Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
780 lượt xem

Hình tượng cây xà nu trong tác phẩm rừng xà nu

Bạn đang quan tâm đến Hình tượng cây xà nu trong tác phẩm rừng xà nu phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Hình tượng cây xà nu trong tác phẩm rừng xà nu

hình ảnh cây xà nu là biểu tượng của mảnh đất và con người tây nguyên trong tác phẩm rừng nguyên liêu. trong bài viết này hoatieu xin chia sẻ tổng hợp những hình ảnh. cây xà nu cùng với những bài văn mẫu phân tích hình ảnh cây xà nu hay và chi tiết sẽ giúp các em hiểu được nội dung và ý nghĩa của tác phẩm.

  • top 7 bài phân tích về hành động siêu tốt của sư cô rừng xà nu
  • top 10 bài phân tích vội vàng 13 câu đầu
  • top 7 bài phân tích là cách tốt nhất cho tiền của bạn

1. phân tích giản đồ hình ảnh barnacle

i. mở đầu

<3

– Rừng xà nu được coi là bản hùng ca của Tây Nguyên thời chống Mỹ, tái hiện chặng đường đấu tranh của dân làng Xô Viết.

– bên cạnh hình ảnh con người anh hùng, điểm nhấn là hình ảnh thanh xà nu.

ii. nội dung bài đăng

– đây là hình ảnh trung tâm xuyên suốt toàn bộ tác phẩm, góp phần thể hiện ý tưởng chủ đề của tác phẩm.

– gợi lên màu sắc và không gian núi rừng Tây Nguyên, gắn liền với cuộc sống thường ngày và những sự kiện trọng đại của dân làng Soman:

+ dân làng soman lấy gỗ raffino, bôi đen bảng học chữ, đốt lửa thắp sáng từng nhà.

<3

+ cả rừng rắn vươn mình che chở, bảo vệ làng khỏi bom đạn kẻ thù, hàng vạn cây xanh, không một cây nào không hề hấn gì.

– hình ảnh thanh xà nu mang một vẻ đẹp tương xứng, song hành cùng các thế hệ cách mạng nối tiếp nhau của dân làng Soman.

<3

+ những con ốc mới lớn tượng trưng cho hình ảnh thiếu niên còn bé heng: “cây tre mới nhú lên khỏi mặt đất đã nhọn như mũi tên, quả lê”, giống như một chàng trai heng đã dũng cảm vươn lên. Dù còn nhỏ nhưng hãy đi theo cha.

<3

– nỗi đau mà cây thông phải chịu đựng cũng được người dân nơi đây trải qua: “có cây cứa dọc thân … vào chỗ vết thương rỉ nhựa, bầm tím dần rồi đặc lại thành cục. . máu lớn … “:

+ giống như hình ảnh một người đàn ông với xút ăn da, vợ anh ta bị chặt đầu và treo trên cây vả

+ Mai và con trai bị tra tấn bằng song sắt cho đến chết

+ hình ảnh 10 đầu ngón tay bị đốt cháy bằng nhựa xà phòng cho đến khi chỉ còn lại 2 đầu ngón tay.

– là một ẩn dụ độc đáo về sức sống bất diệt, tinh thần bất khuất và sức mạnh quật cường của dân làng Xô Viết trong phong trào đấu tranh vũ trang.

+ cả ngọn đồi trăm cây sum họp như một cộng đồng Tây Nguyên chung sức đánh giặc.

<3<3

– Kết cấu đầu cuối tương ứng: ở đầu và cuối truyện có hình ảnh cánh rừng thanh vắng bao la tạo nên không gian đậm chất sử thi cho tác phẩm.

iii. kết thúc

– cảm nhận hình ảnh của những chiếc xe ngựa.

– Nêu giá trị nghệ thuật khái quát: ngòi bút giàu chất sử thi, ngôn ngữ giản dị, đậm chất Tây Nguyên, âm hưởng trang trọng, …

– Tổng quan về giá trị nội dung: Rừng Xà Nu là sử thi văn xuôi hiện đại tái hiện vẻ đẹp hào hùng, hào hùng của núi rừng, con người và truyền thống văn hóa Tây Nguyên.

2. phân tích hình ảnh barnacle – mẫu 1

trung thành là bút danh của nhà văn nguyễn ngãi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. câu chuyện “khu rừng đau khổ” của ông, viết năm 1965, là một câu chuyện xuất sắc. câu chuyện kể về cuộc “đồng khởi” của dân làng Soman ở Tây Nguyên. một ông già, một già làng, một nhà lãnh đạo quân sự đã lãnh đạo dân làng mài giáo, mác, mồi, mã tấu … vùng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm, tay sai của đế quốc Mỹ giải phóng làng, vùng núi. Linh thiêng. họ đã chiến đấu vì sự sống còn, vì chân lý cách mạng chói lọi: “họ có súng trường, ta phải cầm giáo!” ngoài những nhân vật để lại cho ta nhiều ấn tượng như bà lão, tnú, mai, dit, em béng, anh quyết,… thì hình tượng thanh bần trong truyện được tác giả khắc họa và ca ngợi như một chiến binh oai phong lẫm liệt. . anh hùng.

ngày ấy …, cách mạng miền Nam đang trải qua những năm dài tăm tối, đầy gian nan thử thách. quân xâm lược kéo đến, lục soát, phục kích, không đêm nào mà chó và vũ khí của chúng không sủa trong rừng. dân làng bị bao vây, dân làng bị đàn áp, khủng bố dã man. đầu ông chảy máu, than khóc và đau đớn: kẻ thù treo ông trên cây vả ở đầu thị trấn; Họ đã giết bà, chặt đầu, buộc tóc và treo súng vào bà! Cùng chung số phận và đau khổ với dân làng Soman, Rừng Xà cừ nằm trong tầm bắn của kẻ thù. họ đốt vào ban ngày, vào ban đêm, vào sáng sớm và chiều mát, hoặc lúc chạng vạng và tối, hoặc lúc nửa đêm và gà gáy. tang tóc bao trùm kho thóc rừng. hàng nghìn cây xanh “không cây nào không bị thương”. đạn địch xuyên vào người, “chùm ào ào như vũ bão”; nhựa cây tích tụ và kết lại “đen lại và đông đặc lại thành từng cục máu lớn”. rừng sa nu cũng bị thiệt hại nặng nề như con người. bao nhiêu cây non bị trúng đạn của kẻ thù, vết thương “vẫn mưng mủ” sau năm, mười ngày, cây chết!

Gần 20 lần, người viết nhắc đến rừng sa nu, đồi sa nu, cây sa nu, cành sa nu, lá sa nu, nhựa cây sa nu, khói và ngọn đuốc sa nu, … ngày nay càng nhiều, cây có hình dáng kỳ lạ, tất cả đều tượng trưng cho nhịp đập dữ dội của dân làng Soman, núi rừng hoang sơ của Tây Nguyên.

con đi lạc đã hốc hác trong lửa, con thứ nhất rơi xuống, con thứ hai tiến lên. như vậy, bên cạnh một cây bị đốn hạ, có bốn năm cây cối mọc lên, sinh sôi nảy nở “ly xanh, mũi tên hướng lên trời”. nếu cây sa nhân có bóng mát tỏa khắp cánh đồng và lòng người tượng trưng cho lòng trung thành, nghĩa tình thì cây sa nu lại là loại cây “ưa ánh sáng mặt trời”, hương thơm của cây. nhựa cây “thơm và ngọt”. Trung thành ba lần, Nguyễn đã tạo nên những so sánh độc đáo và tuyệt vời ca ngợi tầm vóc của cây: có khi ngọn cây như mũi tên bắn thẳng lên trời, lúc khác chồi non mới nhú khỏi mặt. thế đất “nhọn như mũi lê”, có khi rừng xà nu “vươn lồng ngực vĩ ​​đại che chở cho dân”. rõ ràng hình ảnh thanh xà nu mang tầm vóc và khí chất của một chiến binh thực thụ máu lửa.

đôi khi rừng bẫy được miêu tả dưới con mắt của anh ấy vào buổi tối và buổi sáng, khi anh ấy đến thăm làng và khi anh ấy lại rời đi. sau ba năm anh đi “lực lượng”, đi tìm ác nhân để trả thù, trở về quê hương, thăm các bản làng, gặp lại rắn rừng như gặp lại người bạn chiến đấu, anh tự hào và hãnh diện. : “đứng trên ngọn đồi thảo nguyên ấy nhìn ra xa xa, tầm mắt chẳng thấy gì ngoài những đồi xà nu sừng sững đến tận chân trời”. và buổi sáng anh ra xa lộ, cùng cô bác, cả rừng rắn chia tay anh trong tình cảm và nỗi nhớ. anh mang theo hình bóng quê hương để ra đi với một sức mạnh mới: “ba người đứng đó nhìn về phía xa. Mắt thấy xa không thấy gì ngoài rừng rắn tiếp tục chạy về phía chân trời.” p>

hình ảnh rừng xà nu cho ta nhiều suy ngẫm sâu sắc về cuộc chiến tranh nhân dân, về tình người, về biểu tượng của rừng, về sự hy sinh, đóng góp xương máu của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. trong cuộc kháng chiến. nên khi gặp lại, bà cụ đã hùng hồn khẳng khái với tất cả sự kiêu hãnh, bất chấp: “Có qua rừng cột buồm gần nước lớn không? Còn sống, không có cây cối. Không có gì mạnh hơn thông đất ta. . cây mẹ đổ, cây con mọc lên. Mong nó giết hết rừng thông này! “.

nét độc đáo của truyện “Rừng xà nu” là nghệ thuật miêu tả cảnh và người độc đáo. Rừng Xà Nu không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, không chỉ là cảnh chiến trường bi tráng mà còn là biểu tượng của khí phách Tây Nguyên và đồng bào Nam Bộ anh hùng. Nó giống như sử dụng một nhà thơ trong sử thi “bài ca săn đập”! ông là một lão làng trạc 60 tuổi, mặt vuông, râu dài tới ngực, mắt sáng với vết sẹo của chiến công rực rỡ, ngực trần “căng như mâm xôi lớn”.

Khi nói đến hình ảnh cây xà nu không thể không nhắc đến cây sa nu bếp lửa. tác giả đã tạo ra ba nét vẽ về con rắn lửa gợi không khí thần thoại và thiêng liêng. Dưới ánh lửa, bạn đọc “bức thư tử” mà bạn đã quyết định gửi cho dân làng trước khi chết. lần thứ hai, hình ảnh ngọn lửa con rắn đốt ở mười đầu ngón tay là ngọn lửa căm hờn “máu kêu ra máu, đầu quay về đầu” (hình bên). lần thứ ba, ngọn đuốc rắn lóe lên màu đỏ tươi, chói lọi giáo mác, có tiếng kêu: “chém! chém hết!” của bà lão, lộ ra xác của mười kẻ thù, trong đó có một đứa trẻ hung ác độc ác, nằm trên vũng máu trong ngôi nhà của đại bàng. Cây Xà Nu đã chia ngọt sẻ bùi trong những năm dài chống Mỹ cứu nước! uu. và tay sai của hắn bán nước!

nếu nhà thơ ghép cánh chim thì một nhà thơ vô danh đã lấy cây vạn tuế làm biểu tượng cho lòng dân và sức mạnh quật khởi của núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ, thì nhà văn Nguyễn trung hà đã khắc họa thành công vẻ đẹp tráng lệ của rừng xà nu thể hiện lòng dũng cảm của dân làng Xô Viết và chủ nghĩa anh hùng Việt Nam. hơi hướng của Tây Nguyên, màu sắc huyền ảo, không khí linh thiêng, hương vị của sinh hoạt truyền thống núi rừng và con người Tây Nguyên được thể hiện một cách hào hùng qua hình tượng rắn rừng.

Truyện “Rừng xà nu” là một thành công lớn và tiêu biểu cho khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn của văn học Việt Nam viết về đề tài chiến tranh. cảnh vật và con người bừng sáng dưới ngọn lửa thiêng huyền diệu. đã giúp độc giả sống lại một thời kỳ lịch sử vô cùng đau thương và vẻ vang của dân tộc.

3. phân tích hình ảnh barnacle – mẫu 2

Tây Nguyên, mảnh đất hùng vĩ và thơ mộng, với những con người ân cần, kiên cường, bất khuất, từ lâu đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều văn nghệ sĩ. ai cũng tìm thấy trên trái đất này một biểu tượng đẹp đẽ cho tâm hồn cất cánh, ngòi bút thăng hoa. ngọc anh có bóng cây vạn tuế như lời thổn thức nồng nàn của tình yêu thủy chung son sắt, thu có tiếng chim rao, vang lên khúc hát trong trẻo thiết tha thắm đượm tình người chiến thắng… còn chung thủy nguyen lại, ta. được đưa hình ảnh những rừng mâm xôi đến tận chân trời như thể hiện sức sống bền bỉ, bất diệt của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên trong công cuộc đánh giặc giữ nước.

Khi đọc Rừng xà nu, chúng ta không chỉ có ấn tượng sâu sắc về những nhân vật như ông lão, tnú, dit, mai mà còn là cây xà nu, một hình tượng độc đáo bao trùm toàn bộ câu chuyện cổ tích. chính hình ảnh cây xà nu đã tạo nên vẻ đẹp hùng vĩ, chất sử thi lãng mạn của câu chuyện về làng Soman bất khuất, kiên cường. nó là một hình ảnh hàm chứa nhiều ý nghĩa biểu tượng. Qua hình ảnh này, người đọc thấy rõ sức sống kiên cường, sức sống mãnh liệt của đồng bào Tây Nguyên nói riêng, dân tộc Việt Nam nói chung trong những ngày chống Mỹ cứu nước. Không phải ngẫu nhiên mà nhà Nguyễn trung thành lại miêu tả khu rừng một cách chi tiết, bằng ngôn ngữ thơ, bằng những “lời có cánh” với niềm say mê say đắm như được thấy trong tác phẩm của mình. Gần hai mươi lần nhà văn viết về cây sa nu, dường như cây sa nu tham gia vào mọi sinh hoạt, tình cảm, vui buồn của người dân Tây Nguyên trong cuộc chiến đấu anh dũng của họ.

toàn bộ câu chuyện dài, đau thương, bất khuất như một bản anh hùng ca về cuộc đời của một nữ tu sĩ, cuộc đời của một người dân làng Xô Viết, được kể trên nền chính là hình ảnh cái chuồng. cây sa nu, rừng xà nu như những con người, những linh hồn vừa là nhân chứng, vừa tham gia vào bản anh hùng ca, cũng là người gánh chịu bao khó khăn, gian khổ, đau thương do tội ác của kẻ thù gây ra, nhưng bất chấp tất cả, rừng sa nu vẫn mạnh mẽ, nó vẫn tồn tại bất chấp mọi đau thương: nó tượng trưng cho khát vọng tự do, khát vọng giải phóng, phẩm chất anh hùng và sức sống mãnh liệt của người dân bản soman, người dân các dân tộc Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Hình ảnh thanh bần hiện lên trong tác phẩm đầy chất thơ hùng tráng. mở đầu và kết thúc câu chuyện là hình ảnh “bạt ngàn cây xavan” “sinh sôi nảy nở”, “rừng xavan dang rộng lồng ngực, che chở cho con người”…. nhưng những đồi cây sa nu nối tiếp chân trời ”. Rừng xà nu là biểu tượng cho con người. cây cối được miêu tả như con người để đáp lại con người, gợi lên những biểu tượng về cuộc sống, số phận và phẩm giá của con người: bao thế hệ dân làng Xô Viết đánh Mỹ.

Cây kỳ nhông ưa ánh sáng và không khí, “nó đâm chồi nảy lộc rất nhanh để đón nhận ánh sáng mặt trời”, giống như dân làng yêu tự do. Rừng xà nu cũng như bản soman, chịu nhiều đau thương trước sự tàn ác của kẻ thù: “Trong rừng đại ngàn, không một cây nào là không bị thương. mấy cây bị chặt đến giữa thân lao như vũ bão. ở vết thương rỉ nhựa cây, chảy tràn, thơm phức, lấp lánh dưới nắng hè oi bức, rồi dần dần bầm tím, thâm đen và đông đặc lại thành từng cục máu lớn. nhưng nó có một sức sống rất mãnh liệt, không gì có thể tiêu diệt được nó: “cạnh một cây vừa đổ, đã mọc lên bốn năm cây non, ngọn cây xanh tươi, hình mũi tên hướng thẳng lên trời”. , chẳng hạn như các thế hệ các dân tộc Xô Viết, nối tiếp nhau vươn lên. nếu bạn quyết định hy sinh bản thân mình, bạn sẽ phải chết trong ngày mai: nếu bạn rơi vào giữa cuộc đời hư hỏng của bạn, dit sẽ lớn nhanh vô cùng, trở thành bí thư chi bộ, chính trị gia cộng đồng: rồi con cái, những thế hệ tiếp theo của dit cũng đang lớn lên, tiếp tục cuộc chiến. đồng thời, ngược lại, ở nhiều chỗ tả người, nhà văn đã so sánh với quán bar. khi bà cụ mệt lử, lồng ngực căng ra như xà cừ, vết thương trên lưng do địch tra tấn “ứa ra một giọt máu, từ sáng đến tối đặc quánh như nhựa mâm xôi”. bút pháp miêu tả đó tạo nên sự hài hoà tương ứng giữa con người và thiên nhiên trong vần thơ hùng vĩ và tráng lệ. nhà văn đã ví ông “như một cây tùng lớn” bởi ông là người hiểu rõ sự gắn bó của cây với mảnh đất nơi mình sinh sống, hiểu được sức mạnh tiềm tàng bất khuất của rừng cũng như dân làng. soman: “Không có cây nào mạnh bằng cây thông của đất ta. Cây mẹ ngã, cây con mọc lên. Tôi đoán nó đã giết chết cả rừng rắn này! …”.

Cây xanh gắn liền với cuộc sống của con người và dân làng. Xà Nu không chỉ có mặt trong phần mở đầu và kết thúc mà cô ấy còn có mặt xuyên suốt câu chuyện về Tnú và chàng trai làng Sôman. xa nu hiện diện trong cuộc sống hàng ngày như đã có từ hàng nghìn năm nay của người dân địa phương: bếp lửa; ngọn lửa trong ngôi nhà dài tập hợp dân làng, ngọn đuốc từ chùm đèn cháy sáng rực cả những cánh rừng đêm; khói lửa hun hút bảng đen để anh quyết chí thành tài, mai này học chữ…; Xà nu cũng tham gia vào các sự kiện quan trọng của cuộc đời không Mỹ: ngọn đuốc xà nu đang cháy sáng trên tay bà lão và tất cả dân làng vào rừng tìm dao, giáo, rựa, mã tấu, giấu kỹ, chuẩn bị cho trận chiến, cuộc nổi dậy, và những người Soman thức đêm, bên đèn đuốc, mài giũa vũ khí của họ; địch đốt tay bằng giẻ tẩm xà phòng …; cùng ngọn đuốc soi sáng đêm mà cả thị trấn nổi dậy, soi rõ xác mười tên địch nằm rải rác xung quanh đống lửa lớn giữa sân thị trấn …

Cây còn là nhân chứng cho sự giác ngộ, hy sinh thầm lặng, lòng dũng cảm và ý chí kiên cường của dân làng Soman: “Đứng trên ngọn đồi gần con nước lớn. Suốt đêm, cả khu rừng ồn ào rung động, ánh lửa bị đốt cháy khắp khu rừng ”. ánh lửa của con rắn đã soi sáng lời khuyên của Người: “kẻ sống phải chuyển, đánh dấu, dụ dỗ. mã tấu, tên, dây đeo … một ngày nào đó nó sẽ được sử dụng “. ngọn lửa thử thách cả ý chí và lòng dũng cảm của ông:” không có gì nhuộm bằng nhựa. lòng căm thù trong anh bùng cháy như một thứ nhựa dẻo sắc nhọn để “bàn tay hận thù” trở thành “bàn tay báo thù” bóp nghẹt tên ác nhân dưới tầng hầm.

Câu chuyện được bà lão kể lại mang đậm phong cách sử thi. đêm kể chuyện dưới bếp lửa của đàn rắn chắc cũng giống như đêm mà các già làng thường truyền tụng trong các bài hát: sử thi truyền thống Tây Nguyên. từ đó ra đời âm điệu sử thi của Rừng xà nu. cây xà nu gắn liền với quá khứ và hiện tại hào hùng, gắn bó với mọi sinh hoạt, phong tục, đời sống văn hóa của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, làm nên lịch sử của dân tộc Xạ Hương sáng ngời những màu huyền thoại như đập san, đẹp đẽ biết bao .. .

Có thể nói, hình ảnh quán bar là mô típ chủ đạo của tác phẩm. xa nu trở thành biểu tượng cho cuộc sống và phẩm chất của dân làng Soman. Đó là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của đức lang quân Nguyễn. nhà văn đã lựa chọn hình ảnh cây mâm xôi và gửi gắm vào đó những ý nghĩa mới, những nét đẹp mới để xây dựng nên một hình tượng lịch sử chống hùng tráng của những con người kiên cường, bất khuất nơi núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ.

4. phân tích ngắn gọn hình ảnh của các quán bar

Trung Nguyên là một nhà văn đến từ Tây Nguyên, ông viết rất hay, sâu sắc và chân thực về con người và vùng đất Tây Nguyên hùng vĩ. Truyện “Rừng Xà Nu” là một tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Trung Thành trong việc ca ngợi thiên nhiên sử thi Tây Nguyên. đặc biệt, tác giả đã xây dựng thành công hình tượng con thuyền chở tinh hoa và ý chí của những con người sống trên trái đất này.

Xuyên suốt tác phẩm “Rừng xà nu” là hình ảnh cây sa nu, đây có thể coi là hình tượng trung tâm, làm nền và cũng là nguồn cảm hứng vô tận để tác giả miêu tả thành công từng nhân vật. sanu là loài cây phổ biến ở núi rừng Tây Nguyên, gan lì, kiên cường, bất khuất. Nhắc đến rắn rừng, người ta sẽ nghĩ ngay đến những con người Tây Nguyên bất khuất không chịu khuất phục, luôn tìm cách bảo vệ nền độc lập của mình.

Hình ảnh cây xà nu được tác giả lấy để đặt tên truyện, mở đầu truyện và kết thúc cũng là hình ảnh cây nho ngút ngàn. Không phải ngẫu nhiên mà tác giả lấy hình ảnh này, hẳn là chủ ý của chính tác giả. vừa thể hiện sự hùng vĩ của thiên nhiên Tây Nguyên vừa khẳng định ý chí quật cường của con người Tây Nguyên.

trước hết xà beng là biểu tượng của núi rừng Tây Nguyên, gắn liền với cuộc sống ở Tây Nguyên. Xà cừ gắn liền với cuộc sống của dân làng Soman, sự trưởng thành của mỗi thế hệ đồng bào Tây Nguyên đều gắn liền với hình ảnh cao quý này. đó là tnu, chị hầu gái, mẹ già, em bé heng. những người đó, để bảo vệ dân làng và bảo vệ vùng cao nguyên, đã phải đánh đổi và hy sinh rất nhiều. Xà nu là loài cây mọc thẳng, vươn mình hướng về ánh sáng, cũng giống như con người Tây Nguyên luôn hướng về phía trước, dù khó khăn, thử thách đến đâu. dường như sa nu là linh hồn của vùng đất Tây Nguyên, nó đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người.

Không chỉ vậy, barnacle còn tham gia ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử của dân làng Soman. Những ngọn đuốc của Xà Nu dẫn đường cho dân làng Tây Nguyên, mười ngón tay Tnu cháy bỏng cũng ngập trong nhựa cây của Sa Nu. Cây xà nu đã ăn sâu vào tâm thức mỗi con người, là biểu tượng cho tinh thần và ý chí của người dân Tây Nguyên. cái rọ vẫn được nhắc đi nhắc lại trong mỗi câu chuyện “không có gì mạnh bằng mâm xôi”, dù có cháy bao nhiêu thì vẫn vững vàng vượt qua giông bão.

xà nu là hình ảnh ẩn dụ của người dân Tây Nguyên. hình ảnh cả rừng rắn bị bắn chết cũng giống như hình ảnh dân làng Xô Viết bị áp bức, bóc lột dã man. sự mất mát, nỗi đau tiếp tục chồng chất khiến những tiếc nuối cứ nối tiếp, không nguôi. dù đã bị đạn tàn phá nhưng cây xà cừ vẫn cứng cáp, bền bỉ; cũng giống như hình ảnh của mai, tnu dù bị hành hạ nhưng vẫn có thể kiên trì chiến đấu đến cùng bằng sức sống ngoan cường của mình.

Người Xà Nu và người Tây Nguyên dường như có mối quan hệ hài hòa, gắn bó chặt chẽ với nhau. đây cũng là chủ ý của tác giả khi xây dựng một hình ảnh mạnh mẽ như vậy.

Người dân Tây Nguyên mong muốn hòa bình, cuộc sống ấm no hạnh phúc. tác giả đã gửi gắm khát vọng đó qua hình ảnh một vựa lúa bao la và vô tận.

xa nu là loại cây sinh trưởng tốt, có sức đề kháng và dẻo dai. bao thế hệ đồng bào Tây Nguyên ngã xuống, bao thế hệ khác tiếp bước và phát huy tinh thần chiến đấu. các thế hệ người lớn tuổi như cụ già, sau đó là tnu và cuối cùng là bé heng, họ đều có những khát khao cháy bỏng về tương lai.

Tôi chắc rằng độc giả sẽ chú ý đến hình ảnh của nhân vật tnu. cây và tnu là hai hình ảnh song song đi đôi với nhau để hỗ trợ và làm nổi bật lẫn nhau. những đặc điểm tiêu biểu của xà nu cũng là đặc điểm của nhân vật tnu không lẫn với ai.

tấm lòng trung thành với tình yêu Tây Nguyên, sự quan sát tinh tế của cụ nguyen đã khắc họa thành công hình ảnh thanh bần có sức ám ảnh người đọc từ đầu đến cuối tác phẩm. xa nu khiến người ta ngưỡng mộ về mảnh đất và con người Tây Nguyên.

5. phân tích chi tiết hình ảnh của quán bar

“Rừng xà nu” là một câu chuyện của nhà văn Nguyễn, tiêu biểu cho khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn của văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975. chủ đề của tác phẩm được bộc lộ sâu sắc bởi ý nghĩa khái quát và giàu chất lãng mạn, hình dạng của thanh bar.

Trong toàn bộ tác phẩm, khung thành là hình ảnh chung, là nguồn cung cấp cho tác phẩm. Khi cầm bút sáng tác truyện cổ tích này, hình ảnh đầu tiên hiện lên trong đầu anh là cây sa nu, rừng xà nu. hình ảnh thiên nhiên ấy đã trở thành chủ đề chính của tác phẩm, nó chiếm những vị trí quan trọng nhất của truyện: nhan đề, mở đầu và kết thúc. hình ảnh quán bar được lặp lại nhiều lần tạo nên không gian đặc trưng của núi rừng Tây Nguyên.

Loài cây gắn bó mật thiết với cuộc sống của người dân Tây Nguyên. thanh bần xuất hiện trong tác phẩm là một loài cây đặc trưng, ​​đặc trưng của vùng đất Tây Nguyên. Thông qua hình ảnh quán bar, nhà văn đã dựng nên hình ảnh hùng vĩ, hoang sơ mang đậm màu sắc Tây Nguyên cho truyện. Cây xà nu luôn gắn bó mật thiết với đời sống của người dân làng soman, hiện diện trong đời sống sinh hoạt của dân làng. bếp lửa bập bùng trong từng gian bếp, trong lò sưởi của dân làng quây quần, khói từ những chùm tre đốt những tấm ván tre để học và học đọc. khi trở về đơn vị, được các cô chú đưa vào khu rừng kho thóc bên con nước lớn. Cây xà nu còn tham gia vào các sự kiện quan trọng của dân làng: ngọn đuốc dẫn đường cho bà lão và dân làng vào rừng lấy giáo, mác, nhử, mã tấu được cất giấu kỹ lưỡng để chuẩn bị khởi nghĩa. mười ngón tay đã bị đốt bởi những miếng giẻ thấm nhựa giẻ rách, trước cảnh tượng đau thương này, dân làng đã nổi dậy để “đống lửa lớn giữa đình“ soi ”xác mười tên giặc nằm la liệt khắp nơi”. cây xà nu cũng đã đi sâu vào tình cảm, tập quán tư tưởng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Tôi cảm nhận về bà già “ngực căng như xà cừ”. trong câu chuyện về tnú, người phụ nữ xưa cũng đã nói đến cây sa nu với tất cả tình yêu thương, gần gũi và tự hào: “không gì mạnh bằng cây mâm xôi quê ta” đã trở thành máu thịt trong đời sống vật chất và tinh thần của người dân tây nguyên.

Cây xà nu tượng trưng cho số phận và phẩm chất con người Tây Nguyên trong chiến tranh cách mạng. ta thấy được dụng ý nghệ thuật này khi tác giả miêu tả hai hình ảnh thanh bần và con người Tây Nguyên. Trước hết, vết thương lòng do đại bác của kẻ thù gây ra tượng trưng cho những mất mát đau thương vô bờ bến mà đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã phải chịu đựng. Nếu rừng có hàng vạn cây mà không cây nào bị hại thì người dân Tây Nguyên cũng vậy. những cây tre non bị đại bác cắt làm đôi tượng trưng cho những đứa con nít, hoa mai. và những cây thông già không thể chết vì đạn đại bác cũng giống như bạn và dit, những con người đã trưởng thành với nỗi đau và mất mát của chiến tranh.

Thứ hai, cây có đặc tính ưa sáng, là biểu tượng cho khát vọng tự do của người dân Tây Nguyên. Nguyên trung thành đã viết “ít có loài cây nào ưa nắng đến thế …” người dân Tây Nguyên luôn khao khát tự do, dù kẻ thù đã giết hại bà. và ngày mai anh vẫn kiên trì nuôi giấu cán bộ. Thứ ba, khả năng sinh sôi nảy nở mạnh mẽ của cây sa nu và sự bạt ngàn của rừng sa nu giúp chúng ta ghi nhớ về sự tiếp nối của bao thế hệ người dân Tây Nguyên. nguyễn trung viết: “trong rừng có mấy cây mà sinh sôi nảy nở tốt như vậy, bên cạnh một rặng xà cừ mới rụng, có bốn năm cây non mọc xanh tốt, hình mũi tên đâm thẳng lên trời. Người ta cũng có. các thế hệ nối tiếp nhau: bà lão là thanh xà nu, mai và dit là cây trưởng thành, con heng là cây con khỏe mạnh Thứ tư, sự tồn tại của rắn rừng qua những hành động phá hoại của kẻ thù tượng trưng cho sức sống bất diệt và khả năng vươn lên mạnh mẽ trong chiến đấu của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.

Những cây thông trưởng thành nhanh chóng chữa lành vết thương và vươn lên trên cao để thay thế những cây thông bị đổ. do đó carbon hủy diệt không thể hủy diệt được rừng sa nu. người dân Tây Nguyên cũng vậy, các thế hệ thay nhau bảo vệ cách mạng.

Hình ảnh khu rừng có liên quan mật thiết đến hình ảnh của nhân vật bạn. hai hình ảnh này không tách rời nhau mà có quan hệ mật thiết với nhau. rừng xà nu không thể trải dài đến tận chân trời trong màu xanh vĩnh cửu khi nhân dân chưa hiểu bài học “cầm vũ khí, cầm giáo”.

Tác giả đã kết hợp miêu tả bao quát và cụ thể, kết hợp với cảm nhận của nhiều giác quan khi miêu tả cây thông để tạo nên hình ảnh một cây thông mạnh mẽ và tràn đầy sức sống. Tác giả luôn miêu tả hình ảnh xà nu với con người, các hình thức nhân hoá, ẩn dụ và tượng trưng được vận dụng để thể hiện sinh động vẻ hùng vĩ của thiên nhiên và gợi lên những liên tưởng của con người. do đó, những đoạn văn miêu tả cây xà nu giống như một bài thơ trữ tình với giọng văn giàu sức biểu cảm.

Hình ảnh thanh bần là hình ảnh xuyên suốt tác phẩm, tượng trưng cho vẻ đẹp hào hùng tràn đầy sức sống của thiên nhiên và con người Tây Nguyên. qua đó chất thơ và chất sử thi hòa quyện thành một biểu hiện rõ nét của phong cách văn xuôi trung thành: vừa nồng nàn, vừa suy ngẫm, vừa khéo uốn nắn, vừa giàu sức khái quát.

6. phân tích hình ảnh barnacle – mẫu 1

Trung Nguyên là một nhà văn đến từ Tây Nguyên, ông viết rất hay, sâu sắc và chân thực về con người và vùng đất Tây Nguyên hùng vĩ. Truyện “Rừng Xà Nu” là một tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Trung Thành trong việc ca ngợi thiên nhiên sử thi Tây Nguyên. đặc biệt, tác giả đã xây dựng thành công hình tượng con thuyền chở tinh hoa và ý chí của những con người sống trên trái đất này.

Xuyên suốt tác phẩm “Rừng xà nu” là hình ảnh cây sa nu, đây có thể coi là hình tượng trung tâm, làm nền và cũng là nguồn cảm hứng vô tận để tác giả miêu tả thành công từng nhân vật. sanu là loài cây phổ biến ở núi rừng Tây Nguyên, gan lì, kiên cường, bất khuất. Nhắc đến rắn rừng, người ta sẽ nghĩ ngay đến những con người Tây Nguyên bất khuất không chịu khuất phục, luôn tìm cách bảo vệ nền độc lập của mình.

Hình ảnh cây xà nu được tác giả lấy để đặt tên truyện, mở đầu truyện và kết thúc cũng là hình ảnh cây nho ngút ngàn. Không phải ngẫu nhiên mà tác giả lấy hình ảnh này, hẳn là chủ ý của chính tác giả. vừa thể hiện sự hùng vĩ của thiên nhiên Tây Nguyên vừa khẳng định ý chí quật cường của người Tây Nguyên.

trước hết xà beng là biểu tượng của núi rừng Tây Nguyên, gắn liền với cuộc sống ở Tây Nguyên. Xà cừ gắn liền với cuộc sống của dân làng Soman, sự trưởng thành của mỗi thế hệ đồng bào Tây Nguyên đều gắn liền với hình ảnh cao quý này. đó là bạn, dì giúp việc, mẹ già, bé heng. những người đó, để bảo vệ dân làng, bảo vệ vùng cao nguyên, đã phải hy sinh và nhân nhượng rất nhiều. Xà nu là loài cây mọc thẳng, vươn mình hướng về ánh sáng, cũng giống như con người Tây Nguyên luôn hướng về phía trước, dù khó khăn, thử thách đến đâu. dường như sa nu là linh hồn của vùng đất Tây Nguyên, nó đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người.

Không chỉ vậy, barnacle còn tham gia ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử của dân làng Soman. ngọn đuốc sa nu dẫn đường cho dân làng Tây Nguyên, mười ngón tay đốt bằng nhựa của con rắn. Cây xà nu đã ăn sâu vào tâm thức mỗi con người, là biểu tượng cho tinh thần và ý chí của người dân Tây Nguyên. cái rọ vẫn được nhắc đi nhắc lại trong mỗi câu chuyện “không có gì mạnh bằng mâm xôi”, dù có cháy bao nhiêu thì vẫn vững vàng vượt qua giông bão.

xà nu là hình ảnh ẩn dụ của người dân Tây Nguyên. hình ảnh cả rừng rắn bị bắn chết cũng giống như hình ảnh dân làng Xô Viết bị áp bức, bóc lột đến mức dã man. sự mất mát, nỗi đau tiếp tục chồng chất khiến những tiếc nuối cứ nối tiếp, không nguôi. dù đã bị đạn tàn phá nhưng cây xà cừ vẫn cứng cáp, bền bỉ; Cũng giống như hình ảnh của Mai, Tnú dù bị hành hạ nhưng vẫn kiên cường chiến đấu đến cùng bằng sức sống ngoan cường của mình.

Người Xà Nu và người Tây Nguyên dường như có mối quan hệ hài hòa, gắn bó chặt chẽ với nhau. đây cũng là chủ ý của tác giả khi xây dựng một hình ảnh mạnh mẽ như vậy.

Người dân Tây Nguyên mong muốn hòa bình, cuộc sống ấm no hạnh phúc. tác giả đã gửi gắm khát vọng đó qua hình ảnh một vựa lúa bao la và vô tận.

xa nu là loại cây sinh trưởng tốt, có sức đề kháng và dẻo dai. bao thế hệ đồng bào Tây Nguyên ngã xuống, bao thế hệ khác tiếp bước và phát huy tinh thần chiến đấu. các thế hệ người lớn tuổi như ông già, rồi cụ già, rồi thanh niên và cuối cùng là chú bé heng, trong họ đều có những ước muốn cháy bỏng cho tương lai.

Tôi chắc rằng độc giả sẽ chú ý đến hình ảnh của nhân vật. spar và tnú là hai hình ảnh song song đi đôi với nhau để hỗ trợ và nâng cao cho nhau. những tính cách đặc trưng của nữ tu xà cũng là những nét tính cách không lẫn với ai.

tấm lòng trung thành với tình yêu Tây Nguyên, sự quan sát tinh tế của cụ nguyen đã khắc họa thành công hình ảnh thanh bần có sức ám ảnh người đọc từ đầu đến cuối tác phẩm. xa nu khiến người ta ngưỡng mộ về mảnh đất và con người Tây Nguyên.

7. phân tích hình ảnh barnacle – mẫu 2

“Rừng xà nu” là một truyện ngắn xuất sắc về văn học trung thành chống Mỹ của nhà Nguyễn. Trong tác phẩm, với hình tượng thanh bần, thủy chung đã làm nổi bật khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, một nét cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975. xu hướng này đã chi phối sức sáng tạo nghệ thuật của các nhà văn trong thời kỳ văn học này.

khi đọc các nhân vật trong “rừng xà nu” như cụ già, tnú, dit, mai … tạo ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. nổi bật là hình ảnh quán bar được lặp lại gần hai mươi lần, một hình ảnh duy nhất bao hàm toàn bộ câu chuyện này. hình ảnh đó đã tạo nên vẻ đẹp hùng vĩ, sử thi và lãng mạn cho câu chuyện về những con người Soman bất khuất, kiên cường. Xuyên suốt tác phẩm, rừng cây đã được Nguyễn miêu tả chân thực, chân thực, chi tiết bằng ngôn ngữ thơ, những “lời có cánh” trong cảm xúc nồng nàn, mãnh liệt. . Cây xà nu trong truyện xuất hiện nhiều lần và dường như đã rất đỗi quen thuộc với người dân núi rừng Tây Nguyên trong cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước anh dũng của họ.

tác phẩm “Rừng xà nu” là bản anh hùng ca về cuộc đời anh dũng, đau thương, bất khuất của anh và mọi người dân làng soman. câu chuyện đó được kể trên cơ sở chính là hình ảnh quán bar, một hình ảnh hàm chứa nhiều ý nghĩa tượng trưng và khái quát. rừng thông cũng như những con người, những linh hồn sống chứng kiến, tham gia vào bản anh hùng ca và cũng chịu mọi gian khổ, đau thương dưới làn đạn của kẻ thù. nhưng bất chấp tất cả, rắn rừng vẫn tràn đầy sức sống, vẫn vươn lên mạnh mẽ vượt qua mọi đau thương. Xà cừ là hình ảnh tượng trưng cho khát vọng tự do, khát vọng giải phóng, phẩm chất anh hùng và sức sống tiềm tàng mãnh liệt của dân làng Soman.

câu chuyện bắt đầu bằng hình ảnh “cả rừng cây đại ngàn” và kết thúc vẫn là “những rừng cây nối tiếp nhau chạy đến tận chân trời”. hình ảnh ấy như một bản nhạc hào hùng, một tiếng đàn hạc, làm “nguồn” cho cả một câu chuyện, làm cho câu chuyện cổ tích càng thêm chất sử thi và lãng mạn. Khu rừng được coi là biểu tượng cho người Soman. Với hình ảnh nhân hoá, nhà Nguyễn trung thành đã miêu tả con người thanh mai trúc mã, cũng có “vết thương lòng”, biết “ham ánh sáng”, “đưa lồng ngực to ra để che chở cho buôn làng”. cây xà nu còn là hình ảnh được con người ví von “lồng ngực căng như cây xà nu”. Bao năm đứng dưới vòi rồng của kẻ thù, rừng chịu bao nhiêu sự tàn phá, cũng như nỗi đau mà dân làng phải chịu dưới ách giặc. “Trong cả khu rừng đại ngàn, không có một cây nào là không bị thương.” “Cây bị chặt nửa thân, nhựa cây chảy ra, chảy tràn”… rồi bầm tím dần, chuyển sang màu đen, đặc quánh và đóng thành từng cục máu lớn. hình ảnh đó đã khơi dậy lòng căm thù và dấy lên ý chí phản kháng.

nhưng trên tất cả vẫn là sức sống tươi trẻ của núi rừng thảo nguyên bao la. “Cạnh một cây thông vừa mới rụng, bốn năm cây non đã đâm chồi, ngọn xanh tươi, mũi tên chĩa thẳng lên trời”, “có những cây mới nhú lên từ mặt đất, nhọn như quả lê” “nó lao lên rất nhanh để bắt ánh sáng. “chỉ có vậy bạn mới biết tuổi trẻ thanh xuân mạnh mẽ đến nhường nào! Tuổi trẻ ấy còn là biểu tượng của thế hệ trẻ dân tộc soman. Đó là những mai, dit, tnú, heng, những con người luôn gắn bó với cách mạng, bất khuất từ ​​thuở nhỏ, lớn lên trong lửa đạn, trưởng thành trong đau thương, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì tự do của nhân dân.

Ngoài ra, sức sống bất khuất của thông còn được tạo nên bởi hàng vạn cây xanh trên các ngọn đồi nối tiếp nhau đến tận chân trời trong rặng rừng đại ngàn sừng sững che chở cho thị trấn. đó là những cây thông xanh rất đồ sộ đã vươn cao hơn đầu người, cành lá trĩu cành như lông chim với khá nhiều lông vũ. súng thần công không giết được bọn họ, vết thương mau lành như trong cơ thể cường tráng, đứng dậy rất nhanh thay cây đổ ”, một cái cây lập tức ngã xuống bốn năm sau, cây con lại lớn lên trở thành rừng xà nu tiếp tục Đến tận chân trời, những rừng cây ấy là hình ảnh của những người dân làng Sôman kiên cường chống giặc, bất chấp hy sinh, hết lòng theo đảng, theo kháng chiến từ đời này sang đời khác. , cái mai, cái dit, cái trâm … mà tiêu biểu là hình ảnh ông đồ, nhà văn đã so sánh ông “như một cây đại thụ chùm. Hơn ai hết ông hiểu rất rõ sự gắn bó với cây tùng và cây vùng đất bà sinh sống và hiểu được sức mạnh tiềm tàng bất khuất của rừng sa nu cũng như của dân làng soman, chính bà cụ đã nói với tôi rằng “ở đất ta không có cây nào mạnh bằng cây thông”, “ khi cây mẹ chết , đứa trẻ lại lớn lên. ”

Cây còn là nhân chứng cho sự giác ngộ, hy sinh thầm lặng, lòng dũng cảm và ý chí quật khởi của dân làng Soman. “Đứng trên đồi thông gần con nước lớn rung chuyển cả khu vực soman. và lửa đã thiêu rụi khu rừng ”. ánh lửa của con rắn soi sáng lời khuyên của Người: “người sống phải chuẩn bị dao, giáo, dao, rựa, cung tên, súng cao su… có ngày sẽ dùng đến”. ngọn lửa đã thử thách cả ý chí và lòng dũng cảm của anh: “không gì ngọt bằng nhựa cây kỳ nhông… mười ngón tay đã trở thành mười ngọn đuốc… máu anh mặn chát nơi đầu lưỡi…”

Giai điệu sử thi của “Rừng xà nu” bắt đầu bằng câu chuyện được bà lão kể lại bên ngọn lửa sa xà, một câu chuyện anh hùng đầy ẩn ý. và cây sa nu không chỉ gắn liền với quá khứ và hiện tại hào hùng mà còn gắn liền với mọi sinh hoạt, phong tục, đời sống văn hóa của người Soman, của các dân tộc Tây Nguyên.

Hình ảnh quán bar thực sự là một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của nhà văn trung kiên họ Nguyễn. nhà văn đã chọn lọc hình ảnh cây cối và gửi gắm vào đó những ý nghĩa mới với những tầng ý nghĩa rất khác nhau qua lối viết gợi tả và gợi tả của tác giả. Qua bức tranh này, người đọc không chỉ thấy rõ sức sống mãnh liệt, kiên cường của người buôn làng Soman, người Tây Nguyên nói riêng, mà của cả dân tộc Việt Nam nói chung trong những năm kháng chiến chống nước thống nhất.

8. phân tích hình ảnh về các vựa – mẫu 3

Tây Nguyên, núi rừng hùng vĩ, đầy bí ẩn mà thơ mộng với những đàn linh, chim hót muôn màu, với âm thanh trầm hùng vang vọng từ những tiếng cồng chiêng, những đàn tơ đã đi vào “đất trời”. trỗi dậy ”của nguyễn ngãi tạo nên không khí sử thi của tiểu thuyết chống Pháp. trong thời kỳ chống Mỹ, mảnh đất cực Tây của Tổ quốc này một lần nữa khơi nguồn cảm hứng lãng mạn cho người họ Nguyễn trung thành viết nên truyện“ Rừng xà nu ”, một câu chuyện xuất sắc của văn học hiện đại về đề tài chiến tranh cách mạng, sinh năm 1965.

Chỉ với vài chục trang, tác giả đã làm sống lại cả một vùng đất lửa cháy, với những người dân làng Xô Viết anh dũng hy sinh để thực hiện khát vọng tự do, độc lập. Rừng xà nu, nơi cư trú của người dân soman, đã trở thành nguồn cảm hứng thơ ca và cũng là điểm tựa để nhà văn khắc họa gương mặt của những người anh hùng. thanh barnacle đã tỏa sáng trên các trang văn học, trở thành một hình tượng nghệ thuật hoàn chỉnh và tạo nên âm hưởng cho tác phẩm.

Giống như cây tre Việt Nam, cây sa nu nuôi sống và trung thành với con người. xa nu cũng làm việc, cũng có lễ hội và chia sẻ niềm vui nỗi buồn với mọi người. không nơi nào có sự hiện diện của con người mà không có sự hiện diện của rắn. mỗi cái cây trong khu rừng lớn đều gắn liền với ký ức riêng của mỗi người Somalia. cây đứng đó lặng lẽ như đợi người. ai đến từ đây thì bước đầu gặp cây trong rừng, ai từ xa đến thì trước tiên phải gặp cây trong rừng. thông lớn, lối vào “rừng lau lách” chứng kiến ​​tình yêu của anh và mai. “Chính ở đây, tôi đã gặp mai lần đầu tiên”, và đây là “lần đầu tiên sau khi đi tù về. hẹn gặp bạn vào ngày mai. Mai nắm tay mẹ khóc “không còn là một đứa trẻ nữa mà là một đứa trẻ đã lớn, vừa xấu hổ vừa thương”. đã từng ngây thơ, giờ anh đang khiến người ta hoang mang. nay, mai bị giặc giết, cây cũng bị đạn đốn hạ bao kỷ niệm. Xà Nữ bước vào tình yêu đôi lứa bằng màu xanh mộng mơ để tình yêu thêm mộng mơ. khi hạnh phúc bị chà đạp thì cũng sụp đổ với bao kỉ niệm, chỉ còn lại cái gốc của mọi nỗi đau. cây xà nu, nên nó không còn là cái cây vô cảm mà đã mang bóng dáng của tâm hồn con người.

người nói rằng con rắn mang hình bóng của con người và sau đó phải chịu số phận như con người. khi soman vào trận, barnacle cũng phải đối đầu với lửa đạn. “Hầu hết đạn đại bác đều đáp xuống đồi bẫy cạnh con nước lớn. khắp rừng ngàn cây, không có một cây nào là không bị thương… ”có những cây bị đạn địch xuyên thủng, lao đi như vũ bão, trong vết thương, nhựa cây trào ra, thơm ngát, lấp lánh. , và nắng. mùa hè nóng nực sau đó nó dần bầm tím và kết lại thành những cục máu lớn. “

Nếu nỗi đau của cây làm đau lòng người thì sức mạnh của con người cũng được truyền vào cây để cây có thể đứng vững trên trái đất này.

Dù phải chịu nhiều đau đớn nhưng con rắn đã trở thành chỗ dựa cho con người. khu rừng rậm đã trở thành chướng ngại vật kiêu hãnh “vươn lồng ngực vĩ ​​đại che chở cho dân làng”. Giữa núi rừng ấy, người Soman như cái nôi của những anh hùng, cái nôi của những chú đại bàng giữa núi cao và cao nguyên miền Trung rộng lớn.

Giống như con người, cây này ngã, cây khác đứng vững và vượt qua nỗi đau. “Cạnh một mâm xôi mới rụng, bốn năm cây non đã đâm chồi, ngọn xanh, mũi tên hướng lên trời. cũng có rất ít cây ưa nắng. nhảy thật nhanh để đón nhận ánh nắng, ánh nắng trong rừng từ trên cao chiếu thẳng vào những dòng suối thẳng tắp, chiếu vào vô số hạt bụi vàng bay ra từ nhựa cây, thơm ngát hương… “Mặt trời hay là khát vọng.” của nhân dân Liên Xô hướng tới cuộc sống tươi đẹp tràn đầy ánh sáng thay vì ẩn mình trong bóng tối? Vì thế, cây lặng lẽ vươn lên trời cao, màu xanh tươi đẹp như một tiếng nói thầm lặng, thiết tha và kiêu hãnh, thể hiện một sức sống bất khuất không bạo tàn. lòng: “đạn đại bác không thể giết được chúng, vết thương mau lành như trong cơ thể cường tráng. họ di chuyển rất nhanh để thay thế những cây bị đổ ”. Nhìn cây tùng lớn lên và vượt qua đau thương chết chóc, người Liên Xô không khỏi tự hào về quê hương đất nước, nơi đất khách quê người, cây cũng thắm đượm tình đất với dân: ” Không có cây gì mạnh hơn cây của đất ta. Cây mẹ ngã, cây con mọc lên. Chắc nó giết cả rừng rắn này rồi! “.

Hình ảnh rắn có khi xuất hiện trong rừng, có khi trên đồi, có khi ở gốc cây và nhựa, rồi trong lửa. Mỹ ngụy từng tẩm nhựa giẻ đốt mười đầu ngón tay, “không có gì bằng nhựa giẻ, lửa bén rất nhanh. Mười ngón tay đã thành mười ngọn đuốc. Giặc dùng lửa con rắn đốt cháy lòng người rất gắn bó với ngọn lửa ấy nhưng ngọn lửa như có tình thương, nó truyền sức nóng bên trong để đốt cháy trái tim: “trời ơi! ba mẹ ơi! Con không còn cảm giác được ngọn lửa trên mười đầu ngón tay của nó. Nó nghe lửa cháy trong lồng ngực nóng ran trong bụng, máu mặn chát nơi đầu lưỡi, hét lên một tiếng. tiếng thét mang lửa ấy đốt cháy trái tim người Xô viết rồi trở nên gào thét, “giết chết” và dẫm nát đầu kẻ thù .

Ngọn lửa đã tắt trong vòng mười đầu ngón tay, nhưng ngọn lửa giữa ngôi nhà vẫn cháy rực, soi rõ những xác địch nằm ngổn ngang.

đó là nó! kẻ nào dám dùng lửa gây hại đều bị rắn lửa thiêu đốt. đúng vậy:

“hãy can đảm cầm đuốc để đốt cháy bầu trời mà không đốt lửa”

ngọn lửa của những con rắn đã bị tiêu diệt. từ một ngón tay mở rộng đến hai, ba, và sau đó mười đầu ngón tay. từ mười đầu ngón tay đốt vào bụng và đốt vào mặt người, lửa đốt rừng rực thiêu sống kẻ thù: “đứng trên đồi rắn gần nước lớn, suốt đêm nghe tiếng động rừng rung động, lửa đốt rừng. ”

cây là hình ảnh thực nhưng cũng là hình ảnh gợi liên tưởng so sánh hai chiều. Khi chúng ta nói về rắn, chúng ta nghĩ đến con người, và khi chúng ta nói về con người, chúng ta nghĩ đến rắn: “Một vết dao trên lưng tôi. Trên lưng không rộng bằng cái xà lách mà mẹ anh để lại, có một giọt máu đặc quánh, từ sáng đến tối đặc quánh lại, màu tím như nhựa cây rắn cắn. nếu là “cây chùm ngây” nhỏ bé trong rừng người, thì nàng phải lòng một già làng, người có “thân hình vạm vỡ, thần thái như một anh hùng trong bài hát thâu đêm suốt sáng …” và chàng có hơi thở của một cây xà nu lớn: “anh ta cởi trần, ngực căng ra như một cái chuồng vĩ đại.”

Hình ảnh con rắn là hình ảnh có thực, đồng thời cũng là biểu tượng cho sức sống bất diệt của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên trong đấu tranh cách mạng. Kẻ thù dù hung bạo đến đâu cũng không thể giết hết cây cối và càng không giết được người trong rừng.

9. cảm nhận về hình ảnh quán bar trong đoạn đầu tiên

“Sự sống nảy sinh từ cái chết, hạnh phúc hiện ra từ những khó khăn, hy sinh”, nhà văn Nguyễn khai từng viết. Cũng là nguồn cảm hứng cho sự bất tử, tác phẩm “Rừng Sa Nu” của nhà văn Nguyễn đã trở thành bản hùng ca về cuộc kháng chiến kiên cường, bất khuất của nhân dân Tây Nguyên trong cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước. uu. Trạng nguyên trung thành – nhà văn của đất và người vùng cao lớn lên trong hai cuộc kháng chiến. nếu trong thời kỳ kháng Pháp ông nổi tiếng với tiểu thuyết “đất nước vươn lên” thì “Rừng xà nu” là “căm thù” thời chống Mỹ, vẽ nên con đường mà các dân tộc Tây Nguyên. đã có. để theo dõi trong chiến tranh cách mạng. trong tác phẩm này, rừng xà nu là hình ảnh tiêu biểu, làm nền cho diện mạo con người Tây Nguyên mang âm hưởng sử thi hùng tráng cho câu chuyện cổ tích. Ở đoạn mở đầu và đoạn kết “Rừng xà nu”, hình ảnh cây sa nu, rừng xà nu và đồi sa nu hiện đi trở lại, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

“Rừng xà nu” là câu chuyện kể về những người con trung kiên của đồng bào Tây Nguyên, một lòng vượt qua sự tàn bạo của kẻ thù, một lòng vươn lên đi theo cách mạng. người ngồi trước ngã xuống, người ngồi sau vùng dậy giang tay chống trả. má, tnú, dit và bé heng đại diện cho các thế hệ nhân dân đánh nhau cứu nước. trong cuộc chiến đấu của dân làng soman, rắn rừng được tác giả nhắc đến như một dụng ý nhất định, tượng trưng cho số phận và phẩm chất của người dân Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến cách mạng. dựng lên một “thế giới vùng cao” tươi đẹp trong đau thương, mất mát, sáng ngời như huyền thoại trong câu chuyện của các già làng kể cho người đời bên ánh lửa bập bùng giữa ngôi nhà dài. tác giả đã sử dụng để miêu tả hình ảnh xà nu, rừng xà nu dưới sườn núi. rừng xà nu là một hình tượng nghệ thuật đẹp, một hình tượng thiên nhiên thấm đượm hương sắc của vùng đất Tây Nguyên, tạo nên không khí sử thi cho câu chuyện.

trước hết, rừng xà nu là hình ảnh thiên nhiên kỳ vĩ, kỳ vĩ, bao la của núi rừng Tây Nguyên. xa nu, một loại thông, một dấu ấn kỳ diệu của vùng núi cao. những cây thông tạo nên những cánh rừng thưa, những ngọn đồi xanh bất tận: “nhìn xa, tận mắt trông thấy, nhưng những ngọn đồi nối tiếp nhau đến tận chân trời”. bằng nghệ thuật miêu tả độc đáo, dường như cụ Nguyễn trung thành đưa người đọc vào rừng cây, tận hưởng cái mát, bạt ngàn, bát ngát của rừng ngày đêm bảo vệ xóm làng, chăm lo cho đồng bào miền Tây trong chiến tranh và trong cuộc sống đời thường. . cuộc sống.

Tuy nhiên, trong đoạn văn này, ấn tượng sâu sắc nhất về khu rừng xà cừ là thương tích. rừng sa nu đã “nằm trong tầm bắn của đại bác địch”, vị trí đắc địa đó đã khiến rừng sa nu trở thành đối tượng bị tàn phá. rừng xà nu hiện ra trước mắt người đọc đầy vết thương sau khi hứng chịu mưa bom, bão đạn: “trong rừng đại ngàn không có một cây nào là không bị thương”. hình dạng vết thương do mâm xôi mang lại cũng rất đa dạng và đau lòng: “Có cây bị chặt nửa thân”, có cây bị “súng thần công chém làm đôi”, v.v. cũng giống như vết thương trên thân thể con người “không lành, cứ lở loét”, “thâm tím dần, thâm đen và dày lên”, nhựa cây “thành từng cục máu lớn”, cây đau quá. “năm mười ngày cây sẽ chết.” rất xin lỗi! Trung thành miêu tả thanh vắng là tả một con người sống ở núi rừng Tây Nguyên, mang trong mình truyền thống yêu nước của nhân dân anh dũng “giang rộng lồng ngực, che chở cho nhân dân”. nhưng người đó cũng có lúc gục ngã trước bom đạn đại bác. rắn rừng dường như cũng đau như nỗi đau của người dân trong chiến tranh cách mạng. Đó là cái chết của một người đàn ông bị treo cổ trên cây sung ở đầu thị trấn, cái chết đau buồn của một người phụ nữ bị kẻ thù chặt đầu và buộc tóc bằng súng, sự hy sinh của cô ấy, của mẹ cô ấy và con gái và vô số người khác, người khác trong khu rừng này. Nguyên trung thành trốn tránh thực tại đau khổ ở đâu?

tuy nhiên, khu rừng xà cừ vẫn mạnh mẽ và tràn đầy sức sống. Trước sự tàn phá dã man, rắn rừng vẫn phát triển mạnh. tác giả ca ngợi cảm hứng sống bất tử. sau bao đau thương, rừng thông vươn lên khỏi sự tàn phá dã man của kẻ thù: “cạnh cây mâm xôi mới rụng, bốn năm cây nhỏ đã đâm chồi, ngọn xanh tươi, hình mũi tên hướng lên trời”, nhiều cây lắm ”. rất nhanh chóng, thay thế những cây bị đổ. dường như rắn to khỏe không quả bom nào có thể tiêu diệt được chúng, “hai ba năm nay rắn rừng vươn lồng ngực vĩ ​​đại che chở cho buôn làng”. nhà văn cũng nhắc đến đặc điểm “thèm ánh sáng” trong đoạn văn này: “nó vươn lên rất nhanh để đón ánh sáng mặt trời, ánh nắng trong rừng chiếu từ trên cao xuống thành những dòng suối lớn thẳng tắp”, thật đẹp. . Nếu cây tre này đổ, cây khác sẽ nhanh chóng mọc lên để che chở cho người Soman, giống như người Stra. thế hệ trước ngã xuống, thế hệ sau vươn lên, truyền thống yêu nước mãi mãi ăn sâu vào máu. ánh sáng thuần khiết mà rắn vươn lên đón nhận, cũng như ánh sáng cách mạng, ánh sáng tự do và bầu trời hòa bình mà dân làng Xô Viết hằng khao khát, mơ ước. sức sống của rừng xà nu cũng là sức sống mãnh liệt của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến một trời một vực.

tất cả các sự kiện của câu chuyện đều dựa trên bối cảnh rừng cây xanh. đoạn kết của câu chuyện như một khúc ca tuyệt vời ngân vang trong lòng người. lúc này những hình tượng (con người và thiên nhiên) đã hiện ra với vẻ đẹp trọn vẹn và kỳ vĩ. hình ảnh mâm xôi và người anh hùng cách mạng sáng ngời trên trang giấy, giọng văn nhẹ nhàng nhưng ngân vang đến lạ lùng: “lại đi thôi”, chỉ trong một câu ngắn gọn, tác giả đã khắc sâu vẻ đẹp của nhân vật, một vẻ đẹp cương nghị, mạnh mẽ, giống như nhiều trò chơi khác trong cuộc đời mà anh hùng đã sống. khi ra đi, anh để lại với ba mối thù âm ỉ trong tim: kẻ thù của bản thân (mỗi ngón chỉ có hai ngón tay), kẻ thù của gia đình (vợ con bị giết hại dã man), kẻ thù của nhân dân (người dân chạy sang. el man and the rắn rừng bị tàn phá thê thảm) là động lực gia nhập quân giải phóng. ẩn mình, tìm “trai bao” để trả thù. anh ra đi khi đôi tay không còn lành lặn, đôi tay bị thương nhưng anh vẫn cầm được hung khí, bóp cổ kẻ thù. Anh đã “lấy nỗi đau vô hình làm sức mạnh không giới hạn”?

Hình ảnh ông lão cùng vợ dắt con vào rừng bên con nước lớn mang nhiều ý nghĩa. bà cụ vẫn là cây đại thụ, là chỗ đứng vững chắc của dân làng Xô Viết trong thời kỳ chống Mỹ, đặt niềm tin và sự kỳ vọng vào Tnú, người con của dân làng Soman, của dân tộc Sác. dit nhau – cô bé là hiện thân của sự tiếp nối ngày mai, một thế hệ trẻ Tây Nguyên lớn lên nhanh nhẹn, dũng cảm, dũng cảm, là người lãnh đạo chủ chốt. giống như mọi người, dit cũng dành tình cảm và sự ngưỡng mộ.

Việc tái hiện khu rừng xà nu ở cuối truyện có dụng ý nghệ thuật rõ ràng. hình ảnh rắn rừng lúc bấy giờ vẫn là hiện thân của sự sinh sôi nảy nở nhanh chóng và dường như luôn thách thức, bất chấp vũ khí của kẻ thù. Dù “đại bác đêm qua đã đánh sập bốn năm cây thông lớn”, “muôn vàn cây non mọc lên”, vẫn có những cây mới nhú lên như chồi sống từ đất, sắc như lưỡi lê giơ lên, mũi hếch lên căm thù. hình ảnh so sánh: “Cây mới đâm chồi từ đất, sắc như lê” cũng đầy ẩn ý. Tuổi trẻ Tây Nguyên lúc bấy giờ ý thức được rằng phải dùng vũ khí để đánh bại bạo lực phản cách mạng chứ không phải đánh giặc tay không. người đọc tiếp tục nghe thấy một âm thanh xa và vô tận. “Rừng xà nu” khép lại bằng những cụm từ đặc sắc gợi nhớ về cuộc sống đau thương nhưng gian khổ, bất khuất, sức sống mãnh liệt của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên và dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến. hình ảnh “rừng xà nu chạy tới chân trời” gợi lại sự tái sinh của cả một dân tộc máu lửa, “rũ bùn mà dậy sáng”!

hai đoạn văn nằm ở hai vị trí, tạo thành cấu trúc đầu cuối tương ứng với tác phẩm. cả hai đoạn văn đã khái quát cụ thể vẻ đẹp của hình tượng cây xà nu và nhân vật tnú, đồng thời tạo nên sự gắn bó giữa tnú với rừng xà nu, giữa con người với núi đồi bát ngát. người đọc nhận ra một rừng rắn đau thương nhưng bất diệt, vươn lên và mạnh lên trước sự bắn phá của kẻ thù. Hình tượng tnu hiện lên với tất cả những phẩm chất đáng quý: gan dạ, dũng cảm, cuộc đời bi tráng và ý chí quyết chiến, tiêu biểu cho con đường đi lên cách mạng của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. với kết cấu này, ta thấy được sự liên kết chặt chẽ, không rời rạc giữa phần đầu và phần cuối của tác phẩm. sự tàn phá của xà lim và sự tái hiện vô tận của nó là chi tiết được lặp đi lặp lại trong hai đoạn văn này, nhấn mạnh sức sống kiên cường của người dân Tây Nguyên, tạo nên vẻ đẹp thiên nhiên, đồng thời làm nổi bật chủ đề chốn riêng tư. công việc: để giữ gìn sự sống của đất nước và nhân dân, không có con đường nào khác hơn là phải vùng lên, cầm vũ khí chống lại những thế lực xấu xa. Nguyễn vận dụng trung thành biện pháp nhân hoá, ẩn dụ để miêu tả cây sa nhân gợi lại cuộc sống và con người Tây Nguyên. văn bản giàu hình ảnh. hình ảnh thiên nhiên đã mang đến màu sắc sử thi và chất riêng vùng cao cho câu chuyện cổ tích.

Rừng sa nu vươn cành lá che chở, bảo vệ cho dân bản. Tnú đã cùng cộng đồng dân tộc Sác-lô ra đi chiến đấu để giữ vững màu xanh bất tận. mối quan hệ có đi có lại, có trước có sau, nhân hậu, nghĩa tình được thể hiện đậm nét trong hai đoạn văn. “Rừng snapa” tái hiện một thời kỳ đen tối mà cách mạng miền Nam bị khủng bố khốc liệt, đồng thời vực dậy sức người. Thật vậy, cần phải vùng lên chiến đấu để dẹp tan các thế lực tàn bạo, giữ vững sự sống của đất nước và nhân dân mãi mãi…

10. cảm nhận về hình ảnh của những quán bar

Trung Nguyên là một nhà văn có sở trường viết về Tây Nguyên, mảnh đất rất quen thuộc với ông từ những ngày ông viết đất nước vùng lên chống Pháp. Giờ đây, trở lại mảnh đất ấy để viết về người dân Tây Nguyên chống Mỹ, tác giả đã bắt gặp màu xanh ngút ngàn của những cánh rừng thảo nguyên trải dài đến tận chân trời. Tôi đã yêu say đắm xe ngựa kể từ ngày đó, anh ấy nói. vì vậy barnacle trở thành một ấn tượng và nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho anh ta; không chỉ vậy, ông còn miêu tả cốt truyện và thiết kế: “bắt đầu nhập bút, hầu như không cần suy nghĩ, đó là một rừng cây mâm xôi và cây cối”. (nguyên bản ngọc bích – kể về một câu chuyện – khu rừng rắn).

như vậy, từ một ấn tượng ban đầu mạnh mẽ, đầy cảm hứng, tên truyện Rừng xà nu mang một ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. “Đó là một loại cây uy nghiêm và cao quý, hoang dã và thuần khiết, từng cây cao, vạm vỡ, đầy nhựa sống, tán lá vừa thanh tao vừa sừng sững, như thể đã sống hàng nghìn năm vẫn còn sống. nhiều thế hệ, mỗi cây, hàng vạn, hàng triệu cây không có hồi kết ”. Mỹ trong truyện Rừng Xà Nu (1965).

Mở đầu câu chuyện là một đoạn văn được viết rất công phu, miêu tả khu rừng kiên cường đứng lên bất chấp bom đạn của kẻ thù: cả khu rừng đại ngàn, không một cây nào thoát khỏi bình yên vô sự. (…) nhựa cây chảy ra, trào ra, có mùi thơm ngào ngạt, lấp lánh dưới nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm tím, đen lại và đặc lại thành những cục máu lớn.

Trong rừng có ít cây cối sinh sôi nảy nở tốt như vậy. cạnh một mâm xôi đã rụng, bốn năm cây non đã đâm chồi, ngọn xanh tươi, hình mũi tên bắn lên trời. cũng có rất ít loài cây ưa nắng đến vậy. nó được bắn ra rất nhanh để đón ánh sáng mặt trời (…) đạn thần công không giết được chúng, vết thương của chúng lành nhanh như ở một cơ thể cường tráng. chúng đi qua rất nhanh, thay thế những cây đổ … như vậy, trong hai ba năm rừng đã vươn mình rộng lớn, che chở cho thị trấn …

ở phần cuối vở kịch, nhà văn đã lấy một câu gần như nguyên văn về rừng xà nu ở phần mở đầu: đứng trên ngọn đồi ấy, nhìn ra xa, phóng tầm mắt ra xa, chẳng thấy gì ngoài những ngọn đồi nối với nhau bằng những rặng xà nu. . đến chân trời. Đây là một cấu trúc hình tròn, dường như kết thúc một câu chuyện và mở ra một câu chuyện khác. Một mặt, nó khiến người đọc cảm nhận được rằng, kỳ tích anh hùng của Tnú và dân làng mà tác giả vừa kể chỉ là sự tiếp nối câu chuyện cổ về các thủ lĩnh nổi tiếng và câu chuyện sẽ được các thế hệ mới tiếp nối trong dân tộc Soman. . mặt khác, dường như câu chuyện không chỉ giới hạn trong không gian làng quê Xô Viết mà mở rộng ra mọi miền đất nước, tiếp nối đến tận chân trời.

Ngoài phần mở đầu và phần cuối, trong câu chuyện về cuộc đời của tnú, cuộc khởi nghĩa của những người lập nghiệp, thanh bần luôn được nhắc đến với một dụng ý nghệ thuật rõ ràng. Trước hết, cây duối gắn bó với đời sống sinh hoạt của người dân làng Soman, từ trẻ đến già, có thể nói nó đã sống ở đời với mọi người. đúng vậy, từ bao đời nay, ngọn lửa bún rắn vẫn cháy dữ dội trong căn bếp của mọi nhà. Những đứa trẻ làng Soman mặt mũi lấm lem khói bụi nên dùng ván tre hun khói để học chữ. dưới ánh lửa, anh đọc bức thư của họa sĩ gửi cho dân làng. khi trở về đơn vị chiến đấu, được các cô chú đưa vào cửa rừng kho thóc gần con nước lớn …

Không chỉ vậy, xà tích còn gắn liền với các sự kiện quan trọng của dân làng Tây Nguyên. đó là lúc những người theo ông vào rừng lấy vũ khí, họ đi theo ánh sáng phát ra từ ngọn đuốc. đó là lần địch dùng giẻ tẩm xà phòng đốt tay. và chính hành động man rợ này đã khiến dân làng vùng dậy đấu tranh; kết quả là ngọn lửa lớn giữa nhà vẫn đỏ rực. xác của mười tên địch nằm ngổn ngang xung quanh ngọn lửa đỏ rực.

Quán bar gắn liền với sinh hoạt hàng ngày và những sự kiện quan trọng của dân làng Xô Viết đến mức nó thấm sâu vào suy nghĩ và tình cảm của họ. sau ba năm “đi lính”, anh về làng gặp lại bà già của mình, một bà già làng quê mình trần như nhộng, ngực căng ra như mâm xôi lớn. Trong câu chuyện trải lòng với bạn, ông lão tự hào về rừng mâm xôi gần con nước lớn ở thị trấn của mình, ông thấy không có loài cây nào mạnh bằng đất ta. cây mẹ ngã, cây con mọc lên. ông già nói như thách thức kẻ thù: “để nó giết hết rừng rắn này!”.

Rõ ràng, nhà văn đã miêu tả rất nhiều, rất kỹ về cái cây và khu rừng. do đó, trước hết ông phác họa trước mắt người đọc một con người Soman cụ thể và chân thực, góp phần quan trọng tạo nên không khí núi rừng, chất núi đặc sắc cho tác phẩm. nhưng nếu chỉ dừng lại ở đây thì cây chỉ là một hình ảnh, mặc dù hình ảnh đó rất đậm nét. để nó trở thành một biểu tượng, nhà văn phải thể hiện nó một cách tượng trưng. trung thành nguyen đã làm một công việc xuất sắc với công việc khó khăn này.

Cây cũng được mô tả trong sự hòa nhập, tương ứng với những phẩm chất cao quý của dân làng Soman. ở đây, tác giả đã sử dụng rộng rãi biện pháp nhân cách hoá, tức là miêu tả cây sa nu với biểu hiện của con người, biến rừng xà nu, cây sa nu thành một hệ thống hình ảnh được miêu tả song song với hệ thống con người. tập hợp nhân vật, tính cách nhân vật. Có thể thấy điều này xuyên suốt toàn bộ tác phẩm và rõ hơn ở hai đoạn văn tập trung vào hình ảnh rừng cây ở đầu và cuối tác phẩm đã phân tích. Những người dân làng Soman yêu tự do không khác gì cây Savannah khao khát ánh sáng và không khí? dân làng soman đã phải chịu biết bao đau thương, mất mát, bao nhiêu người bị giặc bắn chết, bị xử tội, chẳng khác gì rừng xavan bị giặc tàn phá. những cây xà nu nối tiếp nhau vươn lên hiên ngang, bất khuất, bất chấp bom đạn của kẻ thù, cũng như bao thế hệ dân làng Xô Viết, một người ngã xuống, một người khác vùng lên chiến đấu đến cùng vì độc lập, tự do. Rõ ràng, cây nêu là biểu tượng của dân làng Soman, của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, nói chung là dân tộc Việt Nam anh hùng.

Sử dụng một đối tượng để làm biểu tượng nghệ thuật không phải là mới. Trong văn học, chúng ta đã bắt gặp rất nhiều biểu tượng này. cây trúc tượng trưng cho con người Việt Nam cần cù, chính trực (cây trúc Việt Nam – nguyễn duy), cây trúc tượng trưng cho tình yêu chung thủy, son sắt (bóng cây trúc – dịch là ngọc anh) … Ý nói rằng người trung thành của họ Nguyễn đã xây dựng hoàn hảo hình tượng cây nêu, không chỉ tạo nên không khí hùng vĩ, hoang sơ của vùng đất Tây Nguyên mà còn truyền tải những suy nghĩ sâu sắc và niềm tin mãnh liệt vào sức sống bất diệt của cây, của người và của mảnh đất này.

Tóm lại, có thể nói không có loài cây nào tượng trưng cho vẻ đẹp và vóc dáng, sức mạnh và phẩm chất của người dân Tây Nguyên nhiều như cây xà cừ, cũng như không một biểu tượng nào phản ánh một cách hùng hồn và làm sinh động phong trào chống Mỹ của nó với hình ảnh những cây sa nu và những cánh rừng sa nu chạy dài bất tận. Rừng Xà Nu đã trở thành biểu tượng cao đẹp, tượng trưng cho khát vọng tự do, khát vọng giải phóng, phẩm chất anh hùng và sức sống mãnh liệt của dân làng Soman và đồng bào Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. vì vậy, hình tượng rừng xà nu vừa có ý nghĩa khái quát cao, vừa giàu chất lãng mạn: nên thơ hùng vĩ của núi rừng Tây Nguyên, trở thành một sáng tạo nghệ thuật của nhà văn và hấp dẫn người đọc. .

Xem các thông tin hữu ích khác trong phần tài liệu của hoatieu.vn.

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Hình tượng cây xà nu trong tác phẩm rừng xà nu. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *