Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
454 lượt xem

Một Số Tác Phẩm Văn Học Chữ Nôm

Bạn đang quan tâm đến Một Số Tác Phẩm Văn Học Chữ Nôm phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Một Số Tác Phẩm Văn Học Chữ Nôm

– Văn học thời kỳ này là văn học trung đại bao gồm hai thành phần chính: văn học chữ Hán và văn học du mục.

bạn đang xem:

– Trong giai đoạn cuối, văn học chữ quốc ngữ đã xuất hiện, nhưng không có thành tựu gì đáng kể.

1. văn học chữ Hán.

– Các yếu tố của văn học chữ Hán xuất hiện sớm, tồn tại trong suốt quá trình hình thành và phát triển của văn học trung đại, bao gồm cả thơ và văn xuôi.

– thể loại phong phú gồm chiếu, biểu, hic, cáo, truyền thuyết, biên niên, tiểu thuyết, chương, phú, thơ cổ, thơ tang lu …

– dưới bất kỳ hình thức nào, văn học chữ Hán cũng có những thành tựu nghệ thuật tuyệt vời.

2. văn học du mục.

– Văn học du mục bao gồm các sáng tác bằng tiếng du mục, ra đời muộn hơn văn học chữ Hán (khoảng cuối thế kỷ 13), tồn tại và phát triển cho đến hết thời kỳ văn học trung đại.

– Văn học du mục chủ yếu là thơ, rất ít văn xuôi. trong văn học du mục, chỉ có một số thể loại được tiếp thu từ Trung Quốc như thơ phú, văn tế, tang lu, còn phần lớn là các thể loại văn học dân tộc như ngâm thơ (viết theo thể song thất lục bát). , truyện, thơ lục bát, hát nói (viết theo thể thơ tự do kết hợp với âm nhạc), hoặc các thể loại văn học chữ Hán đã được Việt hóa, như thơ lục bát xen kẽ lục ngôn.

– văn học du mục đã có những bước tiến dài trong tất cả các thể loại trên.

– Trong văn học trung đại, hai thành phần văn học chữ Hán và chữ Nôm cùng phát triển và bổ sung cho nhau trong sự phát triển của văn học dân tộc.

ii. các giai đoạn phát triển của văn học từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ X

1. khoảng thời gian giữa thế kỷ thứ mười và cuối thế kỷ thứ mười hai.

– Văn học thời kỳ này phát triển trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt: dân tộc ta giành được độc lập tự chủ vào cuối thế kỷ X.

– văn học thời kỳ này do những bước ngoặt lớn. Thứ nhất, sự ra đời của văn học viết (thế kỷ X) và sự trỗi dậy của văn học du mục (cuối thế kỷ XIII). nội dung của văn học thế kỷ 10 – 14 là chủ nghĩa yêu nước mang âm hưởng hào hùng.

– Các tác phẩm như Chiếu dời đô, Chiếu dời đô (Thiên đô), bài thơ “Nam quốc sơn hà” (Nam quốc sơn hà) đã mở đầu cho dòng văn học yêu nước . các tác phẩm như Hịch tướng sĩ của Trần quốc tuấn (tức là hịch tiền phong), Trần quang khai kinh, xưng tụng của ngũ hào, Trục hán siêu phú sông bạc đăng (bach đăng giang phú) … thể hiện nội dung yêu nước.

– Văn học Trung Quốc với các thể loại tiếp thu từ Trung Quốc đã đạt được những thành tựu to lớn, như chính luận (cung đình, hịch tướng sĩ), văn xuôi về lịch sử và văn hóa (Đại Việt sử ký toàn thư). do le van huu, viet dien u linh tap de ly te xuyen …), thơ (do phap thuan, tran quang khai, pham ngu lao, truong han sieu, nguyen trung ngan …). văn học du mục đã đặt nền móng cho sự phát triển của văn học viết bằng chữ quốc ngữ với hàng loạt bài thơ và bài thơ.

2. giai đoạn giữa thế kỷ mười lăm và cuối thế kỷ mười sáu.

– văn học thời kỳ này có bước phát triển mới, cụ thể là những thành tựu nghệ thuật của văn học du mục. văn học viết chính thức xuất hiện với hai thành phần: văn học chữ Hán và văn học du mục.

– Văn học thế kỉ XV – XVII chuyển từ nội dung yêu nước mang âm hưởng ngợi ca sang nội dung phản ánh, phê phán hiện thực xã hội phong kiến.

+ Văn học khởi nghĩa lam với những tác phẩm của Nguyễn Trãi như quan trung tạp lục, đại cáo bình dị … nó là sự kết tinh của những thành tựu văn học yêu nước của 5 thế kỷ trước. Thien nam luc luc (thế kỷ 17) là một vở opera lịch sử được viết bằng kịch bản du mục, lấy cảm hứng từ chủ nghĩa anh hùng và tràn đầy niềm tự hào dân tộc.

+ Các sáng tác của Nguyễn minh khiêm và truyền thuyết Nguyễn Dụ ký đánh dấu sự chuyển hướng từ cảm hứng ca ngợi đất nước và các triều đại phong kiến ​​sang cảm hứng phê phán tệ nạn xã hội và suy đồi đạo đức.

– Văn học chữ Hán phát triển với nhiều thể loại, đặc biệt là thành tựu của tiểu luận chính luận (đại cáo bình thường, văn chương trung liệt truyện) và sự phát triển vượt bậc của văn xuôi tự sự (thánh tông di thảo truyền thuyết của Lê Thanh tong, truyen ky man luc de nguyen du).

– văn học văn học dựa trên việc Việt hóa các thể loại có được từ Trung Quốc và đồng thời dựa trên sự sáng tạo của các thể loại văn học dân tộc.

XEM THÊM:  TRUYỆN KIỀU KỂ LẠI | Nguyễn Du

.

+ trường ca, vịnh được viết theo thể lục bát (tứ thời vịnh khai hoàng).

+ các vở diễn lịch sử được viết theo thể lục bát (thien nam minh cam – khuyết danh) và song thất lục bát (thien nam minh giam – khuyết danh).

3. giai đoạn giữa thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX.

– Văn học phát triển trong bối cảnh đất nước đang bị biến động vì nội chiến và cuộc nổi dậy của nông dân. chế độ phong kiến ​​đi từ khủng hoảng đến suy thoái.

– Văn học phát triển vượt bậc, đây là thời kỳ rực rỡ nhất của văn học trung đại Việt Nam, được gọi là thời kỳ văn học cổ điển.

– Văn học thế kỷ 16 – nửa đầu thế kỷ 20 chứng kiến ​​sự trỗi dậy của phong trào nhân đạo.

+ nổi bật lên là tiếng nói đòi quyền sống, quyền hạnh phúc và đấu tranh giải phóng con người, đặc biệt là phụ nữ.

+ các tác phẩm tiêu biểu là chinh phu ngâm (nguyên văn chữ Hán do Đặng trần con viết), nguyễn giang hồ khúc lĩnh oán, xuân hương hồ điệp, thanh quan huyện thơ, hoàng lê nhất thống chí. ngo gia van phái…

+ Nguyễn Du với những tập thơ chữ Hán và đặc biệt là kiệt tác truyện kí là đỉnh cao của văn học trung đại Việt Nam.

<3

– văn học phát triển mạnh trên cả văn xuôi và văn vần, cả chữ Hán và chữ Nôm. Vị thế của văn học du mục và các thể loại văn học dân tộc khác đã được khẳng định, như thơ lục bát, ngâm thơ ở thể song thất lục bát, thơ lục bát, v.v. cao trào.

– văn xuôi tự sự bằng chữ Hán cũng đạt được những thành tựu nghệ thuật lớn, tiểu thuyết chương hồi với hoàng lê nhất thống chí (trường phái ngo gia văn); bạn có thể ký với thương kinh kỳ ký (le huu trac), vu trung luận (pham dinh hổ)…

4. nửa sau của thế kỷ 20.

– Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, xã hội Việt Nam chuyển từ xã hội phong kiến ​​sang thực dân nửa phong kiến. Văn hóa phương Tây bắt đầu ảnh hưởng đến đời sống xã hội Việt Nam.

– Văn học yêu nước nửa sau thế kỷ 20 phát triển rất phong phú và mang âm hưởng bi tráng.

+ nguyễn đình chiểu với văn tế phú can, ngư ông câu đối… ông được coi là tác gia văn học yêu nước lớn nhất thời kỳ này.

+ thêm vào đó là thơ văn yêu nước của phan văn tri, nguyễn thông, nguyễn quang bạch, nguyễn xuân trên…

+ tư tưởng canh tân đất nước được thể hiện qua lời khai của Nguyễn tộc sang. thơ trữ tình – trào phúng đạt thành tựu xuất sắc với các sáng tác của nguyên khuyển, tuế nguyệt.

– Những bài thơ của Nguyễn Khuyến, tự tứ là thành tựu nghệ thuật đặc sắc của thời kỳ này. các sáng tác văn học vẫn chủ yếu theo thể loại và thi pháp truyền thống. tuy nhiên, sự xuất hiện của một số tác phẩm văn xuôi viết bằng chữ quốc ngữ đã bước đầu khơi gợi những đổi mới theo hướng hiện đại hóa văn học.

iii. những đặc điểm chính về nội dung của văn học thế kỉ X đến hết thế kỉ X

Văn học trung đại Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của truyền thống dân tộc, tư tưởng chủ nghĩa và ảnh hưởng từ nước ngoài, chủ yếu là từ Trung Quốc.

1. lòng yêu nước.

xem thêm:

– chủ nghĩa yêu nước là một nội dung lớn xuyên suốt quá trình tồn tại và phát triển của văn học trung đại Việt Nam.

– Lòng yêu nước trong văn học trung đại gắn liền với tư tưởng “trung quân tử nghĩa” (trung với vua là yêu nước, yêu nước là trung với vua).

– Chủ nghĩa yêu nước rất phong phú và đa dạng, đó là giọng điệu hào hùng khi đất nước chống giặc ngoại xâm, giọng điệu bi tráng khi nước mất nhà tan, là giọng điệu trầm trọng khi đất nước lâm vào cảnh khủng hoảng. hòa bình.

– lòng yêu nước được thể hiện theo nhiều cách khác nhau, chẳng hạn như:

+ ý thức độc lập tự chủ, tự cường, lòng tự hào dân tộc (núi sông nước Nam, đại cao bình dị).

+ lòng căm thù giặc, tinh thần quyết thắng kẻ thù (tướng giặc).

+ Tự hào về chiến tích đương thời (hào môn), tự hào về truyền thống lịch sử (non sông gấm vóc giàu đẹp, sơn hào hải vị).

<3<3

2. chủ nghĩa nhân văn.

– Chủ nghĩa nhân đạo cũng là một nội dung lớn trong văn học trung đại Việt Nam.

– Chủ nghĩa nhân văn trong văn học trung đại có nguồn gốc từ truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam, từ cội nguồn văn học dân gian, chịu ảnh hưởng của tư tưởng nhân văn tích cực của Phật giáo và Nho giáo. , học thuyết.

– Truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam được thể hiện qua các nguyên tắc đạo đức, cách cư xử tốt đẹp giữa người với người … tư tưởng nhân văn của đạo Phật là nhân ái, bác ái; của Nho giáo là học thuyết về nhân nghĩa, là tư tưởng của nhân dân; của Đạo giáo là sống thuận theo tự nhiên, hòa hợp với thiên nhiên.

XEM THÊM:  Soạn Bài Truyện Kiều Lớp 10 Phần 3

– Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại rất phong phú, đa dạng, thể hiện ở lòng thương người; lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo chà đạp con người dưới quyền; khẳng định và phát huy phẩm chất, tài năng của con người; những khát vọng chân chính như khát vọng quyền sống, quyền hạnh phúc, quyền tự do, khát vọng về lẽ phải và lẽ phải; thúc đẩy các mối quan hệ đạo đức và đạo đức tốt đẹp giữa con người với nhau.

– Sự thể hiện của chủ nghĩa nhân đạo qua các tác phẩm văn học của nguyễn trai (đại cáo bình dị, khúc quanh, cảnh một ngày hè …), nguyễn khiêm (ông ghét chuột, cây nhạn …), nguyễn ngữ (truyện về nhân dân) con gái xương nam, vấn án, miếu mạo, tán…).

– Cảm hứng nhân đạo đặc biệt nổi bật trong các tác phẩm thuộc giai đoạn văn học thế kỉ 18, giữa thế kỉ 20 như: Tiễn thiếp, cung oán ngâm khúc, thơ lục bát (bánh trôi nước, mời trầu). , nhiều bài thơ tự tình), truyện kiều của nguyen du, luc van tien của nguyen dinh chieu…

3. nguồn cảm hứng thế giới.

– biểu hiện rõ ràng của văn học cuối thế giới (thế kỷ 16). khi triều đại suy tàn, văn học tìm cách phản ánh hiện thực xã hội và cuộc sống đau khổ của người dân.

– Cảm hứng thế sự đã trở thành nội dung chính trong sáng tác của Nguyễn binh minh qua những bài thơ viết về nhân gian.

– văn học viết về sự phát triển của hai thế kỷ mười tám và mười chín; nhiều tác giả nhìn vào hiện thực cuộc sống, vào hiện thực xã hội đương thời để ghi lại “những gì họ nhìn thấy”. le huu trac viết thương kinh ký, pham dinh hổ viết vu trung.

– hình ảnh cuộc sống nông thôn trong thơ Nguyễn Khuyến, một xã hội thành thị trong thơ xương. cảm hứng trần thế trong văn học trung đại đã góp phần tạo tiền đề cho sự ra đời của văn học hiện thực sau này.

iv. những nét nghệ thuật chính của văn học thế kỉ X đến cuối thế kỉ X

1. các quy định và sự phá vỡ quy phạm.

– Tính quy phạm, một đặc điểm nổi bật của văn học trung đại, là sự quy định chặt chẽ những khuôn mẫu.

– từ quan điểm văn học: coi trọng mục đích giáo huấn, văn học mang tôn giáo; trong tư tưởng nghệ thuật, tư duy theo khuôn mẫu có sẵn của nghệ thuật đã trở thành công thức; trong thể loại văn học có cấu trúc quy luật chặt chẽ; trong cách sử dụng chất liệu thơ, trích dẫn nhiều tác phẩm kinh điển, sử dụng nhiều văn bản quen thuộc. Do tính chất quy phạm của nó, văn học trung đại mang tính ước lệ và tượng trưng nhiều hơn.

– tuy nhiên, các tác giả văn học trung đại cũng phá vỡ chuẩn mực, đề cao cá tính sáng tạo cả về nội dung và hình thức thể hiện.

2. xu hướng thanh lịch và xu hướng giản dị.

– thanh lịch cũng là một đặc trưng của văn học trung đại, thể hiện ở chủ đề, chủ đề hướng tới cuộc sống cao quý, trang trọng thay vì cuộc sống đời thường, giản dị; trong hình tượng nghệ thuật hướng đến vẻ đẹp sang trọng, mỹ miều thay vì vẻ đẹp giản dị, mộc mạc; trong ngôn ngữ nghệ thuật, đó là ngôn ngữ chất liệu cao quý, cách diễn đạt trau chuốt và đẹp mắt hơn so với ngôn ngữ thông tục, tự nhiên, gần gũi với cuộc sống.

– Trong quá trình phát triển của văn học trung đại, khuynh hướng bám sát hiện thực đã đưa văn học từ một phong cách trang trọng, tao nhã đến một cuộc sống gần với hiện thực, tự nhiên và bình dị.

p>

3. tiếp thu và tiếp thu những tinh hoa văn học nước ngoài

– Văn học trung đại Việt Nam phát triển theo quy luật tiếp thu và tiếp thu tinh hoa dân tộc của văn học nước ngoài, chủ yếu là văn học Trung Quốc.

– Sử dụng chữ Hán để sáng tác, hấp thụ cổ văn, văn xuôi theo thể thức, hịch, cáo, chiếu, biểu, truyện, tiểu thuyết, văn xuôi chương hồi … sử sách kinh điển, thi văn Trung Quốc.

– Quá trình dân tộc hóa đã tạo ra chữ viết trên cơ sở các yếu tố chữ Hán để ghi lại và biểu đạt ý nghĩa tiếng Việt và sử dụng chữ Nôm trong sáng tác; Tiếng Việt chuyển thể thơ lục bát thành thơ lục bát, bảy thứ tiếng xen kẽ với tiếng lục bát, tạo nên những thể thơ như lục bát, song thất lục bát, ngâm thơ, truyện thơ, hát nói; họ sử dụng từ ngữ và cách diễn đạt của mọi người trong các sáng tác của họ.

xem thêm:

– Văn học trung đại Việt Nam phát triển gắn liền với vận mệnh đất nước và con người. Cùng với văn học dân gian, văn học trung đại đã góp phần tạo nên sự xuất hiện đầy đủ và đa dạng của văn học dân tộc.

danh mục:

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Một Số Tác Phẩm Văn Học Chữ Nôm. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *