Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
147 lượt xem

Tổng hợp các tác giả văn học trung đại Việt Nam

Bạn đang quan tâm đến Tổng hợp các tác giả văn học trung đại Việt Nam phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Tổng hợp các tác giả văn học trung đại Việt Nam

Văn học trung đại Việt Nam đã trải qua một thời kỳ hình thành và phát triển rất lâu dài. kéo dài gần 10 thế kỷ. Trong thời gian đó, đã xuất hiện nhiều họa sĩ tên tuổi trên lĩnh vực thơ ca Việt Nam. cả hai đều là nhà văn, nhà thơ và hoạt động trong triều đình. Nhờ đó, kho tàng văn học của chúng ta vô cùng đồ sộ và được nhiều nước trên thế giới ngưỡng mộ.

Ngay bây giờ, hãy cùng tìm hiểu về tiểu sử, cuộc đời và các tác phẩm tiêu biểu của các tác gia văn học trung đại Việt Nam .

Bạn đang xem: Các nhà thơ trung đại việt nam

tổng hợp các tác gia văn học trung đại Việt Nam

1. dong kien cuong (7.5.1284 – 3.3.1330): đạo danh là pháp sư, thiền sư, nhà thơ, quê quán nam sach, lộ lang giang, nay là huyện nam sach, tỉnh hải dương, ông là vị tổ thứ hai của dòng Thiền Trúc Lâm. Đông Cuồng được coi là người có tư chất siêu việt, anh ta xứng đáng được gọi là người khó lường. biên soạn và chú giải nhiều tác phẩm Phật học như thiền học; viết tự nguyện; thiếu tá trung sĩ từ điển; thach rằng ngôn ngữ của tôi; Hiện nay trên đời chỉ còn lại hai bài thơ là gắn với giọng ca và các môn đệ.

2. nguyen mien trinh (3 tháng 2 năm 1820 – 18 tháng 11 năm 1897): nhà thơ, con trai thứ mười một của vua Minh Mạng, tước tuy ly sứ. mien trinh không chỉ là một trí thức uyên bác mà còn là một người có tâm hồn phóng khoáng, giản dị, biết sống lương thiện, biết đối nhân xử thế … thơ văn của ông có nhiều bài, nhưng có lẽ đặc sắc nhất vẫn là những bài. phản ánh hiện trạng xã hội tuy số lượng không lớn.Tác phẩm chính: vi da tụ hội; nữ phạm nhân giải thích nghĩa của từ. Ông và quan tòa tổ chức kỳ thi xã giao.

3. nguyen mien tham (11 tháng 12 năm 1819 – 30 tháng 3 năm 1870): nhà thơ, quê ở kinh đô Huế, con thứ 10 của vua Minh Mạng, tước Thiên Vương. anh đến với mọi người bằng cả trái tim chân thành. đường hoàng, khiêm tốn, phóng khoáng; không phân biệt địa vị, tuổi tác hay sang hèn. tác phẩm: thuong son thi doc; tranh thương mại của bộ; sơn thương thi thoại; thương mại là van di; sơn ngoại thương; Tải lên Tài liệu; tìm hiểu giá cả; thiên cốc; nam cầm phổ; tiểu sử của đại thi hào; nữ tội phạm giải thích từ ngữ, v.v.

4. trần anh tông (25 tháng 10 năm 1276 – 21 tháng 4 năm 320): tên thật là tran truy, ông là vua nóc thứ tư trong 21 năm (1293-1314) và làm hoàng đế được 6 năm. Trần Anh Tông là một vị vua “thông minh, cẩn trọng hình phạt”, “khiêm tốn, nhân hậu, hòa với dân, mọi việc trong triều đều tự quyết”. tác phẩm: thủy vân theo tùy bút của tuyển tập; xem xét các tài liệu chính thức; văn học mới; 5 bài thơ chép ở các triều đại; 12 bài thơ chép khắp Việt Nam thi lục; châm cứu bằng dược liệu.

5. tri bao zen master (? – 19.5.1190): họ Nguyễn, không rõ tên tuổi, chú ruột của danh nhân thành hiển hách, quê ở vinh khang, nay thuộc huyện dân phượng, hà nội tại ông nội, ông khai sáng đường lối, giảng kinh cho nhiều đệ tử, lúc đầu ông chuyên tâm tu khổ hạnh nhưng không nắm được giáo lý của Thiền. sau này, nhờ sự chỉ dẫn của ai đó, ông đã giác ngộ và trở thành một nhà lý luận xuất sắc của đạo phật thiền, “nói ngang nói dọc như lửa trong đá”. các tác phẩm còn lại: một bài thơ về kiến ​​thức, được in trong tuyển tập thái giám luc english zen

6. phan huy c (1782 – 28.5 – 1840): Nhà thơ, nhà sử học Việt Nam. tác động của dòng dõi hiền tài, các mối quan hệ uyên bác, trí thức của ông đã ảnh hưởng không nhỏ đến tinh thần của người Việt Nam. thần, nhân vật của phan huy manu. Phan Huy Chú là một nhà khoa học, nổi tiếng trong giới văn hiến Việt Nam, có tài viết bách khoa toàn thư. tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Lịch triều hiến chương loại chí, gồm 49 quyển chia thành 10 quyển như địa chí, hình luật, văn học chí …, có thể coi là bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Ngoài ra, anh còn có Hoàng Việt di gia chí và các tập thơ, đó là Hoa thiềm thừ; dấu cộng.

7. nguyen mien buu y (30 tháng 5 năm 1820 – 8 tháng 3 năm 1854): nhà thơ, con thứ mười hai của vua Minh Mạng, được phong tước Tuấn an Quận Vương. cùng hai anh em thiền sư cấu thành bức tranh xã tắc. ông nổi tiếng về văn thơ, rất giỏi quốc âm, ghép chữ, thường có nhiều bài hát hay, sánh ngang với đàn nguyệt, tùy bút. các tác phẩm lớn: Humong sơn thi tuyển tập (14 quyển); hem trai văn tập (2 tập), ông cũng viết nhiều thơ lục bát, nhưng hầu hết đều thất truyền.

8. phan văn tri (1830 – 22 tháng 6, 1910): nhà thơ, học giả, quê quán huyện Bảo An, tỉnh Gia Định, nay là huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. ông đỗ cử nhân nhưng không chịu làm quan mà mở trường dạy học. Trước khi thực dân Pháp xâm lược, Phan Văn Trị thường phô trương những cảnh vật để thể hiện ý chí và khát vọng giúp đời, cứu dân hoặc phê phán kẻ bất tài, ham danh lợi. Khi quân Pháp chiếm miền Nam, ông đã viết những bài thơ yêu nước Các tác phẩm: thơ tự sự (tùy bút), và khoảng 100 bài thơ khác như: Con mèo; cối xay gió; ngũ cốc; con rận, nổi tiếng với chùm thơ 10 tấn thơ tứ tuyệt.

9. hoàng kế viên (21 tháng 7 năm 1820 (âl) – 1909): còn gọi là hoàng đế, tự nhất tộc, thiếu tướng quân, văn nhân, danh thần triều Nguyễn, quê quán (phủ hiện nay ) huyện) quang ninh, tỉnh quang bình. ông làm quan đến chức Thượng thư bộ công và thái tử thiếu bảo mật viện. Vương gia viêm tính tình rất khoan dung, có tài tiên đoán, di chuyển không dời, được coi là bậc quân tử. tác phẩm: phê bình trần hoan; tiền thân của sổ đăng ký đặc biệt; bệnh án khôn ngoan; …..

10. Lý thái tông (29.7.1000 – 1054): tên thật là Lý phát ma, sau đổi là Lý đức chinh, con trai của Thái phi Lý công uẩn, 27 năm sau khi lên ngôi, hiệu là chùa là Thái Tông. ông là một vị hoàng đế sáng suốt, thông thạo Phật pháp. nhà vua là một người khôn ngoan và điềm tĩnh, biết trước tất cả những tác phẩm còn lại của mình: bức thư (lịch sử, 3 tập), một câu thơ chép trong vườn thiền bằng tiếng Anh.

11. hưng đạo đại vương (1226? – 3/9 (20.8 âl) .1300): tên thật là Trần quốc tuấn, danh tướng của lịch sử Việt Nam, nhà văn chính luận với hào hùng bất tử. Ông sinh ra tại phủ Thiên Trường (nay là tỉnh Nam Định). đó là tấm lòng tận tụy với nước, ý chí đoàn kết mọi tầng lớp dân tộc thành một lực lượng thống nhất, tinh thần yêu nước thương dân. ông cũng là tác giả của bản tóm tắt. của bộ binh và cuốn sách bí mật của vạn vương triều (đã mất).

12. trần minh tông (04.9.1300 – 10.3.1357): nhà thơ, vua nóc thứ năm, tên tự là minh tông, sinh tại Thăng Long, quê quán thiển lục, nam định. ông ở trên ngai vàng trong 15 năm và làm hoàng đế trong 28 năm. vị vua đem văn minh sửa trị đất nước, khai sáng nền công nghiệp của người xưa, giữ lòng trung nghĩa, tư tưởng sâu sắc, trong yên ngoài phục, thể hiện kỷ cương nề nếp. tác phẩm: minh tông thi tập, rất thất truyền, nay chỉ còn khoảng 25 bài, chép theo phiên âm Việt ngữ thi tập.

13. trần tế xương (10 tháng 8 năm 1870 – 29 tháng 1 năm 1907): tên khai sinh là trần duy uy, sau đổi thành xương mái cao, rồi tế xương mái, nhà châm biếm xuất sắc, nổi tiếng là tu xương, quê làng vi xuyen, huyện mỹ lộc, tỉnh nam định. các sáng tác của ông là sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố hiện thực, trào phúng và trữ tình, trong đó trữ tình là nguyên tác. với cái bon chen của bạn, vẫn chưa chắc có thơ chữ Hán, chỉ là những bài thơ kinh điển viết theo thể loại kinh điển. những bài thơ của ông đăng rải rác trên các báo, sau này được sưu tầm trong thơ văn trần.

14. nguyễn du (01.03.1766- (1765?) (16?) 18.9.1820): nhà thơ. Năm 1965, ông được UNESCO vinh danh là danh nhân văn hóa thế giới. Qua các tác phẩm của Nguyễn Du, điểm nổi bật là sự nâng cao cảm xúc. Nguyễn du là một nhà thơ có trình độ học vấn uyên bác, thông thạo nhiều thể thơ chữ Hán như: thơ cổ ngũ ngôn, luật ngũ ngôn, luật bảy ngôn, ca, hán, … nên ở thể thơ nào, ông cũng có một bài xuất sắc. tác phẩm chữ Việt và chữ Hán, truyện kiều; văn thọ hai cô long; văn hóa mười loại chúng sinh; luyện thi thanh; Bắc Hàn chạm vào luc….

15. tran thanh tong (25.9.1240 -? .6.1290): tên thật là trần hoảng, sinh ra tại mảnh đất thăng long – đại việt, nay là hà nội – việt nam. ông làm vua được 21 năm, có nhiều đóng góp to lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ xâm lược. Thơ Trần Thánh Tông “giàu chất trữ tình, kết hợp nhuần nhuyễn giữa tinh thần tự hào vì đất nước và dân tộc quyết thắng, với lòng yêu cuộc sống thanh bình, yên ả và phong thái ung dung, tự tại của một con người lạc quan, tự tại vô cùng”. . tác dụng: xanh cơ cừu; di cư sau lục địa; hoang tong ngoc phap; tran thanh – tong thi tap.

16. Thiền sư hư không (? – 05.10.100): tên thật là phường hải thiêm, quê quán phủ đồng, huyện tiên du, tỉnh bắc ninh, nay thuộc thành phố hà nội. sinh ra trong một gia đình quyền quý, nhưng lại mồ côi cha mẹ từ nhỏ, nhờ chăm chỉ học hành nên năm 15 tuổi đã thông hiểu nhiều sách. Ông thông thạo sử sách, nghiên cứu sâu về đạo Phật, từng giảng kinh Pháp Hoa trong cung vua Lý Nhân Tông. công việc còn lại: một câu thơ tuyệt vời.

17. ng thị mạnh (15 tháng 7 năm 1726 – 22 tháng 10 năm 1780): nhà thơ, nhà sử học, tự phong học sĩ, người ngoài phong, quê ở huyện thanh tri, nay thuộc thanh tri, thành phố Hà Nội. Ông là cha của ngô, nên chấp nhận, ngô là chi, ngô là hiền, ngô là hương, tất cả các nghệ sĩ, nhà thơ, nhà văn nổi tiếng. ông là một nhà chính trị, một quan chức, nhưng bên cạnh đó, một phẩm chất khác nổi bật ở ngo, đó là tâm hồn nghệ sĩ, đa cảm. trong đó, mọi rung động đều mãnh liệt và sâu lắng. ông luôn nhìn thấu tâm tư của mọi người và đồng cảm với họ, từ than khóc vì một lý do mơ hồ đến những lo lắng, day dứt về số phận và cuộc đời … các tác phẩm: Chuyện Việt Nam phá án; Anh văn luyện thi đại học; quan lan thi tập; bộ thanh động; khue ai luc; cách tồi tệ …

18. moc thien thien (19 tháng 4, 1706 – 1 tháng 11, 1780): tên là mo thien tu, tự là một quân nhân. Ông là nhà thơ, đại thần triều Nguyễn, tước quốc công. là người có tài văn thơ, có tài lập khoa thi xã cho anh trai. công trình: hà tiên xuyên vịnh; Đức hiên bốn cảnh; ha tien quoc âm thập vịnh; sự lười biếng.

19. le huu trac (12.11.1720 (*) – 1791): còn gọi là le huu huan, tên thương mại là hai thương lan ong, danh nho, danh sĩ, sinh ra ở đường hao, tỉnh hải dương ( nay là huyện yên mỹ, hưng yên), nhưng phần lớn sống ở huyện hương sơn, hà tĩnh. đã xây dựng một nền y học dân tộc toàn diện cả về lý luận, phương pháp chữa bệnh và công dụng của những cây thuốc Việt Nam. ông đã để lại nhiều tác phẩm lớn như hải thường và tông tâm lĩnh, 28 quyển, 66 cuốn chắt lọc những tinh hoa của y học cổ truyền, được coi là tác phẩm y học hay nhất của thời trung đại Việt Nam, và các bộ sách thuộc lĩnh vực bản thảo, bộ kinh thường. Kinh giới không chỉ có giá trị về mặt y học mà còn có giá trị về văn học, lịch sử và triết học.

20. Đăng xuân ban (18 tháng 7 năm 1828 – 7 tháng 12 năm 1910): nhà văn, dịch giả, nhà sử học, quê quán Xuân Trường, nay là huyện Xuân Thủy, tỉnh Nam Định. quan điểm thừa nhận công nghiệp và thủ công nghiệp, nêu bật vai trò của thủ công nghiệp và thương mại là một điểm tiến bộ. nó có một khối lượng công trình khá lớn: về lịch sử: lịch sử khảo cổ học; Lịch sử Việt Nam với những tiết mục kỷ yếu, … trên văn đàn: tỉnh tuyền quang; danh pháp nam phuong; như kỳ thi tuyên bố thực hành; Thiên Đình là người có văn hóa…

21. pham quy (25 tháng 12 năm 2760 – 16 tháng 5 năm 1825): đạo tự hủy, bút hiệu là con trai, bí danh là tang cư sĩ, nhà thơ, nhà giáo, danh nhân cuối thời hậu học và sơ khai. vida sinh ra o duong an, thuong hong, nay o hai duong, lam quan trong mot thoi gian, dep thich an hau. thơ anh thường rất buồn. thiên nhiên trong thơ thường là cảnh chiều tối. chùa chiền trong thơ ông thường mang nét phong lưu… nói chung hoài niệm là nét chính trong tất cả các tác phẩm yêu thích của danh sĩ… .tác phẩm: thảo du ký, nguyên tập; thành lập một tuyển tập văn học; thien nam long thu truyện dối trá; dịch vụ hỏi và trả lời ngắn …

22. chu văn an (25 tháng 8 năm 1292 – 12 tháng 12 năm 370): Nhà văn, nhà giáo dục Việt Nam đương đại. chu văn an luôn hướng học sinh của mình đến những giá trị nhân văn và giáo dục. giảng đạo Khổng cho học trò của mình. Thực hành tôn giáo một cách đúng đắn, chính trực, không có tâm địa đen tối, đây là những chân lý chúng tôi dạy cho học sinh của mình. anh ta nổi tiếng về tính cẩn thận, tiết kiệm, điều này thể hiện rõ nhất trong các vụ giết người. các tác phẩm khác: ẩn thơ; luyện thi ẩn ngữ quốc gia; bộ tứ lý thuyết mong muốn; công việc gia đình; nguyệt tịch khoa tiền du sơn tung kính; món quà của bức tranh nhân đạo; lễ hội mùa xuân …

23. do phap thuan (915 – 990): Thiền sư kiêm nhà thơ, quê quán không rõ. Ông có học thức uyên bác và tài thơ phú, ông tích cực ủng hộ triều đình, được phong làm Pháp sư. đó là thời điểm gia đình bắt đầu xây dựng sự nghiệp, lên kế hoạch và chiến lược, anh đã tham gia một cách hiệu quả. cho đến khi thế giới hòa bình, ông không nhận giải thưởng. bài quốc ngữ (đất nước) của ông là bài thơ đầu tiên mở đầu cho nền văn học chữ Quốc ngữ thời kỳ tự cường. Nghị định dời đô (1010: 1000 năm ra đời): văn bản chiếu chỉ do vua Lý Thái Tổ soạn thảo và ban hành để đổi thủ đô của Đại Việt từ Hoa Lư thành Đại La (Hà Nội hiện đại) . Bài luận dài 214 từ nổi tiếng về ý nghĩa và hiệu ứng đặc biệt.

24. nguyễn nguyên uý (1080 – 07.6.1151): văn sĩ, thiền sư, pháp danh viên thông, nhà hiền triết xưa nay thuộc tỉnh bắc ninh, sau dời về thành thăng long. Ngài được xuất gia và thọ giới với Tăng Ni, rồi trụ trì chùa Quốc Ân, truyền tâm ấn, được xếp vào đời thứ 18 của dòng Nam tông. ông là người hiền tài được vua nhà Lý phong làm Quốc sư. truyền thuyết kể rằng nó có hơn 1000 bài thơ, được thu thập trong các tập thơ, nhưng hầu hết đã bị thất lạc.

25. tín học thiền sư (? – 1190): họ, tên không rõ, tín học pháp hiệu, người thị trấn chu minh, phú thiển; Trụ trì chùa Quảng Định trên núi Vô Đạo (Sơn Tây), nay thuộc Hà Nội. tác phẩm còn lại: câu thơ về hổ và báo trên núi, chép lại từ tuyển tập Thiền uyển tập anh.

Xem thêm: Nhà thơ Y Phương đột ngột qua đời – Báo Người lao động

26. trần tung (1230 – 1291): còn gọi là trí sĩ trung nghĩa, nhà nho, nhà thơ, con trưởng Trần liễu, anh hùng đạo đại họa trấn quốc tuấn, có công lớn trong ba cuộc kháng chiến của lực cản đối với các đầu xi lanh ban đầu. ông được phong là hung ninh vường. Vì sinh ra trong một gia đình có nhiều nghịch cảnh, nên ông đã sớm được theo học với thiền sư Thiếu Đạo và trực tiếp tham gia vào những thời khắc quyết định vận mệnh đất nước, từ đó nhận ra chân tướng của cuộc đời và lựa chọn lối sống an nhiên. Ý tưởng chính của trí tuệ trung thương được thể hiện trong câu trả lời cho câu hỏi của vua Trần Nhân Tông, “hãy trở về với chính mình và tìm ra nguyên lý đó, không thể có được ở bất kỳ ai khác”, ông viết bằng chữ Hán, sưu tầm trong Thượng sĩ. luc luc.

27. Lê văn hiu (1230 – 09.4.1322): nhà sử học, nhà văn, danh họa đời Trần thái tông, quê ở đông sơn, thành phố thanh hóa, nay là huyện thiều hoa, tỉnh thanh hóa. ông đỗ đạt năm 1247, làm hầu cận cho Bộ binh, và là một nhà quý tộc. le van huu vừa có tài vừa có đức. ông trở thành một minh chủ của chiu-minh-vuong, đổi sang làm quan luật học, biên tập sách Việt chí. van huu là một người chép sử giỏi về lịch sử trần thế, vợ ông là một trưởng lão của tòa thánh. tất cả đều tuân theo sắc lệnh biên soạn quốc sử, tìm kiếm tất cả những tài liệu còn sót lại, biên thành sách. tác phẩm nổi tiếng nhất của ông: ghi chép lịch sử của Đại Việt.

XEM THÊM:  Nhà thơ nguyễn huy hoàng tìm được con gái

28. pham ngũ lão (1255 – 1320): nhà thơ, danh tướng, văn võ toàn tài, quê ở huyện đường hao (sau gọi là mỹ hao), nay là an thị, tỉnh hưng yên. ngay từ khi còn rất nhỏ, cậu bé năm tuổi đã bộc lộ tính cách khác thường và quyết đoán. pham ngu lao còn là người hết lòng vì nước, cả công lao và danh vọng đều vang dội. tác phẩm nghệ thuật hoài cổ (xưng tụng, chép khắp việt thi lục); Tiếng kêu hùng dao vông (ghi trong thần tích xã phú ứng).

29. Đỗ khốc chung (1247 – 1330): còn gọi là trần khác tướng, nhà thơ, thổ thần nổi tiếng, sinh tại Gián sơn, nay là huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, có công lập đóng góp to lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, được vua ban thụy hiệu, phong làm Thái sư. Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư nhận xét Trần Khắc Chung là người hay giả vờ và làm những việc khác thường để thu hút sự chú ý của các công chúa, phi tần. tác phẩm: 2 bài thơ hoa cúc i và ii.

30. Đoàn hài kịch (1280 – 1335): văn sĩ, nổi tiếng thổ thần, sinh ra tại huyện tam tân, nay là huyện gia địa, tỉnh hải dương, làm việc ở mật viện, khi ông chết được phong là Thượng đẳng phúc thần. ông là người có tài điều hành đối ngoại và đối nội, lần lượt giữ các chức: trung thư, tham mưu chính trị, hành pháp, thiên tử tuyển sứ, kinh lược sứ. phần còn lại của tác phẩm: nghĩ về hoàng đế và hoàng đế cảm ơn hoàng đế.

31. nguyễn trung ngạn (1289 (1) – 1370): tự khai quốc công thần, làm quan đến chức, làm quan đến chức đại học sĩ viện khoa bảng, khai khoa tính. huyện, tự tước bỏ chính quyền nhà nước … khi còn trẻ, mr. nổi tiếng thông minh, ông được người đương thời tôn là “thần đồng”. ông đã làm quan suốt 5 triều đại nhà Trần, xuất sắc về mọi mặt chính trị, quân sự, ngoại giao, luật pháp, lịch sử… các tác phẩm: thế giới văn thơ; luật hình sự thư; kinh điển triều đình; ma nhai kỹ đám đông.

32. Trần Nghệ Tông (1321 – 1394): Tên thật là Trần Phủ, con thứ ba của vua Trần Minh Tông. . nghệ thuật là nhẹ nhàng, tôn trọng và sợ hãi. nhưng sức võ không đủ để đánh giặc, trí khôn không đủ để phân biệt dối trá. công trình: công suất bão hòa còn lại plume; tran nghe tong thi tap (copy of toan viet thi tap).

33. nguyễn ba tinh (1330 -?): pháp sư tinh, nhà thơ, danh y, quê ở huyện cẩm giang, tỉnh hải dương. ông đỗ Hoàng giáp nhưng không ra làm quan mà đi tu. Ông được cử sang Trung Quốc truyền giáo, được vua Minh phong là Đại y thiền sư. Không dừng lại ở vị trí thầy thuốc, Trí Tuệ Tịnh còn tự mình tuyên truyền các phương pháp vệ sinh và tổ chức khám chữa bệnh tại các chùa, làng. Sự khôn ngoan và lòng trắc ẩn cho số phận của mình và luôn đau đáu về một ngày trở về quê hương, trốn khỏi vùng đất xa lạ, được thể hiện qua việc ông khóc trong lễ lên ngôi tại triều đình của vương triều. cho đến ngày nay, trên bia mộ của ông vẫn còn dòng chữ “Người đi phương Nam cho ta trở lại”. works: hong nghia tu y chart; dược liệu; Thiền tông chú trọng đến sự sáng suốt.

34. thai thuan (1440 -?): tự là nghia hoa, hiệu khê, biệt hiệu là đường, quê quán huyện Siêu Loại, nay là thủ thành, bắc giang. Lê Thanh Tông đã phong cho anh ta danh hiệu phó soái của tao đàn. Thơ Thái Thuận có một phong cách riêng, ít khi rơi vào khuôn sáo, châm biếm như thơ của nhiều tác giả cùng thời, nhất là những tác giả cung đình. Thơ ông hiếm có cái hùng tráng, du dương, cảm xúc mạnh mẽ, màu sắc rực rỡ như thơ Nguyễn Trãi, và cũng hiếm có cái giọng hào sảng, tự mãn thường thấy trong thơ Lê Thánh Tông. thơ ông thanh thoát, bình dị, không màu mè, trang trí công phu, mới lạ, độc đáo, phóng khoáng, giàu chất hiện thực, giàu chất trữ tình. tác phẩm: la duong thi cao (gồm 4 quyển) và có 157 bài thơ được viết bằng tất cả các tiếng Việt.

35. nguyễn nguyên bong (1450 -?): còn gọi là nguyễn trong, quê ở huyện võ tỉnh bắc ninh, nhà thơ, hội viên hội tao đàn, được đổi quốc tịch. do le thanh tong thành le trong italy, làm quan đến chức Thị lang. theo toan viet thi luc de le quy don, anh la nguoi tot trong thơ nom. Tác phẩm của họ Nguyễn khá nhiều, nhưng lại được chép rải rác trong nhiều thư tịch, số lượng không thể đếm xuể, sưu tập đầy đủ cũng không được. tác phẩm: canh phú (quốc âm) bát mắm vịnh tiêu; 19 bài thơ chép trong toan viet thi luc.

36. hoàng diểu (10 tháng 2 năm 1828 – 8 tháng 3 năm 1882): nhà thơ yêu nước, nhà báo, nhà tự ảnh, tình trai, quê quán điện phú, quang nam; Năm 1853, ông được bổ làm Tri huyện Tuy Phước, Bình Định, sau thăng Tri huyện Lạng Giang (Bắc Giang), Án sát Nam Định, rồi phụ chính Bắc Ninh. hoàng điều quan tâm chăm lo đời sống nhân dân bằng công lý và trật tự ổn định. ngoài cung đình, ông còn sáng tác thơ văn. tác phẩm của ông độc đáo và có tiếng vang đặc biệt. tác phẩm chính: di di (bản ghi để lại trước khi ông qua đời) hay còn gọi là phản trần.

37. duong khue (1839 – 6/3/1902): Trạng nguyên, trường văn khoa, quê quán sơn minh, phủ ung hoa, nay thuộc Hà Nội), đỗ tiến sĩ năm 1868, làm quan đến chức tước. chức vụ thượng thư. . là một công chức trong thời kỳ quá độ, con đường làm quan không mấy dễ dàng … nên những sáng tác của ông là phương tiện giúp ông xoa dịu nỗi bất mãn với thực tại … mặc dù làm thơ chữ Hán nhưng ông đã nổi tiếng về tài những bài ca trù. với sự trau chuốt về ngôn ngữ và sự hòa hợp về âm sắc, khiến những ca khúc này luôn thu hút người nghe. ông đã sáng tác nhiều bài thơ bằng chữ nôm làm lời cho các bài ca trù nổi tiếng. tác phẩm chính: hồng hồng, tuyết tuyết; lưu giữ đề thi; động hương; gặp lại đào xưa; thăm cô đào bị ốm; tặng anh một cây đào; tặng anh ấy những bông hoa cúc; chơi các bài hát ngẫu hứng; …

38. phan huy ich (9.01.1751 – 12.3.1822): nhà văn, tên thật là phan công huệ, tự khiêm, hiệu du am, thu hoạch thị trấn, huyện thiển, nay là huyện hà, tỉnh hà tĩnh; năm 1775 đỗ Tiến sĩ đồng, làm quan đến chức Thượng thư bộ Lễ. phan huy ich thực sự là người có tài không chỉ về chính trị, văn học mà còn rất nhiệt tình với thời cuộc. Thành tựu chính trị của Phan Huy Ích, đặc biệt là trong công tác ngoại giao, là những đóng góp và chiến công không nhỏ của ông đối với triều đại Tây Sơn. Ngoài ra, ông còn là một tác giả lớn có nhiều đóng góp cho nền văn học và văn hóa dân tộc. ông đã sáng tác rất nhiều bằng cả kanji và nom. tác phẩm chính: ví dụ am nhúng cuốn sách hex; ví dụ tôi biết chữ; hoa cúc duong bach vinh thi tập; do dang tran dịch với.

39. nguyễn đình chỉ (1/7/1822 – 3/7/1888): nhà thơ, nhà văn hóa, nhân cách tiêu biểu yêu nước thương dân. Ông quê ở Tân Bình, Gia Định, nay là Thành phố Hồ Chí Minh; đỗ đạt cao, mở trường dạy học, bốc thuốc. ông là một nhà thơ có quan niệm văn chương nhất quán. ông chủ trương sử dụng văn học để thể hiện đạo đức và đấu tranh cho chính nghĩa. hay nói cách khác, ông làm thơ để “mang đạo, sửa đời, dạy dân”. vì vậy, mỗi bài thơ của ông đều hàm ý khen, chê công bằng, rạch ròi, đồng thời thể hiện trong lòng ông tấm lòng yêu nước thương dân. Ông thường sử dụng chữ nôm, và với ngôn ngữ nghệ thuật giản dị và giàu sức gợi, ông đã làm cho tác phẩm của mình trở nên hấp dẫn với người đọc, đặc biệt là người miền Nam. tác phẩm chính: nguyệt văn tiên (thơ tự sự); chữ dương – hà mai (truyện thơ); chạy về phía tây (1859); nhà từ thiện văn học cần giôc (văn học, 1861); chuyện người đánh cá (truyện thơ); Mười hai bài thơ và tiểu luận của Trương Định (1864); Mười bài thơ về Phan Tòng (1868), Trận đồ của những người làm từ thiện văn học ở Lục tỉnh (1874); …

40. phan chu y (9 tháng 9 năm 1872 – 24 tháng 3 năm 1927): nhà văn, nhà báo cách mạng, tự tử, hiệu là Hồ Tây, biệt hiệu là Hỷ Ngựa, quê quán Tiên Phước, Quảng Nam. đỗ phó tổng thống, được bổ nhiệm làm thứ trưởng bộ lễ, sau đó từ chức Thượng thư để hoạt động cách mạng và chủ trương đấu tranh hòa bình; ông bị bắt và đày ra tù và đưa sang Pháp; Năm 1925, ông về nước để phẫu thuật và mất tại Sài Gòn. phan chu trinh luôn có ý thức dùng văn chương để làm cách mạng. các tác phẩm của ông nổi tiếng với những bài chính luận hùng hồn, lập luận chặt chẽ. ông còn sáng tác thơ văn, đều thấm nhuần tư tưởng yêu nước. các tác phẩm lớn: bức thư đầu tiên của chính phủ hợp pháp (điều trần, 1906)); quốc ca (1907 – 1922); vẻ đẹp của thời gian, giải thích của bài hát (1912-1913) santé thiet (bài thơ, 1925); tây hồ thiết (tập thơ); …

41. nguyễn trai (1380 – 19 tháng 9 năm 1442): nhà văn, nhà chính trị, nhà tư tưởng lỗi lạc, người Ức trai, sinh tại huyện phƣơng sơn, lộ giang, nay thuộc tỉnh hải dương. Nguyễn Trãi được coi là nhà tư tưởng lớn của Việt Nam, tư duy của ông là sản phẩm của văn hóa Việt Nam thời hậu Lê. Nguyễn Trãi là một nhà văn chính luận được chú ý, các tác phẩm chính luận của ông đều có lập luận chặt chẽ, lập luận mạch lạc với giọng văn linh hoạt. ông còn là một nhà thơ trữ tình xuất sắc, các tác phẩm chính của ông là: Quan trung từ mệnh; ngô nồi to; kiểm tra thực hành quét não; dư địa lý; chi linh sơn phu; quốc âm thi tập; … Những kỷ niệm về một kỳ thi (1480)

42. then dao (1732 – 9.1802): văn sĩ, trường phái ngo gia văn; huyện thanh oai, nay là huyện thanh trì, hà nội. ông từng giữ các chức vụ đại thần, tri bộ, thứ trưởng, ủy viên kinh bác sĩ … ngo, đạo sáng tác rất nhiều, nhưng theo con trai ông là ngo, du, những tác phẩm như vậy là “quá tản mạn”. một nửa, bây giờ cuối đời chỉ còn một bản thảo để làm “. tác phẩm của ông được tuyển tập vào hàng loạt kiệt tác của truyền kỳ văn học truyền kỳ;…

43. mac dinh chi (1272 – 1386): nhà văn, nhà thơ, học giả nổi tiếng, tự phong là chồng; quê quán huyện bình hà, châu nam sach, lang giang (nay thuộc bình dương). Ông đỗ trạng nguyên, làm quan đến nội chính, thượng thư bộ tả, trung thư, hai lần đi sứ sang Trung Quốc, được tôn là “Trạng nguyên hai nước”. Trong số các nhân vật nổi tiếng một thời, có lẽ Mạc Đĩnh Chi là người có nhiều giai thoại nhất. được truyền tụng trong đời, đặc biệt là những giai thoại từ khi ông đi sứ, trong đó có một giai thoại văn học thú vị. Trong lịch sử văn học Việt Nam, tên tuổi Mạc Đĩnh Chi gắn liền với hòn ngọc tỉnh Liên Phú. công trình chính: ngọc liên tỉnh; giao tử phong phú; nơi cư trú tiềm ẩn thiệt hại bị phơi bày quá trắng trợn; …

44. nguyễn nguyên tri (? – 1312): nhà thơ, nghệ sĩ nổi tiếng; ông từng giữ chức Học sĩ, Đại sứ. ông là người bảo vệ việc sử dụng từ nom trong thơ ca. Tác phẩm lớn: Ông có nhiều thơ phú và chữ Hán, nhưng đều bị thất lạc, chỉ còn lại hai bản trong toàn tập Việt Nam thi lục là Tụng giá Tây Bắc và Hạc trắng Tây Giá ngâm vịnh. oai phong lẫm liệt của bậc đế vương .với số lượng thơ ít ỏi như vậy chưa hiểu hết được phong cách và đặc sắc nghệ thuật của thơ Trạng nguyên. Tuy nhiên, theo đánh giá của một số nhà nghiên cứu, đây là hai bài thơ trào phúng ra đời tương đối sớm và có thể coi ông là người đặt nền móng cho dòng thơ trào phúng trong lịch sử văn học viết Việt Nam.

45. le duc mao (1462 – 1529): nhà thơ, nghệ sĩ nổi tiếng; huyện tự trị, huyện hoai đức, hà đông (nay là hà nội). ông học hành chăm chỉ, đỗ tiến sĩ nhưng chưa bao giờ làm quan, giỏi làm thơ, phú và hát. Ông nổi tiếng về tài văn chương. thơ ông đầy mỉa mai và châm biếm. với ngôn ngữ đanh thép gây phẫn nộ cho những kẻ thống trị đương thời. Hiện nay, tác phẩm của ông chỉ còn tám giáp và giải Dao văn (suy cho cùng giải hát Dao trong tám ngày) và chữ nôm, đây là bài ca trù cổ nhất còn tồn tại đến ngày nay.

46. dao duy tu (1572 – 1634): nhà thơ, chiến sĩ, vị vua đầu tiên của đất nước, công thần của triều Nguyễn; nhà tĩnh, thanh hóa. Ông học hành chăm chỉ nhưng không thể thi cử vì xuất thân từ một gia đình ca sĩ và đến Trung Quốc để giúp chúa Nguyễn. chất thơ trong hai bài dao duy tu tương đối hoàn chỉnh, giọng điệu hài hòa, ngôn ngữ giản dị, tự nhiên; mặc dù nó vẫn sử dụng nhiều từ và kinh điển. Các sáng tác của Đào Duy Từ là những tác phẩm kinh điển xuất hiện sớm ở vùng Đàng Trong, Trung Quốc. là tác giả có nhiều đóng góp cho sự phát triển của nền văn học Việt Nam. tác phẩm chính: hổ và cơ; rồng uốn lượn; tin đồn.

47. ngo the vinh (1802 – 1856): nhà thơ, nhà giáo, nghệ sĩ nổi tiếng; Quê quán Nam Trực, Nam Định. đỗ Tiến sĩ, làm quan đến chức Trung thư bộ Lễ; do trường thi bị sa thải, ông về quê mở trường dạy học. qua những tác phẩm còn lại cho đến ngày nay, có thể nói ông là một người uyên bác trên nhiều lĩnh vực. đã để lại bản dịch rất hay bài thơ “cẩm tú văn” từ húy (Trung Quốc), (gồm 40 dòng bảy chữ = 280 chữ) thành một bài thơ lục bát rất hay (cũng có 40 câu = 280 chữ), cho đến nay, không có bản dịch nào vượt qua bản dịch trước. main works: duong dinh phu luc; tang phu tre chọn lọc. tuyển chọn sách hoàng việt; chủ nghĩa hiện thực; cấu trúc vòng lặp tùy chỉnh; sử học; kiến trúc tang thi văn; bai dương thi tập; cách ca trù; sách của bai dương; mặt dây chuyền bằng tre.

48. nguyễn mỹ thuật (1842 – 1911): nhà thơ, nhà sử học, tự hà đình; quê quán le duong (nay thuộc thang binh), quang nam. thăng đến chức phó bảng, làm quan đến chức Tham tri đại học sĩ, tước trường sinh, thượng thư bộ binh, làm mật thám, đại tướng quân quốc sử quán; ông được bổ nhiệm làm phó đại sứ ở Bắc Kinh. tác phẩm chính: từng hoài niệm thơ; vòi van ha dinh; sao thi ha dinh ung; thời chính luận… ngoài ra ông còn viết chung với nhiều tác giả về văn học, lịch sử: lịch sử thư tịch; biên giới đại từ vựng biên giới phía nam; thư mục bảo tàng lịch sử đại nam quốc; dự án tổng quan tạp chí; …

49. trần thien chanh (1822 – 1874): nhà thơ, nhà bác học, sĩ tử, nhà hiền triết; Quê Bình Long, Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). đỗ cử nhân, làm Đốc binh tỉnh Sơn Tây, giữ chức Chưởng cơ bộ binh, trấn thủ. thơ, văn của các nhà thơ họ Trần, được sách “một số nhân vật lịch sử đất phương Nam” coi là “phần lớn liên quan đến thời cuộc, thể hiện lòng yêu nước nồng nàn”. và “văn học miền Nam đất mới”: “thơ văn của ông luôn thấm nhuần tinh thần chiến đấu chống Pháp đến cùng”, tác phẩm chính của ông: trinh giang thi văn tập; nam đao phủ; bắc chinh thi thao, thi tran tu tam.

50. hoc lac (1842 – 1915): trào phúng, tên thật là nguyễn văn lạc, biệt hiệu là sam giang; quê tôi, mỹ tho (nay là tiền giang). Ông nổi tiếng về thơ và văn, nhưng ông không đi thi, ông sống bằng nghề dạy học, y học và bói toán. Hiện nay, thơ lục bát chỉ còn lại hơn mười bài, phần lớn là thơ có vần điệu lục bát. tác phẩm chính: mr. làng hát bội; tính thẩm mỹ tức thì; Cua sông; trăng ngồi; liên quan đến nhiều cảnh; tức là cảnh buổi tối; tiệc tạ ơn; con chó chết;…

51. biên cương ngô nghê (1852 -?): nhà văn, nhà sử học, nhà giáo dục, hiệu tam khôi, biệt hiệu con trai; quê tôi là thanh bang, nay thuộc thanh tri, hà nội. ông tốt nghiệp cử nhân và chuyển từ vị trí giáo viên sang vị trí giám đốc học tập. sáng tác bằng kanji và nom. tác phẩm chính: hoàng việt hưng long chi; tóm tắt về trường phổ thông Việt Nam; lịch sử địa lý Bắc Mỹ hiện tại; miền nam vĩ đại của đất nước; cũng đã sửa chữa, bổ sung văn bản lãnh tụ chí khí của trượng phu; ngô gia phả; Tổng kết biên niên sử trung học phổ thông Việt Nam; …

52. chu manh trinh (1862 – 1905): nhà thơ, học giả nổi tiếng, tinh thần tự chủ, trác tuyệt; quê quán đông yên (nay là khoang châu), hưng yên. lấy bằng Tiến sĩ và làm việc như một sĩ quan về vụ án giết người. Thuở nhỏ, ông nổi tiếng thông minh và có tài văn chương. Tác phẩm của Chu Mạnh Trinh giàu tính nhân văn, lãng mạn, giàu tình cảm. những sáng tác của ông thể hiện tình cảm yêu nước và đề cao văn hóa dân tộc. công trình chính: tuyển tập kiến ​​trúc và thơ ca; thanh tam tài thi tập; hương để vẽ phong cảnh; hương thơm của du lịch.

XEM THÊM:  Con gái nhà thơ Quang Dũng và những hồi ức về cha

53. ý nghĩa của bui huu (1807 – 1872): còn gọi là bui quang nghia, thi sĩ, hiep chi; tỉnh vinh dinh, thành phố vinh thanh (nay là một phần của thành phố Cần Thơ). ông đỗ giải nguyên, làm quan đến chức tam phủ nhưng bị vu oan nên thoát án tử hình, trở về dạy học, làm thơ chống Pháp kịch liệt. Cảm hứng nổi bật trong thơ Bùi Hữu thể hiện sự chua xót và một tấm lòng sắt đá đối với đất nước, khao khát được trở về thời kỳ thanh bình theo lý tưởng của Nho giáo. ông thường khoe khoang tỏ ra khinh thường những người có địa vị cao trong xã hội đương thời, bất tài và kiêu căng; vịnh các nhân vật lịch sử để nói lên nỗi bất hạnh của họ, sinh ra trong thời đại. vợ khóc (thơ); chèo thuyền qua núi sập (thơ); mùa thu công chức (thơ); kim thach ky duyen (tuong);…

Tham khảo: Nhà văn Sơn Tùng: Một nhà văn đặc biệt với ý chí sống và sáng tạo phi thường | baotintuc.vn

54. nguyễn văn siêu (1799 – 1872): nhà thơ, danh sĩ, tự ban hiệu, phò mã; quê quán thanh tri hà nội. ông đỗ Phó bảng, giữ các chức Lễ bộ, Phó sứ, Hàn lâm học sĩ, học sĩ uyên bác, sau về quê dạy học, viết sách. Tác phẩm Chính: Địa chí của Phương Đình Dư; các chứng từ của hiệp ước; các nhà sử học thích nó; bộ tứ bất phân thắng bại; phuong dinh tùy bút luc; phuong dinh thi loai; gõ phuong dinh van;…

55. vu phẩm khai (1807 – 1872): nhà thơ, danh họa, tự Đông Dương, hiệu ngu sơn, con nuôi, phượng hoàng; vùng quê yên bình. đỗ cử nhân, từng giữ các chức Trung thư, Tham tri nội các, Quốc sử quán, Tham tri về học sĩ, bố làm quan đến chức Thái nguyên, rồi xin về quê giúp dân. khai khẩn đất hoang vu pham khai là nhà thơ, nhà văn đấu tranh chủ yếu bằng bút mực. nhưng khi cần thiết, ông sẵn sàng đặt bút lao vào trận chiến, dù đôi khi không thuộc trách nhiệm được giao. tác phẩm chính: ngu sơn totem hoàn; lịch chính thống chính thống để tham khảo; bộ văn học indochinese; tran le bên truyện; trò chơi văn cúng; luc thật ổn;…

56. phúng phu nhân (1821 – 1882): nhà thơ, nghệ sĩ nổi tiếng, tên thật là pham hao, tự sư, hiệu tang, biệt hiệu truc an, gia viên; Quê quán Diên Phước, Quảng Nam. ông đỗ đồng tiến sĩ xuất thân, làm tổng đốc, thụy thích đại thần, bắt sống làm chú, thừa tướng, phó sứ trong sứ đoàn đi pháp. ông là người Việt Nam đầu tiên xuất bản sách khoa học kỹ thuật, đề xuất thiên triều đổi mới đất nước. nói đến thơ phú phụ họa, trong từ điển bách khoa có đoạn: “một số bài thơ trong“ tuyển tập của thầy ”bộc lộ nỗi niềm của người đi mãi không quên“ thuở học trò quê nghèo ”. chia sẻ vui buồn với bà con ngư dân, nông dân trong cuộc sống đời thường ”. tác phẩm chính: tay phu thi thao; luc luc (hay còn gọi là nhật ký củ hành); kiến trúc đường thi văn; bác sĩ biên phòng mới; nam châm hàng hải;…

57. nguyễn thiếp (24 tháng 9 năm 1723 – 6 tháng 2 năm 1804): nhà văn, nhà giáo, nghệ sĩ nổi tiếng đời cuối cùng trong lịch sử Việt Nam, hiệu là Minh, tự là Quang nhi. Ngoài ra, ông còn có nhiều tên hoặc biệt hiệu do chính ông hoặc người đương thời đặt cho ông như: khai xuyen (ghi trong sách là khai truyền), hanh am, điên ẩn, điên cuồng. , lam hồng dị nhân, lục niên tiên, la giang phú tự, … nguyễn huệ (tức vua quang trung) gọi hắn là la sơn phu tử, la sơn tiên. works: la son tien thi tap, hanh am di van. đọc thơ lục bát, ngoài những bài ca ngợi loài vật sống ẩn dật, người ta còn thấy lòng mình gắn bó với cuộc đời, với quê hương, xót xa cho sự suy tàn của nhân gian … nói chung, thơ thật giản dị, mộc mạc, được ngợi ca bởi phan huy chú như “văn thơ uyển chuyển, uyển chuyển, thú vị, hào sảng, thật là lời của bậc hiền đức mà người đời không thể sánh bằng” (văn chương). chủ tịch).

58. <3 giờ chiều. Ngoài bút danh sương nguyễn anh còn ký nhiều bút hiệu khác như xuân khê, nguy nga, nguyễn anh… sương nguy anh sáng tác rất nhiều, nhưng anh không sưu tầm thành một tập. nay chỉ còn rải rác một số bài thơ như: Đoạn ngoại nhất nguyệt chinh phu thi, thưởng bach mai, vịnh nữ tử, vua thanh thai tiến về phương nam, cảm tưởng khi người lính việt nam ra trận từ au … và một số bài đồng dao như: về tình yêu của cụ, về cô giáo, về những bài hit… nhắc đến sương trăng anh, người ta còn thấy chị là tấm gương tích cực cho phụ nữ; người ta không quên một cây bút khỏe đã từng nêu nhiều chủ đề hấp dẫn trên tờ báo phụ nữ nói chung về bổn phận của phụ nữ đối với gia đình và xã hội. Trong thời kỳ giao mùa, phụ nữ nước ta vừa rời khỏi khu vực để tiếp xúc với văn hóa phương tây, thưa bà. misong nguyet anh rất xứng đáng là nhà thơ tiên phong của việt nam

59. le quy don (2.8.1726 – 2.04.1784): nhà văn, nhà nghiên cứu thời trung đại Việt Nam, tự, thuở nhỏ tên là Lê danh phùng, hiệu quế đường; Ông làm quan thời Lê Trung Hưng, quê ở làng Diên Hà, huyện Diên Hà, thành phố Sơn Nam; nay thuộc xã văn hiến, huyện hưng hà, tỉnh thái bình. ông là con trưởng của Lê phủ thụ (sau đổi là Lê thụ), đỗ tiến sĩ năm Bảo thái thứ 2 (Giáp Thìn, 1721), làm quan đến chức Thượng thư, tước hầu. chức vụ người hầu. ông là người đã biên tập, thuyết minh nhiều cuốn sách, nhiều cuốn đã thất truyền cho đến nay. Các Tác phẩm Chính: Dịch Kinh và Thuyết (thảo luận sơ lược về Kinh Dịch), Kinh Dịch (giải thích ý nghĩa của kinh), Tuyển tập Kinh sách, (lược khảo các sách) , thánh hiền tiên hiền (ghi chép mẫu mực) của hiền triết), văn đại loại ngữ (khẩu ngữ, phân thành loại, ở chỗ đọc), toan việt thi lục (chép toàn bộ thơ Việt Nam). , quế đường thi tập (tuyển tập thơ của quế đường), …

60. nguyễn thông (22 tháng 6 năm 1827 – 27 tháng 8 năm 1884): tự họa, tuổi cờ, biệt hiệu don am, nhà thơ và danh sĩ Việt Nam nửa đầu thế kỷ 19, sinh tại Sở An huyện, tỉnh Gia Định (nay thuộc xã Phủ ngai tri, huyện Châu Thành, tỉnh Long An). sau khi thi đỗ cử nhân, ông làm quan ở An giang, khi thực dân Pháp xâm lược, ông xin dẫn quân vào nam, sau đó mất tỉnh Nam bộ, ông làm quan ở Quảng ngãi, điều động các quan. người dân để làm thủy lợi. , tu dưỡng, làm nhiều việc có ích cho nhân dân. Thơ Nguyễn Thông là tình yêu của ông đối với những người bất hạnh, sự quan tâm đến nông nghiệp, gắn bó với cuộc sống của người nông dân. ông ca ngợi và tiếc thương những người đã hy sinh thân mình trong cuộc chiến chống lại pháp luật. Nổi bật và bao trùm tất cả là tình yêu quê hương đất nước mà anh phải ra đi vì không chịu ở lại vùng đất mà kẻ thù đang chiếm đóng … tác phẩm chính: kham viet su thong giang muc (vâng, mệnh san dinh, xem ôn tập đề cương lịch sử việt nam), thi sao chép (tuyển tập thơ truyền kì), thi sao chép nguyệt san thi sao chép văn. thời gian của thời gian …

61. Then Đó là Trầm hương (17 tháng 10 năm 1774 – 1 tháng 1 năm 1821): tức vi, tự thanh phú, uộc trai, nhà văn Việt Nam cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, quê quán huyện thanh oai, sơn nam thành phố (nay thuộc huyện thanh trì, hà nội). Hương viết không nhiều, nhưng cô có viết những bài về gia đình và bản thân; hay những ghi chép về người thật, việc thật… đều là những tác phẩm giàu cảm xúc, có nhiều tư liệu quý. tập thơ mai dịch thú du là tập thơ thể hiện rõ nét phong cách của ông. về nghệ thuật, ông có lối viết mượt mà nhưng hóm hỉnh và sâu sắc. đó là đặc điểm hiếm có trong thơ chữ Hán. tác phẩm chính: mai dịch thái thú (đài xe sứ, hồi ký), vật tổ (toàn tập thơ văn), thanh phú công di thảo (bản thảo do ông thanh phú để lại, do hậu nhân tập).

62. liễu chấp hay còn gọi là thời gian (25 tháng 10 năm 1746 – 1803), tự xưng là hy doan, biệt hiệu là đất hiền, trong Phật giáo, có hiệu là hải tổ, một danh y. một nhà thơ, nhà văn của thời đại Tây Sơn, người có công lớn trong việc giúp triều đại Tây Sơn đẩy lùi quân đội nhà Hán. Tác phẩm tiêu biểu: Đoạn thi văn tập (văn, thơ), vịnh yên đại thụ (thơ),…

63. Ngô Thì Chí (1753 – 1788) là một nhà văn Việt Nam thế kỷ 18 dưới triều Lê Trung Hưng. Ngô tên chữ là Học Tôn, biệt hiệu là Uyển Mật. huyện thanh oai, thành phố sơn nam (nay thuộc huyện thanh trì, thành phố hà nội) .các tác phẩm của chi gồm: nghiên cứu phi thi tập, nghiên cứu văn học phi tập, lịch sử dân tộc Tiệp Khắc, biên khảo khoa học … 7 hành động đầu tiên của cuốn sách Hoàng lê nhất thống chí.

64. li thai tông (29.7.1000 – 1054): tên thật là ly phát ma, sau đổi là ly đức chinh, con của thái tôn ly công uẩn, kế vị 27 tuổi, tên chùa là thai tong. ông là một vị hoàng đế sáng suốt, thông thạo Phật pháp. các tác phẩm còn lại: ảnh thư (lịch sử, 3 tập), câu thơ chép trong vườn thiền, ngôn ngữ lục.

65. ly dao tái (1254 – 1334): tức là thiền sư huân quang, người một vạn gánh hương, nam lục, lang giang. Đây là thôn thái bảo, huyện gia bình, tỉnh bắc ninh. anh ấy học giỏi, vượt qua cả kỳ thi địa phương và bài kiểm tra. các tác phẩm chính: ngọc phả tập (tuyển tập thơ ngọc phả), kinh điển (tập kinh), công văn (tuyển tập các công văn dùng trong chùa),…

66. super truong han (? – 1354): học giả nổi tiếng thế giới, tự là thang phú, hiệu don tau, sinh tại làng phúc xá, huyện yên ninh, đường trường yên (nay là phường phục thành ( nay là phường phục hưng), thành phố ninh bình, tỉnh ninh bình), ông là khách ở trần quốc tuấn, tính tình cương nghị, học vấn uyên thâm. tác phẩm của ông hiện chỉ có cuốn Bạch đăng giang phú, được coi là thiên cổ hùng văn trong lịch sử văn học yêu nước Việt Nam, một áng văn giàu lòng tự hào dân tộc, có ý nghĩa tổng kết chiến thắng của giang hồ thời bấy giờ.

67. li zi tấn (1378 – 1454): Trạng nguyên đầu triều Lê, tên chữ là chuyen am, sinh ra ở làng đồng triều (sau đổi là triều triêu), huyện thường phục (nay thuộc tân minh). xã), huyện thương tin, hà nội). Nhìn chung, không gian thơ trữ tình là một không gian thanh bình, tĩnh lặng. Không gian như vậy chỉ có thể tìm thấy trong thế giới linh hồn tĩnh tại của Đông Á cổ đại. tuy nhiên, ông vẫn là một nhà Nho (tại vị) bước vào đời, luôn làm tròn trách nhiệm của mình, nhưng không bao giờ bị lung lay bởi công danh. các tác phẩm lớn: truyen am thi tap (tuyển tập thơ của chuyen am) nhưng hiện nay chỉ còn lại 5 bài thơ chép trong tuyển tập của các hiền nhân hoàng triều (1414-?), và 73 bài thơ chép trong toàn việt thi lục. của le quy don (1726-1784).

68. nguyễn kiều (1694 – 1771): bí danh hao hiền, nhà thơ Việt Nam, sinh tại làng phú xa, huyện tứ liêu (nay là huyện lị, thành phố Hà Nội). ông lấy bằng tiến sĩ năm 1715 và trở thành một vị quan trong triều, nổi tiếng hay học. năm 1742, ông kết hôn với nhà khoa bảng là mẹ kế của mình; cùng năm, đi bar. Năm 1748, bà được thăng làm Đốc học Đồng Nghệ An. Trên đường đưa gia đình, ông Đoàn bị ốm và qua đời. tác phẩm chính: hao xuân thi tập (tuyển tập thơ của hao xuân).

69. nguyễn hanh (1771 – 1824): tên thật là nguyễn đập, tự là tàu tử, biệt hiệu nam bác, biệt hiệu ngo nam và nhất nam, nhà thơ Việt Nam được người đương thời liệt vào hàng mỹ nam. lớn năm . ông là con trai của nguyễn điều, cháu nội của nguyễn nghiêm, và gọi nguyễn du là chú. Ông là người giỏi văn thơ, theo lối suy nghĩ truyền thống, ông không hợp tác với các nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn. Về sáng tác, ông đã để lại 2 tập thơ chữ Hán: quan đông hải (xem biển đông), minh quy thi tập (tập thơ gọi là chim quy).

70. truong quoc dung (1797 – 1864): nhà văn, danh sĩ triều Nguyễn, người có công chấn hưng lịch pháp Việt Nam, tự lập, xuất thân ở làng giàu có; nay là xã thach khe, huyện thach hà, tỉnh hà tĩnh. tác phẩm chính: trượng nhu trung thi tập (tuyển tập thơ trường nhu trung), bỏ thực ký văn (ghi lại những gì nghe được khi ăn lại), biểu hiện giao phối (bàn về phương thức giao phối, biểu hiện), kham binh viet su thong gia muong muc (coi san dict viet lịch sử đường nét và chi tiết như một tấm gương trong tất cả các cổ kim), …

71. trần thien chanh (1822 – 1874): nhà thơ, nhà bác học, sĩ tử, nhà hiền triết; Quê Bình Long, Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). đỗ cử nhân, làm Đốc binh tỉnh Sơn Tây, giữ chức Chưởng cơ bộ binh, trấn thủ. tác phẩm chính: phạt giang hồ văn tập; nam đao phủ; bắc chinh thi thao, thi tran tu tam.

72. huyện thanh quan (1805-1848), tên thật là nguyễn thị hinh; là người huyện nghi tam, vinh thụy, cận tây hồ (nay là huyện quang an, tây hồ), hà nội [2]. cha ông là Nguyễn Lý (1755-1837), thủ khoa. The Mrs. huyện thanh quan sáng tác không nhiều, hầu hết viết bằng chữ nôm, thể loại tang lu, nhưng lại rất bác học, như: long thang trong hoài hương, qua đình bắc thành, qua đèo ngang, buổi chiều hoài niệm

73. Hồ xuân hương (1772 – 1822) một nhà thơ nổi tiếng thời trung đại Việt Nam, nhà thơ xuân điểu đã dám tôn hồ xuân hương là bà chúa của thi ca. các tác phẩm của ông được mô tả là “thô tục và thô tục”, với hàm ý sâu xa. Thơ của Hồ Xuân Hương luôn được trình bày theo lối “tứ tuyệt” hoặc “tứ tuyệt”, lối bút được coi là điêu luyện, nhưng phần du mục đặc sắc hơn so với lối viết chữ Hán. ý của bài thơ cũng rất táo bạo, tuy là điều cấm kỵ đối với tác phẩm đình đám đương thời: lưu hương ký, lưu hương thiển.

74. nguyễn khuyển (1835 – 1909), tên thật là nguyễn thăng, biệt hiệu là quế sơn, tự miễu chi, sinh ra ở quê ngoại thôn văn khê, xã hoàng xã, huyện y yên, nam ha là huyện y yên tỉnh nam định. Ở bộ môn thơ Nôm, Nguyễn Khuyến là một nhà văn trào phúng và trữ tình, thấm nhuần tư tưởng cổ và triết học phương Đông. thơ chữ Hán của ông chủ yếu là thơ trữ tình. Có thể nói, trên cả hai lĩnh vực, Nguyễn Khuyến đều thành công. các tác phẩm gồm quế sơn thi tập, yên làm thi tập, bửu bối thi tập, cẩm ngữ … cùng với nhiều bài ca dao, ca dao, văn tế, câu đối truyền miệng.

75. cao ba mạnh (1809 – 1855), hiệu quả và thông minh. cao ba bam là nhà thơ phê bình văn học lớn nhất nửa đầu thế kỷ XX. Sự đóng góp của thơ văn cao đẹp hơn hết là ở nội dung của nó, điều vượt lên trên nó là nội dung tư tưởng, là dũng khí và trí tuệ chính trị, văn hóa. tác phẩm: cao ba thủ pháp thi tập, cao chu hơn di thao, cao chu hơn thi tập, cố ý thi tập.

76. doan thi diem (1705-1749), biệt danh: nữ sĩ hồng hà, là một ca sĩ Việt Nam thời Lê trung hưng. Bà là tác giả của tuyển tập truyen ky tan pha (chữ Hán), và là tác giả của truyện thơ Chinh phụ ngâm (bản du ký – 412 câu) mà cô dịch từ nguyên bản Chinh phụ ngâm. bài hát (viết bằng chữ Hán có nghĩa là mái hình nón lá).

77. pham thai (1777-1813), còn được gọi là my pham dan phuong, pham phuong sinh, chieu li (hay chieu ly); là một danh họa từ cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19 trong lịch sử Việt Nam. Tác phẩm: Tây Hồ phú khúc chiến, Phục tiên cốc, Trương Quỳnh văn chương.

78. pham dinh hổ (1768 – 1839), auto tung nien, ngay thẳng, bút danh dong da tieu, bút danh tiên hổ, là một danh họa sống vào cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 20. Xix . Nhờ đọc nhiều và đi nhiều, ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu và biên soạn có giá trị về mọi lĩnh vực như logic, lịch sử, địa lý, mỹ thuật …

79. nguyễn quang bạch (7 tháng 5 năm 1832 – 5 tháng 1 năm 1890): còn gọi là ngo quang bạch, phong ngư, nhà thơ, nhà lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp ở Tây Bắc, xương của ông quê quán nam định nay thuộc tỉnh thái bình. Ông. Đình nguyên, làm quan đến chức hùng binh, tổ chức nghĩa quân chống Pháp suốt 10 năm, gây cho giặc nhiều tổn thất nặng nề. các tác phẩm lớn: ngu phong thi tập (tuyển tập thơ ngữ, 1884 – 1889); ông là người được vua giao duyệt bộ sách quốc sử thông giám cương mục; …

Kết luận : Bạn vừa nhận được bản tóm tắt về những tác giả tiêu biểu của văn học trung đại. Tôi hy vọng bạn sẽ nắm bắt được tiểu sử và một số tác phẩm của những tác giả nổi tiếng này.

Xem thêm: Nhà thơ xuân quỳnh là con trai hay con gái

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Tổng hợp các tác giả văn học trung đại Việt Nam. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *