Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
172 lượt xem

[Ôn tập văn lớp 9] TRUYỆN KIỀU

Bạn đang quan tâm đến [Ôn tập văn lớp 9] TRUYỆN KIỀU phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ [Ôn tập văn lớp 9] TRUYỆN KIỀU

lịch sử của kieu

nguyễn du

Bạn đang xem: Bài tập về truyện kiều

a. KIẾN THỨC CƠ BẢN

i. tác giả nguyen du

– tác giả nguyễn du (1765 – 1820)

– tên của chữ cái là một thành phần như

– tên là thanh hiên

– quê ở thôn tiên điện – huyện nghi xuân – tỉnh hà tĩnh

– đã sáng tác nhiều tác phẩm bằng kanji và nom.

+ 3 tập thơ chữ Hán bao gồm 243 bài thơ.

+ tác phẩm hay nhất của kịch bản nom là tan thanh tranche thường được gọi là truyện kiều.

liệt kê những nét chính về thời gian, gia đình và cuộc đời của Nguyễn Du đã ảnh hưởng đến việc viết truyện kiều.

a. thời gian:

Nguyễn Du lớn lên trong thời đại có nhiều biến động dữ dội, xã hội phong kiến ​​Việt Nam lâm vào khủng hoảng sâu sắc, phong trào khởi nghĩa nông dân liên tiếp nổ ra mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa tay sơn. sơn hà đổi thay. “nhưng triều đại tay sơn ngắn ngủi, thay vào đó là triều đại nguyễn. Những thay đổi quan trọng đó đã tác động mạnh mẽ đến nhận thức tình cảm của nguyễn du để ông có thể hướng ngòi bút của mình vào hiện thực, đến” những điều đau lòng . “

b. gia đình:

Gia đình Nguyễn Du là một gia đình đại quý tộc nhiều đời làm quan, có truyền thống văn học. nhưng gia đình anh cũng từ chối. Nhà thơ mồ côi cha năm 9 tuổi và mẹ già 12 tuổi. Hoàn cảnh này cũng tác động không nhỏ đến cuộc đời Nguyễn Du.

c. cuộc sống:

Nguyên du có năng khiếu văn học bẩm sinh, ham học hỏi, có kiến ​​thức và kinh nghiệm sâu rộng, có cuộc đời phong phú với nhiều năm lưu lạc, tiếp xúc với nhiều cảnh đời, nhiều số phận khác nhau. . từng là nhà truyền giáo ở Trung Quốc, qua nhiều vùng đất Trung Hoa vĩ đại với nền văn hóa rực rỡ. tất cả đều có ảnh hưởng đến tác phẩm của nhà thơ.

nguyen du là người có trái tim nhân ái. cũng chính nhà thơ đã từng viết trong truyện kiều “ tấm lòng kia bằng ba chữ tài hoa ”. mộng liên hoa chủ nhân trong lời tựa truyện kiều cũng rất đề cao tấm lòng của nguyễn du đối với con người và cuộc đời: “lời văn dường như có máu chảy ở đầu bút, nước mắt thấm vào trang giấy, khiến ai đọc cũng phải xót xa. thậm chí đến mức thấm, đau, tổn thương bên trong … ”. Nếu không nhờ một con mắt có thể nhìn thấu sáu cõi và một trái tim suy nghĩ ngàn đời, tôi đã không thể có được một cây bút như vậy.

về sự nghiệp văn học của nguyễn du:

– đã sáng tác nhiều tác phẩm bằng kanji và nom.

+ 3 tập thơ chữ Hán bao gồm 243 bài thơ.

+ tác phẩm trong danh sách với văn học liên hợp , hay nhất là tân thanh tra thường được gọi là truyện kiều.

ii. tác phẩm lịch sử kieu

1. nguồn gốc và sự sáng tạo:

– câu chuyện về nguồn gốc của kieu :

* viết truyện kiều nguyễn du dựa trên cốt truyện kim văn kiều của thanh tam tài sắc (Trung Quốc).

* tuy nhiên phần sáng tạo của nguyen du là rất lớn, có tính chất quyết định đến sự thành công của tác phẩm:

dung nhan : từ một câu chuyện tình yêu trong cuộc đời tôi, nó trở thành một bài hát đau lòng về những con người lưu lạc (ngoài tấm lòng tài hoa còn có tinh thần nhân văn).

nghệ thuật :

+ thể loại: chuyển thể văn xuôi sang thơ lục bát: thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc gồm 3.254 câu.

+ nghệ thuật xây dựng nhân vật, miêu tả thiên nhiên, đặc biệt là lối viết cảnh ngụ ngôn.

+ ngôn ngữ: truyện của kiều đạt đến đỉnh cao của ngôn ngữ nghệ thuật.

2. bối cảnh : sáng tác vào thế kỷ 10 (1805 – 1809)

3. thể loại : truyện nom : một loại truyện thơ được viết bằng tiếng du mục. truyện có khi được viết bằng thơ lục bát. Truyện du mục có hai loại: truyện du mục dân gian, hầu hết không có tên tác giả, được viết trên cơ sở truyện dân gian; Hầu hết các câu chuyện đặt tên mang tính học thuật đều được đặt theo tên của tác giả, được viết trên cơ sở một cốt truyện có sẵn từ văn học Trung Quốc, hoặc do tác giả sáng tạo ra. Truyện Nôm phát triển mạnh mẽ nhất vào nửa sau thế kỷ 18-19.

4. ý nghĩa tiêu đề:

truyện kieu có 2 tên là bán và 1 là tên.

tên chữ hán : kim văn kiều truyện của thanh tâm tài: tên 3 nhân vật trong truyện: kim trong, thủy văn, thủy kiều .

Cảnh tân thanh : một tiếng kêu mới về nỗi đau quặn thắt: tiết lộ chủ đề của vở kịch (tiếng kêu cứu cho số phận một người phụ nữ).

hư danh : kiều truyện : tên nhân vật chính – thủy kiều (do dân lập).

5. tóm tắt lịch sử của kiều.

a. phần một: gặp gỡ và cam kết.

vuong thuy kieu là một thiếu nữ tài năng và ngay thẳng, con gái đầu lòng của một gia đình trung lưu lương thiện, sống trong cảnh “dĩ hòa vi quý” cùng cha mẹ và hai người em gái là thủy chung và vua. Quan thoại. Trong chuyến du xuân vào tiết Thanh minh, Kiều đã gặp chàng trai Kim Trọng “tuyệt sắc giai nhân”. một tình yêu đẹp đã chớm nở giữa hai người. kim trong chuyển đến một nhà trọ cạnh nhà thủy kiều. Khi người đàn ông trả lại con dao găm, Kim Trọng đã gặp Kiều để bày tỏ tình cảm của mình. hai người chủ động và tự do cam kết với nhau.

b. phần thứ hai: tăng và tiết kiệm sức mạnh

trong khi Kim đang ở trong đám tang của Liêu Dương, gia đình ở nước ngoài đã bị xử oan. Kiều yêu cầu Vân phải đền cho Kim Trọng danh dự còn nàng thì bán mình chuộc cha. cô bị lừa bởi những kẻ buôn bán là mã trường, tiểu thư, sở khanh và đẩy cô vào lầu xanh. sau đó, cô được cứu, một vị khách hào phóng, được cứu khỏi cuộc sống của một gái điếm. nhưng sau đó cô bị vợ lớn của chú ruột ghen tuông và chửi bới. Việt kiều phải chạy trốn đến cửa khẩu của Buda. sư phụ giảo hoạt vô tình gả cho phu bạc, đại nhân như tu ba, cho nên lần thứ hai kiều rơi xuống lầu xanh. Tại đây anh gặp Từ Hải, một anh hùng áo thiên hạ. từ biển khơi để vươn ra nước ngoài, giúp cô trả ơn và trả thù. vì đã bị lừa bởi viên thống đốc, người kính trọng thần hồ. Hải bị giết. Việt kiều phải phục dân phục vụ hồ đồ, cúng bái, rồi ép gả cho Thượng Quan xứ. đau đớn, tủi nhục, nàng chết đuối trên sông Tiền và được một nhà sư cứu sống, lần thứ hai, nàng nương nhờ nơi cửa phật.

c. phần ba: cuộc họp :

Sau nửa năm về dự đám tang chú ruột, Kim Trọng quay lại tìm kiếm ở nước ngoài. Khi nghe tin gia đình ở nước ngoài gặp tai họa và cô phải bán mình chuộc cha, cô cảm thấy vô cùng đau đớn. Dù đã kết hôn với Thụy Vân nhưng anh vẫn không thể quên được mối tình đầu say đắm. quyết định bỏ công sức ra nước ngoài tìm kiếm. Nhờ gặp được quân sư, Kim và Kiều đã gặp nhau, đoàn tụ gia đình. theo nguyện vọng của mọi người, thủy kiều trở lại mối lương duyên xưa với kim trong, nhưng cả hai đều mong muốn “tình nghĩa lứa đôi cũng là mối lương duyên bạn bè”.

iii. giá trị của công việc

* giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện kiều :

1. giá trị nội dung:

a. giá trị thực tế:

a1. Truyện Kiều phản ánh bộ mặt tàn bạo của giai cấp thống trị và những thế lực đen tối chà đạp lên quyền sống của con người.

* quan chức :

– thẩm phán đã kiện vụ án vua ong vì tiền chứ không phải lý do.

– vị thống đốc tôn thần hồ đồ bất tài, nham hiểm, bỉ ổi và vô liêm sỉ.

* thế lực đen tối:

– mã sinh, ni cô, khoa … là những người đã chôn chặt lương tâm. vì tiền, họ sẵn sàng chà đạp lên nhân phẩm, số phận của những người lương thiện.

-> tác giả đã tố cáo bộ mặt xấu xí của anh ta.

a2. Truyện Kiều phơi bày nỗi thống khổ của những người bị áp bức, đặc biệt là phụ nữ.

– vuong ong bị oan, cha con bị đánh đập dã man, gia đình tan nát.

– dam tien, thuy kiều là những người phụ nữ xinh đẹp, tài năng nhưng có người chết trẻ, có người lưu lạc, sống lang thang 15 năm.

-> Truyện Kiều là tiếng khóc của những người lương thiện bị áp bức, đày ải.

b. giá trị nhân đạo:

– Khi viết truyện kiều, nguyễn du đã bày tỏ sự cảm thông sâu sắc đối với nỗi thống khổ của con người. cảm thấy thương cho Thúy kiều, một người con gái tài sắc nhưng lại rơi vào trạng thái hoàn toàn sa đọa “hai lần, hai lần”.

– là tiếng nói ca ngợi những giá trị, phẩm chất cao quý của con người như sắc đẹp, tài năng, lòng dũng cảm, lòng hiếu thảo, tấm lòng nhân hậu, vị tha …

– trân trọng bảo vệ vẻ đẹp, ước mơ và ước muốn chân chính của con người như tình yêu, hạnh phúc, công lý, tự do …

– đồng thời tố cáo những thế lực tàn bạo chà đạp lên quyền sống của những người lương thiện, khiến họ khốn khổ, lầm than.

-> anh phải là người giàu tình yêu thương, biết quý trọng và tin tưởng người dân nguyễn du mới có thể tạo nên những câu chuyện nghĩa tình mang giá trị nhân đạo cao cả như vậy.

2. giá trị nghệ thuật:

truyện kiều được coi là đỉnh cao của nghệ thuật nguyễn du.

– về ngôn ngữ: là một thứ ngôn ngữ văn học rất giàu và đẹp, đạt đến đỉnh cao của ngôn ngữ nghệ thuật.

– Truyện cổ Việt Nam không chỉ có chức năng biểu cảm (suy tư), biểu cảm (bộc lộ cảm xúc) mà còn có chức năng thẩm mĩ (vẻ đẹp của ngôn từ).

– với những câu chuyện về kiều, nghệ thuật tự sự đã có bước phát triển vượt bậc.

+ Ngôn ngữ trần thuật có 3 dạng: trực tiếp (lời nhân vật), gián tiếp (lời tác giả), nửa trực tiếp (lời tác giả kèm theo suy nghĩ và giọng kể của nhân vật). các nhân vật trong câu chuyện xuất hiện vừa là con người của hành động vừa là con người của cảm xúc, với biểu hiện bên ngoài và thế giới nội tâm sâu sắc.

+ thành công ở thể loại tự sự, có nhiều đổi mới sáng tạo và phát triển vượt bậc về ngôn ngữ thơ và thể thơ truyền thống.

+ Về nghệ thuật xây dựng nhân vật: khắc họa nhân vật qua phương thức tự sự, miêu tả chỉ bằng một vài nét chấm phá mỗi nhân vật trong truyện hiện lên như một bức chân dung sống động. cách xây dựng nhân vật chính thường được xây dựng một cách lý tưởng hóa, miêu tả bằng những thước đo thông thường nhưng rất sinh động. Các nhân vật phản diện của Nguyễn Du hầu hết được miêu tả chân thực, với lối viết hiện thực, cụ thể, mang tính hiện thực cao (miêu tả qua ngoại hình, ngôn ngữ, hành động, … của nhân vật).

– Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên rất đa dạng, ngoài những hình ảnh thiên nhiên sống động, chân thực (cảnh ngày xuân) còn có những bức tranh miêu tả cảnh ngụ ngôn đặc sắc (cảnh lầu son gác tía).

>

b. một số nội dung đặc biệt

i. nghệ thuật miêu tả:

1. nghệ thuật miêu tả:

a. nhân vật chính:

câu 1:

sao chép vào “ chị em thủy kiều “:

trước hết, là hai người phụ nữ đầu tiên,

thuy kiều là em gái, tôi là thuy van.

bộ xương, thần tuyết,

tất cả chúng trông giống như mười.

vâng, nó trông rất trang trọng,

trăng tròn, khuôn mặt đầy đặn.

hoa cười, ngọc trang nghiêm,

mây làm mất tóc, tuyết làm ngả màu da.

kieu cay và mặn hơn,

so với tài năng thì hơn.

ngõ mùa thu, bức tranh mùa xuân,

ghen tuông mất hoa, liễu kém xanh.

một hoặc hai lần nghiêng nước,

khả năng đòi hỏi một, tài năng phải đòi hỏi hai.

thông minh vốn dĩ là thần thánh,

<3

sàn cồng thương,

nghề nghiệp của anh ấy ăn nên làm ra ở hồ.

các chương được lựa chọn cẩn thận

xui xẻo lại càng không có tâm.

rất thanh lịch trong chiếc quần màu hồng,

mùa xuân xanh sắp đến vào cuối tuần.

bóng tối và rèm cửa,

bức tường đầy ong và bướm.

Câu 2 : vị trí đoạn trích

vị trí của phân đoạn “ chị em kỳ lạ ”: nằm ở đầu phần đầu tiên: cuộc gặp gỡ và đính hôn . Giới thiệu về gia đình Thúy Kiều, tác giả tập trung miêu tả tài sắc vẹn toàn của hai chị em Thúy Vân và Thúy Kiều.

câu 3: cuối đoạn trích : 4 phần

+ bốn câu đầu: giới thiệu ngắn gọn về hai chị em ở nước ngoài.

+ bốn câu sau: miêu tả vẻ đẹp.

+ mười hai câu còn lại: tả cảnh đẹp của đất nước.

+ bốn câu cuối: nhận xét chung về cuộc đời của hai chị em.

Câu 4: giá trị nội dung và nghệ thuật :

giá trị nội dung “Chị em Thủy kiều” là thể hiện rõ nét chân dung đẹp đẽ của chị em Thủy kiều, ngợi ca vẻ đẹp, tài năng và điềm báo về kiếp người tài hoa, bạc mệnh của Thủy kiều. biểu hiện của cảm hứng nhân văn trong nguyễn du.

Giá trị nghệ thuật: ngôn tình, thủy chung và nhân vật chính, thuộc mẫu nhân vật lý tưởng trong truyện ngôn tình. Để khắc họa vẻ đẹp của nhân vật lí tưởng, Nguyễn Du đã sử dụng lối thư pháp thông thường, lấy vẻ đẹp của thiên nhiên để làm nổi bật vẻ đẹp của con người. nhà văn không miêu tả chi tiết cụ thể mà miêu tả chủ yếu để gợi mở. sử dụng đòn bẩy để nâng cao hình ảnh người Việt Nam ở nước ngoài.

Câu 5: Giải thích từ:

yếu tố ngo : chỉ một cô gái xinh đẹp.

nhân mai : trái tim của một cây mai mảnh mai và tao nhã. tuyết linh: tinh thần của tuyết trắng tinh khiết. câu này có nghĩa là cả hai chị em đều thanh lịch, cao quý và trong sáng.

Tham khảo: Những sáng tạo của nguyễn du trong truyện kiều

full moon : khuôn mặt trăng tròn; nét ngài nở nang: dùng để chỉ lông mày hơi đậm, mô tả đôi mắt đẹp. bài thơ có ý nghĩa miêu tả vẻ đẹp nhân hậu của thủy chung. Thành ngữ Việt Nam có câu “mắt phượng nhìn mày”.

đàng hoàng : xứng đáng, xứng đáng (chỉ nói về phụ nữ)…

suối mùa thu : nước mùa thu; bức tranh mùa xuân: nét núi mùa xuân. cả bài thơ nói rằng đôi mắt đẹp, trong như nước mùa thu, và lông mày duyên dáng như núi mùa xuân.

nghiêng nước đổ thành : lấy ý tưởng từ chữ Hán, có nghĩa là: người ta nhìn lại thì người ta ngã, nếu người ta nhìn lại thì đất nước của người ta sẽ sụp đổ. dí dỏm. nghĩa là vẻ đẹp tuyệt trần của người phụ nữ có thể làm say đắm lòng người đến nỗi mất thành, mất nước.

câu 6:

nguyễn du đã miêu tả con người theo một phong cách nghệ thuật truyền thống rất quen thuộc trong một khuôn hình chặt chẽ, với một ngòi bút tinh tế:

a. bốn câu đầu tiên : tổng quan về nhân vật.

Bằng văn phong ước lệ, tác giả đã gợi lên vẻ đẹp quý phái, duyên dáng, thuần khiết của người thiếu nữ trong hai chị em thùy mị: “Mai cốt, tuyết tinh” với cốt như mai, thần như tuyết. đó là vẻ đẹp hoàn hảo về hình thể, đẹp về tâm hồn đều đẹp “mười phân vẹn mười”, nhưng mỗi người có một vẻ đẹp riêng.

b. bốn câu tiếp theo : tả vẻ đẹp của thủy văn.

– câu thơ mở đầu giới thiệu vẻ đẹp của nhân vật và khái quát vẻ đẹp của nhân vật. hai từ “trang trọng” gợi lên sự cao sang và quý phái.

– Với phong cách nghệ thuật thông thường, vẻ đẹp của đường vân được so sánh với những gì đẹp nhất trên thế giới, trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc trai. Bằng phương pháp liệt kê chân dung thuy văn được miêu tả đầy đủ từ khuôn mặt, lông mày, làn da, mái tóc đến nụ cười, giọng nói, cách ứng xử đàng hoàng, đàng hoàng. mỗi chi tiết được miêu tả chi tiết hơn nhờ bổ ngữ, vị ngữ, ẩn dụ so sánh.

– tác giả đã vẽ nên bức chân dung tuyệt đẹp bằng nghệ thuật so sánh ẩn dụ và ngôn ngữ thơ chọn lọc, trau chuốt: khuôn mặt đầy đặn, thân thiện, trong sáng như vầng trăng; lông mày sắc nét như con trai của anh; nụ cười tươi như hoa; giọng nói trong trẻo do răng ngà phát âm; tóc đen óng ánh hơn mây, da trắng mịn như tuyết ( hình mặt trăng … màu da ).

– Chân dung của thuy van là bức chân dung của tính cách và số phận. van đẹp hơn những gì đẹp đẽ nhất trong thiên nhiên nhưng lại tạo nên sự hòa hợp êm đềm với cảnh vật xung quanh: mây mất, tuyết rút. thuy van phải có tính cách điềm đạm, điềm đạm, cuộc đời êm đềm không sóng gió.

c. 12 câu tiếp theo : tả vẻ đẹp và tài năng của Kiều.

– dòng đầu tiên đã tóm tắt đặc điểm của nhân vật: “Kiều càng sắc sảo mặn mà”. anh ấy có một trí óc nhạy bén và một tinh thần mặn mà.

– tả cảnh đẹp ở nước ngoài tác giả vẫn sử dụng những hình ảnh ước lệ: mùa thu nước, núi xuân, hoa, liễu. đặc biệt khi vẽ chân dung người nước ngoài, tác giả tập trung khắc họa vẻ đẹp của đôi mắt. hình ảnh “làn thu, bức tranh xuân ” vừa là hình ảnh ước lệ vừa là hình ảnh ẩn dụ, gợi lên đôi mắt đẹp trong veo, sáng ngời như làn nước mùa thu, đôi lông mày thanh tú như mùa xuân. đôi mắt ấy là cửa sổ tâm hồn, thể hiện phần ưu tú của tâm hồn và trí tuệ. Khi tả Kiều, tác giả không cụ thể như khi tả Vân mà chỉ tả đôi mắt một cách nổi bật: hút hồn nhân vật, gợi vẻ đẹp chung của một trang tuyệt sắc giai nhân. vẻ đẹp ấy khiến hoa ghen, liễu hờn, nước tràn ly. Nguyễn du không miêu tả trực tiếp nhân vật mà miêu tả sự ghen tuông, đố kị hay ngưỡng mộ, say mê vẻ đẹp ấy, cho thấy đó là vẻ đẹp có chiều sâu, có sức quyến rũ và có sức hút kì lạ.

– vẻ đẹp ẩn chứa những phẩm chất cao quý bên trong, tài năng, tình yêu thương đặc biệt đối với kiều. Đoạn văn tả cảnh chỉ tả sắc đẹp, còn miêu tả thủy chung, tác giả tả một phần sắc, sau đó dành hai phần tả tài. Kiều là người có trí tuệ cao và nhiều mặt “thông minh vốn có”. Kiều tài đạt đến mức lý tưởng theo quan niệm mỹ học thời phong kiến, trải qua nhiều kỳ tham, thi, khảo, họa “bách hợp sơn cùng mùi hát”.

Tác giả miêu tả tài năng chơi đàn của nàng – sức mạnh, tài năng và nghề nghiệp của nàng “ngũ âm cung nữ, nghề riêng ăn đứt giang hồ”. Không chỉ vậy, cô còn rất giỏi trong việc sáng tác nhạc. cung đàn bạc mệnh là tiếng lòng da diết, đa cảm “khúc nhà tự tay chọn, phận bạc phận người lại càng”.

XEM THÊM:  Chiếc thuyền ngoài xa tác giả tác phẩm

tài năng, nguyễn du thể hiện tình yêu kiều.

– bức chân dung của thủy kiều là bức chân dung về tính cách và số phận. vẻ đẹp mà tạo hóa phải ghen tị, bao mỹ nhân khác cũng phải ghen tị, tài năng trí tuệ bẩm sinh “lai rai” với muôn mùi, tâm hồn đa cảm đa cảm khiến cho kẻ si tình không tránh khỏi một số phận nghiệt ngã, thất thường, gian truân. “chữ tài, phú quý, hận nhau”. “Trời xanh mà hồng ghen”. cuộc sống ở nước ngoài nên là một cuộc sống với một khuôn mặt bạc.

* có thể nói tác giả đã rất tinh tế khi miêu tả tính cách của Thủy kiều: trước tiên tác giả miêu tả chân dung của Thủy văn để làm nổi bật bức chân dung của Thủy kiều, tôn lên cả hai, nhưng khác nhau ở mỗi màu sắc. : chỉ dành 4 câu thơ để tả văn, trong đó có 12 câu dành riêng để tả kiều, văn chỉ tả vẻ đẹp, kiều, tài, sắc, tình đều được cụ thể hóa. đó là đòn bẩy.

d. 4 câu cuối : nhận xét chung về cuộc sống của hai chị em ở nước ngoài.

– Sống một cuộc sống thịnh vượng, kỷ cương và đạo đức, theo khuôn khổ của lễ nghi phong kiến. dù cả hai đã đến tuổi đầu bù tóc rối nhưng họ vẫn “rèm pha, bướm kín, ong bướm”.

– hai câu cuối là sự trong sáng, yêu thương, đùm bọc, chở che cho hai chị em bằng hai luống hoa còn bị ngăn trong cảnh “mành, mành”.

Tóm lại, đoạn trích thể hiện phong cách miêu tả nhân vật độc đáo của Nguyễn Du, thể hiện những nét riêng về vẻ đẹp, tài năng, nhân cách và số phận của nhân vật bằng nghệ thuật cổ điển.

câu 7 : trong hai bức chân dung của Thủy Vân và Thủy Kiều, bạn nghĩ bức nào nổi bật hơn và tại sao?

– nguyễn du dùng bút pháp thông thường để ca ngợi cả hai chị em là thủy văn, thủy kiều nhưng độ đậm, nhạt khác nhau ở mỗi người, rõ ràng chân dung thủy kiều nổi bật hơn cả

strong>.

Chân dung thủy văn

chân dung thủy kiều

– sử dụng 4 dòng để mô tả mẫu.

– với kết cấu chỉ mô tả ngoại hình theo phương pháp liệt kê.

– với các kết cấu biểu thị màu sắc.

: trước tiên hãy mô tả chân dung của thủy van sao cho nổi bật.

– 12 cụm từ để mô tả phong cách

– tả đôi mắt của kiều theo lối vẽ nhãn, thổi hồn cho nhân vật, gợi nhiều hơn tả, bằng tả cái đẹp, cái tài và cái tâm.

để tóm tắt:

– tả vẻ đẹp của nàng thùy văn, nguyễn du tập trung miêu tả những chi tiết trên gương mặt nàng bằng bút pháp thông thường và nghệ thuật liệt kê – & gt; thuy van xinh đẹp, thùy mị, nhân hậu và rất khiêm tốn.

– Đặc tả vẻ đẹp của thủy chung, nguyễn du tập trung làm nổi bật vẻ đẹp của tài năng và sắc đẹp.

+ tác giả miêu tả ngắn gọn: “ngọt và mặn”.

một và hai ở bên phải

thật là một thiên tài…

+ chỉ vẻ đẹp của đôi mắt: gợi cả vẻ đẹp hình thức và vẻ đẹp tâm hồn (hình ảnh ước lệ).

+ dùng câu cổ điển “nghiêng nước nghiêng thành” để miêu tả vẻ đẹp hoàn mỹ có sức hút mãnh liệt.

+ tài năng: phong phú và đa dạng, tất cả đều đạt mức lý tưởng.

– Tài năng của nguyễn du được thể hiện qua việc miêu tả ngoại hình của nhân vật, bộc lộ vẻ đẹp của nhân cách và tâm hồn. và đằng sau những dấu hiệu ngôn ngữ là dự đoán về vận mệnh của nhân vật.

+ “ thua, nhượng bộ ” – & gt; thuy van có một cuộc sống bình lặng và yên tĩnh.

+ “ hận thù, ghen tị ” – & gt; thuy kiều ghen tị thiên hạ – & gt; số phận dài đằng đẵng và vùi dập.

Câu 8: Cảm hứng nhân đạo của tác giả Nguyễn Du được thể hiện qua đoạn trích sau:

– Trong truyện kiều, một trong những biểu hiện của cảm hứng nhân đạo là ca ngợi và đề cao những giá trị, phẩm chất của con người như vẻ đẹp, tài năng, phẩm giá, khát vọng và ý thức, phẩm giá cá nhân.

– một trong những ví dụ tiêu biểu cho cảm hứng nhân đạo ấy là đoạn trích “Chị em gái thủy chung”. Nguyễn du dùng những hình ảnh đẹp nhất, những ngôn từ đẹp đẽ nhất để miêu tả vẻ đẹp của con người, theo cảm hứng ngưỡng mộ và ngợi ca giá trị của con người. tác giả vẫn còn cảm xúc về cuộc đời của một con người tài hoa bạc mệnh. đó là cảm hứng nhân văn cao cả của nguyễn du xuất phát từ tấm lòng đồng cảm sâu sắc với mọi người.

<3 tình yêu của nguyễn du.

– nếu tài thanh tâm nói về hai chị em thủy chung trong văn xuôi thì nguyễn du miêu tả bằng thơ lục bát.

– tài năng của thanh tam chủ yếu là về hai chị em ở nước ngoài; còn nguyễn du thì thiên về miêu tả vẻ đẹp và tài năng của thúy kiều.

– sáng tỏ tâm người tài hoa trước sau: “Thủy kiều lông mày nhỏ mà dài, mắt trong sáng, khuôn mặt như trăng thu, sắc mặt như hoa đào. Thính văn có điềm đạm.” thần thái, vẻ ngoài uy nghiêm và một phong cách riêng khó tả. ” đọc nó khiến mình có cảm giác tác giả chú trọng đến kết cấu hơn, hình ảnh đường vân nổi rõ hơn. Ngay ở đầu truyện, hình ảnh nàng Kiều chưa thực sự nổi bật. trong khi nguyen du đi đầu để làm nổi bật vẻ đẹp của kiều diễm thông qua nghệ thuật đòn bẩy.

– khi miêu tả, nguyễn du đặc biệt chú trọng đến tài năng của kiều, khi miêu tả ngoại hình thì cái tài cũng thể hiện tấm lòng, tính cách, dự đoán số phận của nhân vật. tài năng của thanh tam không làm được điều đó, phong cách tùy biến của anh ấy không rõ ràng như nguyen du.

nhưng sự khác biệt này giải thích tại sao với cùng một cốt truyện, “ kim văn kiều truyện ” chỉ là một cuốn sách vô danh và bình thường còn “ truyện ngôn tình ” được coi là một kiệt tác , thanh tam tài tử chỉ là một tác giả vô danh tiểu tốt, còn nguyễn du là một tác gia lớn, một nhà thơ lớn.

b. nhân vật phản diện (mã quà tặng):

câu 1:

bản sao trích lục “ mã đăng ký dự thi ”:

Có danh mục nào gần miền không?

đưa hành khách vào diện tìm kiếm.

hỏi tên, nói: “mã đăng ký”.

hỏi quê quán rằng: “Huyện lan thành cũng ở gần đây.”

trên bốn mươi tuổi.

râu mềm, quần áo sạch sẽ.

trước mặt giáo viên, sau tôi, tôi loạng choạng,

ngân hàng đã đưa những con mối vào trang.

ngồi trên ghế,

Chiếc máy ảnh nội thất mới đã thôi thúc cô ấy ra mắt.

Tôi tức giận hơn khi ở nhà,

bông hoa cất bước, rơi lệ mấy hàng.

nhút nhát, sợ gió,

đừng ngại ngùng và mặt dày nữa.

những con mối bắt tay nhau,

buồn như cúc, mỏng như mai.

quan tâm đến cân bằng tài năng,

buộc cung cầm trăng, thử quạt của bài thơ.

trông có vị mặn và dưa gang,

với khách mới theo quyết định của bạn.

what: “mua ngọc bích ở blue-kieu,

Bạn muốn hiển thị bức tường bao nhiêu? ”.

rằng: “đáng giá ngàn vàng,

phá nhà nhờ số người dám nài. ”

cò giảm một hoặc hai,

Đã một thời gian kể từ khi giá vàng vượt qua ngưỡng bốn trăm.

<3 con gái của nhà vua.

Sau khi thương nhân buôn lụa vu khống gia đình hải ngoại, vuong ong và nhà vua bị bắt, bị đánh đập dã man, nhà cửa của họ bị ra lệnh lục soát và cướp hết tài sản của họ. thuy kieu quyết định bán mình để có tiền cứu cha và gia đình thoát khỏi thảm họa. Đoạn này nói về mã sinh viên được mua ở nước ngoài thông qua mai mối.

câu 3: giá trị nội dung và nghệ thuật.

· giá trị nội dung : đoạn trích Mã giám sinh mua kiều là hình ảnh hiện thực của xã hội, đồng thời thể hiện tấm lòng nhân đạo của cụ nguyễn du trên cả hai phương diện: vừa đáng lên án. những thế lực xấu xa, tàn bạo, thương cảm và xót xa cho sắc đẹp, tài năng và nhân phẩm của người phụ nữ bị trà đạp.

· Giá trị nghệ thuật : Đoạn trích Mã học sinh mua kiều còn thể hiện tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du: miêu tả nhân vật phản diện bằng bút pháp hiện thực, khắc họa tính cách qua ngoại hình, cử chỉ (khác với nhân vật chính bằng phương pháp lý tưởng hóa nhân vật thông thường).

Câu 4: Giải thích từ:

khách : khách từ xa.

mã giám định viên : mã họ của giám khảo. student là tên của một học sinh tại quốc tử giám, một ngôi trường lớn ở cố đô. sinh viên cũng có khi chỉ có tư cách là sinh viên được mua từ triều đình.

<3

buộc cây cung để giữ mặt trăng : gảy mạnh cây đàn nguyệt.

kiểm tra một người hâm mộ bài thơ : kiểm tra kỹ năng làm thơ của kiều khi được yêu cầu viết thơ trên một người hâm mộ.

câu 5:

lối viết hiện thực mô tả nhân vật phản diện trong toàn bộ mã sinh viên cả về ngoại hình và tính cách:

a. về ngoại hình, cử chỉ:

– lời nói cắt xén và thiếu trau dồi. “hỏi tên … – hỏi quê quán gì …” câu trả lời ngượng ngùng không chủ đề, không thèm xưng hô.

– ngoại hình: Dù đã ngoài bốn mươi tuổi, ngày ấy đã phải lên chức ông ngoại nhưng anh vẫn cố tỏ ra trẻ trung để lấy một cô vợ “cạo sạch lông”. d cũng có thể nói là ngông cuồng, lố bịch, giả dối, không có dáng dấp của một quý ông.

– cảnh cô giáo bồn chồn của tôi, làm trò lố: “ trước thầy, sau sai “. có lẽ đây đều là cùng một phòng buôn người nên thầy tôi không nói rõ.

– khi bước vào nhà, cử chỉ của anh ta rất thô lỗ, thường là “ tỏ thái độ khinh thường “: “ ngồi mạnh xuống ghế “. ghế trên là ghế dành cho các bậc cao niên, lão thành, quản giáo đi hỏi vợ là con cháu, nhưng họ ngồi trên đó, với những cử chỉ rất nhanh nhẹn và thô lỗ. “ngồi” là một từ rất tượng hình mô tả hành động vô học đó. chi tiết này đã tiết lộ mã sinh viên thực sự là một người vô học.

b. về bản chất, mã sinh viên là điển hình cho bản chất của một kẻ buôn bán vô lương tâm với những đặc điểm gian dối, bất nhân, hám tiền.

– giả mạo nền tối. mã học sinh xuất hiện trong vai một người có học đi mua vợ lẽ, họ tên và quê quán không rõ ràng lắm: mã học sinh có thể hiểu là học sinh trường quốc tế, hoặc cũng có thể là học sinh của sư phụ. mua tại tòa, không rõ anh ta là loại gì; quê hương ở xa “ mời ” nhưng lại nói “ cũng gần “. nên rõ ràng anh ta đã hai lần nói dối để che giấu tung tích và rất dễ bị lừa. ngay cả tướng mạo, nhân thân cũng giả dối, tuổi tác thì nhiều mà cố tô vẽ cho trẻ con, giả làm con nhà giàu, học thức nhưng “trước thầy, sau bận” thì phức tạp lắm. , không phù hợp.

– bản chất bất nhân vì tiền mã học bộc lộ qua cảnh ngoại thương. vô nhân đạo trong hành động, thái độ đối với kiều lạnh lùng, vô cảm trước nỗi đau, sắc đẹp, tài năng của kiều – coi kiều như hàng hóa, coi sắc đẹp và tài năng của mình chỉ là giá trị của hàng hóa. – điều gì có thể khiến bạn được lợi.

– sau khi cân đo đong đếm tài năng, ép hiền tài “ép cung trăng hoa”, thử tài thơ “thử tài thơ quạt”, mãn nguyện, “tùy ý dẫn dắt”. vô nhân tính ở tâm lý lạnh lùng, vô cảm trước hoàn cảnh khó khăn của gia đình và tâm lý thỏa mãn, hợm hĩnh: “có tiền sẵn sàng không làm gì”. thoạt nghe lời nói thêu dệt, lễ độ, biết người biết hàng: “cho nó mua ngọc lam kiều, cụ dạy cho nó tường bao nhiêu”, nhưng chỉ có một câu, buôn bán vẫn ế. tiết lộ. . với dân buôn, tiền là chuyện sinh tử, nên lúc này buộc phải nói nhiều để mặc cả, hạ giá, tìm cách mua được hàng với giá “hời” nhất: “cò đất hạ một đồng”. “. cho đến hai “cho đến” một lúc lâu mới “ngã giá” Câu thơ gợi lên cảnh người mua, kẻ bán đẩy đồ, túi tiền được móc ra, cho vào, nâng lên, hạ xuống. và mặc cả trơ trẽn họ cho thấy bản chất của “lễ xúc phạm” là cảnh buôn bán người một cách trắng trợn, đồng thời tố cáo mã sinh viên là một tên buôn người thực sự đáng ghê tởm.

· Các nhân vật phản diện được mô tả theo phong cách đơn giản, chân thực. Nguyễn du đã kết hợp nghệ thuật kể chuyện với miêu tả ngoại hình, cử chỉ, ngôn ngữ đối thoại để khắc họa hoàn hảo tính cách nhân vật cả về ngoại hình và tính cách, rất cụ thể, sinh động, có ý nghĩa tổng thể về nhân vật. trong xã hội.

tất cả đều nêu bật bản chất kinh doanh cốt lõi của nó. vì tiền, anh ta sẵn sàng chà đạp lên nhân phẩm của một người lương thiện.

câu 6: xấu hình ảnh thủy kiều.

– Chỉ với 6 câu thơ, nguyễn du đã diễn tả được hình ảnh kiều thê thê lương, đáng thương. Là một cô gái trẻ, sống lặng lẽ trong cái kịch bản “êm đềm”, liệu cô có còn yêu không ????????? một tai họa ập đến bất ngờ và tàn khốc, anh phải bán mình để cứu cha, cứu gia đình và trở thành món hàng cho người ta mua bán.

– là một người thông minh, nhạy cảm và ngoại cảm, cảm nhận được cảnh ngộ của mình, nỗi tủi nhục và nỗi đau không thể chịu đựng được: “Ở nhà thêm giận: giá hoa một bước, nước mắt vài hàng.” “nỗi đau của tôi” là nỗi đau khi phải bán thân, phải rời xa gia đình, phải rời xa tình yêu với kim – một tình yêu đẹp hứa hẹn bao hạnh phúc lứa đôi, bỏ cả tuổi thanh xuân mà không biết rằng nó sẽ được giải tỏa. .how live in the rain thêm “bức xúc ” là giận cha mẹ, em trai bị vu oan, đánh đập không biết sống chết, tài sản bị cướp phá, nhà cửa tan hoang. bài thơ đã tổng kết nỗi đau của kiều. cô đau đớn đến nỗi mỗi bước đi, đôi chân như muốn khuỵu xuống, hàng lệ rơi: “hoa từng bước, lệ rơi mấy hàng”. cô hiểu sự bối rối và xấu hổ của anh nên “thôi mặt dày mày dạn xấu hổ”. cô hiểu được sự bối rối, ngượng ngùng của anh nên “đừng nhìn mặt này nữa”. con người càng ý thức về nhân phẩm của mình bao nhiêu thì càng đau đớn, tủi nhục bấy nhiêu khi nhân phẩm của mình bị băm nát, xúc phạm. vừa lo sợ cho tương lai, kiều vừa thấy mình “vừa vặn”. Tất cả những nỗi đau này khiến cô ấy như người mất hồn, tê liệt, hôn mê và im lặng trong suốt cuộc mua bán.

– hình ảnh kiều thê, gầy gò “buồn như cúc, gầy như mai”. kiều như cành mai, cành cúc bị sóng gió vùi dập, gầy gò, yếu ớt. đằng sau vẻ ngoài ấy là một trạng thái tâm hồn tê dại, đau đớn, không nói nên lời.

Câu 7: Tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du được thể hiện qua đoạn trích sau:

– tác giả bày tỏ thái độ khinh bỉ và căm phẫn sâu sắc đối với bọn buôn người; tố cáo thực trạng xã hội tồi tệ, lên án những thế lực đồng tiền chà đạp lên nhân phẩm, tài năng của con người, gây rối trật tự xã hội và suy đồi đạo đức con người qua cách tác giả miêu tả các nhân vật mã học sinh.

– Thái độ đó được bộc lộ qua cách miêu tả nhân vật phản diện bằng ngôn ngữ hiện thực, sử dụng từ ngữ mỉa mai, châm biếm, lên án: râu nhẵn nhụi thể hiện sự không tự nhiên, râu cạo trọc, lông mày tỉa tót rất đẹp trai. hai chữ “mềm mại” gợi cảm giác về một người tình trơ trọi, phẳng lặng, không thể tiếp cận. quần áo mỏng manh là quần áo cũng không phải tự nhiên mà có. hai từ “dandy” thường được sử dụng để bổ sung cho quần áo trẻ em, nhưng hiếm khi được sử dụng cho người lớn. cuộc tấn công bí mật dữ dội hơn khi một người đã ngoài bốn mươi chăm sóc tỉ mỉ, cố gắng vẽ mình như một thanh niên. hành động gật đầu tri ân sản phẩm: “mặn mà, nếm mùi yêu thương” không khác gì cử chỉ “gật gù” đầy khinh thường của bộ phận phía sau.

– Thái độ tố cáo thế lực đồng tiền chà đạp con người của nguyễn du được thể hiện qua lời bình: “tiền thì có rồi, làm gì có”. lời nhận xét có vẻ khách quan nhưng lại chứa đựng cả sự chua xót và phẫn nộ. tiền bạc biến sắc đẹp thành món hàng sỉ nhục, biến những kẻ tiêu tiền trả lương hậu hĩnh trở thành những người mãn nguyện và kiêu hãnh. Lực lượng đồng tiền và lực lượng nổi dậy hợp tác với nhau để phá hủy gia đình hào hoa và phá hủy cuộc sống ở nước ngoài.

– Nguyễn Du cũng bày tỏ sự cảm thông sâu sắc trước thực trạng nhân tài bị suy thoái, bị chà đạp và biến thành hàng hóa; đồng cảm với nỗi đau của những con người phải chịu đựng quá nhiều nghịch cảnh trong xã hội phong kiến. tác giả thể hiện thái độ đó qua ngòi bút miêu tả ước lệ, nhà thơ như hóa thân vào nhân vật để nói lên nỗi đau, nỗi tủi nhục của kiều.

2. nghệ thuật cảnh:

a. tả cảnh thiên nhiên:

Xem thêm: Soạn bài noi thuong minh truyện kiều lớp 10

bản sao của “ cảnh ngày xuân “:

vào ngày xuân, én đưa con thoi,

ba mươi là hơn sáu mươi.

cỏ xanh đến tận chân trời,

cành cây lê trắng với một số bông hoa.

quyết toán trong khoảng tháng 3,

lễ là lăng, đảng là bàn đạp.

gần như quá xa, tôi yêu bạn,

Hai chị em đang mua sắm quần áo mùa xuân.

đàn áp một nữ diễn viên xinh đẹp

ngựa như nước, quần áo như nêm.

đống phân tán,

giai điệu vàng lan tỏa, tro tàn của tiền giấy bay.

bóng tối quay về phía tây,

Hai chị em đi lang thang.

từng bước qua đỉnh khe nhỏ,

Chế độ xem phong cảnh có bề mặt mỏng manh.

tuy nhiên, nước uốn cong,

một cây cầu nhỏ ở cuối ghềnh.

câu 2:

vị trí: “ cảnh ngày xuân ” là đoạn thơ tả cảnh ngày xuân trong tiết thanh minh và cảnh đi du xuân nước ngoài của hai chị em, đằng sau là đoạn văn tả tài ở nước ngoài của hai chị em. , trước khi bước, anh gặp mộ dam tien, gặp kim trong. đoạn trích là hình ảnh thiên nhiên lễ hội mùa xuân tươi đẹp, trong lành và náo nhiệt.

XEM THÊM:  Truyện kiều sáng tác thế kỷ bao nhiêu

câu 3: kết cấu của đoạn trích : theo trình tự thời gian của chuyến du xuân.

+ bốn câu đầu: cảnh ngày xuân.

+ tám câu sau: quang cảnh lễ hội vào tiết Thanh minh.

+ sáu câu cuối: cảnh hai chị em ở nước ngoài trở về.

Câu 4: Nêu tóm tắt giá trị nội dung và nghệ thuật.

giá trị nội dung của “cảnh xuân”: là hình ảnh thiên nhiên mùa xuân tươi đẹp, trong lành và lễ hội mùa xuân tưng bừng, náo nhiệt.

giá trị nghệ thuật : sử dụng nhiều hình ảnh đắt giá và sáng tạo; nhiều từ dùng để tả cảnh và cả tâm trạng con người; phong cách viết mô tả phong phú về hình thức.

Câu 5: Giải thích từ:

thanh minh : vào đầu tháng 3, tiết trời trong xanh mát mẻ, mọi người đi tảo mộ, tức là đi thăm và sửa sang phần mộ của người thân.

bước lên thanh : bước trên thảm cỏ xanh.

diễn viên xinh đẹp : trai tài, gái đẹp.

quần áo chật như nêm : nói rằng người chật như nêm.

câu 6: thành công trong nghệ thuật đại diện cho thiên nhiên:

a. bốn dòng đầu: tác giả miêu tả cảnh vật với vẻ đẹp riêng của mùa xuân.

– hai câu đầu là lời miêu tả khái quát về một ngày xuân tươi đẹp với hình ảnh cánh én bay lượn trên bầu trời thanh bình ngập tràn ánh xuân trong trẻo tươi mát. đồng thời nhà thơ cũng cho rằng ngày xuân trôi qua nhanh quá, “chim én đưa thoi”, chín mươi ngày xuân mà nay “đã sáu mươi trôi qua”.

Hai dòng tiếp theo thực sự là một hình ảnh đẹp: “cỏ non xanh tận chân trời – cành lê trắng điểm xuyết vài bông hoa”. đây chỉ là bức chân dung cảnh ngày xuân, cỏ xanh hoa trắng nhưng đủ cảnh, đủ sắc, thể hiện cả một không gian xuân. ở đây, nguyễn du đã nghiên cứu hai câu thơ cổ của Trung Quốc: “l ĩnh biễn phương pháp – lê chi sách hoa ” mà đưa vào bài thơ của mình, tác giả đã rất sáng tạo. . trong một bài thơ chữ Hán có sử dụng hình ảnh “cỏ thơm” thiên về vị, nguyễn du được thay bằng “cỏ xanh” thiên về màu sắc. đó là màu xanh lam nhạt pha với màu vàng chanh tươi sáng kết hợp với màu xanh của bầu trời chiều xuân tạo thành màu nền của bức ảnh, điểm xuyết là những mảng trắng của hoa lê. hình ảnh hài hòa những gam màu dịu mát trong khi nội thất vẫn bừng lên sức sống tươi mới của mùa xuân. chữ “trắng” được lùi ra phía trước tạo cảm giác mới mẻ, trong sáng, thuần khiết như sự kết tinh những tinh hoa của đất trời. từ “chấm” gợi cho bàn tay người nghệ sĩ vẽ nên những vần thơ hoa mỹ, bàn tay của thiên nhiên tô điểm cho cảnh xuân tươi tắn làm cho bức tranh trở nên sinh động và xúc động.

– Hai câu văn tả cảnh thiên nhiên của nguyen du thật là tuyệt! Ngòi bút tài hoa Nguyễn Du giàu ngôn ngữ biểu cảm, miêu tả. tác giả đã rất thành công trong phong cách nghệ thuật kết hợp giữa miêu tả và gợi hình. Như vậy, chúng ta thấy được tâm hồn con người vui tươi, phấn khởi qua vẻ đẹp thiên nhiên trong trẻo, tươi tắn, hồn nhiên và nhạy cảm.

b. sáu câu thơ cuối : tả cảnh chị em Việt kiều trở về nước.

– cảnh vẫn còn cái thanh, cái ngọt của mùa xuân: ánh nắng, con suối nhỏ, một khúc cầu nhưng nhuốm màu bi tráng.

– bóng bạch đàn nghiêng chiều tà: “bóng tà uốn mình đây”, nước chảy quanh co. mà đây không chỉ là cảnh hoàng hôn, dường như người ta còn đắm chìm trong một cảm giác xót xa khó tả. chuyến đi chơi xuân đã qua, trẩy hội tưng bừng náo nhiệt, tâm hồn con người cũng đồng điệu với cảnh vật, bước chân người bâng khuâng. cảnh vật như mờ đi, tĩnh lặng, mọi chuyển động đều mượt mà, không gian mang dáng vẻ nhỏ bé, chật hẹp và buồn bã. tâm trạng con người có cảm giác xốn xang về chuyến du xuân cuối năm, có điềm báo về việc gặp lại ngôi mộ của dam tiên và học giả kim trong “phong độ, tài cao”.

nghệ thuật : sử dụng nhiều từ láy như nao nao, ta đây, thanh vắng không chỉ thể hiện sức mạnh của cảnh vật mà còn thể hiện tâm trạng của người con. . , nhất là hai từ “nao nao” thoáng qua gợi lên một vẻ buồn đến khó hiểu. hai chữ “rong ruổi” có sức gợi rất lớn, chị em kiều bào ra đi trong sự xót xa, tiếc nuối và xót xa. “dan tay” cho rằng anh ấy vui tính, nhưng thực ra anh ấy có chung một nỗi buồn khó tả. cảm giác bùi ngùi, xao xuyến cho một ngày vui xuân đã bộc lộ tâm hồn của một cô gái trẻ nghiêm trang với niềm vui sống, nhạy cảm và sâu sắc. Chính những từ này đã tô màu cho tâm trạng của cảnh phim.

Bài thơ vẫn hay vì sử dụng thể văn cổ điển: tả cảnh ngụ tình, tả cảnh ngụ ngôn, tả cảnh ngụ tình và tương tư.

để tóm tắt:

– Ở 4 câu đầu và 6 câu cuối trong bài “ cảnh ngày xuân ”, nguyễn du đã vẽ nên một hình ảnh thiên nhiên mùa xuân thật đẹp. nhà thơ chỉ ra một số chi tiết, tả cảnh để gợi lên cái chính.

– những từ giàu hình ảnh.

– thiên nhiên được miêu tả trong các thời kỳ và thời đại khác nhau.

câu 7: cảm nhận về quang cảnh lễ hội tiết thanh minh (8 câu giữa)

– nguyễn du đã rất tài tình khi chia đôi hai từ lễ hội để diễn tả hai hoạt động diễn ra cùng một lúc: lễ tảo mộ, lễ hội đạp xe.

– không khí lễ hội được miêu tả bằng hệ thống từ ngữ giàu sắc thái biểu cảm:

<3

+ nhiều danh từ ghép (én, người hâm mộ, người đẹp, chị em, ngựa, xe ngựa, quần áo) gợi ý sự đông đúc.

+ và nhiều động từ ( mua sắm, vấp ngã ) gợi lên cảm xúc của lễ hội.

– qua chuyến du xuân của chị em thủy chung, tác giả biết đến hình ảnh một truyền thống văn hóa lễ hội xa xưa. cụm từ “thưởng thức tổ ấm ” là một ẩn dụ gợi lên hình ảnh những đoàn thanh niên nam nữ háo hức đi chơi xuân như đàn én, đàn cò. tiếng hát trong lễ hội mùa xuân rộn ràng, những nam thanh nữ tú nổi bật, những “diễn viên xinh đẹp” tay trong tay bước đi, niềm vui ngày hội dường như bao trùm khắp thiên hạ. những so sánh rất đơn giản “ngựa như nước, áo như nêm” đã gợi lên niềm vui.

– “lễ bỏ mả” – lễ viếng, sửa sang, quét dọn mồ mả người thân; đốt vó vàng, tiền quý để tưởng nhớ những người đã khuất. “ đang đạp thanh ” – vui đùa trên cánh đồng, bước trên thảm cỏ xanh, đó là cuộc sống hiện tại, và bạn có thể tìm thấy những sợi tơ hồng của tương lai. “lễ” là sự hồi tưởng, tưởng nhớ về quá khứ theo truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “tiệc” là khát vọng, khao khát hướng về cuộc sống. lễ hội và lễ hội trong tiết thanh minh là sự giao hòa độc đáo. chứng tỏ nhà thơ rất yêu quý và trân trọng những nét đẹp, những giá trị truyền thống của văn hoá dân tộc.

b. mô tả cảnh ngụ ngôn:

câu 1: chép “kiêu trên lầu cầu”:

trước mặt đất để nghỉ xuân,

Ánh mắt trẻ thơ nhìn xa, trăng gần.

bốn cạnh là chiều dài và chiều rộng,

cồn cát vàng, bụi hoa hồng ở đó.

những đám mây xấu hổ vào đầu và đêm khuya,

một nửa yêu thương, một nửa cảnh như chia sẻ tấm lòng.

nghĩ về những người dưới mặt trăng,

Tin tức đầy lo lắng và mong đợi.

trên bầu trời, góc bể không phòng bị,

son môi có thể rửa được không bao giờ bị phai màu.

Tôi cảm thấy tiếc cho ngày mai,

hiện có quạt nóng và lạnh?

vườn mai cách mấy ngày nắng mưa,

có lẽ gốc rễ của cái chết đã được bao trùm.

buồn bã nhìn cánh cửa tan nát trong buổi chiều tà,

có thể nhìn thấy con tàu của người ở xa.

buồn khi thấy nước mới chảy ra.

những bông hoa trôi đi đâu?

buồn trông buồn,

phần chân mây trên mặt đất có màu xanh lam.

buồn khi nhìn gió thổi vào mặt mình,

tiếng sóng vỗ xung quanh ghế ngồi.

câu 2 : vị trí đoạn trích:

đoạn trích từ phần thứ hai biến và mất . sau khi bị phò mã lừa gạt, nhục nhã, bị tú bà mắng mỏ, kiều nhất quyết không tiếp khách làng chơi, đành chịu kiếp lầu xanh. đau đớn, tức giận, tủi nhục cô có ý định tự tử. Tu ba sợ mất vốn nên đã tìm cách khuyên nhủ, dụ dỗ những người Việt Nam ra nước ngoài. cô giả vờ lo thuốc thang, hứa khi khỏi bệnh anh sẽ gả cô cho một người đàn ông tử tế. tu ba bắt Kiều ra ở riêng trong tầng lầu mật viện, thực chất là giam cầm cô để thực hiện một âm mưu mới, đê hèn và tàn bạo hơn.

câu 3 : cấu trúc của đoạn trích : 3 phần

+ sáu câu đầu: hoàn cảnh nghèo khổ, neo đơn của kiều nữ.

+ tám câu tiếp theo: cô ấy nhớ bố mẹ mình rất nhiều và cô ấy nhớ họ.

+ 8 câu cuối: tâm trạng buồn lo của kiều được thể hiện qua cách nhìn cảnh vật.

Câu 4 : Nêu tóm tắt giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích:

giá trị nội dung của “lầu son gác tía”: thể hiện một cách chân thực hoàn cảnh cô đơn, buồn tủi và đáng thương, nỗi nhớ nhung cay đắng dành cho người thân và lòng trung thành, hiếu thảo, vị tha của Thủy kiều khi bị ức hiếp trong sự tầng hầm. .

giá trị nghệ thuật: nghệ thuật miêu tả nội tâm độc đáo, lối viết hay nhất về cảnh ngụ ngôn trong “truyện kiều”.

câu 5 : định nghĩa từ :

– đóng xuân: đóng xuân, tức cung cấm (ngày xưa công tử con nhà quyền quý không được ra khỏi phòng); ở đây nói về việc giam giữ ở nước ngoài.

– son môi: tấm lòng son sắt, chỉ tấm lòng trung thành và thủy chung.

– duyen (còn gọi là doanh): sông biển vụng về.

câu 6 : hoàn cảnh và tâm trạng của kiều được thể hiện qua 6 câu thơ đầu:

– kieu trong tầng hầm bị quản thúc ( đóng cửa nhanh ).

<3 cảnh " không xa “, “ gần trăng ” gợi lên hình ảnh một tòa nhà cô đơn, chơ vơ giữa trời nước bao la. từ tầng cao nhất, chúng tôi chỉ có thể nhìn thấy những ngọn núi phía xa, những cồn cát bụi mù mịt. mặt đất cô đơn đó che chở cho một thân phận trần trụi, không một bóng dáng quen thuộc, thậm chí không một bóng người.

hình ảnh xa” “gần mặt trăng”, “cát vàng”, “bụi hồng ” có thể là cảnh thực nhưng chúng cũng có thể là hình ảnh thông thường để gợi lên không gian bao la và rùng rợn, từ đó thể hiện tâm trạng cô đơn của kiều nữ.

– cụm từ “mây sớm và đêm khuya” gợi ý thời tiết khép kín theo chu kỳ. mọi thứ như giam cầm con người, khoét sâu thêm nỗi cô đơn khiến kiều cảm thấy bẽ bàng, chán chường, buồn tủi “mình ở quê một mình” và gieo vào lớp những nỗi niềm chua xót, đau đớn khiến lòng ngoại cảm thấy mình đang được sẻ chia: “ nửa tình, nửa cảnh như chung một tấm lòng ”. do đó, dù cảnh có đẹp đến đâu thì tâm trạng cũng không thể vui được.

<3

* hiếu nhớ kim trong, đệ nhất nhớ cha mẹ. Theo nhiều nhà bún, điều này không đúng với truyền thống dân tộc nhưng thực ra lại rất hợp lý. Anh chàng Việt kiều bán mình cứu cha và em trai cô đã đền đáp một phần công lao của cha mẹ nên cô rất đau lòng.

* cùng là nỗi nhớ nhưng cách nhớ khác nhau vì những lý do khác nhau nên cách diễn đạt cũng khác nhau:

+ nhớ thuở vàng son: kiều “tưởng” như thấy nỗi nhớ thiêng liêng đêm thề nguyền, cam kết “tưởng người dưới trăng, chén đồng”. Đêm đó dường như hôm qua. lần khác nhớ về vàng cũng là “nhớ đến ước nguyện của ba đấng sinh thành”. kiều thương hình dung người yêu vẫn chưa biết mình đã bán mình, vẫn ngày đêm ngóng trông về một nơi xa xăm. nàng nhớ về người yêu với tâm trạng đau đáu: “son phấn rửa được không bao giờ phai”. có lẽ “tấm lòng son” ấy chính là tấm lòng son sắt, thủy chung son sắt, không ngừng yêu quý, kính trọng vàng ngọc. Kiều cũng có thể tủi thân khi tấm lòng son sắt của mình đã chai sạn, hoen ố, không biết bao giờ mới gột rửa. trong kí ức của chàng trai còn có nỗi đau xé lòng.

+ cô nhớ bố mẹ: cô cảm thấy “ch ịu t” khi tưởng tượng rằng, ở quê hương, bố mẹ cô vẫn đang tựa cửa chờ tin tức của đứa con gái yêu. anh vô cùng hối hận và đau đớn vì không thể “tản mát ra ngoài”, chăm sóc cha mẹ mình, băn khoăn không biết liệu họ có chăm sóc tốt cho cha mẹ mình hay không. anh tưởng tượng ở quê anh mọi thứ đã thay đổi, bố mẹ anh vừa được ôm ấp, bố mẹ anh ngày một già yếu. cụm từ “nắng mưa xa vắng mấy ngày” vừa thể hiện khoảng cách giữa hai mùa mưa nắng vừa gợi sự tàn phá của thời gian và thiên nhiên đối với con người và cảnh vật. Mỗi khi nhớ đến cha mẹ, Kiều cũng “ân chín chữ dày” và luôn ân hận vì đã sinh thành, nuôi nấng cha mẹ.

* nỗi nhớ của kiều đã thể hiện nhân cách đáng trân trọng của anh. Hoàn cảnh của bạn lúc này rất buồn và đau đớn. nhưng quên đi hoàn cảnh của chính mình, anh hướng tình yêu của mình về những người anh yêu thương nhất. trái tim anh giàu tình yêu thương và đức hi sinh. nàng thực sự là một người tình thủy chung, một người con hiếu thảo, một người có tấm lòng vị tha cao cả đáng quý.

câu 8 : lối viết tả cảnh ngụ tình của nguyễn du ở 8 câu cuối bài “kiều bên lầu cầu”: nghệ thuật tả cảnh ngụ tình:

– dòng này được coi là mẫu mực của thơ tả cảnh ngụ tình trong văn học cổ điển. để diễn tả tâm trạng của kiều, nguyễn du đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình “tình trong cảnh ấy, cảnh nọ tình kia” để khắc họa cảnh Kiều tiếp cận khi bị quản thúc dưới hầm nhà.

– có 8 câu thơ tả cảnh thực cũng là tâm trạng. mỗi biểu hiện trong cảnh đồng thời là một ẩn dụ cho trạng thái tâm hồn của một người: mỗi cảnh gợi lên một nỗi buồn khác nhau, với những lý do buồn khác nhau, trong khi nỗi buồn vốn đã đầy hài hước và tình yêu. nỗi buồn ảnh hưởng đến cảnh làm cho cảnh buồn hơn, buồn hơn. , nỗi buồn càng khủng khiếp và dữ dội hơn.

– cách sử dụng độc thoại, ám chỉ. bốn hình ảnh, bốn nỗi niềm được tác giả thể hiện qua cụm từ “buồn trông” ở đầu mỗi câu có nghĩa là buồn nhưng nhìn đâu cũng thấy, nhìn một cái gì đó mơ hồ sẽ đến để thay đổi hiện tại, nhưng dường như vô vọng. “buồn nhìn” có hoảng hốt, có cảnh tượng lạ lùng, có sợ hãi của một cô gái ngây thơ lần đầu bước giữa cuộc đời xô bồ. điệp ngữ “buồn trông” kết hợp với những hình ảnh đằng sau đã nói lên nỗi buồn với nhiều sắc thái khác nhau. âm tiết kết hợp với các từ lóng chủ yếu là từ tượng hình, nhịp độ nhanh, chỉ từ tượng thanh ở câu cuối tạo nên nhịp điệu, thể hiện nỗi buồn đang lớn dần, lên lớp. nỗi buồn vô tận không hy vọng. điệp khúc tạo nên âm hưởng trầm buồn, khiến đoạn thơ trở thành điệp khúc của tâm trạng.

tập 1: buồn bã nhìn cánh cửa tan nát trong buổi chiều tà,

có thể nhìn thấy con tàu của người ở xa.

ngọn nến nhô ra khỏi miệng biển là một hình ảnh rất đắt giá để thể hiện nội tâm của một người phụ nữ siêu phàm. một ngọn nến nhỏ, đơn độc giữa biển nước mênh mông trong ánh sáng cuối cùng của mặt trời sắp tàn; cũng như hải ngoại trong không gian tĩnh lặng của hiện tại, nhìn về phương xa với nỗi xót xa và khao khát gia đình, quê hương. con tàu suýt mất hút, vẫn lênh đênh giữa dòng đời, biết bao giờ mới trở về để nối lại tình thân.

cảnh 2: buồn khi thấy nước mới chảy ra,

những bông hoa trôi đi đâu?

những cánh hoa héo trôi trên mặt nước mới khi hải ngoại buồn hơn vì dường như nhìn thấy trong nó thân phận bồng bềnh, vô định, trôi trên sóng đời, không biết, nó sẽ trôi về đâu, sẽ như thế nào. nghiền nát.

cảnh 3: buồn bã nhìn cỏ buồn,

phần chân mây trên mặt đất có màu xanh lam.

cỏ nội là “buồn”, “xanh”: màu xanh nhạt, khô héo, mờ ảo kéo dài từ gốc mây xuống mặt đất, nơi “xanh đến tận chân trời” như cỏ trong sáng. .khi kiều còn cảnh đầm ấm. Màu xanh lam này gợi cho tôi cảm giác buồn chán và vô vọng về một cuộc sống cô đơn và chuỗi ngày tẻ nhạt, vô vị không biết sẽ kéo dài được bao lâu.

cảnh 4: anh ấy trông buồn khi gió thổi vào mặt

âm thanh lớn của sóng vỗ xung quanh ghế ngồi.

Dường như nỗi buồn ngày càng dâng cao, ngày càng da diết. một cơn “gió cuốn vào mặt” khiến tiếng sóng bỗng nổi lên như vây lấy chiếc ghế. tiếng “sóng ầm ầm” ấy là âm thanh dữ dội của cuộc đời giông tố đã, đang, đang ập xuống cuộc đời mình, tiếp tục đè nặng lên kiếp người bé nhỏ ấy trong xã hội phong kiến ​​cũ kỹ, bất công. mọi thứ đều là tiếng sóng ầm ầm, thì thầm trong lòng. Lúc này, Kiều không chỉ buồn mà còn sợ hãi và sợ hãi, như thể mình đang dần rơi xuống vực thẳm một cách bất lực. Nỗi buồn ấy đã lên đến đỉnh điểm khiến Kiều thực sự tuyệt vọng. chân thực, sống động trong thiên nhiên nhưng cũng rất ảo. đó là cảnh được nhìn qua tâm trạng theo quy luật “không cảnh nào buồn, người buồn chẳng bao giờ vui”.

– Cảnh được tả từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động thể hiện tâm trạng buồn man mác, bất định đến lo lắng, sợ hãi, nội tâm bão táp. đỉnh điểm của cảm xúc ở nước ngoài hơn hết, đó là hình ảnh của sự bấp bênh, mong manh, sự đình trệ trôi dạt, quay cuồng, sụp đổ dữ dội. Lúc này, Kiều trở nên tuyệt vọng, yếu đuối hơn. đó là lý do cô cũng bị bộ phận lừa gạt để rồi dấn thân vào cuộc sống “ngày hát hai buổi”.

để tóm tắt:

cảnh thiên nhiên là cái cớ để tác giả bày tỏ cảm xúc của mình.

(trích “kiêu trên lầu cầu” – truyện kiêu).

Xem thêm: Soạn bài Truyện Kiều – ngắn nhất Soạn văn 10

bài viết được đề xuất:

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc [Ôn tập văn lớp 9] TRUYỆN KIỀU. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *