài văn học Nguyễn Du trong nghệ thuật xây dựng nhân vật. Chỉ với một vài nét vẽ nghệ thuật thông thường, hồn ma hiện ra như một con người nhút nhát và đáng thương, và đặc biệt là phong thái của nhân vật: thái giám khôn ngoan, sắc sảo; thủy chung nhân hậu, bao dung, độ lượng trong việc phá án “trả thù”. Và qua đó cũng phản ánh được khát vọng, ước mơ công bằng chính nghĩa của thời đại Nguyễn Du.

hòa bình chung

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Bình giảng tác phẩm truyện Kiều. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *