Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
120 lượt xem

Vẻ đẹp ngôn từ trong truyện Kiều – loigiaihay.com

Bạn đang quan tâm đến Vẻ đẹp ngôn từ trong truyện Kiều – loigiaihay.com phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Vẻ đẹp ngôn từ trong truyện Kiều – loigiaihay.com

Video Ngôn từ trong truyện kiều

chẳng hạn, hai từ đầy đặn, nở rộ trong câu thơ: trăng rằm / trăng hoa khi tác giả dùng chúng để miêu tả thủy chung. hai chữ ấy không chỉ miêu tả khuôn mặt tròn đầy như trăng rằm đêm khuya, cũng như những đường cong trong veo, thanh tú mà còn thể hiện sự đầy đặn, viên mãn, viên mãn của số phận, của cuộc đời. hai từ thua, nhường trong câu thơ mây mất tóc, tuyết nhường màu da được dùng để chỉ thiên nhiên và cũng chính thiên nhiên sẽ cho mây là tóc, dài, xanh mềm. , làn da trắng như tuyết để nhường chỗ cho cô ấy. bước đi trên con đường bằng phẳng không chông gai.

hay như chữ khéo trong câu văn khéo mang tính chất thần thánh, được dùng để nhấn mạnh trí tuệ thiên phú của kiều nữ mà nhiều người cho là hợp nhãn nhờ cách nhà thơ đặt chữ này ở đầu. của câu nói, nó không chỉ là khắc họa một nhân vật mà là cả một nhân cách. kiều diễm, sắc sảo, mặn mà, một vẻ đẹp đồng thời rực rỡ, cuốn hút, rất lay động, điều đó đã quá rõ ràng rồi. Nhưng Kiều chiếm được cảm tình của người đọc không phải nhờ sắc đẹp trời cho, tài năng hiếm có mà chủ yếu là nhờ phẩm cách cao cả và trí tuệ cao siêu. trong sử kiều, nguyễn du đã nhiều lần viết về tài năng và trí tuệ như thế. như cụm từ mà anh minh drop. điều đó cho thấy ánh sáng trí tuệ là nhân tố nổi bật làm nên tài năng của Thủy kiều.

Bạn đang xem: Ngôn từ trong truyện kiều

giống như từ não trong câu, mệnh trời thậm chí còn nhiều não hơn. ở đây nguyễn du đã dùng từ não rất chính xác. ý nghĩa của từ này diễn tả nỗi buồn đã dồn nén trong lòng. Nó không chỉ là u sầu, buồn bã, chúng là những từ thể hiện nỗi buồn trên khuôn mặt con người mà là trong não (tim, não). âm hưởng của từ này như chìm sâu vào lòng người đọc. bởi lẽ, bài hát Duyên phận đã khiến bao người xao xuyến, bùi ngùi theo từng khúc nhạc buồn. từng làm nức lòng thiên hạ, chú tiểu tan nát cõi lòng, tên thống đốc giang hồ tàn nhẫn, sắt đá cũng phải ngậm ngùi rơi lệ. cây đàn hạc bạc vì thế đã trở thành một hình tượng nghệ thuật thể hiện tâm hồn đa sầu, đa cảm và số phận bi thảm của nàng kiều. ngay cả câu óc người ta làm mưa làm gió, từ não nùng cũng được dùng với nghĩa tương tự.

nhiều người cho rằng nguyễn du dùng từ rất đắt. đắt vì đôi khi chỉ một từ thôi cũng có thể lột tả được bản chất bên trong của con người. Đây là trường hợp câu thơ với bộ râu sạch sẽ, ăn mặc chỉnh tề mà nhà thơ dùng để khắc họa tính cách của chàng mã sinh khi đến hỏi kiều làm vợ. một người đàn ông ở độ tuổi bốn mươi, cạo râu sạch sẽ và ăn mặc đẹp đẽ, thật là lố bịch và không thể chấp nhận được. vì nhẵn là từ mà người ta thường dùng để chỉ sự mềm mại, sáng bóng, mềm mại của đồ vật chứ không dùng để chỉ tính chất trang nhã, lịch sự của con người. trong khi từ đỏng đảnh, thường được dùng để khen trẻ em ăn mặc đẹp lại được dùng cho mã học sinh, có nghĩa là lố bịch và trớ trêu. một người đã lớn tuổi nhưng cố tình tô điểm, cắt tỉa trở nên kỳ cục, giả dối và có phần trẻ con, trở thành gái điếm.

Đặc biệt nhất vẫn là cách dùng từ ở câu trên, cử chỉ vội vàng và thô lỗ khiến nguyễn du lập tức nói ra một lời thô lỗ. cử chỉ đó không phải là điển hình của một người đi hỏi vợ và càng không phải là phẩm giá văn hóa của một cậu học sinh. nó quá bất ngờ so với mong đợi của người đọc, quá vô lý so với vai trò của một học sinh trường quốc lập. cử chỉ này là tín hiệu đầu tiên để xác nhận ban đầu bản chất của mã học sinh. Định vị mình một cách thô lỗ, trịch thượng và quái gở trên ghế cấp trên (những người lớn tuổi) càng cho thấy bản chất vô học và đặc biệt là tâm lý hợm hĩnh của kẻ làm ăn giàu có. chỉ là một từ để phủ nhận vai trò gia sư đối với chàng thanh mai trúc mã.

Như vậy là không đủ. Ngẫu nhiên, thêm bớt một tiếng đồng hồ trước khi giá vàng đứng đầu bốn trăm, Nguyễn Du đã lộ rõ ​​bộ mặt gớm ghiếc, gian trá của mã học trò. đã xuất hiện như một con buôn miền Trung chỉ cần biết một điều: làm sao để mua được món hàng ưng ý với giá tốt nhất, chỉ với một vốn bốn lời. Chỉ bằng một lời nói, con cò và con buôn họ Nguyễn đã cho chúng ta thấy bộ mặt tàn ác và bẩn thỉu nhất của bọn buôn người mà mã sinh viên đại diện.

và trong giai đoạn sống đầu tiên của bước chân lang thang, khi kiều xuất hiện trên nền tường. anh ta sống trong một trạng thái tâm trí buồn bã và chán nản đến cùng cực. anh ta không còn cơ hội để khóa chặt tuổi thanh xuân của mình. nàng không còn giữ được chữ trinh đối với trai trẻ, hai chữ khóa xuân đầy trớ trêu đối với nàng. thực chất là phu nhân đang ôm con để chờ ngày lành tháng tốt chọn chồng, nhưng thực chất là đang âm mưu thực hiện một âm mưu mới.

Trong cảnh cô đơn, lẻ loi vò võ, nàng nhớ đến người yêu. một từ duy nhất có thể nói rất nhiều điều. nếu nằm mơ là luôn nghĩ về những kỉ niệm, những điều tốt đẹp về đối phương; nhớ cũng là nghĩ về những điều tốt đẹp, nhưng lại có thêm ý nghĩ ước một ngày nào đó sẽ gặp lại nhau, nghĩ cũng là mơ là nhớ, nhưng đối với kiều thì chỉ là nghĩ thôi, cứ thấy mối tình đầu ngây thơ, trong sáng như một kỉ niệm. những suy nghĩ đẹp đẽ, không dám mơ đến những điều xa vời, càng không dám chờ ngày chúng ta gặp lại nhau.

Nhớ người yêu, Kiều cũng nhớ cha mẹ nhiều lắm. nhưng nguyễn du không dùng từ thương hại, thương nhớ thay vào đó dùng từ thương hại ở đầu câu thơ. vì thương hại không chỉ là nhớ, là yêu mà còn bao gồm cả sự giận dữ với cuộc sống và tự trách bản thân.

ngay cả việc sử dụng dấu phụ buồn ở cuối bài thơ Kiều trên lầu cao, ta thấy cụ nguyễn du đã không vô tình khi đặt chữ buồn trước chữ có vẻ buồn. nó thấm sâu tận đáy lòng để rồi khi nhìn mọi thứ chỉ thấy mơ hồ, mục nát, khô héo như chính cuộc đời mình với nỗi sợ hãi khôn nguôi về một tương lai bất định. Đúng là kẻ buồn không bao giờ vui.

Khi đọc truyện của Kiều, chúng ta cũng bắt gặp nhiều câu thơ, câu chữ độc đáo. từ tin cậy bạn và từ vâng lời trong câu 723 được sử dụng một cách khôn ngoan. Cách dùng từ hy vọng của nguyễn du là rất hay vì nếu thay từ cảm ơn bằng từ nghe thì câu thơ cảm ơn sẽ trở nên quá hàm súc, câu thơ sẽ trở nên sáo mòn, nhạt nhẽo và vô nghĩa. vì những gì mà kiều sắp nói với tôi thuộc về chữ tình, tôi chưa chắc tôi đã nhận lời. do đó, sử dụng sự tin tưởng và vâng lời là hợp lý nhất.

từ tốc độ được sử dụng trong câu 1133, cô gái chạy thẳng đến chỗ khi sở đưa cô đi thật xuất sắc. Chỉ nghe câu thơ đó thôi cũng đủ biết cô nương đang rất tức giận, bộ dáng rất hung hãn, vội vàng, tuy rằng trong mưu tính của nàng, hoàn toàn khác với dáng vẻ thư thái khi dạy ngoại thương chơi đùa. một từ nhanh chóng nhưng có sức mạnh đáng kinh ngạc.

XEM THÊM:  Truyện Kiều văn xuôi

là nơi một ngoại nhân vượt tường trốn khỏi quan am các của thái giám và tự mình xuyên qua bức tường hoa. phông chữ được sử dụng ở đó là tuyệt vời. vì không rõ ràng nên chúng tôi không thể biết được người phụ nữ nước ngoài đã ném mình qua tường hay trèo tường để trốn thoát.

như chữ chặn trong cặp câu 3,181, 3,182 trong cảnh đoàn viên: thân tàn, chướng, ơn Chúa mới khác lòng người. nguyen du dùng chặn nhưng không cẩu thả. vì từ stop được dùng với nghĩa là chặn dòng trong quá khứ của kiếp sống ở nước ngoài. thực tế, với hoàn cảnh ở nước ngoài lúc đó, không thể khơi thông được. do đó, chữ in hoa có giá trị biểu đạt cao.

nói chung, truyện chữ kiều không chỉ hay mà còn rất đắt, rất đặc sắc. nhiều từ được dùng đi dùng lại nhiều lần nhưng với nghĩa mới không gây nhàm chán như 63 trường hợp dùng từ thân, 59 từ xuân, 14 từ ngựa, nhiều lần dùng từ tâm, tài. Giống như một từ nhỏ là một từ ngữ rất khó sử dụng, nguyễn du có thể sử dụng 47 từ như vậy.

1. vấn đề sử dụng từ ngữ thông thường trong truyện kiều:

Là nhà thơ thiên tài của dân tộc, Nguyễn Du là người có ảnh hưởng lớn đến thi pháp cổ điển trong việc thể hiện và xây dựng hình tượng nhân vật. do đó, ngôn ngữ ước lệ được sử dụng rất nhiều trong truyện kiều. cũng như người xưa, thi nhân đã lấy vẻ đẹp của thiên nhiên như tuyết – mai, trăng – hoa, mây – tuyết, bức tranh thu – xuân, hoa – liễu … làm khuôn mẫu, làm thước đo giá trị và cái đẹp. Nhân loại. tác giả đã sử dụng một phong cách tả thực để tuyệt đối hoá và lí tưởng hoá vẻ đẹp của hai chị em kiều nữ. họ là bộ xương, là tuyết của thần, hình dạng của mặt trăng, tính cách của nó, hoa cười, mây mất, tuyết rơi, mùa thu và nước, bức tranh mùa xuân, hoa ghen tị, hoa giận dữ. cây liễu tượng trưng cho sự thanh tao và thân hình mảnh mai như cành mai; tinh thần trong sáng như tuyết. nhan sắc mười phân vẹn mười nhưng mỗi người một vẻ như chị em ở nước ngoài.

miêu tả nó là văn kiều uyển chuyển nguyễn du mỹ: trăng dáng, nét nguyệt, hoa cười, ngọc nhài, mây mất, tuyết rơi cùng với một số từ giống với các từ khác và từ đầy đủ, nở và khắc. đại diện cho vẻ đẹp đoan trang và nhân hậu, cũng như báo trước cuộc sống rất bình yên sau này của cô.

with kieu, nguyen du dung nhan sắc thuy van để bắt lấy vẻ đẹp của kieu. nhà thơ đã dùng 12 dòng để tả kiều. điều đó chứng tỏ nhà thơ có một tình cảm vô cùng đặc biệt đối với nhân vật chính của mình. nhiều văn bản thơ cổ đã được huy động để khắc họa chân dung mỹ nữ như: Thu thuỷ, xuân sơn, hoa ghen, liễu rũ … với bút pháp lí tưởng hoá, kiều diễm hiện ra trước mắt người đọc với hình ảnh thiếu nữ. với đôi mắt trong veo, thanh thoát như mặt hồ mùa thu; đôi lông mày cong thanh tú như dáng núi xuân thì vẻ đẹp trong sáng, sắc sảo mặn mà, quyến rũ động lòng người. mà đẹp đến nỗi sắc nước hương trời, chim sa cá lặn, nước thành rơi, hoa ghen, liễu hờn, cả đời gặp nhiều bão táp, khổ đau. mười lăm năm lưu lạc, phiêu bạt khắp chốn đã chứng minh rõ điều đó.

Tham khảo: Nội dung và hình thức của tác phẩm văn học

Với tư cách là người nghệ thuật ngôn từ, Nguyễn Du không sử dụng những chất liệu thơ cũ đó một cách rập khuôn, nhưng sức sáng tạo của nhà thơ là rất lớn. nói đến nỗi buồn của một người đàn bà đẹp, nhà thơ liên tưởng đến những thảm hoa, những bông hoa, nét buồn như cúc, điệu đẹp như mai … nói chung, qua việc sử dụng những thi liệu cổ, nhà thơ đã tạo nên những ngôn từ rất hay của của riêng ông, rất nguyễn du, nhưng nó vẫn là quốc ngữ.

2. ngôn ngữ tự nhiên (vũ trụ thơ) của truyện kiều.

Theo tác giả dang tien, vũ trụ thơ trong truyện kiều là một không gian với một chân trời rộng lớn. ngoài cỏ non phải xanh đến tận chân trời (cảnh ngày xuân), không gian còn là vũ trụ mênh mông, trống trải, mờ ảo nhìn xa xăm, vầng trăng ở gần; với những cồn cát vàng, những rặng hồng muôn dặm (kiều trên tầng thượng của mật thất). đó là một vũ trụ không chịu sống, không chịu con người, một vũ trụ mà cảnh vật rất rộng, một bên là cồn cát nhấp nhô như sóng, một bên là bụi hồng trải dài muôn dặm. p>hơn nữa, nhiều từ ngữ thơ cũng được sử dụng trong truyện kiều nguyên du: đường đi đêm phải khép, màu rừng thu phải màu quan san, trời phải nhắc sóng. xa xa, ngay cả túp lều cỏ bên sông tiền đường cũng phải một khe mây vàng chia đôi. Thêm vào đó, có hàng dặm cây vĩ cầm đơn độc, bờ liễu, và những rừng phong quý hiếm. rồi đến cảnh dải lụa xanh của cây liễu bên cầu, gió thổi tắt cây, hàng ngàn cây quất xuất hiện trong những câu chuyện từ hải ngoại, những giây phút chia xa, những giây phút chùn bước, những giây phút tâm hồn tán loạn. dường như nhà thơ muốn thu cả thế giới nhìn vào hình ảnh bóng non vàng, đo ni đóng giày thường nhật để xác định vị trí và lẽ sống của mình trước cuộc đời.

4. về các từ chỉ màu sắc trong truyện kiều:

truyện kiều có nhiều từ chỉ màu sắc (đến 119 lần), với nhiều màu sắc khác nhau. Nguyễn du dùng những từ ngữ chỉ màu sắc để tạo nên những hình ảnh có nội dung khái quát, rộng lớn và giàu giá trị thẩm mỹ.

trước hết, cần xem xét các từ chỉ màu sắc trong phần trích nghiên cứu (sách triết học 9 – tập 1):

mô tả cô ấy có mái tóc dài, mượt, xanh hơn một đám mây; da trắng hơn tuyết (mây rụng tóc, tuyết làm ngả màu da). Ở đây, Nguyễn Du khoác lên mình màu mây thay cho mái tóc đen. vì trong truyện kiều không có nghĩa đen đẹp nên tóc đen đẹp được gọi là tóc mây.

miêu tả một người phụ nữ ở nước ngoài có đôi môi đỏ thắm khiến hoa ghen tị mất đi, và mái tóc xanh mềm mại khiến hoa liễu ghen tị (hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh).

rồi màu cỏ non xanh đến tận chân trời, một màu xanh trải dài đến vô tận, nổi bật trên nền xanh toàn cảnh điểm xuyết vài bông hoa lê trắng. Màu sắc có sự hòa hợp tuyệt vời làm cho hình ảnh thiên nhiên đẹp hơn, màu sắc tươi sáng và tràn đầy sức sống.

Không chỉ có hai màu trắng và xanh, nguyễn du còn dùng để chỉ các màu vàng và hồng ở cồn cát vàng này và hàng dặm của các bụi hồng khác. Đó không chỉ là màu vàng của cồn cát lăn tăn, màu hồng của từng đám mây bụi bay xa vạn dặm mà còn là cát bụi của cuộc đời.

đó là màu vàng héo úa của cỏ nhờn / tầng mây, màu xanh biếc u buồn, thê lương, vô hồn, màu của sự ngưng đọng, không lối thoát.

XEM THÊM:  Bài học rút ra từ tác phẩm chí phèo

trong truyện kiều, những từ chỉ màu sắc ít hiện thực hơn nhưng mang tính biểu tượng nhiều hơn. tác giả thường lấy màu sắc của sự vật để tả cảnh, gợi tình. ở đây, có khuôn mặt sắt đen của hồ hiến dâng, màu da nhợt nhạt của người mẹ, khuôn mặt như vết chàm của người chú, v.v. màu sắc của cỏ cũng đa dạng: có khi cỏ non xanh đến tận chân trời, có khi phong phú cỏ nửa vàng nửa xanh, có lúc cỏ nhạt pha sương, có lúc cỏ sậm màu, có khi cả một vùng. cỏ xanh mọc.

với nguyễn du, màu sắc là sản phẩm của cảnh vật và tâm lý. màu cỏ non xanh gắn với bao cảm xúc dạt dào về quan điểm sống, với vẻ trẻ trung, trinh nguyên của mấy bông hoa lê đầu mùa, ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh như một kiếp người dang dở. ngọn cỏ rợp bóng, ngọn cỏ nhuốm màu vàng nhạt của nắng chiều như có điều gì trăn trở, day dứt.

màu sắc trong những câu chuyện về kiều cũng là màu của tình yêu. đó là những gam màu của quan trường, của quan, của trò đùa, màu của nỗi nhớ bốn phương mây trắng một màu / trông mênh mang cố hương biết đâu quê nhà. hoặc bầu trời dường như rộng và bao la. Có thể nói, nguyễn du không chỉ ghi lại màu sắc của sự vật mà còn nắm bắt và thể hiện cảm xúc màu sắc tràn ngập cảnh vật và không gian, làm cho cảnh vật trở nên sống động và có hồn.

5. sử dụng những từ ngữ mang tính hủy diệt:

Theo ý kiến ​​của nhiều người, vấn đề dùng lời lẽ thô tục chỉ có chuyện của kieu de nguyen du là đúng nhất. cụ thể là các từ: bảo, thọ được sử dụng độc đáo trong truyện kiều bào, thỏ ác lặn mất tăm; đợi bao nhiêu tháng để đợi bao nhiêu năm chờ đợi; Bầu trời và mặt nước bao xa? bao nhiêu nhân duyên bù phiếu; trên đầu ai cũng đội bao tải. năm phong bì này được dùng bằng những từ có thể hiểu là: rải rác theo ngày và theo đêm; đợi sang năm; bao xa; thề tại sao; đầu bánh răng. ai cũng định hỏi để chứng tỏ rằng nó nhiều hơn chứ không phải ít. hơn nữa từ đó chỉ được dùng như: khéo léo vô duyên, là tôi với tôi; bôi nhọ chi tiêu công; trời làm gì cho nhiều tầng trời; thân sao bướm chán, ong buồn chán; hoa sao khéo xua hoa đó đi. năm từ đó giải thích tất cả chúng: vụng về như chúng, tàn nhẫn như chúng, trong thái cực của chúng, trong sự chán nản của chúng, trong sự lên án của chúng; tất cả đều nhằm bày tỏ sự hối tiếc hoặc trách móc.

vì vậy từ bây giờ, nhưng từ này không thể được sử dụng một mình (ông già đã đánh bài bây giờ).

nhà thơ nguyễn du đã đặt sau các chữ bao, nay, sau đó là một từ để liên kết thời gian như: bao giờ, nay, rồi … những từ này được dùng rất nhiều trong truyện kiều.

/ p >

liên từ: as much, as much cũng được sử dụng linh hoạt trong tác phẩm, cụ thể là 3 trường hợp sau:

1. Bạn nghĩ mình nên bày tường bao nhiêu? bao nhiêu, bao nhiêu ngày cách. bao nhiêu được sử dụng một mình không đi đôi với bao nhiêu.

Tham khảo: Lặng lẽ Sa Pa – Nguyễn Thành Long

2. chiến đấu trong nhiều năm như vậy; khi họ gặp nhau, vẫn còn một chút tình yêu, thì còn rất nhiều thứ bạn không thể đi cùng.

3. không có vấn đề bao nhiêu tiền bạn mất; bao nhiêu đi với bao nhiêu…

6. sự sáng tạo trong cách sử dụng ngôn từ nghệ thuật của nguyễn du.

trước hết, cần kể đến những từ ngữ mang âm hưởng dân gian, thành ngữ, tục ngữ.

Trong đoạn thơ tả cảnh ngụ ngôn đặc sắc nhất của lịch sử xứ kiều, một bài thơ tứ tuyệt theo kiểu thất ngôn bát cú xuất hiện. để bộc lộ cảm xúc nhớ người yêu, tiếc thương cha mẹ, nguyễn du đã thể hiện tình cảm ấy qua thời gian và khoảng cách không gian như: dưới chén đồng nhìn về ngày mai, tựa cửa hôm nay. nắng mưa xa cách mấy ngày, chân trời đứt đoạn, son phấn trôi đi, hoa dời, cỏ úa, mây trên mặt đất, gió thổi, sóng gầm … những từ này làm nên điều đó. ngôn từ sử dụng trở nên gần gũi, dễ hiểu, nổi bật màu sắc dân tộc.

b / cách tạo các từ mới độc đáo trong truyện kieu.

nguyen du đã tạo ra một loạt các từ không có trong thực tế cũng như trong từ điển thông thường; mà theo Mr. tran dinh su, là những từ khái niệm (là hình ảnh chỉ nảy sinh trong tâm trí, không phải hình ảnh sao chép thực tế) có cấu trúc riêng, thể hiện cảm xúc chủ quan của tác giả:

nói đến nước mắt thì nói giọt ngọc, giọt ngọc, giọt tương, giọt hồng, giọt buồn, giọt riêng …

khi nói đến giấc ngủ, anh ấy nói giấc mơ mùa xuân, giấc mơ buổi sáng, giấc mơ mùa hè, giấc mơ thần tiên, giấc mơ ấm áp …

Khi nói đến tóc, không chỉ là tóc mây, tóc sương mà còn là tóc buồn.

Nói về quãng đường dài, anh ấy nói dặm hồng, dặm xanh, dặm băng, dặm chở khách, dặm một phần…

Nhắc đến chén rượu là nhắc đến chén xuân, chén quy, chén dâng, chén mời, chén đồng, v.v. đầy đủ các sắc thái khác nhau của tình huống.

Anh cũng tự nói những từ của mình: song sa, song mai, song ho, song mây, song trăng, song dao, song phi …

khi nói đến bóng của mặt trăng, đó là bóng của người Nga, bóng của mặt trăng …

nói với trái tim, anh gọi nó là trái tim riêng biệt, trái tim tình yêu, trái tim, bức tường hoặc một tấc cỏ, một tấc đất, một tấc son, một tấc lòng …

cùng là gió, nhưng có nhiều loại gió như: gió mưa, gió trăng, gió tre, mưa ban mai, gió như hoa bên nhau, gió buồn mưa buồn … >>

Những từ ngữ tượng trưng này cũng là phương diện cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật truyện kiều. nguyen du đã phá bỏ cách tạo từ thông thường để tạo ra từ mới, gây hiệu ứng lạ.

nhà thơ cũng đã phá vỡ nhiều cấu trúc cố định để tạo thành những tổ hợp từ hư vô. ví dụ: ăn gió nằm mưa, bướm chán ong, bướm rũ rượi, cười vui, gió đầy sương giữ vàng giữ ngọc, gió giữ trăng trong sân. , gió trên thảm, mưa ban mai, gió khiến mây vần vũ, hoa lãng hương thừa, hồn bay phách lạc, lấy gió cành chim gạt hoa. gió, chúng làm hoa hồng đỏ thắm, ta than tham xanh, liễu ép hoa nhài, liễu rũ hoa, gió ngày đêm trăng, nắng mưa gìn giữ những trúc … sự sáng tạo đặc biệt này thể hiện một trạng thái có ý nghĩa toàn cầu, xảy ra nhiều lần và chỉ có thể hiểu được trong bối cảnh của một câu chuyện kiều.

Tóm lại, trong văn học Việt Nam, chỉ đến truyện Kiều nguyên du, ngôn từ mới vươn lên đóng vai trò như một nghệ thuật. nói Nguyễn Du là một nghệ sĩ lớn về ngôn từ là nói đến nghệ thuật xử lý chữ quốc ngữ và hiệu quả của nó. Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với việc sáng tạo ngôn ngữ thơ nói chung, trong đó nguyễn du là một ví dụ điển hình.

loigiaihay.com

Tham khảo: Tính chất hoá học của Clo (Cl), ví dụ và bài tập về Clo – hoá lớp 9

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Vẻ đẹp ngôn từ trong truyện Kiều – loigiaihay.com. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.