Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
163 lượt xem

Các tác phẩm đoạt giải nobel văn học

Giải thưởng Nobel Văn học là giải thưởng cao quý nhất đối với người theo sự nghiệp văn học khi các tác phẩm đoạt giải Nobel luôn là những cuốn sách đáng đọc nhất trong đời mỗi con người nên đọc ít nhất một lần. Ngay sau đây Phê Bình Văn Học sẽ giới thiệu đến bạn đọc 12 cuốn sách đoạt giải Nobel Văn Học đáng xem nhất từ từ thập niên 1900 đến 2020.

Các tác phẩm đoạt giải nobel văn học

12 Cuốn Sách Đoạt Giải Nobel Văn Học Hay nhất thế giới

1. Sông Đông êm đềm – Mikhail Solokhov

Sông Đông êm đềm là bộ tiểu thuyết vĩ đại nhất của nhà văn Nga Mikhail Aleksandrovich Sholokhov. Với tác phẩm này, Sholokhov đã được tặng Giải Nobel văn học năm 1965.

Sông Đông êm đềm miêu tả một giai đoạn lịch sử mười năm từ 1912 đến 1922 trong phạm vi địa lý rộng lớn: mặt trận miền Tây nước Nga trong Thế chiến thứ nhất, Ukraina, Ba Lan, România cho đến Sankt-Peterburg, Moskva nhưng chủ yếu diễn ra ở hai bờ sông Đông và tập trung vào một làng Cossack ven sông. Trong phần đầu của tiểu thuyết, Sholokhov đã quay lại quá khứ của gia đình Melekhov từ thời người ông nội với cô vợ người Thổ Nhĩ Kì bị người dân Cossack xa lánh và dị nghị do lối sống kì lạ. Gregori Melekhov là con thứ hai trong một gia đình ông nội là người Cossack, bà nội là người Thổ Nhĩ Kỳ. Gregori đem lòng yêu Aksinia, vợ một người hàng xóm và nhằm ngăn cản mối quan hệ này, gia đình Melekhov cưới Natalia cho chàng. Để được tiếp tục sống bên nhau, Gregori và Aksinia cùng bỏ nhà đi làm thuê. Tủi nhục, phẫn uất, Natalia đã quyên sinh nhưng không chết.

Gregori phải đi lính khi đến tuổi và cùng với những chàng trai Cossack khác, trong đó có người anh Pyotr nhập ngũ trước đó chiến đấu chống lại quân Áo, Đức trong những năm đầu của Thế chiến thứ nhất. Tham gia chiến tranh, do cứu sống một Trung tá bị thương, chàng được tặng Huân chương thánh Gorge đồng thời cảm nhận thấy tính chất tàn bạo, vô nghĩa của chiến tranh và luôn day dứt về điều đó. Ở quê nhà, Aksinia sống trong cơ cực, cô đơn, tuyệt vọng, đứa con đầu lòng cũng không sống nổi vì bệnh tật, nàng đã chấp nhận quan hệ với Evgeni, con trai của chủ nhà. Bị thương và về phép, biết được chuyện của Aksinia, Gregori quay trở về sống với Natalia và sau khi chàng trở lại quân ngũ ít lâu thì Natalia sinh đôi một trai, một gái. Cách mạng tháng Mười nổ ra, trong những ngày hỗn loạn ấy, Gregori bị xô đẩy hết từ “bên Đỏ” rồi lại sang “bên Trắng”. Mặc dù chán ghét và không ý thức được mình chém giết để làm gì nhưng vó ngựa Cossack của Gregori vẫn phiêu bạt khắp các chiến trường, lao vào những trận đánh đẫm máu.

Bất chấp những gì đã xảy ra, Gregori và Aksinia vẫn yêu nhau và họ đã nối lại quan hệ. Tuyệt vọng, Natalia nhờ một bà lang băm bỏ đi giọt máu của mình và Gregori mà nàng đang mang trong người rồi chết do mất máu, trước khi chết Natalia đã tha thứ cho Gregori. Không lâu sau, con gái của Gregori và Natalia cũng chết do bệnh tật. Sau khi giải ngũ về quê, đã chán ghét cảnh chém giết trên chiến trường chàng chỉ mong có một cuộc sống bình yên cùng Aksinia. Bất chấp điều đó và mặc dù giữa em gái Gregori với Miska Kosevoi, một người bạn của chàng đã trở thành đại diện cho chính quyền Xô viết trong vùng yêu nhau tha thiết, chàng luôn sống trong sự đe dọa phải trả giá cho những gì đã gây ra khi chống lại chính quyền mới. Lo sợ trước nguy cơ bị bắt giam và xét xử, Gregori bỏ trốn theo quân thổ phỉ của Fomin.

Chính quyền Xô viết ngày càng được củng cố và toán phỉ của Fomin không còn đất dung thân, Gregori đem Aksinia bỏ trốn đi một nơi xa mong có được cuộc sống yên ổn nhưng trên đường trốn chạy bị phát hiện, truy đuổi, Aksinia trúng đạn chết trên tay Gregori. Cùng trong lúc này, Gregori đã đem tất cả vũ khí thả xuống sông Đông như một hành động giã từ vũ khí. Trở về vùng sông Đông, anh gặp lại con trai. Anh được biết bố mẹ đã mất, anh trai (lính bảo hoàng) bị em rể (hồng quân) giết. Tất cả những gì còn lại của Gregori trên đời là đứa con trai duy nhất. Hình ảnh cuối cùng của bộ tiểu thuyết là cảnh Gregori bồng đứa con về nhà.

2. Tên tôi là đỏ – Orhan Pamuk

– Đạt Giải Nobel Văn Chương 2006 –

Ẩn dấu bên trong bức màn bí ẩn, đầy lôi cuốn của câu chuyện trinh thám với những án mạng bi thảm, Tên tôi là Đỏ đã đưa độc giả trở về 4 thế kỷ trước, giữa thành Istanbul hoa lệ, khám phá chiều sâu tâm hồn của một dân tộc.

Câu chuyện bắt đầu vào mùa đông năm 1591, trong lễ kỷ niệm một ngàn năm Hegira, Hoàng đế Thổ ra lệnh cho Enishte – một nhà tiểu họa tài ba, thực hiện một cuốn sách ca ngợi đế quốc của mình, và phải được minh hoạ theo phong cách Venice, vốn là lối vẽ của phương Tây. Trong bối cảnh lịch sử, văn hóa của Thổ Nhĩ Kỳ thế kỷ XVI, đây là một điều bị ngăn cấm, ai thực hiện có thể sẽ gặp nguy hiểm. Nhận trọng trách từ Đức vua, Enishte bí mật giao cho những nhà tiểu họa bậc thầy: Zeytin, Zarif, Leylek, Kelebek, mỗi người một phần việc riêng để hoàn thành cuốn sách mà không một ai thấy được thành phẩm hoàn chỉnh.

Thế nhưng, cuốn sách chưa kịp làm xong thì những vụ án mạng đã xảy ra. Zarif – người thợ mạ vàng tài hoa bị giết chết thảm khốc và ném xác xuống giếng hoang. Sau đó, Enishte bị hạ sát ngay tại nhà bằng chiếc bình mực cổ. Kẻ sát nhân đã để lại những vết tích kỳ lạ trên cuốn sách dang dở. Bao mối hoài nghi được đặt ra, phải chăng mục đích giết người là sự đố kỵ nghề nghiệp, lòng ghen tuông tình ái… Bức màn bí ẩn chỉ thực sự hé mở vào cuổi tác phẩm. Người đi tìm lời giải mã là chàng Siyah và sư phụ Osman – một nhà tiểu họa già. Động lực tình yêu của Siyah với Shekure, con gái của Enishte, đã đưa chàng khá phá vụ án bí ẩn đó. Chính điều này khiến Tên tôi là Đỏ đa chiều hơn, phong phú hơn, đẹp đẽ hơn.

Từ câu chuyện trinh thám ly kỳ, Tên tôi là Đỏ đưa ra một cuộc đối thoại Đông – Tây, để rồi từ đó khai phá chân dung và vẻ đẹp tinh thần ẩn chứa dưới những bức thành Istanbul, những nét đặc sắc đã đưa người Ba Tư trở thành một huyền thoại mãi mãi của thế giới. Cũng từ đó, tác phẩm khai phá một triết lý sống với những chiêm nghiệm về tình yêu, nghệ thuật, sự sống và cái chết.

3. Trăm năm cô đơn – Gabriel Garcia Marquez

Cho đến nay Trăm năm cô đơn vẫn là cuốn tiểu thuyết lớn nhất của Gabriel Garcia Márquez, nhà văn Columbia, người được giải Nobel về văn học năm 1982.

Trăm năm cô đơn ra đời (1967) đã gây dư luận sôi nổi trên văn đàn Mỹ Latinh và lập tức được cả thế giới hâm mộ. Sau gần hai mươi năm, Trăm năm cô đơn đã có mặt ở khắp nơi trên hành tinh chúng ta để đến với mọi người và mọi nhà.

Trăm năm cô đơn là câu chuyện về dòng họ Buênđya tồn tại bảy thế hệ, người đầu tiên bị trói vào gốc cây và người cuối cùng bị kiến ăn, một dòng họ tự lưu đày vào cõi cô đơn để trốn tội loạn luân. Trong cõi cô đơn ấy, những Accađiô, Aurêlianô, Rêmêđiôt và những Amaranta đã ra đời, sống với số phận bi đát như đã được định trước: lay lắt trong nỗi cô đơn và hoài nhớ, thấp thỏm lo phạm tội loạn luân. Nhưng rồi họ yêu nhau mãnh liệt và lấy nhau với hy vọng tình yêu sẽ cải tạo nòi giống mình. Nhưng họ vẫn đẻ ra những đứa con có đuôi lợn và chính nó đã kết liễu dòng họ Buênđya.

Trăm năm cô đơn là lời kêu gọi mọi người hãy sống đúng bản chất người – tổng hòa các mối quan hệ xã hội – của mình, hãy vượt qua mọi định kiến, thành kiến cá nhân, hãy lấp bằng mọi hố ngăn cách cá nhân để cá nhân mình tự hòa đồng với gia đình, với cộng đồng xã hội. Vì lẽ đó Garcia Márquez từng tuyên bố cuốn sách mà ông để cả đời sáng tác là cuốn sách về cái cô đơn và thông qua cái cô đơn ông kêu gọi mọi người đoàn kết, đoàn kết để đấu tranh, đoàn kết để chiến thắng tình trạng chậm phát triển của Mỹ Latinh, đoàn kết để sáng tạo ra một thiên huyền thoại khác hẳn. Một huyền thoại mới, hấp dẫn của cuộc sống, nơi không ai bị kẻ khác định đoạt số phận mình ngay cả cái cách thức chết, nơi tình yêu có lối thoát và hạnh phúc là cái có khả năng thực sự, và nơi những dòng họ bị kết án trăm năm cô đơn cuối cùng và mãi mãi sẽ có vận may lần thứ hai để tái sinh trên mặt đất này.

Người đọc tìm đến với Trăm năm cô đơn bởi đó là cuốn sách văn học thực sự mang hơi thở đời sống hiện đại – cuốn sách của niềm tin và những số phận con người.

4. Bác sĩ Zhivago – Boris Pasternak

Tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago được Pasternak viết xong năm 1956, nhưng do nội dung không thích hợp với đời sống văn học, chính trị Liên Xô lúc bấy giờ, nên đã bị Viện Văn học Moskva và Hội Nhà văn Liên Xô kịch liệt phản đối, các nhà xuất bản ở Liên Xô từ chối xuất bản, còn bản thân Pasternak bị Hội Nhà văn Liên Xô kịch liệt lên án, đả kích.

Dù không được xuất bản trong nước và bị lên án dữ dội, nhưng tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago vẫn tìm được đường đến với độc giả các nước phương Tây. Năm 1957, bản thảo truyện được in thành sách tiếng Nga tại Ý. Năm sau có ấn bản tiếng Ý và tiếng Anh. Pasternak nhờ đó mà được đề nghị nhận giải Nobel văn chương năm 1958, nhưng chính quyền Xô viết bấy giờ ép ông phải từ chối nhận giải thưởng này. Mãi đến 1988, tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago mới được cho in và xuất bản tại Nga.

Cho đến tận ngày nay, Bác sĩ Zhivago vẫn được xem là cuốn tiểu thuyết gây sóng gió bậc nhất, là tác phẩm văn học điển hình nhất của cuộc chiến tư tưởng giữa hai siêu cường thời Chiến tranh lạnh.

5. Trên sa mạc và trong rừng thẳm – Henryk Sienkiewicz

Câu chuyện kể về cuộc phiêu lưu trên vùng đất Đông Phi của cậu bé Stas mười bốn tuổi và cô bé Nell tám tuổi khi bị bắt cóc và đem từ kênh đào Suez qua sa mạc Sahara tới Sudan. Trải qua không biết bao nhiêu hiểm nguy, đối mặt với nhiều gian nan thử thách, khi thì trên sa mạc nắng cháy, lúc giữa rừng già thẳm sâu, cuối cùng, Stas và Nell cũng đoàn tụ được với gia đình.

Là tác phẩm duy nhất viết cho thiếu nhi của nhà văn Ba Lan nổi tiếng Henryk Sienkiewicz, ngay từ khi xuất bản lần đầu năm 1912, Trên sa mạc và trong rừng thẳm đã được hoan nghênh nhiệt liệt, được tái bản ngay và được dịch ra nhiều thứ tiếng, sau đó được dựng thành phim năm 1973 và 2001. Trong suốt một thế kỷ qua, tác phẩm đề cao lòng quả cảm, khát vọng đi tới những chân trời xa, thực hiện những kì tích phi thường này luôn được coi là một trong những cuốn truyện hay nhất dành cho thiếu nhi.

Cuốn sách Trên sa mạc và trong rừng thẳm được dịch giả Nguyễn Hữu Dũng dịch từ nguyên tác tiếng Ba Lan “W pustyni i w puszczy” – NXB Pans twowi institut widawniczi.

6. Ông già và biển cả – Ernest Hemingway

Ông già và Biển cả (tên tiếng Anh: The Old Man and the Sea) là một tiểu thuyết ngắn được Ernest Hemingway viết ở Cuba năm 1951 và xuất bản năm 1952. Nó là truyện ngắn dạng viễn tưởng cuối cùng được viết bởi Hemingway. Đây cũng là tác phẩm nổi tiếng và là một trong những đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn. Tác phẩm này đoạt giải Pulitzer cho tác phẩm hư cấu năm 1953. Nó cũng góp phần quan trọng để nhà văn được nhận Giải Nobel văn học năm 1954.

Trong tác phẩm này, ông đã triệt để dùng nguyên lý mà ông gọi là “tảng băng trôi”, chỉ mô tả một phần nổi còn lại bảy phần chìm, khi mô tả sức mạnh của con cá, sự chênh lệch về lực lượng, về cuộc chiến đấu không cân sức giữa con cá hung dữ với ông già. Tác phẩm ca ngợi niềm tin, sức lao động và khát vọng của con người.

7. Từ thăm thẳm lãng quên – Patrick Modiano & Sempé

Một câu chuyện bỗng nhiên hiện ra từ quá khứ mịn màng. Lúc nào người ta cũng tự hỏi, làm cách nào, bằng thứ giả thuật kim nào, mà tác giả có thể tạo ra những ký ức tinh xảo đến thế.

Nhưng Jaquenline, Van Bever rồi Peter Rachman, Paris và London của giai đoạn hậu chiến trong “Từ thăm thẳm lãng quên” dần dà làm cho chúng ta hiểu rằng vỏ bọc quá khứ mịn màng hoàn toàn có thể chứa đựng những kỷ niệm đâu đớn đến thế nào, những kỷ niệm ngủ yên nhưng sẽ quay trở lại quấy nhiễu chúng ta sau từng quãng thời gian mười lăm năm.

Cuốn sách không chỉ dệt nên mối quan hệ kỳ lạ giữa quá khứ và thực tại, mà còn tạo ra những mối liên hệ với các tiểu thuyết khác của Patrick Modiano, nhất là ” Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối”

Theo top7thuvi.com

8. Mãi Đừng Xa Tôi

Mãi Đừng Xa Tôi là câu chuyện mang tính khoa học giả tưởng, lấy bối cảnh nước Anh cuối thế kỷ 20.

Mãi Đừng Xa Tôi
Mãi Đừng Xa Tôi

Kathy, Ruth và Tommy xuất thân từ một ngôi trường đặc biệt: trường nội trí Hailsham. Những con người ở đó đều có chung một số phận được định đoạt. Họ chấp nhận số phận, nhưng vẫn khát khao trì hoãn. Với giọng điệu bình thản như mặt biển sóng ngầm, câu chuyện kể về một hiện thực đáng sợ diễn ra trong một thế giới “giả tưởng”, nhưng cũng không xa lắm thế giới “thật tưởng” mà chúng ta đang sống. Câu chuyện ám ảnh chúng ta bởi tiếng kêu đau đớn đến xé lòng về tình yêu và hạnh phúc. Nó buộc chúng ta phải suy nghĩ lại về giá trị Người của chính mình.

Câu chuyện khép lại trong một kết thúc không thể nào khác được càng khiến cho ta hiểu thêm về giá trị nhân văn, nhân đạo, giá trị của con người. Tác phẩm rất xứng đáng là một trong 100 tiểu thuyết tiếng Anh hay nhất từ năm 1923. Một cuốn tiểu thuyết tình cảm, giả tưởng mà tất cả chúng ta nên đọc qua ít nhất một lần.

9. Trò Chuyện Trong Quán La Catedral

Trò Chuyện Trong Quán La Catedral
Trò Chuyện Trong Quán La Catedral

Santiago Zavalita, con trai của một kỹ nghệ gia giàu sang, đã từ bỏ tất cả cơ hội tiến thân để làm cho một tờ báo nhỏ, sau khi cảm thấy không cuộc sống nào thực sự dành cho mình – một luật sư thành đạt theo mong ước của gia đình, hay một thành viên nhiệt thành của Đảng cộng sản theo những người bạn cùng trường đại học. Một ngày, trong khi đi tìm con chó bị lạc, anh tình cờ gặp lại Ambrosio, người tài xế trung thành đã phục vụ cha của anh trong nhiều năm, giờ tay trắng, sống vất vưởng ở một góc thành phố Lima. Bên những chai bia trong quán rượu La Catedral, họ trôi theo dòng quá khứ của cả hai. Từ cuộc trò chuyện đó, không gian mở rộng cho những giọng nói của người sống và người chết thi nhau kể lại số phận nhỏ nhoi và những nỗi khổ đau ngỡ đã tan biến trong dòng thác lịch sử.

Cuốn tiểu thuyết chứa đựng hàng loạt nhân vật đại diện cho các loại người, các tầng lớp trong xã hội Peru dưới thời tên độc tài Odría. Don Fermín, cha của Santiago, một kỹ nghệ gia có nhiều dính líu mờ ám đến chính quyền; Cayo Bermudez, giám đốc An ninh của chính quyền Odría, một kẻ đê tiện; bọn tay sai của Bermudez phục vụ cho những thủ đoạn chính trị dơ bẩn; Hortensia – người tình của Bermudez, đã bị giết vì nắm được bí mật của Don Fermín; Amalia, hầu gái của gia đình Santiago và sau đó là Hortensia, vợ của Ambrosio; Queta, gái điếm và người tình đồng giới của Hortensia… Mỗi người đều dường như không thể thoát ra khỏi tiến trình tha hóa và sụp đổ, tiêu biểu là Ambrosio, vừa là nạn nhân vừa là tội phạm, xuất thân là kẻ cùng đinh và cuối cùng mất tất cả. Ngay chính Santiago, một thanh niên thông minh, trong sáng và đầy nhiệt tâm, cuối cùng cũng vỡ mộng, chán nản kéo lê cuộc sống tẻ nhạt của một phóng viên vô danh, “không là luật sư và cũng chẳng là hội viên của Club Nacional, không là kẻ vô sản cũng chẳng là tay tư sản”. Dù không chịu trở về với gia đình để trở thành trưởng giả, anh đã đủ trưởng thành để thôi huyễn tưởng về những thứ đã chi phối cả tuổi trẻ mình: “Còn nếu mày gia nhập hôm ấy thì sao, Zavalita? hắn nghĩ. Phải chăng nhiệt tình tranh đấu sẽ lôi mày theo, càng lúc càng dấn sâu vào hơn, mày có sẽ trở thành một kẻ có niềm tin, một kẻ lạc quan, một kẻ trong trắng khác, bí hiểm và anh hùng?… Thay vì những bài xã luận chống chó dại trên La Crónica, mày sẽ viết cho những trang in nghèo nàn của Unidad… Mày sẽ tệ hại hơn hay cũng thế hay hạnh phúc hơn? Hắn nghĩ: ồ, Zavalita”.

10. ĐẸP VÀ BUỒN – KAWABATA YASUNARI

ĐẸP VÀ BUỒN – KAWABATA YASUNARI
ĐẸP VÀ BUỒN – KAWABATA YASUNARI
XEM THÊM:  Những nhận định về tác phẩm văn học

Theo thời gian, những tác phẩm văn học của Kawabata Yasunari vẫn luôn có sức lôi cuốn mạnh mẽ đối với đông đảo độc giả trên toàn thế giới, phản ảnh nhiều phương diện văn hóa của xứ sở Mặt Trời mọc cũng như những rung cảm đầy đam mê mà tinh tế của tâm hồn Nhật Bản.

Lấy bối cảnh chính là cố đô Kyoto, Đẹp và buồn là câu chuyện tình tay ba đầy bi kịch của nhà văn Oki với tình nhân Otoko và người vợ Fumiko của ông. Oki say mê vẻ đẹp thanh khiết của thiếu nữ Otoko khi ấy mới 17 tuổi, để rồi khi cô có thai, ông lại không dám chia tay vợ mình để đến với cô, khiến Otoko sinh non đứa bé. Sau này, Oki viết tác phẩm Thiếu nữ mười sáu như một lời gợi nhắc về mối tình vấn vương giữa ông và cô thiếu nữ năm nào nhưng rồi chính nó lại là tác nhân khiến vợ ông sảy thai. Đam mê và nhục cảm hòa quyện cùng vẻ đẹp tình yêu đồng thời cũng là nét đẹp điên rồ của lòng hận thù, tạo thành một cuộc truy lùng, đeo đuổi mãi không dứt.

11. CỦA CHUỘT VÀ NGƯỜI – JOHN STEINBECK

CỦA CHUỘT VÀ NGƯỜI – JOHN STEINBECK
CỦA CHUỘT VÀ NGƯỜI – JOHN STEINBECK

Với Của chuột và người, John Steinbeck đã đóng góp cho nền văn chương thế giới một trong những tác phẩm văn học xuất sắc nhất về tầng lớp lao động. Lấy bối cảnh nước Mỹ trong giai đoạn Đại Khủng hoảng kinh tế những năm 1930, Của chuột và người là câu chuyện bi thương của George và Lennie – 2 gã đàn ông lang thang tìm việc làm tại các nông trại ở California. Thông qua số phận của họ, John Steinbeck đã khắc họa một cách đau đớn nỗi khốn cùng của người dân lao động Mỹ, những mảnh đời cơ cực giữa một xã hội đầy rẫy bất công. Khát khao làm chủ của George và Lennie tương phản một cách phũ phàng với thực tế diễn ra tại nơi họ làm việc. Còn ước mơ và hoài bão của những người như họ thì mãi mãi chỉ là ảo vọng xa vời.

12. CHÚA RUỒI – WILLIAM GOLDING

CHÚA RUỒI – WILLIAM GOLDING
CHÚA RUỒI – WILLIAM GOLDING

Chúa ruồi là tuyệt phẩm văn học của William Golding, mang đến cho người đọc những phút giây rùng mình kinh hãi và đặt ra câu hỏi, liệu có phải “nhân chi sơ, tính bản thiện”?

Diễn ra trong bối cảnh một cuộc chiến tranh nguyên tử, chiếc máy bay chở mấy chục đứa trẻ đi sơ tán gặp tai nạn và rơi xuống một hoang đảo tại Thái Bình Dương. Những đứa trẻ ấy đã phải tự sinh tồn, bắt đầu một cuộc sống tự lập. Xung đột nổ ra trước những khó khăn và thiếu thốn về lương thực nơi hoang đảo cùng nỗi thất vọng khi chúng bỏ lỡ cơ hội được cứu sống. Cuối cùng, xung đột lên đến đỉnh điểm đã bộc lộ sự tàn ác trong mỗi đứa trẻ. Câu chuyện được đẩy lên cao trào bằng những hành động sai trái mất kiểm soát.

Để hiểu rõ nguồn gốc các cuốn sách này ra đời như thế nào? ở đâu? Hãy cùng xem tiếp nhé

Bạn đang xem: Các tác phẩm đoạt giải nobel văn học

Danh sách những người đoạt giải Nobel Văn Học

Thập niên 1900
Năm Ảnh Tác giả Quốc gia Tác phẩm tiêu biểu Ngôn ngữ Nguồn
1901 không khung Sully Prudhomme Pháp Pháp Vì những giá trị văn chương xuất sắc, chủ nghĩa lý tưởng cao cả, nghệ thuật hoàn thiện và sự kết hợp tuyệt vời giữa tình cảm và tài năngTứ tuyệt và các bài thơ (Stances et poèmes, 1865) Tiếng Pháp [10]
1902 không khung Theodor Mommsen Đức Đức Cách hành văn trong sáng, súc tích, giàu hình ảnh, những bộ sách của Momsens làm sống lại con người và xã hội La Mã trước mắt chúng taLịch sử La Mã (Römische Geschichte, 3 tập, 1854-1856) Tiếng Đức [11]
1903 không khung Bjørnstjerne Bjørnson Na Uy Na Uy Vì những đóng góp trong các lĩnh vực thơ, văn xuôi và kịch Tiếng Na Uy [12]
1904 không khung Frédéric Mistral Pháp Pháp Vì lý tưởng cao cả và những cống hiến lớn lao cho sự phục hồi tinh thần dân tộcLis isclo d’or (Những hòn đảo vàng, 1876), Lou tresor dóu Félibrige (Kho báu Félibrige, 1878-1886), La Rèino Jano (Nữ hoàng Jano, 1890) Tiếng Pháp [13]
không khung José Echegaray y Eizaguirre Tây Ban Nha Tây Ban Nha Vì những đóng góp cho sự nghiệp phục hồi các truyền thống của kịch Tây Ban NhaEl gran Galeoto (Galeoto vĩ đại, 1881) Tiếng Tây Ban Nha [13]
1905 không khung Henryk Sienkiewicz Ba Lan Ba Lan Vì những đóng góp xuất sắc trong lĩnh vực sử thi, mà cụ thể là tiểu thuyết Quo Vadis viết về cuộc đấu tranh của những người Thiên Chúa giáo với NeroQuo Vadis (Quo Vadis, 1895-1896) Tiếng Ba Lan [14]
1906 không khung Giosuè Carducci Ý Ý Không chỉ là để ghi nhận kiến thức sâu sắc và trí tuệ phê bình, mà trước hết là để ghi nhận năng lượng của sự sáng tạo, sự mới mẻ của phong cách và một sức mạnh trữ tình đã tạo nên những tuyệt phẩm thơ ca của ôngDelle di barbare (Những đoản thi man dại, ba tập, 1878-1889), Levia gravia (Nhẹ nhàng và nghiêm trọng, 1861-1868) Tiếng Ý [15]
1907 không khung Rudyard Kipling Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Anh Vì sự quan sát, trí tưởng tượng sống động, độ chín muồi của tư tưởng và tài năng xuất sắc của người kể chuyện(“Truyện kể núi đồi” (“Plain table from the hills”, 1886 – Tập truyện ngắn), Kim (1901) Chuyện rừng xanh (The Jungle Book, 1894, Truyện Nhi đồng), Chuyện rừng xanh 2 (The Second Jungle Book, 1895, Truyện Nhi đồng) Tiếng Anh [16]
1908 không khung Rudolf Christoph Eucken Đức Đức Tiếng Đức [17]
1909 không khung Selma Lagerlöf Thụy Điển Thụy Điển Vì những tác phẩm đã kết hợp được sự trong sáng và giản dị của ngôn ngữ, vẻ đẹp của văn phong và trí tưởng tượng phong phú với sức mạnh đạo lý và độ sâu của các cảm xúc tín ngưỡngTruyền thuyết về Gösta Berlings (1891), Cuộc du hành kỳ diệu của Nils Holgersson qua suốt nước Thụy Điển (Nils Holgerssons underbara resa genom Sverige, 2 phần, 1906 và 1907) Tiếng Thụy Điển [18]
Thập niên 1910
Năm Ảnh Tác giả Quốc gia Tác phẩm tiêu biểu Ngôn ngữ Nguồn
1910 không khung Paul Johann Ludwig von Heyse Đức Đức Tiếng Đức [19]
1911 không khung Maurice Maeterlinck Bỉ Bỉ Vì những tác phẩm kịch mang nội dung phong phú, giàu tưởng tượng đầy thi vị. Kịch của ông thể hiện những hệ thống triết lý hình thành một cách trực giácL’oiseau bleu (Con chim xanh, 1909) Tiếng Pháp [20]
1912 không khung Gerhart Hauptmann Đức Đức Vì những đóng góp trong lĩnh vực kịch Tiếng Đức [21]
1913 không khung Rabindranath Tagore Ấn Độ Ấn Độ Những vần thơ của ông với sự cảm nhận sâu sắc, độc đáo và đẹp, bằng kỹ năng hoàn hảo đã thể hiện những ý nghĩ nên thơ, mà theo lời của chính ông, đã trở thành một phần của văn học của phương TâyThơ Dâng (Gitanjali, 1910) Tiếng Bengal [22]
1914 Không trao giải
1915 không khung Romain Rolland Pháp Pháp Jean-Christophe (10 tập, 1904-1912) Tiếng Pháp [23]
1916 không khung Verner von Heidenstam Thụy Điển Thụy Điển Là ngôi sao sáng nhất trong chòm sao các nghệ sĩ độc đáo đã làm hồi sinh nền thơ ca Thụy Điển cuối thế kỉ vừa đi quaKarolinerna (Các cận thần của vua,2 tập, 1897-1898), Svenskarna och deras hövdingar (Người Thụy Điển và các thủ lĩnh, 2 tập, 1908-1910), Dikter (Thơ, 1895), Nya dikter (Thơ mới, 1915) Tiếng Thụy Điển [24]
1917 không khung Karl Adolph Gjellerup Đan Mạch Đan Mạch Vì sự nghiệp sáng tác thơ phong phú và những lý tưởng nhân đạo cao cả nhằm củng cố khối thống nhất của các dân tộc ở ScandinaviaPilgrimen Kamanita (Kamanita, người hành hương, 1906) Tiếng Đan Mạch [25]
không khung Henrik Pontoppidan Đan Mạch Đan Mạch Vì những tác phẩm của ông mô tả chân thực đời sống Đan Mạch hiện đại, chống lại những ảo tưởng dối trá và phản trắc, chống lại uy quyềnLykke-Per (Per số đỏ, 8 tập, 1898-1904), Det forjættede Land (Miền đất hứa, 3 tập, 1891-1895), De Dødes Rige (Thế giới những người chết, 5 tập, 1912-1916) Tiếng Đan Mạch [25]
1918 Không trao giải
1919 không khung Carl Spitteler Thụy Sĩ Thụy Sĩ Der Olympischer Frühling (Mùa xuân Olympia, 4 cuốn, 1900-1906) Tiếng Đức [26]
Thập niên 1920
Năm Ảnh Tác giả Quốc gia Tác phẩm tiêu biểu Ngôn ngữ Nguồn
1920 không khung Knut Hamsun Na Uy Na Uy Vì những ai muốn tìm trong văn học sự mô tả chân thật hiện thực đều tìm thấy trong Nhựa của đấtĐói (Sult, 1890), Det vilde Kor (Bản hợp xướng hoang dã, 1904), Markens Grøde (Nhựa của đất, 2 tập, 1917) Tiếng Na Uy [27]
1921 không khung Anatole France Pháp Pháp Vì những tác phẩm xuất sắc mang phong cách tinh tế, chủ nghĩa nhân văn sâu sắc và khí chất gaulois đích thựcL’histoire contemporaine (Chuyện thời nay, 4 tập, 1897-1901), Đảo chim cánh cụt (L’île des pingouins, 1908), La vie littéraire (Đời sống văn học, 4 tập, 1888-1892) Tiếng Pháp [28]
1922 không khung Jacinto Benavente y Martínez Tây Ban Nha Tây Ban Nha Vì những đóng góp quan trọng đã nối tiếp truyền thống vinh quang của sân khấu Tây Ban Nha bằng những tính cách điển hình, bằng sự hóm hỉnh, sắc sảoLos Intereses creados (Trò chơi quyền lợi, 1908) Tiếng Tây Ban Nha [29]
1923 không khung William Butler Yeats Cộng hòa Ireland Ireland Vì sự nghiệp sáng tác phản ánh cao độ tinh thần dân tộc trong những tác phẩm điêu luyện Tiếng Anh [30]
1924 không khung Władysław Reymont Ba Lan Ba Lan Vì tác phẩm mang tính sử thi dân tộc – bộ tiểu thuyết Những người nông dân – vừa mang đậm bản sắc văn hóa Ba Lan vừa có tính điển hình nhân loại cao độChlopi (Những người nông dân, 4 tập, 1904-1909) Tiếng Ba Lan [31]
1925 không khung George Bernard Shaw Cộng hòa Ireland Ireland[32] Vì những sáng tác mang tính tư tưởng và chủ nghĩa nhân văn cao cả, đặc biệt là những vở kịch trào phúng đặc sắc, kết hợp với vẻ đẹp lạ lùng của thơ caSaint Joan (Nữ thánh Joan, 1923) Tiếng Anh [33]
1926 không khung Grazia Deledda Ý Ý Những trang viết miêu tả rõ nét cuộc sống trên hòn đảo quê hương, với chiều sâu và sự cảm thông trước những vấn đề chung của con ngườiLa madre (Người mẹ, 1920) Tiếng Ý [34]
1927 không khung Henri Bergson Pháp Pháp L’Evolution créatrice (Tiến hóa sáng tạo, 1907), Matière et mémoire (Vật chất và ký ức, 1896) Tiếng Pháp [35]
1928 không khung Sigrid Undset Na Uy Na Uy Kristin Lavransdatter (Kristin con gái của Lavrans, 3 tập, 1920-1922), Jenny (1911) Tiếng Na Uy [36]
1929 không khung Thomas Mann Đức Đức Der Zauberberg (Núi thần, 2 tập, 1924), Buddenbrooks – Verfall einer Familie (Gia đình Buddenbrook, 1901), Der Tod in Venedig (Chết ở Venice, 1913) Tiếng Đức [37]
Thập niên 1930
Năm Ảnh Tác giả Quốc gia Tác phẩm tiêu biểu Ngôn ngữ Nguồn
1930 không khung Sinclair Lewis Hoa Kỳ Hoa Kỳ Vì nghệ thuật kể chuyện mạnh mẽ, truyền cảm và vì khả năng trào phúng, hài hước hiếm có trong việc xây dựng những mẫu người và tính cách mớiBabbitt (1922), Main Street (Phố chính, 1920) Tiếng Anh [38]
1931 không khung Erik Axel Karlfeldt Thụy Điển Thụy Điển Fridolins lustgård och Dalmålningar på rim (Vườn hoan lạc của Fridolin, 1901) Tiếng Thụy Điển [39]
1932 không khung John Galsworthy Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Anh The Forsyte Saga (Truyện gia đình Forsyte, 5 tập, 1906-1921), A Modern Comedy (Hài kịch hiện đại, 5 tập, 1924-1928) Tiếng Anh [40]
1933 không khung Ivan Bunin Không quốc tịch, cư trú tại Pháp Vì một thứ nghệ thuật nghiêm ngặt mà cùng với nó, ông đã phát triển truyền thống văn xuôi cổ điển NgaNhững con đường rợp bóng (1943) Tiếng Nga [41]
1934 không khung Luigi Pirandello Ý Ý Vì những tìm tòi sáng tạo và thành công trong nghệ thuật ngôn từ sân khấu – mà đặc biệt nổi bật nhất, như nhiều nhà phê bình nhận xét, là khả năng kì diệu biết làm “một phân tích tâm lí thành một vở kịch hay”Il fu Mattia Pascal (Mattia Pascal quá cố, 1904), Sei personaggi in cerca d’autore (Sáu nhân vật đi tìm tác giả, 1921), Uno, nessuno e centomila’ (Một, không và mười vạn, 1926) Tiếng Ý [42]
1935 Không trao giải
1936 không khung Eugene O’Neill Hoa Kỳ Hoa Kỳ Long Day’s Journey Into Night (Ngày dài đi vào đêm, 1941), All God’s Children Got Wings (Các con của Chúa đều có cánh, 1924) Tiếng Anh [43]
1937 không khung Roger Martin du Gard Pháp Pháp Les Thibault (Gia đình Thibault, 12 tập, 1922-1940) Tiếng Pháp [44]
1938 không khung Pearl Buck Hoa Kỳ Hoa Kỳ Những bản bùng ca chân thực và phong phú về cuộc sống nông thôn ở Trung Quốc và những kiệt tác tiểu sử của bàGió Đông gió Tây (East Wind, West Wind, 1930), Đất lành (The Good Earth, 1931) Tiếng Anh [45]
1939 không khung Frans Eemil Sillanpää Phần Lan Phần Lan Vì những tiểu thuyết viết về phong tục tập quán cùng cuộc sống gần gũi thiên nhiên của người nông dân Phần Lan với bút pháp trữ tình, tinh tế, phân tích tâm lý sâu sắcNuorena nukkunut (Thiếu nữ chết trẻ, 1931), Hurskas kurjuus (Cái nghèo thanh cao, 1919) Tiếng Phần Lan [46]
Thập niên 1940
Năm Ảnh Tác giả Quốc gia Tác phẩm tiêu biểu Ngôn ngữ Nguồn
1940-1943 Không trao giải do Chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra
1944 Johannes Vilhelm Jensen 1944.jpg Johannes Vilhelm Jensen Đan Mạch Đan Mạch Sự nghiệp phong phú và sức mạnh hiếm có của tưởng tượng thơ ca kết hợp với sự khám phá đầy trí tuệ và tính độc đáo của văn phongDen lange rejse (Đường dài, 6 tập, 1908-1922) Tiếng Đan Mạch [47]
1945 Gabriela Mistral-01.jpg Gabriela Mistral Chile Chile Cho thơ ca lấy cảm hứng từ những cảm xúc mãnh liệt, đã làm cho tên tuổi của bà trở thành biểu tượng cho những khát vọng lý tưởng của cả châu Mỹ LatinhTala (Hủy diệt, 1938), Desolación (Nỗi tuyệt vọng, 1922) Tiếng Tây Ban Nha [48]
1946 Hermann Hesse 2.jpg Hermann Hesse Thụy Sĩ Thụy Sĩ Vì những tác phẩm đầy cảm hứng thể hiện các lý tưởng nhân đạo cổ điển và những phẩm chất cao của phong cáchTuổi trẻ băn khoăn (Demian, 1919),Cậu chuyện dòng sông (Siddartha, 1922), Sói đồng hoang (Der Steppenwolf, 1927), Hành trình về phương Đông (Die Morgenlandfahrt, 1932) Tiếng Đức [49]
1947 André Gide.jpg André Gide Pháp Pháp Kẻ vô luân (L’immoraliste, 1902), Khung cả hẹp (La Porte étroite, 1909), Bọn làm bạc giả (Les Faux-monnayeurs, 1926) Tiếng Pháp [50]
1948 Thomas Stearns Eliot by Lady Ottoline Morrell (1934).jpg T.S. Eliot Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Anh Sự cách tân tiên phong trong xây dựng nền thi ca hiện đạiThe Love Song of J. Alfred Prufrock (Bản tình ca của J. Alfred Prufrock, 1917), The Waste Land (Đất hoang, 1922), The Hollow Men (Những kẻ rỗng tuếch, 1925), Ash Wednesday (Ngày thứ Tư tro bụi, 1930), Four Quartets (Bốn khúc tứ tấu, 1935-1945) Tiếng Anh [51]
1949 Carl Van Vechten - William Faulkner.jpg William Faulkner Hoa Kỳ Hoa Kỳ “Lương lính” (“Soldier’s Pay”, 1926); “Muỗi” (“Mosquitoes”, 1925); “Sartoris”, 1927;Âm thanh và cuồng nộ (The Sound and the Fury, 1929); “Giáo đường” (“Sanctuary”, ?); “Nắng tháng Tám” (“Light in August”, 1932); “Mười ba đoản thiên” (“These Thirteen”, ?); “Bác sĩ Martino và những chuyện khác” (“Dr Martino and Others”, ?); “Absalom! Absalom!”, 1936); “Kẻ tiếm quyền” (“Intruder in the Dust”, 1948) Tiếng Anh [52]
Thập niên 1950
Năm Tác giả Quốc gia Tác phẩm tiêu biểu Ngôn ngữ Nguồn
1950 Bertrand Russell 1957.jpg Bertrand Russell Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Anh Để ghi nhận các tác phẩm đầy ý nghĩa mà trong đó ông đã đề cao các tư tưởng nhân đạo và tự do về tư tưởng Tiếng Anh [53]
1951 Lagerkvist.jpg Pär Lagerkvist Thụy Điển Thụy Điển Vì những tác phẩm mang sức mạnh nghệ thuật và những tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi muôn đời vẫn đứng trước loài ngườiBarabbas (1950), Gäst hos verkligheten (Vị khách của thực tại, 1925) Tiếng Thụy Điển [54]
1952 François Mauriac 1952.jpg François Mauriac Pháp Pháp Phản ánh thuyết phục một vấn đề lớn của xã hội loài người, đó là cuộc giằng xé bất tận giữa thể xác và tâm hồn, giữa bản năng và đạo lý, giữa thiên thần và ác quỷ, giữa Chúa và người trầnThérèse Desqueyroux (1927), Le Nœud de vipères (Ổ rắn độc, 1932) Tiếng Pháp [55]
1953 Sir Winston Churchill - 19086236948.jpg Sir Winston Churchill Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Anh Bậc thầy của ngôn ngữ tiếng Anh và mang lại niềm hy vọng cho hàng triệu con người thông qua những cuốn sách viết về lịch sử đương đạiHồi ức về Chiến tranh thế giới thứ hai (The Second World War, 6 tập, 1948-1953) Tiếng Anh [56]
1954 ErnestHemingway.jpg Ernest Hemingway Hoa Kỳ Hoa Kỳ Vì thể văn mạnh mẽ dùng trong nghệ thuật kể chuyện mới lạ và thể hiện gần đây nhất qua tác phẩm “[[Ông già và biển cảGiã từ vũ khí (A Farewell to Arms, 1929), Chuông nguyện hồn ai (For Whom the Bell Tolls, 1940), Ông già và biển cả (The Old Man and the Sea, 1952) Tiếng Anh [57]
1955 Halldór Kiljan Laxness 1955.jpg Halldór Laxness Iceland Iceland Alþýðubókin (Cuốn sách loài người, 1929), Sjálfstætt fólk (Những người độc lập, 2 tập, 1935), Heimsljós (Ánh sáng thế giới, 4 tập, 1937-1940) Tiếng Iceland [58]
1956 JRJimenez.JPG Juan Ramón Jiménez Tây Ban Nha Tây Ban Nha Vì những tác phẩm thơ trữ tình, mẫu mực của tinh thần cao cả và sự tinh khiết nghệ thuật trong thơ Tây Ban Nha Tiếng Tây Ban Nha [59]
1957 Albert Camus, gagnant de prix Nobel, portrait en buste, posé au bureau, faisant face à gauche, cigarette de tabagisme.jpg Albert Camus Pháp Pháp Vì các sáng tác văn học của ông đã “đưa ra ánh sáng những vấn đề đặt ra cho lương tâm loài người ở thời đại chúng ta”Kẻ xa lạ (L’Etranger, 1942), Dịch hạch (La Peste, 1947) Tiếng Pháp [60]
1958 Boris Pasternak in youth.jpg Boris Pasternak Liên Xô Liên Xô Vì những thành tựu ông đã đạt được trong nền thơ trữ tình hiện đại, cũng như vì công lao tiếp nối các truyền thống của nền tiểu thuyết sử thi Nga, mà nổi bật nhất là Bác sĩ Zhivago)Thơ trữ tình, tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago (Доктор Живаго, 1957) Tiếng Nga [61]
1959 Salvatore Quasimodo 1959.jpg Salvatore Quasimodo Ý Ý Vì những tác phẩm thơ trữ tình xuất sắc phản ánh kinh nghiệm bi thảm của thời đại bằng một nghệ thuật trác tuyệtLa terra impareggiabile (Đất vô song, 1958) Tiếng Ý [62]
Thập niên 1960
Năm Ảnh Tác giả Quốc gia Tác phẩm tiêu biểu Ngôn ngữ Nguồn
1960 Saint-John Perse 1960.jpg Saint-John Perse Pháp Pháp Anabase (1924), Những mốc trên biển (Amers, 1957) Tiếng Pháp [63]
1961 S. Kragujevic, Ivo Andric, 1961.jpg Ivo Andrić Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư Nam Tư Vì tài năng nghệ thuật sử thi “cho phép đặt ra những vấn đề và những số phận con người gắn với lịch sử đất nước một cách đầy đủ nhất”На Дрини ћуприја (Nhịp cầu trên sông Drina, 1945), Травничка хроника (Sử biên niên Travnicka, 1945), Госпођица (Tiểu thư, 1945) Tiếng Serbia[64] [65]
1962 JohnSteinbeck crop.JPG John Steinbeck Hoa Kỳ Hoa Kỳ Vì những trang viết đầy hiện thực nhưng cũng giàu chất tưởng tượng, đồng thời mang nét hài hước đầy nhân ái và nhận thức sâu sắc về xã hộiCủa chuột và người (Of Mice and Men, 1937) Chùm nho uất hận (The Grapes of Wrath, 1939) Tiếng Anh [66]
1963 Giorgos Seferis 1963.jpg Giorgos Seferis Hy Lạp Hy Lạp Vì những tác phẩm thơ trữ tình xuất sắcThần thoại (Μυθιστόρημα, 1935), Nhật ký hải trình (Ημερολόγιο Καταστρώματος, 1940-1955, 3 tập) Tiếng Hy Lạp [67]
1964 không khung Jean-Paul Sartre Pháp Pháp La Nausée (Buồn nôn, 1938), L’Être et le Néant (Tồn tại và hư vô, 1943) Tiếng Pháp [68]
1965 không khung Mikhail Sholokhov Liên Xô Liên Xô Sông Đông êm đềm (Тихий Дон, 4 tập, 1927-1940), Số phận một con người (Судьба человека, 1956-1957), Đất vỡ hoang (Поднятая целина, 1932-1960, 2 tập) Tiếng Nga [69]
1966 Agnon.jpg Shmuel Yosef Agnon Israel Israel Hakhnasat Kalah (Chiếc màn cưới, 1931, 2 tập), Oreach Natah Lalun (Người khách đêm, 1937) Tiếng Hebrew [70]
Nelly Sachs 1966.jpg Nelly Sachs Đức Đức Những trang viết đầy kịch tính và trữ tình xuất sắc, giải thích số phận của Israel với sức mạnh lay độngFluch und Verwandlung (Trốn chạy và biến đổi, 1959) Tiếng Đức [70]
1967 không khung Miguel Ángel Asturias Guatemala Guatemala Vì những tác phẩm xuất sắc bám rễ sâu xa vào những truyền thống văn hoá và huyền thoại của dân tộc Maya và thổ dân Mỹ LatinNgài Tổng thống (El señor Presidente, 1946) Tiếng Tây Ban Nha [71]
1968 không khung Kawabata Yasunari Nhật Bản Nhật Bản Ông là người tôn vinh cái đẹp hư ảo và hình ảnh u uẩn của hiện hữu trong đời sống thiên nhiên và trong định mệnh con ngườiXứ tuyết (雪国 Yukiguni, 1935-1937, 1947), Ngàn cánh hạc (千羽鶴 Sembazuru, 1949-1952) Tiếng Nhật [72]
1969 Samuel Beckett, f11.jpg Samuel Beckett Cộng hòa Ireland Ireland Vì toàn bộ những tác phẩm văn xuôi và kịchĐợi chờ Godot (En attendant Godot, 1952), Fin de partie (Tàn cuộc chơi, 1957) Tiếng Anh, tiếng Pháp [73]
Thập niên 1970
Năm Ảnh Tác giả Quốc gia Tác phẩm tiêu biểu Ngôn ngữ Nguồn
1970 Aleksandr Solzhenitsyn 1974crop.jpg Aleksandr Solzhenitsyn Liên Xô Liên Xô Vì những tác phẩm mang sức mạnh đạo đức theo truyền thống của nền văn học Nga vĩ đạiMột ngày của Ivan Denisovich (Один день Ивана Денисовича, 1962), Quần đảo Gulag (Архипелаг ГУЛАГ, 3 tập, 1973-1978) Tiếng Nga [74]
1971 không khung Pablo Neruda Chile Chile Vì những lời thơ phản kháng vang khắp thế giới, có một trí tưởng tượng mãnh liệt và chất trữ tình tế nhịCanto general de Chile (Bài ca chung của Chile, 1939) Tiếng Tây Ban Nha [75]
1972 Bundesarchiv B 145 Bild-F062164-0004, Bonn, Heinrich Böll.jpg Heinrich Böll Đức Đức Gruppenbild mit Dame (Bức chân dung tập thể với một quý bà, 1971), Billard um halb zehn (Ván bi-a lúc chín rưỡi, 1959), Ansichten eines Clowns (Qua con mắt của chú hề, 1963) Tiếng Đức [76]
1973 Patrick White 1973.jpg Patrick White Úc Úc Vì những tác phẩm có nghệ thuật phân tích tâm lý sâu sắc và bút pháp sử thi, nhờ đó đã mở ra một châu lục văn chương mớiCây người (The tree of man, 1955), Voss (1957) Tiếng Anh [77]
1974 Eyvind.JPG Eyvind Johnson Thụy Điển Thụy Điển Là đại diện của các nhà văn xuất thân từ công nhân đi vào văn học và làm giàu cho văn học bằng những số phận phức tạp của mìnhSträndernas svall (Sóng biển, 1946), Krilon romanren (Tiểu thuyết của Krilon, 1941-1943), Romanen om Olof (Tiểu thuyết Olof, 1934-1937) Tiếng Thụy Điển [78]
Harry Martinson.jpg Harry Martinson Thụy Điển Thụy Điển Vì trong tác phẩm của ông có tất cả – từ giọt sương đến vũ trụ Tiếng Thụy Điển [78]
1975 Eugenio montale 2.jpg Eugenio Montale Ý Ý Vì các tác phẩm thơ ca đặc sắc thể hiện quan điểm và cảm xúc lớn lao về một cuộc sống bị tước bỏ ảo ảnhLa bufera e altro (Giông tố và những bài thơ khác, 1956) Tiếng Ý [79]
1976 không khung Saul Bellow Hoa Kỳ Hoa Kỳ Vì những đóng góp lớn lao cho sự phát triển văn học Mỹ và thế giới bằng những tác phẩm mang tính nhân đạo sâu sắc có ngôn ngữ và văn phong bậc thầy Tiếng Anh [80]
1977 Vicentealeixandre.jpg Vicente Aleixandre Tây Ban Nha Tây Ban Nha Vì những tác phẩm thơ xuất sắc thể hiện vị trí của con người trong vũ trụ và trong xã hội hiện đại, đồng thời là chứng cứ thuyết phục về sự phục hồi của các truyền thống thơ ca Tây Ban Nha vào thời kì giữa hai cuộc chiến tranhLa destruccion o el amor (Hủy diệt hay yêu thương, 1933), Sombra del parasio (Bóng thiên đường, 1944) Tiếng Tây Ban Nha [81]
1978 Isaac Bashevis Singer (upright).jpg Isaac Bashevis Singer Hoa Kỳ Hoa Kỳ Ngày hạnh phúc: những câu chuyện về cậu bé lớn lên ở Warszawa (Day of pleasure: stories of a boy growing up in Warszawa, 1969), Kẻ nô lệ (Knekht, 1962) Tiếng Yiddish [82]
1979 Odysseas Elytis 1974.jpg Odysseus Elytis Hy Lạp Hy Lạp Vì những sáng tạo thơ ca theo truyền thống Hy Lạp, với sức mạnh gợi cảm và cái nhìn trí tuệ sâu sắc đã vẽ nên một cuộc đấu tranh của người đương thời vì tự do và độc lậpΆσμα ηρωικό και πένθιμο για τον χαμένο ανθυπολοχαγό της Αλβανίας (Bản anh hùng ca bi tráng tặng người trung úy hi sinh trong chiến dịch Albania, 1945), Το Άξιον Εστί (Điều xứng đáng, 1959) Tiếng Hy Lạp [83]
Thập niên 1980
Năm Ảnh Tác giả Quốc gia Tác phẩm tiêu biểu Ngôn ngữ Nguồn
1980 không khung Czesław Miłosz Ba Lan Ba Lan
Hoa Kỳ Hoa Kỳ
Vì các sáng tác thể hiện nỗi đau khổ của con người không được bảo vệ trong một thế giới mà họ đã phải đến sống sau khi bị đuổi khỏi thiên đườngThe world: a naive poem (Thế giới: bản trường ca ngây thơ, 1943), Zdobycie wladzy (Giành chính quyền, 1952), Zniwolony umysl (Trí tuệ bị cầm tù, 1953) Tiếng Ba Lan [84]
1981 Elias Canetti 2.jpg Elias Canetti Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Anh Die Blendung (Mù lòa, 1935), Masse und Macht (Quần chúng và quyền lực, 1960), Das Geheimherz der Uhr (Trái tim bí ẩn của đồng hồ, 1981) Tiếng Đức [85]
1982 Gabriel Garcia Marquez.jpg Gabriel García Márquez Colombia Colombia Trăm năm cô đơn (Cien años de soledad, 1967), Tình yêu thời thổ tả (El amor en los tiempos del cólera, 1985) Tiếng Tây Ban Nha [86]
1983 William Golding 1983.jpg William G. Golding Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Anh Lord of the Flies (Chúa Ruồi, 1954), To the Ends of the Earth (Đến tận cùng của Trái Đất, 1980-1989) Tiếng Anh [87]
1984 không khung Jaroslav Seifert Tiệp Khắc Tiệp Khắc Vì các sáng tác thơ nổi bật, vì sự tươi mới, nhạy cảm, giàu tưởng tượng, là bằng chứng về tinh thần độc lập và sự đa dạng của con người Tiếng Séc [88]
1985 Claude Simon 1967.jpg Claude Simon Pháp Pháp Vì sự kết hợp trong sáng tác của ông các nguyên tắc của thơ và hội họa và Vì nhận thức sâu sắc về vai trò của thời gian trong mô tả con ngườiLa route de Flandres (Những con đường xứ Flandres, 1960) Tiếng Pháp [89]
1986 Soyinka, Wole (1934).jpg Wole Soyinka Nigeria Nigeria Vì có những đóng góp quan trọng cho nền sân khấu châu Phi Tiếng Anh [90]
1987 Joseph Brodsky 1988.jpg Joseph Brodsky Hoa Kỳ Hoa Kỳ Vì sự sáng tạo mang tính khái quát được nuôi dưỡng bằng những ý tưởng rõ ràng và sức mạnh của thơ caМеньше одиницы (Ít hơn một, 1986) Tiếng Nga, tiếng Anh [91]
1988 không khung Naguib Mahfouz Ai Cập Ai Cập Người, qua các tác phẩm giàu sắc thái đã tạo nên nghệ thuật kể chuyện Ả Rập, thứ có thể áp vào toàn nhân loạiCairo Trilogy (Bộ ba Cairo, 1956-1957) Tiếng Ả Rập [92]
1989 Camilo José Cela Madrid 1996.jpg Camilo José Cela Tây Ban Nha Tây Ban Nha Là gương mặt nổi bật nhất trong sự nghiệp đổi mới văn học Tây Ban Nha sau chiến tranhLa familia de Pascual Duarte (Gia đình Pascual Duarte, 1942), La colmena (Tổ ong, 1943-1957) Tiếng Tây Ban Nha [93]
Thập niên 1990
Năm Ảnh Tác giả Quốc gia Tác phẩm tiêu biểu Ngôn ngữ Nguồn
1990 Octavio Paz - 1988 Malmö.jpg Octavio Paz México México Vì những tác phẩm đầy nhiệt huyết được viết bằng trí tuệ mẫn cảm dựa trên những giá trị nhân văn cao cảPiedra del sol (Đá mặt trời, 1957) Tiếng Tây Ban Nha [94]
1991 Nadine Gordimer 01.JPG Nadine Gordimer Cộng hòa Nam Phi Nam Phi Nghiên cứu sâu sát tình hình chính trị Nam Phi, những trang viết của Nadine Gordimer thể hiện những vấn đề phức tạp trên đất nước mìnhJuly’s people (Những người tháng bảy, 1981), Living in hope and history: Notes from our century (Sống trong hi vọng và trong lịch sử: Những ghi chép về thế kỉ chúng ta, 1999) Tiếng Anh [95]
1992 Derek Walcott.jpg Derek Walcott Saint Lucia Saint Lucia Vì đã sáng tạo nên những mẫu mực thơ ca tuyệt vời của xứ CaribeIn a Green Night (Đêm xanh, 1960), Remember and Pantomime (Lễ tưởng niệm và vở kịch câm, 1980) Tiếng Anh [96]
1993 không khung Toni Morrison Hoa Kỳ Hoa Kỳ Những miêu tả giàu chất thơ về cuộc sống của người da đen ở MỹSula (1973), Song of Solomon (Bài ca Solomon, 1977), Beloved (Yêu dấu, 1987) Tiếng Anh [97]
1994 Oe Kenzaburo 1-2.jpg Oe Kenzaburo Nhật Bản Nhật Bản Vì đã tạo nên một thế giới giàu hình ảnh tưởng tượng, nơi đó cuộc sống và những câu chuyện tưởng tượng hòa quyện lại để tạo nên một bức tranh đảo lộn về con người trong tình trạng khó khăn hiện nayViệc kỳ lạ (Kinyo na shigoto, 1957), Nuôi thù (Shiiku, 1958), Cây xanh bốc cháy (tiểu thuyết bộ ba), Một nỗi đau riêng Tiếng Nhật [98]
1995 Seamus Heaney Photograph Edit.jpg Seamus Heaney Cộng hòa Ireland Ireland Vì ông đã sáng tạo ra 9 tập thơ mang vẻ đẹp trữ tình và chiều sâu thẩm mỹ, tôn vinh những phép lạ của đời thường và của quá khứ sống độngThe Government of the Tongue (Quyền lực của ngôn từ, 1988) The Place of Writing (1989), Seeing things (Thấy sự vật, 1991) Tiếng Anh [99]
1996 không khung Wisława Szymborska Ba Lan Ba Lan Những tác phẩm thơ tái hiện chân thực một thế giới trong đó cái thiện và cái ác đan xen, giành giật nhau chỗ đứng cả lẫn trong tư duy và hành động của con người, thể hiện tấm lòng một công dân, một nghệ sĩ có nhân cách lớn và đầy trách nhiệm trước những thực trạng các giá trị tinh thần bị đảo lộn, trước nguy cơ suy đồi đạo đức trong cuộc sống hiện đạiWolanie do yeti (Lời kêu gọi đối với người tuyết, 1957) Tiếng Ba Lan [100]
1997 Dario Fo-Cesena.jpg Dario Fo Ý Ý Vì những tác phẩm và hoạt động sân khấu phê phán quyền lực và uy tín, bảo vệ nhân phẩm của những người bị áp bứcMorte accidentale di un anarchico (Cái chết bất bất ngờ của một người vô chính phủ, 1970) Tiếng Ý [101]
1998 không khung José Saramago Bồ Đào Nha Bồ Đào Nha Vì văn phong hài diễu, trí tưởng tượng phong phú phản ánh hiện thực huyễn hoặc của thế giớiMemorial do Convento(Hồi ức về tu viện, 1982), O Ano da Morte de Ricardo Reis (Năm Ricardo Reis qua đời, 1984) Tiếng Bồ Đào Nha [102]
1999 Günter Grass auf dem Blauen Sofa.jpg Günter Grass Đức Đức Người có công nhắc quá khứ dâu bể của thế giới và Những chuyện ngụ ngôn bi hài mô tả mặt trái của lịch sửCái trống thiếc (Die Blechtrommel 1959), Mèo và Chuột (Katz und Maus 1961), Những năm chó (Hundejahre 1963), Mein Jahrhundert (1999) Tiếng Đức [103]
Thập niên 2000
Năm Ảnh Tác giả Quốc gia Tác phẩm tiêu biểu Ngôn ngữ Nguồn
2000 không khung Cao Hành Kiện Pháp Pháp Có tầm cỡ thế giới, mang dấu ấn đắng cay trong tư tưởng và sự tinh tế của ngôn từ, mở ra những lối đi mới cho tiểu thuyết và nghệ thuật kịch Trung Quốc (Linh Sơn)Linh Sơn (1990 – 灵山 Linh Sơn) Tiếng Hán [104]
2001 không khung V.S. Naipaul Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Anh Hình ảnh, cứ thế mà lặng lẽ suy sụp, của văn hóa thực dân cũ, và sự suy tàn của các xóm làng châu Âu (Bí ẩn khi tới)Miguel Street (Phố Miguel, 1959), An Area of Darkness (Một vùng bóng tối, 1964), Guerillas (Quân du kích, 1975), The Enigma of Arrival (Bí ẩn khi tới, 1987) Tiếng Anh [105]
2002 không khung Imre Kertész Hungary Hungary Cho các tác phẩm đề cao trải nghiệm mong manh của cá nhân chống lại các độc đoán man rợ của lịch sửSorstalanság (Không số phận, 1975), Kaddis a meg nem született gyermekért (Kinh cầu cho đứa bé chưa ra đời, 1990) Tiếng Hungary [106]
2003 J.M. Coetzee.JPG John Maxwell Coetzee Cộng hòa Nam Phi Nam Phi Là nhà phê bình chân thật và những tác phẩm có kết cấu tốt, sự xuất sắc trong phân tích, đối thoại giàu tính tư tưởngIn the Heart of the Country (Giữa miền đất ấy, 1977), Dusklands (1974), The Life & Times of Michael K (Cuộc đời và thời đại của Michael K, 1983), Disgrace (Ruồng bỏ, 1999) Tiếng Anh [107]
2004 Elfriede jelinek 2004 small.jpg Elfriede Jelinek Áo Áo Vì những tác phẩm khắc họa một thế giới tàn nhẫn của bạo lực và quy phục, của kẻ đi săn và con mồiTình ơi là tình (Die Liebhaberinnen, 1975), Cô gái chơi dương cầm (Die Klavierspielerin, 1983) Tiếng Đức [108]
2005 Pinterfoto cropped2.jpg Harold Pinter Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Anh Mở ra những vực thẳm được che đậy sau những câu chuyện ba hoa, trống rỗng thường ngày và thâm nhập vào những không gian biệt lập của sự áp bứcViết hai mươi chín vở kịch (tính đến năm 2005) và đạo diễn nhiều vở kịch khác Tiếng Anh [109]
2006 Orhan Pamuk 2009 Shankbone.jpg Orhan Pamuk  Thổ Nhĩ Kỳ Trong quá trình đi sâu tìm hiểu tâm hồn u uẩn, sầu muộn của thành phố quê hương, Orhan Pamuk đã phát hiện ra những biểu tượng của sự va chạm, trộn lẫn giữa nhiều nền văn hóaTuyết (Kar, 2002), Tên tôi là Đỏ (Benim Adım Kırmızı, 1998) Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ [110]
2007 không khung Doris Lessing Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Anh Người viết sử thi của sự trải nghiệm phụ nữ, đầy nghi hoặc, nhiệt huyết có sức khôn ngoan, chín chắn để chinh phục nền văn minh phân hóa đến mức kỹ lưỡngCỏ hát (1950), Cuốn sổ vàng (1962), Memoirs of a Suvivor (1974) Tiếng Anh [111]
2008 Jean-Marie Gustave Le Clézio-press conference Dec 06th, 2008-2.jpg Jean-Marie Gustave Le Clézio  Pháp Là tác giả của những khởi điểm mới, của cuộc phiêu lưu thi vị và là người khám phá ra một nhân loại ẩn chìm và đang bị thống ngự của nền văn minhBiên bản, Sa mạc, Nhà tiên tri Tiếng Pháp [112]
2009 Herta Müller 1.jpg Herta Müller  Đức Người, với sự tập trung, cô đọng của thơ ca và sự thẳng thắn của văn xuôi, đã miêu tả phong cảnh của mảnh đất bị tước quyền sở hữuVùng đất thấp (1982), Herztier (1994), Heute wär ich mir lieber nicht begegnet (2001) Tiếng Đức [113]
Thập niên 2010
Năm Ảnh Tác giả Quốc gia Lý do và tác phẩm tiêu biểu Ngôn ngữ Nguồn
2010 Vargas Llosa Madrid 2012.jpg Mario Vargas Llosa  Peru Vì cách vạch ra những kết cấu của sức mạnh quyền lực và những hình ảnh sắc sảo về sức phản kháng, sự nổi loạn và thất bạiThời đại anh hùng, Trò chuyện trong quán Cathedral, The War of the End of the World (Chiến tranh ở ngày tận thế, 1981), The Feast of the Goat Tiếng Tây Ban Nha [114]
2011 Transtroemer.jpg Tomas Tranströmer  Thụy Điển Vì lối kể chuyện súc tích của ông đã mang chúng ta đến gần hơn với những suy nghĩ thực tạiWindows and Stones (1966), The Great Enigma (2004) Tiếng Thụy Điển [115]
2012 MoYan Hamburg 2008.jpg Mạc Ngôn  Trung Quốc Vì đã sáng tạo ra một thế giới huyền ảo trong sự phức tạp và rắc rối của nó, gợi nhớ tới các tác gia lừng danh khác như William Faulkner và Gabriel Garcia Marquez, cùng lúc tìm thấy điểm khởi đầu trong văn học cổ Trung Quốc và trong văn học truyền miệngCao lương đỏ (2001), Báu vật của đời (1995), Tửu quốc (2003) Tiếng Trung [116]
2013 Alice Munro.jpg Alice Munro  Canada Bậc thầy về truyện ngắn đương đại bởi lối kể chuyện tinh tế, đặc trưng, rõ ràng và trung thành với chủ nghĩa hiện thựcThe Progress of Love (1986), Selected Stories (1996) Tiếng Thụy Điển [117]
2014 Patrick Modiano 6 dec 2014 - 22.jpg Patrick Modiano  Pháp Với nghệ thuật của ký ức, ông đã tái hiện những số phận khó nắm bắt nhất và khám phá thế giới – cuộc sống trong sự chiếm đóngQuảng trường ngôi sao, Những đại lộ ngoại vi, Phố những cửa hiệu u tối, Từ thăm thẳm lãng quên, Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối Tiếng Pháp [118]
2015 không khung Svetlana Alexievich  Belarus Vì lối viết phức điệu, một tượng đài tưởng niệm sự thống khổ và lòng can đảm trong thời đại của chúng taChiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ (1985), Tiếng vọng từ Chernoby (1997) Tiếng Nga [119]
2016 Bob Dylan - Azkena Rock Festival 2010 2.jpg Bob Dylan  Hoa Kỳ Vì đã tạo nên những diễn đạt thơ văn mới trong truyền thống ca nhạc Hoa Kỳ Tiếng Anh [120]
2017 Kazuo Ishiguro in Stockholm 2017 02.jpg Ishiguro Kazuo  Anh- Nhật Bản Người, bằng những tiểu thuyết đẩy cảm xúc, đã phát hiện ra những vực thẳm phía dưới cảm xúc bay bổng kết nối chúng ta với thế giớiMãi đừng xa tôi (2005) Tiếng Anh [121]
2018 Olga Tokarczuk (2018).jpg Olga Tokarczuk  Ba Lan lối viết giàu sức tưởng tượng, một cảm xúc rộng khắp như cách vượt qua mọi ranh giới, coi đó như một cách/lối sống Tiếng Ba Lan [122]
2019 Peter-handke.jpg Peter Handke  Áo vì một tác phẩm có ảnh hưởng cùng sự khéo léo về ngôn từ đã khám phá được ngoại diên và sự độc đáo của trải nghiệm làm người Tiếng Đức [123]
Thập niên 2020
Năm Ảnh Tác giả Quốc gia Tác phẩm tiêu biểu Ngôn ngữ Nguồn
2020 Louise Glück circa 1977.jpg Louise Glück Hoa Kỳ Hoa Kỳ Vì âm điệu đầy chất thơ không thể nhầm lẫn với vẻ đẹp đơn sơ khiến sự hiện hữu của cá nhân trở nên một điều phổ quát Tiếng Anh [124]
XEM THÊM:  Nhà xuất bản văn học logo

Nobel Văn học công bố vào ngày 8/10, được giới chuyên môn dự đoán có kết quả an toàn sau những bê bối gần đây.

Trải qua hơn 100 năm, giải thưởng nhiều lần gây tranh cãi vì các nguyên nhân khác nhau.

Viện Hàn lâm Thụy Điển từng chọn một số nhân vật hoạt động trong các lĩnh vực khác, khiến nhiều người trong giới văn chương không hài lòng.

Năm 2016, họ vinh danh ca sĩ, nhạc sĩ Bob Dylan, làm nhiều nhà văn, nhà thơ bất mãn. Tiểu thuyết gia Jodi Picoult nói: “Tôi mừng cho Bob Dylan, nhưng điều này đồng nghĩa tôi cũng có thể thắng giải Grammy?”.

Những nhân vật “ngoại đạo” khác cũng từng thắng Nobel Văn học là Winston Churchill và Bertrand Russell. Nhà văn A.N. Wilson thể hiện quan điểm trên Telegraph: “Họ đáng trọng ở một lĩnh vực nào đó nhưng khó lòng xứng đáng với một giải thưởng văn chương, bất luận là để cho ban giám khảo nào đánh giá”. Cố thủ tướng Anh Winston Churchill có hai cuốn hồi ký liên quan đến chiến tranh thế giới, từng đoạt Nobel Văn học năm 1953. Nhiều chuyên gia nhận định ông phù hợp thắng Nobel Hòa bình. Học giả Anh – Bertrand Russell – có nhiều tác phẩm liên quan triết, logic học, toán học nhưng giành giải Nobel Văn học năm 1950.

Bob Dylan vắng mặt ở lễ trao giải Nobel Văn học năm 2016, ông gửi bài diễn từ đến ban tổ chức. Ảnh: AFP.

Nhiều cây bút không được ủng hộ vì bị cho rằng tên tuổi chưa đủ sức nặng.

Khi tác giả người Đức – Herta Mueller – giành giải năm 2009, nhiều nhà nghiên cứu bày tỏ thất vọng vì họ chưa từng nghe thấy tên bà. Cây bút Thom Geier viết trên tờ EW: “Một lần nữa, Viện Hàn lâm Thụy Điển chọn một người vô danh thắng Nobel Văn học. Herta là ai? Bạn sẽ hỏi như vậy và bạn không phải là người duy nhất thắc mắc về điều đó. Mueller ở đưới đáy của danh sách cá cược mà nhà cái Ladbrokes đưa ra. Chỉ vài cuốn của bà từng được dịch sang tiếng Anh…”.

Năm 2004, chiến thắng của nữ nhà văn Áo Elfriede Jelinek không thuyết phục bởi tên tuổi bà không vượt ra phạm vi cộng đồng nói tiếng Đức. Knut Ahnlund – một trong 18 thành viên bình chọn giải – đã rời Hội đồng để bày tỏ thái độ phản đối.

Sự kiện đau lòng nhất liên quan đến Nobel Văn học bắt nguồn từ giải thưởng năm 1974. Hai người đồng chiến thắng năm đó – Harry Martinson và Eyvind Johnson – nằm trong hội đồng 18 thành viên bình chọn giải. Độc giả, giới văn sĩ sau đó phản đối vì tác phẩm của hai ông không được phổ biến bằng cả tiếng Anh và tiếng Thụy Điển. Báo chí, các nhà văn Thụy Điển cho rằng Viện Hàn lâm đã thiên vị hai tác giả. Theo danh sách được tiết lộ hàng chục năm sau đó, Graham Greene, Saul Bellow, Vladimir Nabokov là những tên tuổi nổi tiếng hơn cùng được đề cử năm đó.

Năm 1978, Harry Martinson tự tử bằng cách mổ bụng giống các samurai Nhật. Bạn thân của ông – Lars Gyllensten, người từng giữ chức Thư ký Viện Hàn lâm – nói sự ích kỷ của giới văn sĩ Stockholm đã dẫn đến cái chết của Martinson. Tờ Independent nói Harry Martinson chết để giữ gìn danh dự.

Nhiều nhà văn bị phản đối vì quan điểm chính trị của họ.

Gần nhất, chủ nhân giải thưởng năm ngoái – ông Peter Handke – bị tẩy chay vì từng công khai bảo vệ nhà chính trị quá cố – Slobodan Milosevic. Cựu Tổng thống Nam Tư Slobodan bị cáo buộc 66 tội danh liên quan đến diệt chủng, tội ác chống loài người và tội phạm chiến tranh trong các cuộc xung đột đẫm máu ở Bosnia, Croatia và Kosovo những năm 1990. Tổ chức nhân quyền PEN America nói họ “chết lặng” khi nghe tin Peter Handke được vinh danh, “thất vọng với quyết định của Ủy ban Nobel về giải thưởng này”.

Nhà văn Peter Handke. Ảnh: AFP.

Giải Nobel năm 2012 giành cho Mạc Ngôn bị Hertha Muller – người đoạt giải năm 2009 – gọi là “thảm họa”, thậm chí khiến bà bật khóc. Trên tờ agens Nyheter của Thụy Điển, Muller nói một tác giả luôn “dùng văn chương để phục vụ mục đích chính trị như Mạc Ngôn” không xứng đáng với giải thưởng cao quý.

Các tác phẩm của Mạc Ngôn thường chứa đựng những bình luận xã hội, phản biện các chính sách khắc nghiệt, được cho là chịu ảnh hưởng mạnh mẽ quan điểm chính trị của Lỗ Tấn và chủ nghĩa hiện thực huyền ảo của Gabriel Garcia Marquez. Những câu chuyện thường có bối cảnh gần quê hương ông, thành phố Cao Mật, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Một vài cuốn sách của Mạc Ngôn từng bị cấm tại quê nhà vì yếu tố “khêu gợi và thô tục”.

Tiểu thuyết “Ếch” của Mạc Ngôn phê bình trực tiếp hơn chính sách “gia đình một con” nhằm kiểm soát gia tăng dân số nhưng cũng mang đến không ít bị kịch cho người dân Trung Quốc hơn 30 năm trước. Ảnh: AFP.

Nobel Văn học là một trong sáu hạng mục của giải Nobel, được trao hàng năm cho tác giả từ bất kỳ quốc gia nào, theo di chúc của nhà hóa học Alfred Nobel. Viện Hàn lâm Thụy Điển sẽ lựa chọn người thắng cuộc. Họ không bao giờ hé lộ dấu hiệu về nhân vật có khả năng đoạt giải cho tới khi công bố kết quả. Danh sách rút gọn của các ứng viên sẽ được tiết lộ 50 năm sau đó. Giải lần đầu được trao cho nhà thơ Pháp – Sully Prudhomme – năm 1901.

Chuyên mục: Văn Học

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *