Mấy lời về thể lệ sách toàn Việt thi lục


Lê Quý Đôn

Việc học của bậc đế vương là nhằm làm sáng tỏ đạo lý và dựng nền trị bình, còn văn chương thì chẳng phải là việc đáng để tâm theo đuổi. Song những lúc muôn việc tạm rỗi, thư thái ngâm vịnh, biểu lộ tình cảm hài hòa, thì sự tiêu khiển đó cũng hay hơn những thú vui khác. Vua Thuấn có bài ca Khánh vận, vua Vũ có bài từ Ngọc điệp, trong đó vẻ anh hoa đều lộ rõ, mở đầu cho việc giáo dục bằng thơ. Tiếp theo, Đại phong ca của Hán Cao Tổ, Thu phong từ của Hán Vũ Đế, thiên Đế kinh của Đường Thái Tông, thơ Tân nguyệt của Tống Thái Tổ đều tỏ rõ tài năng lớn lao, tứ thơ kiệt xuất, từng vang dội xưa nay.

Nước ta từ khi gây dựng, văn minh không kém gì Trung Quốc. Bài từ vua Tiền Lê tiễn sứ Lý Giác nhà Tống, lời lẽ nõn nà, có thể vốc được. Hai vua Thánh Tông, Nhân Tông nhà Lý đều giỏi sách hay thơ, nhưng nay không tra tìm vào đâu, chỉ thấy sách Thiền uyển tập anh còn chép được của Thái Tông hai bài, của Nhân Tông hai bài. Các vua đời Trần cũng rất thích đề thơ, mỗi người đều có tập thơ riêng nhưng rơi rụng mất mát nhiều, trong Việt âm chỉ còn mấy chục bài, nói chung hứng thơ bằng phẳng mà khoáng đạt, tình cảm cao siêu mà thanh nhã, phong vị lai láng còn nguyên. Tuy nhiều lời lẽ nhà chùa nhưng cũng đủ để thấy được những nét lớn về chính sự và giáo hóa đương thời.

Bản triều ta mở mang thêm bờ cõi, đức Cao hoàng trong lúc vội vàng trên yên ngựa mà sáng tác ba bài thơ có khí phách bao trùm một đời, thật sánh ngang với Hán Cao Tổ khi phất cờ gióng trống ở đất Bái Trung.

Đức Thuần hoàng gìn giữ cơ nghiệp đã thành, cũng thích làm thơ, có đến hơn nghìn bài, thường bảo các nho thần bình phẩm. Nay còn thấy trong tập thơ [của người] vẻ hào hùng cao xa, rõ ràng khí tượng một bậc đế vương, không kém gì phong cách tốt đẹp của thơ Phần thủy [tên một con sông ở Trung Quốc, phát nguyên từ tỉnh sơn Tây]. Kinh Thi bài Phần lư như, Ngụy phong, có nhắc tới con sông này. Có thuyết nói Phần thủy là một bài ca hay có tiếng của Hán Vũ Đế, song không thấy ghi trong Toàn Hán thi.

Từ đời Trung hưng đến nay, các bậc thánh vương đã tạ thế cũng như hoàng thượng đương kim đều [dốc lòng] vun đắp văn đức cho tốt tươi, sáng tỏ để tô điểm cho nền trị bình. Âm thanh hùng hồn tráng kiệt, vần điệu thanh nhã ôn hòa khi đề vịnh cảnh vật hoặc yến ẩm cùng bề tôi thì những bài Thưởng hoa của họ Tống, Hạch trạch của vua Đường cũng còn thua kém một bậc.

Thơ ca là việc làm khi nhàn rỗi của thánh nhân, thần không dám rườm lời ngợi khen. Nay vâng mệnh biên tập, xin kính theo thứ tự các đời mà phân chia thành quyển. Trước hết chép thơ của vua tôi hai triều Lý, Trần; quyển năm, quyển sáu kính chép thơ của các vua bản triều, còn thi từ của công khanh đại phu thì phụ chép từ quyển bảy trở xuống.

Thơ tứ ngôn, ngũ ngôn, lục ngôn, thất ngôn, ca, hành, nhạc phổ của các đời Hán, Ngụy, Tề, Lương gọi là cổ thể. Thơ  ngũ ngôn, thất ngôn luật, thất ngôn tuyệt từ đời Đường đến nay gọi là cận thể. Cổ chú trọng trôi chảy, sinh động, luật chú trọng đối ngẫu; cổ quí cao siêu, khoáng đạt, cận quí thanh nhã, diễm lệ; kết cấu và phong cách [của hai loại đó] khác hẳn nhau. Người xưa nói: luật có thể xen cổ chứ cổ thì không thể xen luật được. Nay dựa theo Toàn Đường thi chia thành hai loại cổ thể và cận thể để tiện khi xem. Cận thể trước hết chép thất ngôn bài luật, ngũ ngôn bài luật, sau đến lục ngôn luật Chỗ này trong nguyên văn có mâu thuẫn, vì các thể bài luật và lục ngôn là thuộc cổ thể mà đây lại xếp vào cận thể. Chúng tôi tạm để nguyên].

Thi tuyển bắt đầu có từ đời Lương, nhưng mới chỉ ghi tên tác giả, còn chức tước, quê quán thì không kê cứu. Gần đây, Toàn Đường thi lục và Tống Nguyên thi hội đều chép đủ các việc đã trải qua trong đời [của tác giả] như một tiểu truyện, mở rộng tầm hiểu biết cho người đọc, vậy xin theo lệ ấy. Trước phần thơ của các bậc đế vương, kính ghi sơ lược thánh đức; về các quan và nho sĩ thì lược thuật họ tên, quê quán, gia thế, công trạng, trước tác và thi tập ở trước phần thơ; những người nào không thể tra cứu được thì để trống. Thơ đời Trần cũng vậy.

Lã Đông Lai biên tập cuốn Tống văn giám theo năm tiêu chuẩn: văn và ý đều hay; chỉ riêng văn hay; văn trung bình nhưng nhiều người cho là hay; văn tuy không hay nhưng tác giả là người hiền mà chưa có tên tuổi, e sau này mai một nên cũng chép một bài; văn không hay lắm nhưng ý có chỗ khả thủ (2). Nay vâng mệnh biên tập thi lục, thần trộm phép phỏng theo lệ ấy.

Văn chương của mỗi nhà đều có thể cách riêng. Nói về việc theo hầu nơi đài các thì ôn hòa, nhuần nhị và phong phú; nói về việc đóng quân, đồn thú thì lạnh lùng hùng tráng. Miêu tả thời thiết, cảnh vật quí ở chỗ thanh tao, đẹp đẽ; miêu tả rừng núi, ẩn dật quí ở chỗ nhàn nhã, phóng khoáng. Tỏ bày ý chí cần phải trang trọng; viếng cổ cần phải cảm khái; tặng nhau nên mềm mỏng, lưu luyến. Ý tứ lập trước, từ điệu theo sau, đem loại thơ này dùng cho loại thơ khác mà không được, thế mới là tinh xảo, sít sao. Thơ của các bậc tiền bối có danh tiếng đều đạt đến tột đỉnh của tiêu chuẩn này, cứ tìm trong tác phẩm của họ ắt sẽ thấy. Nếu quá ưa trau chuốt, thích dùng chữ lạ và gieo vần hiểm hóc, nhấm nháp từng chữ, từng câu thì đó là loại thơ tồi.

Đời Hồng Đức, Hoàng Đức Lương soạn Trích diễm thi tập gồm 15 quyển, lời tựa có nói: “Thơ không lưu truyền ở đời hết được là có lý do. Gỏi với chả là vị tuyệt ngon trong thiên hạ, gấm với vóc là sắc tuyệt đẹp trong thiên hạ, phàm người nào có mắt, có miệng, đều biết quí trọng. Còn như thơ là sắc đẹp ở ngoài các màu sắc, vị ngon ở ngoài các mùi vị, không thể lấy mắt thường mà xem, miệng thường mà nếm, chỉ có thi nhân trông mới thấy đẹp, nếm mới thấy ngon mà thôi. Đó là lý do thứ nhất. Từ Lý, Trần dựng nước đến nay, há lại chẳng có những bậc tài hoa nổi tiếng với đời hay sao ? Song những vị quan to nơi quán các thì vì công việc bề bộn, không lúc nào thong thả mà biên tập; những người quan nhỏ chức thấp và những kẻ khốn đốn nơi trường ốc thì đều không để tâm đến việc ấy. Đó là lý do thứ hai. Thảng hoặc có người thích chọn lọc ghi chép, nhưng việc nặng, sức đuối, nói chung đều bỏ dở giữa đường. Đó là lý do thứ ba. Thơ văn đời Trần, nếu chưa được phép vua thì không dám đem in thành sách để lưu hành. Đó là lý do thứ tư. Có bốn lý do đó trói buộc, lại trải qua thời gian dài đến ba triều đại, dẫu có là đồ vàng đá được thần coi, quỉ giữ cũng còn tán lạc mất mát hết, nữa là bản thảo còn sót, xấp giấy mỏng manh ở đáy rương hòm, sau cơn binh lửa mà còn giữ được không mai một sao?”.

Dương Đức Nhan biên soạn 15 quyển Tinh tuyển thi tập trong lời tựa cũng nói: “Chỗ thiếu sót là chưa sưu tầm được rộng rãi, [cho nên] đối với các vị có tên tuổi ở đời Trần, không còn dựa được vào lời thơ để hiểu tâm sự của họ. Mong các bậc quân tử đời sau thu nhặt ghi chép thêm, ngõ hầu khỏi phải thở than là bỏ sót mất hạt ngọc”.

Thơ văn do hai ông góp nhặt mới được có thế mà nay phần còn lại không được đến một nửa, ngoài ra rơi rụng tan tác mất cả, đáng tiếc biết bao! Nay thần biên tập đành dựa vào những điều tai nghe mắt thấy mà sắp xếp thứ loại. Nếu có gặp đoạn thơ còn sót lại trong hòm nát hay tấm bia hoang trong động sâu thì cũng nhặt nhạnh sao chép mà đưa vào. Gạn lọc tinh hoa trong năm trăm năm, gom góp hương thơm của mấy chục nhà, dụng công gắng sức, tạm thành đầu mối. Thần không dám tự tin, xin chờ người sau hoặc có ai thu thập, bổ khuyết thêm cho.

Các nhà sư giỏi ngâm vịnh như Huệ Sùng, Dương Hưu, từ xưa vẫn cho là chuyện đẹp. Hai đời Lý, Trần rất chuộng đạo Phật, từng mở khoa thi riêng cho các sư, cho nên một thời có khá nhiều người giỏi thơ văn, trong đó Viên Chiếu, Khánh Hỷ đều là người văn hay, thơ đẹp; Pháp Loa, Huyền Quang cũng đều có thi tập. Đến bản triều, Thiền tông đã suy, nhưng sư Tùng Giản buổi đầu, sư Hương Hải thời Trung hưng, tuy chưa đạt đến yếu chỉ của tông phái Trúc lâm; song cũng khó có được những nhà sư như thế. Nay sưu tập một ít thơ của họ phụ vào cuối tập.

Phấn hương đề vịnh tuy không phải là việc thích hợp với giới phòng khuê, song trong ba trăm bài Kinh thi, cũng có nhiều bài của đàn bà con gái. Đời sau như Dị An, Hy Mạnh có những tập thơ hay, thu nhặt cũng chẳng hại gì. Nữ học sĩ Kim Hoa triều trước được chép trong truyện Truyền kỳ, thật là bậc tài hoa một thời, nhưng thơ của bà mất cả. Đời gần đây, một đôi người cũng biết làm thơ, có bài khá, tuyệt không còn hương vị phấn son. Nay phụ chép dăm ba bài.

Việc giao hảo giữa nước ta và phương Bắc thường dùng thơ, từ tặng đáp. Ở triều trước, sứ giả sang thường dâng thơ, vua ta cũng có thơ họa lại. Các sứ giả của bản triều khi qua cửa quan, trên đường vạn dặm, phần nhiều được sĩ đại phu bên Trung châu coi trọng, cùng ta xướng thù. Sứ Triều Tiên cũng tặng thơ bày tỏ cảm tình. Đó là những sự kiện tốt đẹp trong việc bang giao. Nay phụ chép thơ của người Trung Quốc và người nước khác vào cuối quyển.

                                                                                                                                BĂNG THANH – TÚ CHÂU dịch

    *

Dật sĩ Thuận Hóa Ngô Thế Lân tự là Hoàn Phác, khi nhỏ có chí thú, rộng học giỏi văn, ẩn ở xã Vu Lai huyện Quảng Điền tự đặt hiệu là Ái Trúc trai, năm nay chừng hơn 50 tuổi, ngụ ở phố Hà Thanh. Tôi sai người mời mà không đến, gửi thư cảm tạ, và nói lấy sự xu thời cầu cạnh làm hổ thẹn. Những bài đề vịnh gọi là Phong trúc tập, cũng nhã nhặn và có tình tứ. Bài đề từ rằng: “Gió là cái vật không có chất mà có hơi, trúc là cái vật có chất mà không có ruột, cho nên trúc nhờ gió mà có tiếng, gió nhờ trúc mà thành vết; cho nên gió đến thì trúc kêu, gió qua thì trúc lặng, gió to thì kêu to, gió nhỏ thì kêu nhỏ. Thế là kêu là tại gió, chứ không tại trúc. Trúc vốn là hư không vậy. Đến như tiếng cao như hạc rít, tiếng trong như rồng ngân, nhanh chóng như sóng dồn, thong thả như nước tượng. Đến như tính âm u có thể luyện được tục, tính thanh bạch có thể rửa được phiền, càng ra càng lạ, càng kêu mà càng chẳng hết, cũng là do chỗ vô tâm mà diệu ứng với gió vậy. Tuy thế, nhưng sở dĩ xướng phát thiên cơ, du dương chân vận, thì cũng là ở chỗ người nghe nhận lấy thôi, chứ nhã nhặn hay tục tằn, xấu xa hay lành tốt thì có dự gì đến trúc. Ôi! Trúc ơi! Trúc ơi! Ta có sở đắc ở trúc đấy”.

Có bạn người huyện Duy Xuyên, phủ Thăng Hoa, tên là Nguyễn Dưỡng Hạo làm bài tựa rằng: “Tiếng của muôn vật thì nhiều lắm, có loại thuộc về tiếng nguyên chất, có loại thuộc về tiếng rườm rà. Tiếng nguyên chất là tiếng của trời, tiếng rườm rà là tiếng của người, cho nên tiếng người thì phân biệt tà chính, mà tiếng trời thì không có chính tà. Phàm tiếng người mà cầu cho chính như tiếng trời thì phải là hấp thuần cảo dịch [Hấp: tấu nhạc, tiếng kim (chiêng) mở đầu rồi các loại âm khác hợp theo gọi là hấp; thuần: là không tạp; cảo: là trong sáng; dịch: là nối liền nhau mà không đứt đoạn].

Trần Thế Xương làm bài bạt rằng: “Tính ta rất yêu trúc, ở đâu cũng trồng ở trước cửa để ngắm nghía. Trúc mà đáng yêu là vì gióng thẳng mà đốt bền, cành thưa mà lá cứng, thăng thẳng, ong óng, có vẻ chọc trời. Có lúc khói tản trăng lên, mưa tạnh gió thổi, đủ rửa được áo bụi cho ta, khuây được lòng tục cho ta, thanh khoáng biết là nhường nào? Người xưa thường yêu trúc, không ngờ bạn ta là Hoàn Phác Ngô tiên sinh cũng rất yêu trúc, cùng với ta thực là đồng chí vậy. Hoàn Phác ôm đạo tự quí, không vì vật dụng mà đắm, bụng dạ thảnh thơi, mắt nhìn lòng rõ, cho nên trong khoảng trăng đêm hoa sáng, trong lúc mưa gió lạnh lùng, cảm vật mà phát ra, đụng vật mà nên thơ, thanh điệu thiên nhiên, đều được tính tình đúng đắn, cũng như trúc đối với gió vậy, tùy động tùy phát, âm vận không cùng, mà người không chán vì phiền vậy. Nhưng gió đụng vào vật thì tự  nhiên chợt đến muôn sáo đều kêu, mà sao lại lấy riêng cây trúc mà đặt tên? Là vì trúc là cái vật có vẻ giống như đức của người quân tử. Xem cái chí ở bên thi tập, thì đại khái có thể tưởng tượng biết được người, huống chi lại được đọc thơ nữa!”…

Rút từ Lê Quý Đôn – Toàn tập (Tập I)

 

Leave a Reply