Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
199 lượt xem

Các nhà thơ nhà văn nổi tiếng ở miền nam

Bạn đang quan tâm đến Các nhà thơ nhà văn nổi tiếng ở miền nam phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Các nhà thơ nhà văn nổi tiếng ở miền nam

Video Các nhà thơ nhà văn nổi tiếng ở miền nam

40 Năm Hải Ngoại

nhà văn – nhà thơ

núi ẩn

chân dung của các nhà thơ và nhà văn miền Nam đã qua đời

Bạn đang xem: Các nhà thơ nhà văn nổi tiếng ở miền nam

40 năm chỉ là một khoảnh khắc trong lịch sử, nhưng đủ để mọi người hoàn thành sự nghiệp hoặc chết.

Hơn 40 năm qua, kể từ ngày miền Nam sụp đổ, nhiều nhà văn, nghệ sĩ đã tạo nên nền văn học miền Nam rực rỡ cũng đã thoát ly để tìm cho mình một cuộc sống xứng đáng với tự do. Tại vùng đất tự do của nhiều quốc gia trên thế giới, bên cạnh nỗ lực hội nhập vào xã hội mới, các nhà văn, nhà thơ Việt Nam vẫn không ngừng nỗ lực sáng tạo, duy trì và phát triển nền văn học vùng nam trên đất tạm bợ để có thể coi là có văn học Việt Nam ở nước ngoài.

Và cũng ròng rã trong suốt hơn 40 năm tận tụy với ngòi bút ấy, nhiều người đã lặng lẽ ra đi, bỏ lại phía sau những công trình có thể chưa hoàn tất nhưng cũng đã gieo nhiều nỗi ngậm ngùi, xót xa trong lòng của nhiều người ở lại

nay nhân kỷ niệm 40 năm hội nhập, trong khi chưa thể thu thập đầy đủ họ tên các nhà văn, nhà thơ đã khuất, thì danh sách dưới đây xin được coi như một nén hương, một đóa hoa. đối với tất cả các nhà văn, nhà thơ đã hy sinh ở nước ngoài, trong suốt 40 năm qua, họ đã góp phần cống hiến cho đời những tác phẩm có giá trị mà thế hệ mai sau không thể bỏ lỡ.

Danh sách sau theo thứ tự thời gian mà ông qua đời.

thanh nam (1931-1985)

Nhà văn / nhà thơ Thanh Nam tên là Trần Đại Việt, quê ở làng Mỹ, tỉnh Nam Định, ngày xưa cha là Tổng giám đốc trường Đại học Kỹ thuật Hà Nội. Năm 1946, khi mới 15 tuổi, một chàng trai đã đăng thơ và được một tờ báo thiếu nhi ở Hà Nội mời về cộng tác và viết một bộ sách dành cho lứa tuổi thiếu niên cho nhà xuất bản văn học Hồng Thinh.

Năm 1953 ông đi sài gòn, được mời làm tổng thư ký tờ báo thẩm mỹ, ông viết truyện ngắn, truyện dài, bình thơ cho bạn đọc, phụ trách nhiều mảng khác như phụ nữ trong gia đình, gỡ rối. trái tim .. .và cũng ký nhiều bút danh như nước hoa sông, hoa hậu ruby, tiểu thư bệt, tôn đại trang, thợ cắt tóc. Năm 1960, ông hợp tác với Tạp chí Hàng tháng Hiện đại, do Nguyên Sa và Thái Thụy vô địch, và là Tổng thư ký của Tạp chí Văn nghệ Tuần báo, đồng viết bài trên Tạp chí Văn nghệ Tuần báo.

Di tản sang Hoa Kỳ năm 1975, ông tạm cư tại tiểu bang New Jersey rồi năm 1976 định cư tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington. Ở đây ông cộng tác với tờ Đất Mới và một trong vài tờ báo Việt ngữ đầu tiên xuất bản tại Hoa Kỳ . Ông mất vào ngày 2 tháng 6 năm 1985 do chứng ung thư thanh quản.

tác phẩm đã xuất bản:

ruby ​​(1957) nữ ca sĩ (1957) soda buồn (1962) giấc mơ cô đơn (1963) và một đêm một đêm (1963) cho mượn cuộc đời, ngựa hoang (1965) nước mắt hồn nhiên (1965) phố không đèn (1965) một số những mùa đau thương (1968) bức màn đã kéo, … đất khách quê người (1983)

mô phỏng độ khó (1917-1986)

Ông sinh năm 1917 tại Hà Nội, theo học trường Bưởi, nhập học trường Y Khoa nhưng rồi đổi sang Cao đẳng Canh Nông, tốt nghiệp kỹ sư sau chuyển sang văn học và lịch sử, dạy học ở trường trung học Chu Văn An.

Ông là tác giả của các vở kịch Cậu bé ngồi gốc cây đa (1948), thành phố cát hãn và giao thừa (1949). Hai vở kịch Giao thừa và Cuội được công diễn tại Nhà hát Lớn Hà Nội vào các năm 1951 và 1952. Tác phẩm của ông cũng được đăng trên các tờ báo nổi tiếng và dư luận.

sau năm 1954, ông di cư vào Nam để viết cho các tờ báo, ý kiến ​​tự do và sau đó trở thành chủ bút của ấn bản hàng tháng. Ông là giám đốc sân khấu của Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn. Ông trốn sang Hoa Kỳ năm 1975, định cư tại Minnesota, nơi ông dạy tiếng Pháp tại Đại học Minnesota và thành lập Hội Phật tử Việt Nam tại đó. ông mất ngày 12 tháng 9 năm 1986.

ĐÀO ĐĂNG VỸ (1908-1997)

Dao dang vy là nhà văn, nhà văn hóa, nhà từ điển học rất nổi tiếng ở Huế từ cuối những năm 1940. Ông cũng là một dịch giả tiếng Việt nổi tiếng. Riêng về lĩnh vực từ điển, ông đã sưu tầm các sách như Pháp Việt Đại Từ Điển (1949-52, 1963, 1970), Việt Pháp Đại Từ Điển (1956, 1963, 1970), Pháp Việt Đại Từ Điển (1954). 1960, 1963, 1965, 1970), Pháp-Việt subdictionary (1961, 1963, 1966, 1970), Pháp-Việt microdictionary (1962, 1964, 1966, 1970), Từ điển bách khoa Việt Nam (quyển I quyển I, iii…; 1959-1963) ..

ông sinh ngày 1 tháng 2 năm 1908 tại Huế và mất ngày 7 tháng 4 năm 1987 tại California – Hoa Kỳ.

binh nguyen luc (1914-1987)

Bình Nguyên Lộc tên thật là Tô Văn Tuấn, là một nhà văn lớn, nhà văn hóa trong giai đoạn 1945-1975. Ngoài bút danh Bình Nguyên Lộc, ông còn có các bút hiệu khác như Phong Ngạn, Hồ Văn Huấn, Tôn Dzật Huân, Phóng Ngang, Phóng Dọc, Diên Quỳnh…]

Ông viết khoảng 50 tiểu thuyết, 1.000 truyện ngắn và 4 cuốn sách khảo cứu, trong đó chỉ in phần đầu của cuốn Mã Lai của dân tộc Việt Nam, 800 trang còn lại viết tay và bị thất lạc.

<3 theo chú thích về đặc điểm của từng câu.

Tháng 10 năm 1985, gia đình bảo lãnh ông sang Mỹ du lịch. uu. để được điều trị y tế. Ngày 7 tháng 3 năm 1987, ông qua đời tại Rancho Cordova, Sacramento, California, vì bệnh cao huyết áp, hưởng thọ 74 tuổi.

HOÀI ĐIỆP TỬ (1941-1987)

tên thật là bất hợp pháp. sinh năm 1941 – so you – in bac lieu. ông đã sử dụng nhiều bút danh khác nhau như diep yen ha, le thang, doc doc, kieu linh khanh. Ông bắt đầu làm thơ từ năm 14 tuổi, chính thức viết vào năm 1958 với truyện dài đầu tay “Tóc người con gái phù sa” viết trong nhật ký của Mr. huynh hoai lac.

lần lượt cộng tác với các tờ báo, tuần báo như Tiếng chuông huynh đệ, Tiếng chuông đình văn khai, Tiếng dân ta, Tia sáng của người trung nghĩa nguyễn , tiếng nói của dân tộc. bởi ly quy chung, độc lập của hoàng phấn, tin vui của ngo cong duc, thử thách của dang van be, v.v.

– Năm 1966, ông thành lập Nhà xuất bản Sông Hậu cùng với những người bạn như Trương Đạm Thủy, Ngô Từ, Phan Yến Linh, Phương Triều, Tam Đường Nhất La.

– Khi sang Mỹ từ năm 1981, nhà văn Hoài Điệp Tử làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tuần báo Mai (Nam California) từ năm 1982 đến 1987. Ông bị sát hại tại tòa soạn nằm trên đường Westminster (Nam California) lúc 2 giờ 15 sáng chủ nhật ngày 9 tháng 8 năm 1987. Vụ án mạng này đến nay vẫn chưa được làm sáng tỏ.

các tác phẩm đã xuất bản tại Việt Nam: – vũng lầy (1964) – trái cấm – tình yêu tuổi học trò, mới ra mắt xã luận, 1965. – 16 buổi buồn (1966) – lửa đạn về thành phố – tình yêu từ biển (1968 ) – đỉnh núi mù sương – còn xanh kỷ niệm (1969) – bến đò – giọt máu trại hè (1970) – quà đêm – khói bụi thành phố (1971) – nắng cho ai – hành lang đen (1972) – tòa nhà số. 8 (1973) – sóng hoang, nhà xuất bản song hâu xuất bản (1974)…. và một số bài thơ, câu chuyện. tác phẩm được xuất bản ở Mỹ Mỹ: – truyện dài: ở đầu sóng, do nhà xuất bản nước ngoài xuất bản, 1982.

Tham khảo: Phong cách nghệ thuật của nhà thơ quang dũng

nguyễn nhiên (1952-1992)

Nguyên Nhiên tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, sinh ngày 30 tháng 5 năm 1952 tại xã Bình Trước, huyện Dục Tú, tỉnh Biên Hòa.

Ông là một thi sĩ bẩm sinh, tài hoa, suốt đời cuồng nhiệt, đam mê với thơ, đặc biệt là thơ tình. Biết làm thơ từ rất sớm : Mới 14 tuổi (1966,) đã có tập thơ đầu tay“Nàng Thơ Trong Mắt” và hai năm sau, 16 tuổi (1968,) viết tiếp tập thơ“Dấu Mưa Qua Đất” (cả hai tập thơ nầy đều ký bút danh Hoài Thi Yên Thi).

Năm 1970, chính ông đã xuất bản một tập thơ “thảm họa thiên nhiên”, đầu tiên là bút danh Nguyễn, tất nhiên. Năm 1978, anh vượt biên và định cư tại Pháp. tại đây, nhà xuất bản sud-asie đã xuất bản một tuyển tập “tất nhiên là thơ”, gồm những bài thơ sáng tác từ năm 1970 đến 1980. Sau đó, ông đến các tiểu bang thống nhất, định cư ở miền nam California, tiếp tục sáng tác thơ, nhạc, xuất bản. tập thơ “tiếng chuông báo mộng” (nhà xuất bản văn học, 1987), “tam dung” (nhà xuất bản Việt Nam, 1989), “minh khê” (1990, toàn bản thảo, số lượng phát hành hạn chế). Ông mất ngày 3 tháng 8 năm 1992 tại California.

nguyễn anh (1935-1997)

Duan anh tên thật là vu mong long, các bút danh khác là thuong sinh, mo beo, ten nguyen, ten lua vuon, order ho tung, thai anh, can dog, kitchen mini, side kitchen and doc ngu. sinh ngày 16 tháng 8 năm 1935 tại tỉnh thái bình.

Năm 1954, ông di cư vào Nam và từng làm đủ nghề: bán thuốc sơn đông mãi võ, theo đoàn cải lương lưu diễn, quảng cáo cho gánh xiếc rong, giữ xe đạp hội chợ, dạy kèm, dạy đàn ghi ta, dạy sáo.

Năm 1960, Duyên Anh bắt đầu sự nghiệp văn chương và ngay lập tức trở nên nổi tiếng với tác phẩm đầu tay Hoa thiên lý. tiếp đến là hàng loạt côn đồ, côn đồ, côn đồ…. viết về ký ức tuổi thơ ở vùng quê Bắc Bộ.

sau đó trở thành nhà báo, biên tập viên, biên tập viên, biên tập viên. Duyên Anh đã góp mặt trên hầu hết các tờ báo lớn ở miền Nam trước 1975 như: Xây dựng, Đời sống, Chính luận, Công luận, Con ong, Tuổi ngọc… Anh còn viết nhiều truyện ngắn, truyện dài cho thiếu nhi.

năm 1976, ông bị bắt và bị đưa vào nhà tù cải tạo (tháng 4 năm 1976). sau khi rời trại cải tạo vào tháng 11 năm 1981, anh ta vượt biên sang Malaysia. Tháng 10 năm 1983, ông sang Pháp định cư. một số tác phẩm ông viết ở nước ngoài đã được dịch ra tiếng nước ngoài và dựng thành phim, chẳng hạn như doi fanta, a nga in saigon. trong thời gian này, ông cũng làm thơ và sáng tác nhạc. Ngày 6 tháng 2 năm 1997, ông qua đời vì bệnh xơ gan tại Paris, Pháp.

nguyễn sa (1932-1998)

Nguyên Sa sinh ngày 1 tháng 3 năm 1932, tên thật là Trần Bích Lan, còn có bút danh Hư Trúc. Ông là một nhà thơ lãng mạn nổi tiếng từ thập niên 1950 với những tác phẩm như“Áo lụa Hà Đông”, “Paris có gì lạ không em”, “Tuổi mười ba”, “Tháng sáu trời mưa”, v.v. Những câu thơ mà Nguyên Sa đem từ Pháp về Việt Nam năm 1956 đã thay đổi rộng khắp cảm nhận thi ca của đa số thanh niên Việt Nam. Giống như một nhạc cụ mới, có âm hưởng sâu và đánh thức giác quan thẩm mỹ của thời đại (Mặc Lâm -RFA).

ông sang Pháp du học năm 1949. Năm 1953, ông đậu tú tài ở Pháp, ông đến Paris để học triết học tại trường đại học sorbonne. nhiều bài thơ nổi tiếng của ông đã được sáng tác trong thời gian này. Năm 1955, ông kết hôn với Trịnh Thúy Nga tại Paris. đầu năm 1956, cả hai ông bà đều về nước. Năm 1975, ông trốn sang Pháp. Ba năm sau, ông và gia đình chuyển đến Hoa Kỳ và ở lại California từ đó cho đến khi ông qua đời. mất ngày 18 tháng 4 năm 1998.

XEM THÊM:  Phân tích bài thơ thu điếu của nhà thơ nguyễn khuyến

mai thao (1927-1998)

Mai Thảo tên thật là Nguyễn Đăng Quý, bút hiệu khác: Nguyễn Đăng, ông sinh ngày 8/6/1927 tại huyện Hải-hậu, tỉnh Nam-định. Thuở nhỏ học trường làng, trung học lên Nam-định rồi Hà-nội (học trường Đỗ Hữu Vị, sau là Chu Văn An). Năm 1945, theo trường sơ tán lên Hưng-yên. Khi chiến tranh bùng nổ năm 1946, gia đình từ Hà-nội tản cư về quê chợ Cồn, từ đó Mai Thảo rời nhà vào Thanh-hóa theo kháng chiến, viết báo, tham gia các đoàn văn nghệ đi khắp nơi từ Liên-khu-ba, Liên-khu-tư đến chiến khu Việt-bắc. 1951, Mai Thảo bỏ kháng chiến vào thành, đi buôn. 1954, di cư vào Nam. Viết truyện ngắn trên các báo Dân Chủ, Lửa Việt, Người Việt. Chủ trương báo Sáng Tạo (1956), Nghệ Thuật (1965) và từ 1974, trông nom báo Văn. Tham gia chương trình văn học nghệ thuật của các đài phát thanh tại Sài-gòn từ 1960 đến 1975. Ngày 4/12/1977, Mai Thảo vượt biển. và định cư ở Hoa-kỳ. Ít lâu sau ông cộng tác với tờ Đất Mới của Thanh Nam và một số báo khác tại hải ngoại. Tháng 7/1982 ông tái bản tạp chí Văn, làm chủ biên đến 1996, vì tình trạng sức khỏe trao lại cho Nguyễn Xuân Hoàng; hai năm sau ông mất tại Santa Ana, California ngày 10/1/1998.

các tác phẩm đã xuất bản của mai thao:

– doan thien – đêm chia tay hà nội (tiếng Việt, 1955) – cỏ non tháng giêng (1956) – di chúc trên đỉnh trời (sáng tác, 1963) – quà sinh nhật Thỏ (Nguyễn Đình Vương, 1965) – Ngôi nhà nước mặn (One Shot, 1966) – Lạc trong đêm (Giác ngộ, 1967) – Dòng sông sáng (Vanyuan, 1968) – Cô giáo cũ (Văn học). lien, 1969) – tàu trên sông đỏ (tuổi ngọc, 1969)

– Tùy bút (1970) – Mưa núi (tập hợp những truyện tuyển trong Đêm giã từ Hà Nội và Tháng giêng cỏ non, Tân Văn, 1970) – Ngọn hải đăng mù (Làng Văn, Toronto, 1987) – Một đêm thứ bảy (Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ, 1988) – Hồng Kông ở dưới chân (Xuân Thu, 1989) – Chân bài thứ năm (Nam Á,Paris, 1990) – Chuyến métro đi từ Belleville (Nam Á, 1990)…

– truyện dài: tóc quá khứ (tiểu thuyết hàng tuần, 1963) – bạn có thích nhạc của brahms không? (phóng tác) – khi mùa thu đến (thái lai, 1964) – chữ nổi đạn (văn, 1966) – đêm huyền diệu (?) – theo cùng một con đường (1967) – sau cơn bão đến (màn ảnh, 1968) – thời đại nào ( miền nam, 1968) – đủ để quên đời (hồng đức, 1969) – con đường dưới tán lá (1969) – mười đêm ngà (hoàng đồng, 1969) – họa thời trang (mồ côi, 1970), – sống một lần (nguyễn đình vuong, 1970), – vào cuối ngày trăng tròn (nhà sách nghệ thuật tự do và thủ công, 1970), – sau giờ giới nghiêm (nhà sách nghệ thuật và thủ công tự do, 1970) – trong như hồ nước (nhà sách nghệ thuật hiện đại, 1971) – chụp xuống đài (nghệ thuật tự do tự do, 1971

một ngày ân oán (1971) – nhớ mùi (nguyễn đình vân, 1971) – sóng ngầm (hoa hải đường, 1971) – sống như hình bóng (đông ngữ, 1972) – hạnh phúc đến trong đêm (nguyễn dinh vuong, 1972) – một đời ký ức (hải văn, 1972) – gần mười bảy năm (nguyen dinh vuong, 1972) – chỉ là ảo ảnh (đời mới, 1972) – suối độc (nguyen dinh vuong, 1972). 1973) – tình yêu nhạt và khói (nguyễn đình vỹ, 1973) – bên bờ mộng (ngày mới, 1973) – chìm vào quên lãng (tiếng phương đông, 1973) – ngoài cổng trường (đồng nai, 1973) – ánh sáng cuối đường hầm (anh lộc, 1974) – cầm đàn đến nửa đời người (giữ vàng giữ ngọc, 1974) – song ngư (xuân thu, 1992)…

thơ: chúng ta thấy hình ảnh các ngôi đền của chúng ta (văn học, California, 1989)

le hoang nguyen về phía trước

BẠN BIẾT GÌ VỀ

âm nhạc của hoa biển

của bạn

nhấp vào liên kết để xem video nhạc của bạn:

Sau tháng 4 năm 1975, âm nhạc miền Nam nhanh chóng vượt qua bến tàu, xâm nhập vào làng nhạc ở Hà Nội, Hải Phòng và lan sang cả nam quan. ngay cả nhạc miền bắc cũng dần mất đà, nên chúng tôi phải để nhạc miền nam chiếm đất.

Cho đến nay, đã ba mươi hai năm trôi qua, rõ ràng đêm cầu nguyện đã phủ bóng cả đông và tây. và tiếng chày trên sóc tre át dần trên sườn lưng, vang vọng khắp bốn vùng chiến thuật.

Đặc biệt nhạc lính của nhạc sĩ miền Nam trần thiển thanh có cái lạ là sau khi đổi đời không chỉ vượt qua nhạc lính của tất cả các nhạc sĩ miền Bắc mà còn thay đổi cả cảm nhận của người dân miền nam. Trước đây, nhiều người cho rằng ca từ của tran thien thanh là khoa trương, hào nhoáng, nhưng khi quê hương sỏi đá gặp phải nỗi buồn, những ca từ ấy lại khiến trái tim đau nhói.

Tôi không thể thoát khỏi chuyển hướng này, nhưng thậm chí có thể … sâu hơn. Trước đây, tôi không chỉ nghĩ đến lời bài hát của Trần Thiến Thanh như đầu môi chót lưỡi, mà còn thích giữ những cụm từ được sửa đổi một cách lặng lẽ trong trò đùa, chẳng hạn như “trên ngai vàng chín tầng, hoàng hậu xinh đẹp … khác với bất kỳ người nào khác ”. “! Thế mà khi tôi trải qua những đêm dài trong tù, dù chỉ bằng một giọng hát nhẹ nhàng, chỉ có tiếng đàn cò, thật lạ là những lời ấy lại thấm thía nỗi buồn vui của một đời lính, qua những miền biển mặn xa xôi. .

Tôi bắt đầu yêu thích âm nhạc thuần túy kể từ đó. Vì vậy, khi định cư ở nước ngoài, tôi đã mua băng đĩa nhạc, CD, DVD có giọng hát hoặc nhạc của Nhật Trần Thiện Thanh. một là thưởng thức trọn vẹn hàng trăm tác phẩm đa dạng của anh ấy, hai là như một lời xin lỗi…

Xem thêm: Tiểu sử cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Huy Cận

Khi tôi biết điều đó đã xảy ra với Hoa Kỳ. uu. năm 1993, tôi rất hạnh phúc. Tôi muốn nhớ về hình ảnh đất nước Nhật Bản trong bài hát “hai mươi” mà tôi không quan tâm lắm về hai mươi năm trước. Tất nhiên, qua video holywood night, tôi rất hào hứng khi được gặp lại trường học ban ngày bằng một phong cách thể hiện rất cụ thể. hình ảnh của anh ấy trong bộ đồng phục màu xanh hải quân trắng làm tôi nhớ lại chính mình trong quá khứ. Ngoài ra, ca khúc Hoa hải đường đưa tôi trở về những kỷ niệm với nhạc sĩ anh thy …

Cuối năm 1967, tôi đang chỉ huy đội Giang Đình hoạt động ở vùng sông Mangt thì bất ngờ được lệnh điều động về khu tâm lý ở Bộ Tư lệnh Hải quân. Tôi chắc đó là nhờ “uy tín” của những bài thơ, truyện đăng trên nguyệt san “lướt sóng” được ban biên tập “triệu tập” lên. Khi lên báo cáo với giám đốc sở, tôi không giấu được sự thất vọng khi ông ấy giao cho tôi một vị trí hoàn toàn không có tài: trưởng phòng văn nghệ hải quân. Tôi lấy cớ hát không hay và hát để từ chối. anh ấy cười và nói tôi có máu nghệ thuật, nhưng tôi được phân về ban mỹ thuật ban đầu, còn đòi hỏi gì nữa!

Ban văn nghệ Hải quân lúc đó có khoảng 20 người, gồm ban tân nhạc và ban kích động nhạc, ban kịch, hai nhân viên chuyên trị cổ nhạc và một ảo thuật gia. Đó là lần đầu tôi thấy “dung nhan” ba nhạc sĩ thành danh là Nguyễn Vũ, Mặc Thế Nhân và Anh Thy. Riêng với Anh Thy, tôi vốn thích các bản Biển Tuyết, Tâm tình Người Lính Thủy, Lời Nguyện Cầu Nửa Đêm nên có ngay cảm tình.

nguyen vu nhỏ nhắn, chững chạc và hiếm khi cười. Dù cùng đẳng cấp với Nguyên Vũ nhưng nếu không phải cô ấy sẽ luôn e dè. còn bạn, dáng người cân đối, cao ráo, khuôn mặt có vài nét hoa lá, miệng rộng môi dày, nụ cười với hai hàm răng đều tăm tắp. Có ba nhạc sĩ nổi tiếng, nhưng chỉ có Nguyên Vũ cầm đàn đứng trên sân khấu, trong khi dùng thế giới đóng vai nhà viết kịch, còn Mr. bạn làm việc như một nhà hoạt hình. Đó cũng là lần đầu tiên tôi được gặp mặt ca sĩ cuồng nhiệt Elvis Phương, lúc đó anh mới biết rằng chỉ có giấc mơ âm nhạc mới dưới tán hoa mà cả làng phải ngáp khi anh biểu diễn. tốt hơn là khi cô ấy hát để khiêu khích anh ta, họ rời đi. có lẽ vì vậy mà năm sau tôi xin vào đoàn nghệ thuật trung ương.

Bộ phận nghệ thuật thường đi cùng với một trong hai tàu y tế, phối hợp thực hiện công việc được gọi chung là dịch vụ dân sự. Công việc bao gồm biểu diễn nghệ thuật, khám bệnh, và phân phát thuốc, quà tặng và tài liệu quảng cáo. đối tượng là các đơn vị hải quân, gia đình quân nhân và đồng bào ở các bản làng xa xôi, hải đảo … mỗi chuyến đi kéo dài từ một đến hai tháng.

Sau chuyến công tác đầu tiên đến khu vực phú quốc, tôi đã biết được tính cách và biệt danh của từng người. là tay trống, tên rất ngộ nghĩnh, mặt dài như mặt ngựa, chính vì vậy mà bạn bè gọi là ngựa. Hai người Ngoại có tên Đức giống nhau nên có thể phân biệt được đâu là Đức Công và Đức Bọ Cạp. Dù có vẻ ngoài hào hoa, lịch lãm nhưng vì tên thật là Phạm Văn Khôn nên anh em trìu mến đặt cho anh một biệt danh khó nhằn: ‘Khéo! tuy nhiên, nhạc sĩ của chúng tôi rất quan tâm.

vào thời điểm đó saigon đang gặp khủng hoảng với các cuộc đảo chính và biểu tình nên mặc dù chúng tôi đã xa nhà một tháng, chúng tôi vẫn bị cấm trại 50%. tôi và anh trai cùng làm ca trực hàng ngày nên chúng tôi có nhiều cơ hội tìm hiểu nhau hơn. Vào một buổi chiều, khi đang viết một câu chuyện, mr. bạn bắt chéo chân đến gần bàn và giơ tay chào, nửa nghiêm túc, nửa đùa cợt. anh cười và mở cuốn sách cũ lướt, chỉ vào bài thơ:

– thưa thầy! Tôi đã viết bài hát trong một thời gian dài mà không nói thành lời. khi tôi bắt gặp tiêu đề bài thơ của cô giáo tôi, tôi đã không thể nào chịu đựng được. để tôi “chôm” lấy tên hoa hải đường để làm tên bài hát.

Tôi đang vội:

– không cần ăn cắp tiêu đề, tôi rất vui được tặng bản nhạc đầy đủ bài thơ cho các bạn.

và đọc một trong tám đoạn văn:

– “Tôi có một chiếc áo sơ mi trắng với những bông hoa xốp. và đêm nay, nó đã kết thúc vào buổi sáng. chiếc áo sơ mi trắng anh sẽ mặc trong suốt quãng đời còn lại. và tôi sẽ để nó trong một ngày! Con xin lỗi thầy, nghe … thảm quá! Tôi chỉ thích những thứ vui vẻ…

Hai tuần sau, anh trai của bạn đã hát và chơi phần lời hoàn chỉnh cho tôi nghe. Tôi quan tâm đến những ý tưởng hòa âm thực sự phù hợp với giai điệu nhịp nhàng. bức thư đè bẹp bức thư của bài thơ. hoa hải đường được đón nhận nồng nhiệt dù mới phát hành sau tết …

Khoảng một tháng sau, khi được cử làm trại trưởng tiếp nhận bọn hiếp dâm, tôi kéo cả tiểu đội sang bên kia để xin chữ và giữ gìn an ninh trật tự… tháng sau, toàn bộ đội chúng cuốn gói. khăn của họ một lần nữa. Con tàu y tế làm nhiệm vụ tại miền Trung ngược dòng Hương Giang để ủi bãi bên cầu và bắt đầu công tác cứu trợ nạn nhân chiến tranh.

XEM THÊM:  Viết tiểu sử tóm tắt của nhà thơ huy cận

về quê, được thăng chức, lên làm phó trưởng phòng, bàn giao phòng nghệ thuật cho một cán bộ mới. Sau một thời gian, một buổi sáng, anh trai của bạn vào văn phòng để đưa cho tôi một bài hát mới mà các chiến sĩ phát hành. anh ấy nói rằng anh ấy đã sáng tác trong những ngày ở Huế. Tôi đã có cơ hội hỏi anh ấy học nhạc với ai. nụ cười của bạn, nghe từ “không khí” là biết đó là ai. Tôi thừa nhận mình không giỏi âm nhạc. anh ấy lại cười, đó là giáo viên tiếng Nhật!

Ngoài Anh Thy, Mặc Thế Nhân, Nguyễn Vũ cũng thỉnh thoảng tặng tôi các bản nhạc và các dĩa hát mang giọng ca Lệ Thu, Hoàng Oanh, Thanh Tuyền… Tôi cứ áy náy nghĩ đến chuyện phải tặng lại cái gì. Thời may bỗng tới. Buổi chiều đang đọc văn thư, tôi bất ngờ nhận điện thoại từ nhà văn Huỳnh Văn Phú. Chúng tôi mất liên lạc nhau từ sau trung học. Anh đang làm trưởng phòng Tâm lý chiến Bộ Tư Lệnh Sư đoàn Thuỷ quân lục chiến (TQLC) đồn trú cách chỗ tôi làm vài khu phố. Anh rủ đi nhậu ở một quán bên lề đường Phạm Ngũ Lão, tình cờ tôi ngồi cạnh nhà xuất bản Thiên Tứ. Ông Thiên Tứ thấy tôi mang hia đội mão hải quân nên trêu chọc : “Binh chủng nào cũng có truyện viết về binh chủng của họ như Đời Phi Công, Đời Pháo Thủ…, chắc Hải quân có người nhái nên lặn kỹ quá” ! Tôi khích lại : “Nếu ông in thì tôi viết.” Ông Thiên tứ tỉnh queo : “Nếu anh dám viết thì tôi dám in”. “Thật không” ? “Chỉ với một điều kiện : cái tựa phải là Đời Thủy Thủ”.

Thật dễ dàng để tôi … ăn tiền. Dựa trên bốn năm đi tàu kể từ ngày ra trường, thêm mắm, muối là một câu chuyện dài thỏa mãn điều kiện. Với tâm huyết, tôi đã miệt mài viết trong ba tháng liền, nhưng vì chân ướt chân ráo nên rất khó… phối hợp nghệ thuật. mãi đến giữa năm 1969, tôi mới có một cuốn sách để “tặng lại” cho các nhạc sĩ của mình. khi đọc đến dòng dành riêng cho nhạc sĩ anh thi, anh đã gãi đầu xin đổi thành của anh. vài ngày sau, ông nhận xét: “câu chuyện là về một sĩ quan, nhưng tiêu đề là cuộc sống của một thủy thủ”. Tôi tự bào chữa cho mình: “Người đàn ông trên tàu cũng là… thủy thủ”!

Chưa kịp hưởng thú vui buổi chiều lang thang qua các nhà sách, hiệu sách xem tình trạng phóng sinh thủy thủ, tôi được lệnh tham gia cuộc tuần hành khôi phục quận ngũ can. cùng toàn thể nhân viên ban văn nghệ với sự tăng cường của các chuyên gia tâm lý chiến, gồm các nhà văn, nhà thơ wu ha anh, phan minh hồng, tong minh phuong, to giang …, chúng tôi phụ trách tuyển người trở về như xưa. quận, huyện. họ bị bỏ hoang Hàng ngày, ngay khi vừa rời khỏi nhà thuyền trên sông Bồ Đề cách đó vài trăm mét, anh đã bị tấn công. tuần nào cũng có người chết, số người bị thương nặng và nhẹ. vc cũng không tiếc con tàu y tế có biểu tượng chữ thập đỏ to hai bên.

Sau một tháng căng thẳng thần kinh, tôi may mắn trở về không bị sứt mẻ, lại đi nhậu với Huỳnh Văn Phú, lại bị nhà xuất bản khích tướng, rằng nếu tôi dám viết nữa thì ông sẽ dám in nữa. Tôi lại phải bỏ ăn, bỏ chơi, bỏ ngủ nhiều tháng. Nạp xong bản thảo cho Sở phối hợp nghệ thuật thì cũng vừa lúc tôi chia tay ban nhạc để về đơn vị mới vùng biên giới Việt-Miên. Ai cũng bùi ngùi. Riêng Anh Thy cười cười, mong sớm gặp lại ông thầy.

khoảng Tết 71, khi đi lấy mẫu sách ở sài gòn, tôi có ghé phòng tâm lý chiến gặp họa sĩ vũ thái hòa (nhiều thông tin trên mạng cho rằng bạn trần thien thanh. thái hoa nói pham van khun anh ấy không biết chơi đàn và đó là tran thien thanh lấy tên của bạn từ tran thien thanh, trong khi viet dzung cho rằng anh ấy chuẩn bị hoa biển với tran thien thanh), người phụ trách giới thiệu môn lướt sóng. tờ và bản vẽ của bìa cho anh ta. Câu chuyện của tôi việc tiếp theo là tìm nhạc công hải quân. nhìn tên truyện trong cơn bão biển, anh nói đùa: “à, truyện kể về cơn bão, không phải về người đàn ông … thủy thủ!” Tôi cười nhạt: “Vẫn là chuyện thủy chung!”.

Trở lại vùng hoạt động, tôi quyết định viết một câu chuyện về những người lính. Cuối tuần, tôi theo Giang Đình đi tuần tra cabin. một jiangding thường được trang bị với bốn nhân viên. thuyền trưởng có cấp bậc cao nhất giữ cấp bậc hạ sĩ quan. đây là một tập hợp các nhân vật lý tưởng cho một cuốn truyện trong tương lai. Tôi xem hoạt động. Tôi phản ánh về nội dung, tổ chức thiết kế. vào đầu năm 75 cuốn sách Dòng sông chiến tranh dinh được xuất bản. Tôi đã đến thăm phòng chiến tranh tâm lý, hy vọng bộ phận nghệ thuật đã không đi quá xa để khoe “thành tích” của tôi với ông. của mày. nhưng vu thai hoa báo tin anh trai bạn mất đi công tác năm ngoái …

Anh Thy để lại mươi bài hát mang niềm vui và hãnh diện cho Hải quân Việt Nam. Riêng nhạc phẩm Hoa Biển được in như một sử liệu trong Tuyển Tập Hải Sử, trang 205, do Tổng Hội Hải Quân Hàng Hải ấn hành năm 2004.… Ngoài những lần gặp lại Nhật Trường Trần Thiện Thanh trên cuốn video Holywood Night, tôi còn có dịp gặp tận mặt trao đổi vài câu khi anh và ca sĩ Mỹ Lan phụ trách phần văn nghệ cho buổi ra mắt sách của nhà văn Phan Nhật Nam tháng 11/1997 tại thủ đô Hoa Kỳ. Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã ký tặng tôi CD mới nhất Gọi Tên Anh Là… Lính, và thật tình cờ trong đó lại có bài Hoa Biển tôi ưa thích.

Một ngày nọ, khi nghe tin Nhất Trượng tuyên bố giải nghệ, tôi gửi ngay cho anh ấy bản dvd mới nhất: Nhất Trượng giã từ sân khấu. Ngày 13/5/2005, các tờ báo đồng loạt đưa tin Trần Thiện Thanh đã từ trần. Gần một năm sau, gần thủ đô của người Việt tị nạn, trung tâm Á Châu đã tổ chức một buổi hòa nhạc quy mô lớn trên một sân khấu tráng lệ để vinh danh người ca sĩ – nhạc sĩ tài năng. Tôi muốn tham dự một lần nữa nhưng tôi ở quá xa. nó phải đợi dvd 50 nó không chết ở nơi nó được công chiếu vào tháng 4 năm 2006.

từ bản nhạc đầu tiên của dvd 1, tôi đã bắt đầu khóc. Tôi say mê thưởng thức từng bài hát qua những giọng ca xuất sắc nhất, qua những phần hòa âm hiện đại, trên một sân khấu huy hoàng và với cảm xúc sâu lắng. trên dvd thứ hai, sau liên khúc Không bao giờ chia tay và mùa đông, mc viet dzung giới thiệu chủ đề như sau: “Bài hát hoa biển viết với nhạc sĩ anh Thy, cũng là trung úy hải quân”. đầy cảm xúc, bài thuyết trình đã đánh thức tôi. Tôi chưa bao giờ nghe hay đọc rằng tác giả của Hoa hải đường là Trần Thiến Thanh, mặc dù nó được viết với ông. của mày. trong các tác phẩm mà họ đã giao cho tôi, cả từ ông. thy như tran thien thanh, từ xưa đến nay chỉ có 1 tác giả là mr. của mày. tác phẩm này nổi tiếng đến nỗi nói đến hoa hải đường là người yêu nhạc nghĩ ngay đến bạn, hay nói đến bạn là họ thấy hoa hải đường. Thêm một điều bất ngờ nữa, nhạc sĩ Anh không thể là trung úy hải quân. Cho đến ngày tôi rời bộ phận nghệ thuật vào năm 1970, anh trai của bạn vẫn còn là một hạ sĩ. vào năm ông mất 1974, ông có thể đã được thăng cấp trung sĩ.

Trong khi tôi còn đang ngơ ngẩn về tiết lộ tác giả mới của bài Hoa Biển thì một tiết lộ khác, kế tiếp, làm tôi sững sờ. Ở tiết mục ngay sau đó, MC Nam Lộc gợi ý cho nữ ca sĩ Thanh Tuyền đứng bên cạnh, rằng theo mọi người biết thì nhạc phẩm Chuyến Đi Về Sáng là của nhạc sĩ Mạnh Phát nhưng theo gia đình Nhật Trường tiết lộ thì ca khúc này là của Trần Thiện Thanh. MC Nam Lộc yêu cầu Thanh Tuyền, trong tư cách là học trò của nhạc sĩ Mạnh Phát và cũng là bạn thân của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, hãy cho mọi người biết tác giả thực sự của Chuyến Đi Về Sáng. Thanh Tuyền xác nhận chính Trần Thiện Thanh sáng tác bản nhạc này nhưng vì do túng thiếu nên đem bán cho Mạnh Phát. Mạnh Phát góp phần hiệu đính nên tác giả là thực sự là cả hai người.

Hai cuộc vui liên tiếp, bất ngờ khiến tôi bực mình và tắt máy, trằn trọc cả đêm. Trước khi có hoa hải đường, anh trai bạn đã là một nhạc sĩ nổi tiếng. lá thư chắc chắn là của bạn. âm nhạc rất có thể được sáng tác bởi mr. thy, nhưng nhờ master tran thien thanh chỉnh sửa? chỉnh sửa cũng chẳng ích lợi gì nên “sư phụ” không muốn ghi tên mình vào đó. Một lần nữa, tôi có tin sự cố “Trần thị hòa với anh em” khi ngay cả thứ hạng của anh ta cũng đã được nâng sai?

trường hợp của chuyến đi buổi sáng. chuyện riêng giữa hai nhạc sĩ, làm sao bạn biết được thanh tuyen? nó có đáng tin không? Tại sao tran thien thanh không bán trực tiếp cho nhà xuất bản mà lại cho phát mạnh? có thể đó là một bài hát bị nhà xuất bản từ chối, nhưng vì người lớn tuổi muốn giúp cậu con trai nhỏ Trần Thiển Thanh có tiền thuốc thang cho con mình nên đã mua nó. và có quyền sửa chữa. Dù sao đi nữa, việc tiền bối mua nhạc của đàn em và có tên riêng của mình trên đó cũng không đẹp chút nào. Ông Trần Thiện Thanh biết chuyện, ông tự hào, biết ơn và giữ bí mật suốt đời. vậy cái bang thanh tuyen mà công khai là sao? Chẳng lẽ thanh tuyền không hiểu làm như vậy là xúc phạm cả hai nhạc sĩ?

Sự lựa chọn âm nhạc để tôn vinh Trần Thiện Thanh đến từ Trung Á cũng là một điều kỳ lạ. Trần Thiện Thanh nổi tiếng qua hàng trăm ca khúc, chẳng cần “dựa hơi” hai bản chưa bao giờ có tên Trần Thiện Thanh. được vinh danh với hai ca khúc “cùng sáng tác” được nhân đôi bởi hai bản của chính đương sự. DVD 50 chỉ sử dụng 26 bản nhạc. Còn lại 80 bản. như mùa xuân, lá khô và vết đạn trên bức tường quét vôi có một chút ý nghĩa hơn là hoa hải đường và hành trình buổi sáng.

Đã một năm kể từ ngày phát hành asia dvd 50, bạn vẫn chưa chết ở đâu, đủ thời gian để tránh hiểu lầm. công trình nguy nga, tráng lệ đã gặt hái thành quả tương xứng. cảm xúc của hàng trăm nghìn khán giả cũng đã lắng xuống. Tôi nghĩ rằng đây là lúc để đặt câu hỏi: “Tại sao Trung Á lại đưa ra vụ việc lâu như vậy, chỉ người trong cuộc mới biết, khi cả ba thủ phạm liên quan đều đã qua đời?” những gì mcs thuần túy và ca sĩ tiết lộ chỉ là lời nói. đây không phải là vấn đề vui chơi hay giải trí mà là vấn đề danh dự và đạo đức. nếu đó là vì mục đích “sự thật”, vui lòng đưa ra bằng chứng …

phong lan về phía trước

nộp theo: đất việt người việt nam | được gắn thẻ: văn hóa |

Xem thêm: Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác Nhà văn Nguyễn Minh Châu

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Các nhà thơ nhà văn nổi tiếng ở miền nam. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.