Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các tác phẩm của Phebinhvanhoc.com.vn, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "phebinhvanhoc". (Ví dụ: tác phẩm chí phèo phebinhvanhoc). Tìm kiếm ngay
525 lượt xem

Chú Thích -Truyện Kiều – Culture-Văn Hóa – Nguyễn Văn Tiến

Bạn đang quan tâm đến Chú Thích -Truyện Kiều – Culture-Văn Hóa – Nguyễn Văn Tiến phải không? Nào hãy cùng PHE BINH VAN HOC theo dõi bài viết này ngay sau đây nhé!

Video đầy đủ Chú Thích -Truyện Kiều – Culture-Văn Hóa – Nguyễn Văn Tiến

TruyenKieu_1A

truyện kiều – nguyễn du (1766-1820) – truyện thơ lục bát, 3254 câu

title – lịch sử của kieu

2. người tài thường gặp bạc mệnh, dường như tài và mệnh ghét nhau, xung khắc nhau, nếu hơn người này thì phải hơn kém nhau.

3. Bãi dâu: Trong văn học xưa, chúng ta thường dùng thành ngữ “bãi dâu”, gọi tắt là “vũng dâu” để chỉ những thăng trầm của cuộc đời.

5. bọ cạp tu phong: nếu xấu thì tốt hơn, nghĩa là: nếu bạn trở nên tốt hơn thế này, thì bạn sẽ xấu hơn thế kia.

6. (thiên nhiên ghen tị với một người phụ nữ đẹp). nghĩa là: phụ nữ đẹp thường gặp phải những tình huống dở khóc dở cười.

7. thơm hoặc thơm: Theo từ phuong cao, có nghĩa là cuốn sách thơm và cuốn sách tốt.

8. phong cách tình yêu: chỉ những câu chuyện tình yêu giữa con trai và con gái.

truyện xanh: Ngày xưa, khi chưa có giấy, người ta chép truyện bằng cách khắc chữ lên những thanh tre, trúc xanh nên gọi là truyện thanh.

9. Gia-tinh: trị vì của vua Tông, triều đại Ming (1522-1566).

10. hai kinh tuyến: tức là Bắc Kinh và Nam Kinh (Trung Quốc).

11. quan ngoại: quan chức giữ sách trong các bộ, được tạo ra trong sáu triều đại. về sau, “viên ngoại” dần trở thành vật phù phiếm. từ “người ngoài cuộc” được sử dụng ở đây theo nghĩa này.

14. Nhân vật: Theo nghi thức cổ đại của Trung Quốc, mọi người đều có “tên” là tên chính, và “tôi” là tên của từ (“danh từ” được đặt ra khi mới sinh, và “mũ” không được đặt cho đến khi hai mươi tuổi). “danh từ” do anh ấy đặt ra).

15. nga tố: dùng để chỉ một cô gái xinh đẹp.

17. Thủy kiều và thủy văn mỗi người có một phong cách riêng, chẳng hạn như mai có “cốt” và tuyết có “linh” của nó.

20. hình mặt trăng: khuôn mặt đầy đặn, tròn trịa và xinh xắn như mặt trăng. đặc điểm của anh ấy: nét lông mày.

21. phát âm: ngôn ngữ cổ có nghĩa là nói.

hoa cười, ngọc: cười như hoa, nói đẹp như ngọc.

25. thu thủy: nước thu, xuân sơn: núi xuân. câu nói này so sánh đôi mắt của kiều như làn nước mùa thu, lông mày đẹp như núi mùa xuân.

27. Bài ca ngợi vẻ đẹp của mỹ nhân thời Hán vương có câu:

hay nhất cố gắng biến mọi người thành

tái sinh của quốc gia

có nghĩa là:

quay lại nhìn một lần và nghiêng người

quay lại nhìn khiến mọi người chú ý.

do đó, người đời sau thường dùng chữ in nghiêng (ca ngợi đất nước), chữ in nghiêng (ngưỡng mộ) để chỉ vẻ đẹp phi thường của người phụ nữ.

hai từ một hoặc hai trong câu này dịch các từ đầu tiên ở trên.

28. câu này có nghĩa là về “sắc” thì chỉ có kiều là nhất, về “tài” thì may ra cũng có người đứng thứ hai.

31. cung, thương: hai âm cao nhất trong ngũ âm của âm nhạc cổ điển Trung Quốc: cung, thường, truc, vu.

cầu thang: qua các bậc thang.

32. đàn hạc: một loại pixie.

a harp: đàn hạc.

34. bạc mệnh: tên bài hát dan do thuy kiều sáng tác. “bạc mệnh” có nghĩa là một số phận yếu ớt và mong manh.

suy nghĩ: khiến mọi người lắng nghe nhưng trái tim tan nát.

35. quần đỏ: mảnh hồng, hai từ này dùng để chỉ phụ nữ.

36. cặp kê: ở tuổi trâm (phay có nghĩa là trâm). Theo lễ giáo cổ Trung Hoa, con gái 15 tuổi đã hứa gả chồng nên bắt đầu tết tóc bằng trâm.

38. bức tường phía đông: bức tường ở phía đông. ngày xưa con gái thường ở nhà đông. đây là cách dùng từ “bức tường phía đông” để chỉ nơi có một cô gái xinh đẹp sinh sống.

39. én đưa con thoi: con én bay tới bay lui như con thoi.

40. thiều quang: ánh sáng đẹp đẽ, chỉ tiết trời mùa xuân. mùa xuân có 90 ngày (ba tháng), tức là hơn 60 ngày, có nghĩa là đã là tháng ba.

43. thanh minh: tiết đầu xuân vào đầu tháng 3.

44. tảo mộ: quét mộ. Theo phong tục xa xưa, con cháu đến viếng và sửa sang phần mộ của tổ tiên.

đạp thanh: đạp lên cỏ xanh, chỉ trai gái đi chơi xuân, đạp trên cỏ xanh ngoài đồng, nên gọi hội là thanh minh dap thanh.

45. yến: yến (yến), yến (đôi khi đọc là nổ), hai loài chim vào mùa xuân, thường hót thành đàn. điều này được so sánh với cảnh những nhóm người lớn đi chơi xuân.

48. ngựa di chuyển như nước: ngựa và xe chuyển động như nước chảy, từng lớp từng lớp.

quần áo như nêm: có nghĩa là đông đúc, chật chội.

49. những gò đất ngổn ngang đã dừng lại: những đoàn lữ hành ngổn ngang dừng lại ở những gò đất.

50. vàng – móng ngựa: một loại giấy vàng, được dùng để làm quà ma hoặc lễ hội.

53. xiao khe: phông chữ nhỏ.

62. ca sĩ: Tôi hát.

65. mặt hồng: má hồng, chỉ người đẹp.

66. cành trời: cành hoa thơm từ trời, so với người đẹp.

70. trâm cài bình bị vỡ: nghĩa là sắc đẹp đã tàn.

72. đường mòn xe ngựa: đường mòn xe ngựa từ những khách trước đó.

74. rằng: bao nhiêu.

77. giỗ xôi, chầu cha: quan tài bằng gỗ và xe tang có rèm bằng ngọc. có nghĩa là khách hàng đã mua quan tài và thuê xe tang sẽ chôn cất một cách nghiêm túc.

78. rosal: do từ hoa hồng, nó có nghĩa là bụi đỏ.

điều này ám chỉ ngôi mộ nằm bên đường, một ngôi mộ bị bỏ lại trong thế giới bụi bặm.

79. thỏ bạc, ác vàng: người xưa kể rằng trên mặt trăng có thỏ thuốc, dưới mặt trời có quạ vàng ba chân.

82. ngọc trai: ngọc trai, đây chỉ là nước mắt.

85. tác phẩm: người sáng tạo, tức là bầu trời.

86. phượng hoàng: trống phượng. loi: phượng hoàng cái. Trong văn học cổ, Loan Phượng dùng để chỉ vợ chồng. ở đây, ngày trước chỉ có khách làng chơi ra vào, làm tình với dam tien.

90. than thở luc tham hồng: nghĩa là nỗi nhớ nhung, khát khao nhan sắc của người phụ nữ đẹp.

94. suối vàng: vì chữ hoàng tuyền có suối trên mặt đất có màu vàng nên gọi là hoàng tuyền.

97. có: màu vàng.

112. may mắn ở chỗ: mỗi từ bạn nói giống như một tham chiếu đến chính bạn.

113. âm khí: không khí của cõi âm, người chết, ở đây chỉ âm khí của nghĩa trang.

116. thân thể: vật chất (hữu hình). beat: ám chỉ những thứ vô hình chỉ phụ thuộc vào cơ thể để tồn tại.

118. hiển linh: thể hiện sự thiêng liêng cho tất cả mọi người.

126. kể từ sau: sự chân thành thuần khiết, sự chân thành.

128. u sầu: u ám, biểu thị sự chết chóc. rõ ràng là rõ ràng, chỉ có cảnh giới của sinh mệnh. nghĩa là: không lo người sống, người chết, người âm phủ, người dương thế.

136. tay sân khấu: tay dây cương ngựa. tức là, thả dây cương và để ngựa đi lại một cách bình tĩnh.

Khối băng: cách nói dặm từ đường. băng là để trượt.

137. lưng túi gió trăng: tức là lưng túi thơ. các thi nhân xưa thường truyền tụng gió trăng nên người ta gọi là phong nguyệt (gió trăng).

139. cụm từ: ngựa, trẻ, đẹp.

142. lòng tự trọng: nói, bày tỏ cảm xúc.

143. hài kịch: chiếc giày thêu của nhà Nho cổ đại.

green mile: dặm cỏ xanh.

144. Cây Quỳnh, cành chéo: cây ngọc ngân, cây ngọc giao. Nghĩa là vẻ đẹp của Kim Trọng đã làm đẹp cả một vùng.

146. hải kiều: hai cô con gái xinh đẹp, tức là hai chị em ở nước ngoài.

148. trâm cài: trâm cài là cây trâm để cài nơ. ông là dải mũ, hai thứ dùng để trang trí trên mũ của binh lính và sĩ quan. trâm anh thế phiệt: chỉ vua chúa thời phong kiến, một số đỗ đạt, làm quan.

149. nữ hoàng giàu có: giàu có.

150. thế đất: nối tiếp đường nhà, nối tiếp dòng họ trong nhà, thế sơn mạch có truyền thống văn học.

151. style: tư thế.

talent: tài năng và khuôn mặt.

152. Elegant: phong cách thanh lịch. hào hoa – phong cách sang trọng mang vẻ quý phái. khi vào, bạn ở nhà, khi ra về, bạn ra ngoài để tiếp xúc với cuộc sống.

154. họ hàng: bạn học.

155. huong uni: làng, nghĩa: xung quanh vẫn nghe đồn thổi.

156. Đồng cưa: thời tam quốc, cao cao đào sông Chương hà, bắt được đôi chim sẻ ruộng nên xây thành ở gần đó, đặt tên là đồng đao (chim sẻ thường), quyết đánh dẹp đồng ngoạc mỗi lần. bị đánh bại Sau đó Đông Ngô bắt hai chị em Đại Kiều và Tiểu Kiều (là Vợ Sách và Vợ Du) đưa về đó an hưởng tuổi già. khóa xuân ở đây là khóa mật của thanh xuân, tức là cung cấm, tác giả mượn điển xưa để nói lóng rằng: nhà vua có hai cô gái xinh đẹp trong cung cấm.

157. phòng thêu: phòng con gái.

158. for a time: tiếng cổ, nghĩa là đã lâu.

159. giải cấu trúc có đi có lại: một cuộc gặp gỡ tình cờ.

160. Cúng lá: Cuộc thi cắm lá hay còn gọi là diep hy, là một phong tục vào mùa xuân có từ thời nhà Đường. Vào khoảng tháng 3, trai gái đi du xuân, bẻ cành cây hỏi xem số lá chẵn hay lẻ để đoán vận may. đây là cơ hội để họ gặp gỡ và tìm hiểu nhau.

161. bóng hồng: hình bóng cô gái. Phụ nữ Trung Quốc thời cổ đại thường mặc quần đỏ, đó là lý do tại sao họ gọi họ là bóng hồng.

162. hoa lan xuân, hoa cúc mùa thu: hai chị em ở nước ngoài, mỗi người có một vẻ đẹp riêng, một người là hoa lan mùa xuân, người khác là hoa cúc mùa thu.

163. quốc sắc: đẹp nhất cả nước chỉ thủy kiều.

166. sửa: cũ. chín nhà thông thái: không xong, không xong.

173. gương nga – theo truyền thuyết có một người em gái trong cung trăng, vì vậy mặt trăng thường được gọi là “gương”.

174. vàng gieo nước: trăng vàng soi mặt nước.

175. dong lan: khu phố phía đông, nơi một người con gái xinh đẹp sống, đồng âm với từ “bức tường phía đông” (xem chú thích 38).

phải thu hải đường là ngọn của phía đông: cây thu hải đường ở làng phía đông bị ngã đổ.

177. bóng nga: bóng trăng.

Chương 179. ai: chỉ có đập có.

181. Ở đâu: đơn giản là đẹp.

Chương 186. seal: lan can.

187. xiao kieu: xem chú thích 146.

188. gia tài: tao nhã.

thanh tân: sự tưới mát tinh tế.

189. điều đó có nghĩa là khuôn mặt và cơ thể của người nhỏ bé đó giống như một thứ gì đó và nó được bao phủ bởi tuyết.

190. hoa sen vàng: chỉ gót chân của vẻ đẹp. Trong đông, ngoài bắc, nam bắc triều đều rất yêu quý Phụ Chính Phan. họ thường ném một bông sen vàng xuống đất, để nó vươn lên và chúc tụng rằng: “trò chơi của những bông sen”. (mỗi bước đi) một bông sen nở).

lang dang: một ngôn ngữ cổ có nghĩa là đi chậm, từ từ, chậm rãi.

192. Đào Nguyên: Vào đời nhà Tần, có một người đánh cá chèo thuyền ngược dòng suối, đến một khu rừng trồng đào, thấy có cảnh sống đẹp như chốn bồng lai tiên cảnh. loại sau dùng từ “đào đài phun” hoặc “đào hang” để chỉ tiên cảnh.

193. thanh khí: “tiếng tương ứng, khí tương ứng với quả cầu” (ngôn ngữ tương ứng, cùng một loại khí).

Chương 195. họ han: hèn kém, nhà nghèo, nhà thưa, lạnh lùng, ăn nói khiêm tốn.

bầu trời phía tây: bầu trời phía tây, hoặc cánh đồng phía tây.

Chương 197. trịch thượng: coi thường, coi thường nhau.

198. bốn dưới cùng: nhường, cấp. hoàn chỉnh câu: hai bài thơ kiều với lời ca đẹp đẽ quý như đúc ngọc, gieo thỏi vàng.

200. cảnh tượng: đứt ruột, vừa đau đớn vừa bi thảm. số lượng phân đoạn: cuốn sách về tên của những người phụ nữ kém may mắn.

201. nhân duyên quả báo: nhân quả báo. nhân là nhân, có nghĩa là nhân duyên (thiện). hoặc (xấu) cuộc sống cũng là nhân quả.

Chương 208. miệng của bạn, trái tim: miệng thêu, trái tim bằng gấm. nó có nghĩa là thơ ở nước ngoài được làm rất tốt.

Chương 222. thèm ăn: nhiều cơn.

223. chính loan: bức màn thêu chim.

Chương 224. người nói: chỉ vào người mẹ. Theo lý thuyết cổ xưa, cây lục bình có đặc tính làm quên đi những lo lắng.

226. hoa lê: ví vẻ đẹp, giọt nước mắt cho giọt nước mắt.

228. nuôi dưỡng sự sống: nuôi nấng và sinh thành, chỉ nhờ công ơn của cha mẹ.

Chương 235. triệu giấc mơ: những gì được nhìn thấy trong một giấc mơ.

238. xung: dòng nước mắt. Xiang là tên một con sông ở tỉnh Hồ Nam (Trung Quốc) đổ vào hồ Dongting. Ngày xửa ngày xưa, vua Thuấn đi tuần thú, chết ở xa, hai người vợ là hoàng đế và em trai đi tìm, ngồi bên bờ sông khóc lóc thảm thiết, nước mắt giàn giụa. những rặng tre để cho ngọn tre trở nên lấm tấm. các nhà văn sau này thường dùng từ hạt đậu và giọt tương để chỉ nước mắt của phụ nữ.

244. tơ tằm: một sợi tơ mỏng manh. hai từ này chỉ chung kiều và kim trong để kết thúc đoạn nói về kim trong.

245. sách bài hát: trong cửa sổ của phòng đọc.

246. nhàn nhã: không vui, không vui.

247. nỗi sầu càng lay động càng đong đầy: nghĩa là nỗi đau thương chồng chất ngày càng nhiều.

249. cụm từ này có nghĩa là: những đám mây che cửa sổ của căn phòng.

251. giai đoạn trăng khuyết: khuyết trăng tròn (mỗi lần trăng tròn gọi là trăng tròn). chỉ một lần trong cả tháng.

đĩa dầu cạn kiệt: đĩa dầu cạn kiệt (vì đèn sáng vào ban đêm).

254. câu hoàn chỉnh: cây đàn không viết lâu sẽ bị khô, cây đàn nguyệt không được chơi lâu sẽ làm cho dây đàn bị chùng xuống. Nghĩa là Kim Trọng buồn trước sau như một, bỏ học đánh đàn.

255. bảng mạch: rèm bằng tre núi tương.

257. Tam sinh: do từ ba sinh, có nghĩa là ba vòng đời: “quá khứ”, “hiện tại” và “tương lai” của con người.

Chương 260. cuộc gặp gỡ kỳ lạ: cuộc gặp gỡ kỳ lạ.

264. violin: cây sậy, cây sậy.

266. lâm kiều: vùng đất lâm di, tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc). bui hang, tang truong, khi thi rớt, gặp van kieu, nguoi ban cho anh mot bai tho, co câu: “lam kieu thi than dac, ha tot khi (ky) khuong ngoc kinh” (cau lam la tổ tiên đó ha, ai cũng phải chăm chỉ đi thi vào kinh đô.) Sau này, đi ngang qua một nơi tên là lam kiều, thấy khát, bèn xin nước ở nhà một bà lão gần đó, thấy van anh, (chị của van kiều), cháu gái người đẹp đến cầu hôn, bà cụ bảo: dùng cối ngọc và chày ngọc để giã sương thần (tiên dược), nếu có chuyện như đám cưới. món quà, sẽ cung cấp cho đứa trẻ trong hôn nhân. khi hàng về, người ta tìm thấy chiếc cối và cái chày bằng ngọc đem đến, ở đó để giã thuốc cho bà lão trăm ngày rồi lấy dấu tay, rồi hai vợ chồng cùng nhau lên tiên giới. ở đây, lam kieu chỉ nơi ở của người thân.

268. lá hồng: do từ rosemary. Vũ Hữu thời nhà Đường, một hôm đi chơi, ông bắt gặp một chiếc lá đỏ trôi theo dòng nước chảy ra từ cung vua. có bài thơ viết trên lá bàng, nên vu huý để lại hai câu thơ trên một chiếc lá đỏ khác, rồi thả lên đỉnh đài rồi thả trôi vào cung vua. Hàn thị cung nữ trước kia đánh rơi lá đỏ, bắt được lá đỏ vu huý. sau này, nhân dịp nhà vua giải phóng các cung nữ, wu huu đã có thể lấy được han.

chim xanh: người ta thường gọi sứ giả là “chim xanh” (chim qing). cụm từ này có nghĩa là: rất khó để truyền đạt thông tin và manh mối về thủy kiều.

257. thương gia ngô việt: thương gia ngô, việt nam (xa, nay là ngô, mai việt).

279. đá: Đây chỉ là một ngọn núi giả (chúng ta thường gọi là một dãy núi) được tạo thành từ đá.

280. lam thuy: tên hiên nhà buôn. bởi vì có một chữ thủy trùng với một chữ trong tên kiều, nên kim trong thầm mừng vì mình có số mệnh bạc bẽo.

281. put: sắp xếp, sắp xếp, bởi từ “sắp xếp”.

283. song ho: cửa sổ dán giấy. nhánh mây: cửa sổ.

285-286. nghĩa là: cửa hang đã đóng, cửa đài phun nước đã khóa nên người xa xứ dù ở gần nhưng vẫn ở xa.

287. nhẫn từ: kể từ (cũ).

293. tường gấm: vì chữ gấm nên bức tường gạch được vẽ hoa giống gấm (một cách trang trí công phu).

294. ghim: cặp tóc vàng.

296. khue cac: căn phòng trên lầu, nơi ở của con gái trong một ngôi nhà sang trọng.

305. không đâu: đột nhiên không, tự nhiên.

306. hop pho: tên một huyện, trước thuộc tỉnh Giao Châu, nay thuộc tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc). Theo Hán sử: Xưa có một loài trai sinh ra một loại ngọc ở bờ hồ Hợp Phố Quận, nhưng do bọn quan tham nhũng bắt dân đi tìm ngọc cho mình nên dân chúng. đã khốn khổ, vì vậy những viên ngọc trai biến mất, mọi thứ khác. về sau, có một vị quan thanh liêm, cường tráng thường đến nhậm chức, cải cách, chính trị, bãi bỏ lệnh tìm ngọc, rồi ngọc dần trở lại. do đó, người ta thường nói “châu sang thành”, để chỉ những trường hợp bảo vật thất lạc được trả lại cho chủ cũ.

311. lang ly: ban đầu có nghĩa là làng và xóm, đây được dùng làm tên của hàng xóm.

316. tây: trái tim, một chút tự tin.

319. thang mây: do chữ vu, vốn là quân cụ dùng để leo lên thành giặc (thanh cao, tưởng có thể lên được mây).

320. người hâm mộ đó: người bạn đã gặp vào ngày dọn dẹp.

có thể là: (từ cũ) có thể.

322. người: đơn giản là đẹp. người: chỉ kiều, kim trong nhìn ra nước ngoài, nhưng kiều xấu hổ cúi đầu.

323. ngẫu nhiên: tình cờ, cũng như “tình cờ”.

324. chồn: mệt, có nghĩa là thiếu kiên nhẫn.

325. xương sườn: xương mỏng. cây mai, thân và cành nhỏ, nên dân gian thường gọi người gầy là cây hạc.

co lại: hốc hác, nghĩa là giảm cân

327-328: nghĩa là cả tháng tâm như tiễn đưa lên cung trăng.

330. đài gương: kệ cao, gương lớn và hộp đựng đồ trang sức của phụ nữ. trong văn học cổ, từ “gương” thường được mượn để chỉ người phụ nữ.

dấu hiệu doo: nghĩa là trạng thái thấp hèn như bèo nổi trên mặt nước. đây là một câu nói tôn trọng hãy khiêm tốn.

332. băng tuyết: nghĩa là trong sáng, thuần khiết. chất không đổi: chất luôn luôn như vậy.

Philippines: hai loại rau, người ta dùng lá và củ để nấu canh hoặc ngâm nước muối làm món ăn hàng ngày. cả câu: gia đình vốn trong sáng, nhưng tính tình cũng bình thường, không có tài năng, lời nói khiêm tốn (thượng bốn chữ nói gia đình, bốn chữ hạ nói tự).

333. lá hồng: dự đoán ở câu 268.

sợi chỉ hồng: vì chữ “thẳng” (sợi chỉ đỏ) theo sách phong tục “u quark”: vì cô, người thời nhà tang, đến cầu hôn, vào nhà trọ, gặp Bằng. một ông già ngồi dưới ánh trăng, ông ta mở một chiếc túi vải, xem qua những cuốn sách. Khi định hỏi, ông lão đáp: Đây là sổ hôn lễ, và cái túi vải này dùng để đựng những sợi chỉ đỏ (dây xích thẳng) dùng để buộc chân hai vợ chồng lại với nhau. Do điển tích này có các danh từ: “chỉ hồng”, “tơ hồng” để chỉ mối lương duyên vợ chồng, và “lão nguyệt” (ông già dưới trăng), “lão nguyệt”, “trai trẻ”. . , để chỉ người mai mối. một phong tục xưa: khi kết hôn thường làm lễ tơ hồng tức là tế ông già bằng sợi dây đỏ.

339. tóm lại: mặc dù không, nếu không.

343. khuôn thiêng: khuôn của tạo hóa, chỉ lên trời. khuôn đúc từ chữ quân tức là khuôn dùng để nặn đồ gốm. người xưa so sánh rằng tạo hóa nung chảy, nhào nặn vạn vật như khuôn để làm gốm, nên gọi tạo hóa là hồng quân, thiên vương, (khuôn trời).

một inch chân thành: một inch chân thành, chân thành.

345. xuân năng: nguyên nghĩa là lòng tốt như xuân. nó cũng có thể được giải thích là trái tim của một người phụ nữ trẻ đẹp.

348. chiều xuân: cách nói xuân tứ (xuân tứ).

<3

352. đá vàng: do đá từ kim loại. kim này là một loại đồng, chỉ chuông đồng, vạc đồng; thạch là đá, chỉ thức. Thời xa xưa, những điều lớn lao, công lao hay châm ngôn thường được khắc trên chuông đồng, bia đá, lưu truyền đến thời cổ đại. do đó, người ta thường dùng từ đá kim loại để chỉ những thứ tồn tại vĩnh viễn và bất biến, chẳng hạn như được chạm khắc từ vàng và đá. đây rồi: kiều chấp chữ đính vàng xin khắc chữ ấy như tạc vàng tạc đá.

357. ba: bản sao vĩnh viễn của cuốn sách, cô ấy giữ nó.

quạt hoa: quạt làm bằng lá thục quỳ vẽ hoa.

359. tất: sơn và keo, tôi thích dán chúng lại với nhau như hai loại keo và sơn.

362. sàn trang: sàn trang điểm, chỉ dùng cho nơi ở của phụ nữ.

363. đá biết tuổi vàng: muốn xem vàng bao nhiêu tuổi, tốt xấu người ta thường dùng đá cuội đen để thử, gọi là đá thử vàng. qua buổi giao lưu, kim-kiều hiểu nhau và yêu nhau như đá biết vàng.

365. sông thương: hai cụm từ này được lấy cảm hứng từ bài thơ tình yêu:

“quân đội ở đầu quân xiangjiang,

thẻ

trong xiangjiang wei,

không chắc,

cùng độ ẩm với Giang Thủy “

bản dịch:

chàng trai ở đầu sông,

lá thư cuối sông,

Nhớ nhau nhưng không gặp nhau,

hãy cùng nhau uống nước tương.

367. tuyết phủ sương mù: nghĩa là vách nhà xa xứ, vàng son dày đặc như tuyết, ngăn không cho hai người gặp gỡ, trao đổi thông tin.

370. chữ cái màu hồng và xanh lá cây: bớt đỏ, xanh hơn, nghĩa là mùa xuân sắp đến, mùa hè sắp đến.

372. hai dòng: vì từ bi-duong (xuan duong và xuan duong) dùng để chỉ cha mẹ.

375. nhà phong lan: vì chữ phong lan.

377. rồi tích trữ: lương thực quý được mùa. thuy kieu đưa vào để tiếp tục kim loại nặng. lưu ý rằng “sẵn sàng để trưng bày” ở đây không có nghĩa là đặt bàn ăn trong nhà của người nước ngoài.

382. hương hỏa: hai từ này thường dùng để chỉ tình nghĩa vợ chồng.

384. hoa râm: hoa màu xám, có màu trắng, lông có đốm bạc trông giống như hoa màu xám.

386. triphonic: hiểu biết về ngôn ngữ của nhạc cụ. xuân thu vạn thọ, một người tốt, một người giỏi đàn, một người giỏi nghe đàn, nổi tiếng và kết bạn với nhau. tu ky hiểu được tâm hồn mình trong tiếng đàn, khi ba nha chơi tiếng đàn, như núi Thái, khi nghĩ đến dòng chảy, tu ky chúc mừng: “tiếng đàn như sông, tiếng đàn ngân nga như sông hà”. hậu kỳ, ba nha bị đứt dây, bẻ đàn và than rằng: “trên đời làm gì có ai là triyin (người biết tiếng đàn của chính mình)”. sau này, tri âm được dùng để chỉ một người bạn thân, người bạn tâm giao hoặc những người quan trọng khác.

389. núi giả: chữ Hán là núi giả, có nghĩa là núi non trùng điệp.

391. hang đào: tức là hang dao nguyễn.

392. Thien Thai: tên một ngọn núi ở tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Tương truyền vào thời nhà Hán, Lưu thần cùng Nguyên triệu lên núi Thiên Thai hái thuốc gặp tiên nữ rồi kết duyên ở đó.

394. may mắn: lời chào và lời chào để gặp chúng tôi. lạnh: nóng và lạnh, lời chúc sức khỏe.

396. gió và trăng: bài thơ về trò chơi của gió và trăng. núi sông: hẹn ước sông núi (sông cạn, núi mòn, lời thề không đổi).

397. yên: bàn, bút đựng: ống đựng bút. thơ bằng đồng: ống chứa thơ.

398. dam thanh: màu xanh lục nhạt, biểu thị màu sắc của hình ảnh cây thông kim trong.

399. gió và sương: gió và sương. hình ảnh của cây thông rất tự nhiên, như thể nó được bao phủ bởi sương giá.

402. tiêu đề: lợi vịnh tranh. nhiều hoa hơn: vẻ đẹp nhiều hơn. Ý tôi là bức tranh vừa được vẽ xong, xin hãy viết vài bài thơ để tăng thêm vẻ đẹp.

403. bàn tay thần tiên: bàn tay của người đẹp, một nàng tiên.

405. nhổ ngọc, nhổ ngọc: xuất tài làm thơ hay, như nhổ ngọc, nhổ ngọc.

406. cô ban: cô ban kỹ thuật, đông hán tử. cô học hành chăm chỉ và rất tài năng, được nhà vua mời giúp soạn sách.

<3

410. ngọc: ngọc đeo. từ này được dùng để chỉ những người có chức quyền và có quan chức.

kim sư: gọi tắt là kim ma môn, tên gọi của cổng cung điện triều đại (cổng cung điện có tượng ngựa bằng đồng nên gọi là kim mã). Thời Ngô hoàng đế, ông thường cho người tài đợi ở đây, đợi vua dò hỏi chuyện chính sự. kiều có nghĩa là kim trong không phải là quan nhưng cũng là người rất lịch sự.

412. khuôn xanh: giống như khuôn thiêng liêng, sự sắp đặt của bầu trời.

414. các vị tướng: bậc thầy của các vị tướng.

415. hoa: tinh hoa tốt đẹp.

419. giải cấu trúc: một cuộc gặp gỡ tình cờ.

420. con người sẽ chiến thắng bầu trời: có nghĩa là một người có thể thay đổi vận mệnh của bầu trời.

421. kết thúc: giải pháp là cởi trói, kết thúc là hòa. Ý tôi là chúng ta đoàn kết với nhau, nếu có chia rẽ thì sẽ liều mạng để giữ lấy chữ vàng.

423. giữa bài hát: những khúc mắc trong lòng, như nói về tình cảm, sự tin tưởng.

424. báu vật: say rượu, ngà voi.

425. Giang: Ý tôi là những ngày ngắn ngủi.

428. song sa: cửa sổ có khung che, giống như bài hát the, đề cập đến nhà ở của kiều bào.

430. hai thận: cha mẹ, do từ ‘father’, có nghĩa là cha (cha) và mẹ (mẹ).

433. thu: nhanh và mỏng, chỉ trong ánh trăng. Ánh trăng phủ bóng lên cành và lá, làm sáng và tối mặt đất.

434. huynh huynh: ruộng là màn, huynh là đom đóm. đời khá, sống xa, muốn học hành, nhà nghèo, đêm không đèn, phải bắt đom đóm cho vào bao lụa để đọc sách. chỉ là lớp học của kim trong.

437. hoa sen: những bước đi của người đẹp. giấc mộng mùa hạ: theo sách Nam kha ký: thuần vu triều tang, vào ngày sinh nhật, say ngủ dưới gốc cây cổ thụ nóng nực ở phía nam nhà mình, nằm mơ thấy một quốc gia gọi là “Đại hoa an”, sự Vua của đất nước đó đã gả công chúa cho công chúa và phong làm quận trưởng namkha vinh quang trong hơn hai mươi năm. Khi tôi thức dậy, tôi chỉ thấy một tổ kiến ​​lớn dưới gốc cây, với một con kiến ​​chúa trong đó. Tôi hiểu rằng đó là nước và vua của hòa bình (gốc hòa bình), và nam kha có nghĩa là cành hoa phía nam hướng thẳng vào con kiến. . do đó, người ta nói “nam kha mộng” hay “mộng mơ” để chỉ sự giàu sang hão huyền.

438. Ở đây, Kim Trọng thức dậy đã thấy ánh trăng đưa bóng hoa lê lại gần.

439. rìa đỉnh: đỉnh núi vu giap (hay vu sơn). Vua so hoai vuong đi thăm quán cao lầu, mơ thấy một mỹ nữ và xưng là thần núi vu sơn, sáng tạo mây, chiều mưa. Chính vì vậy, người ta thường dùng từ “mây mưa” để chỉ chuyện quan hệ tình dục giữa con trai và con gái.

phi thần: nữ thần của ngọn núi nơi tiên nữ gặp vua của căn hộ nói trên.

446. hoa sen: hình hoa sen có tác dụng gì đối với ánh sáng.

đào trong bài hát: có một cây đào trong cửa sổ.

447. lời thề cổ tích: giấy hoa tiên (giấy viết chữ hoa để ghi lời thề).

452. đồng: đồng tâm, cùng chí hướng. Trước đây, người ta thường trao cho nhau những chiếc thắt lưng bằng thổ cẩm, tạo thành một vòng tròn viết, ngụ ý rằng họ yêu nhau, đó gọi là “đồng tâm ràng buộc”.

453. ha: đợi mặt trời. chén ha vì chữ ha nhuộm đỏ chén ngọc, dùng để nói chén quý.

Nước tương quynh: nước ngọt, cho một loại rượu đẹp và ngon.

454. ý nói kiều và kim trong, ngồi cạnh nhau, mùi quần áo dường như lẫn lộn, nhưng trong gương, bóng hai người như một đôi tình nhân.

457. ôn dịch, cầu vồng xanh: ghi trong câu 266.

458. mò mẫm: trác táng không đứng đắn.

459. thông báo màu đỏ, chuỗi thẳng: chèn 268 và 238.

460. hiểu nhau: biết lòng nhau, thông cảm cho nhau.

461. trăng này, hoa kia: câu chuyện của những chàng trai cô gái bất công.

463. đài: đàn tranh ngồi chơi đàn tương tự như của một nhạc công giỏi ở triều đại Tây Hán.

464. nước non: do các từ luu thủy, cao sơn (nước chảy, non cao), âm thanh của cây đàn ba nha mà em có thể nghe và phân biệt được. đây là vị kim đề thăng kiều tài ngang hàng với ba nha và coi mình ngang hàng.

465. kỹ năng tiện lợi: nghiệp vụ nhỏ, cắt lời.

467. cầm trăng: tức là mặt trăng, ta gọi là đàn nguyệt.

468. tây nhướng mày: thái độ tôn trọng.

470. lo lắng: khó nghĩ. rất thân thiện: cách nói cũ, nghĩa là “không may”.

471. vu, van: vu là chuỗi lớn, van là chuỗi nhỏ.

472. cúi đầu và thương xót: xem câu 31.

473. Han Field Battlefield: Chiến trường giữa nhà Hán và đất nước. vào cuối triều đại qin, liu bang (han cao to) và xiang yu (chu bá chủ) đã đánh nhau ác liệt.

474. âm thanh của sắt, âm thanh của vàng: âm thanh của vũ khí sắt và kim loại va chạm vào nhau.

475. Tu ma phuong cau: Tu ma noi tieng nhu han, co the noi tieng, noi tieng tren mang, trai nghiem, co con gai, van quan, xinh dep nay goc goc. Tương tự như khi chơi đàn nguyệt “phượng hoàng” để tỏ tình với nhạc của van quan lão, đêm đó, anh ta đã bỏ nhà đi để làm điều tương tự.

477. ke khang, quang lang: ke khang, đời tam quốc, đang chơi đàn hạc trong nhà hoa đường vào ban đêm, bỗng có người lạ đến dạy bài “quang lang can”, giai điệu rất hay.

478. dòng nước, tập tính: nước chảy, mây bay. Ý tôi là bài hát rất duyên dáng và trôi chảy.

479. Phục: đi qua cửa. tuyển quân: tên và thư của vuong tuong, một cung nữ nhà Hán, được gả cho một nô lệ bị treo cổ, khi đi qua cửa ải vào đất của một nô lệ bị treo cổ, cô thường chơi đàn tỳ bà để thể hiện. nỗi nhớ của bạn. nước.

482. tiếng suối: tiếng đàn như tiếng suối chảy róc rách vang vọng lưng chừng núi.

488. chín đoạn: chỉ ruột, không nhất thiết phải có cả chín đoạn ruột.

491. tiêu tao: nghĩa là cái chết, hương của bạn, điều này được dùng để chỉ nỗi buồn và sự đau đớn.

492. trốn thoát: trong tâm trạng tồi tệ.

khó xử: lo lắng, thất vọng.

495. lời vàng: lời khuyên quý giá.

497. hương thơm: thơm về mặt hóa học. nhận biết màu hồng: cái nhìn màu hồng. tiếng đàn càng hay, càng thơ, cô gái ngoại quốc càng đẹp, tình cảm đôi bên càng nồng nàn.

501. chơi: coi vấn đề là chung, không quan trọng.

503. đào tình: cây đào non, trích trong bài thơ “đào tình”, bài thơ: đào chi tình (cây đào non) được so sánh với một cô gái trẻ trung nhưng xinh đẹp đã đến tuổi lấy chồng.

505. cha kinh: cha là vải thiều, kinh là cây kinh, một loại cây mọc thành từng chùm, hoa màu tím nhạt, thân cành chắc khỏe, thời xưa phụ nữ nghèo thường lấy cành của nó làm kẹp tóc.

ở đây, và kieu nói: anh ta đã cho cave một người vợ chính thức như người cha già đáng kính (không phải tình nhân, một con người).

506. theo chồng: theo chồng, theo đạo làm vợ, theo quan niệm Nho giáo xưa.

507. trong vũng, trong cây dâu: trong ruộng dâu, trong sông bụt. Ngày xưa ở Việt Nam, vào tiết xuân thu có tục trai gái đi chơi, tụ tập ở bãi dâu trên sông ca hát, đùa giỡn và làm việc dâm ô.

511. cuộc gặp gỡ kỳ lạ: một cuộc gặp gỡ kỳ lạ, chỉ là mối lương duyên của một cặp đôi đẹp.

514. solo, truong: theo tây sương ký: dừng banh và trường cung, tên là quan thủy, triều tang, trai tài gái sắc, đẹp đôi, cùng tuổi, họ gặp nhau và yêu nhau trên cánh tây của chùa bình dân. Đất liền phương đông, nhưng vì ăn ở với nhau, rồi chán nhau mà chia tay nhau.

đá màu vàng – đây là vợ chồng chung thủy và đức hạnh.

514. yên anh: đây là ví của một cặp đôi.

515. cánh để cành: nói khi ăn uống và đi ngủ, làm tình với nhau. theo khúc ca hận dài của bach cui, hoàng đế xuanzong và duong quy phi đã thề với nhau trong đêm “thập tử nhất sinh”: tại thiên tử, tại vi liên chi (trên trời hứa hẹn là hai chim). có cánh, trên mặt đất thề là hai cây cùng cành).

517. mái tây: do chữ tây sương, nghĩa là cánh tây của chùa phổ, nơi chỉ trượng.

hương nguyền: nén hương thề.

519. gieo tờ rơi: các sách sau đây thường trích dẫn như sau: giễu cợt tấn đời, giễu cợt cô gái ngồi dệt vải, bị người ném cần tờ rơi vào mặt, gãy hai cái răng (theo thư ).

524. bởi vì: tôn trọng, một ngôn ngữ cổ, cũng có nghĩa là tình yêu (tình yêu vì hoa nặng trĩu trái tim).

525. bóng: bóng mái (tàu: khúc gỗ dài đặt dọc theo mái hiên, để đỡ mái, gần chỗ thả tranh).

bạc: bạc, chỉ ánh trăng.

528. vườn đào: khu vườn có cây đào.

530. quản gia: người làm công việc gia đình.

Uncle: chú.

của con đường: rời khỏi nhà, tức là chết.

532. người hành hương: chết nhưng không chôn, quan tài vẫn để tạm ở đất ngoại.

533. Liêu Dương: tên đất, nay thuộc tỉnh Liêu Ninh (Trung Quốc), nơi chủ nhân là Kim trong qua đời.

là khe: núi và khe.

534. mùa xuân: thưa cha, mùa xuân là cây sống rất lâu. sau này người ta gọi cha là cây quản hay nhà xuân, nghĩa là cha ông sẽ sống lâu như cây đó.

tang: lo tang lễ.

535. mảng: cũ.

news: Tôi vừa nghe tin.

536. đài trang: do đài từ trang, nơi trang điểm của nữ nhân.

537. ding ning: cẩn thận, đến mức.

539. đôi khi: nói chuyện, nói chuyện với nhau.

Chương 540. trao lụa: đơn giản là cưới. theo sách hiền triết: Trương gia trinh, tể tướng nhà tang, có năm người con gái, muốn gả một người cho quan nhân dân, đô đốc thuồng châu, người đẹp trai, tài giỏi, bảo năm người con ở lại. . một tấm màn, mỗi người cầm một sợi tơ dài, làm cho nó chảy ra, rồi để nguyên lực tùy ý kéo một sợi tơ, ai đánh trúng thì cuốn đi người cầm sợi tơ đó. Yuanyuan quay một sợi chỉ đỏ, kết hôn với một người con trai thứ ba, rất đẹp.

543. ba mùa đông: ba năm để tang.

544. chậm: còn chậm, còn lâu.

545. gìn giữ vàng và giữ gìn ngọc trai: giữ cho cơ thể khỏe mạnh, đồng thời cũng ngụ ý giữ cho tình yêu trong sáng và chung thủy.

556. chèo thuyền người khác: dắt đàn sang thuyền người khác nghĩa là đi tìm chồng người khác.

566. rhododendron: cây đỗ quyên, tức là quốc chim. điều này đại diện cho khung cảnh vào cuối mùa hè và vào mùa thu. tiếng hót của thiên nga tiếp tục vang lên (nhặt) đầu cành và có thể thấy bóng chim én đang bay (thay thế) trên đường chân trời.

567. chu kỳ, tuần: người xưa thường tính bảy ngày là một chu kỳ và mười ngày là một tuần.

568. tương tư: ban đầu có nghĩa là xa nhau nhưng nhớ nhau, sau đó người ta mượn nó để nói tình yêu đôi lứa.

570. chín tập: do chữ chín huis, ruột đau chín lần.

574. nước ngoài: con người xa lạ, quê hương.

cuộc trò chuyện: giải thích, nói chuyện.

576. không chính xác: nó đã được gửi bởi cơ quan cấp cao hơn.

577. thước: một cây thước, một vũ khí cổ, làm bằng gỗ, dài khoảng một thước tây, có bốn cạnh vuông, dùng để đánh người.

kích thước vòng nách: kích thước vòng nách.

dao: dao lớn, mã tấu, vũ khí bằng sắt, lưỡi lớn.

579. cũ: cái ách. gigang: mang, vác. ở đây người ta nói rằng hai cha con và thái tử đã bị còng tay.

583. thanh tú và tinh tế: nhỏ, mềm, chỉ dùng chung đồ trang sức quý giá, quần áo dễ mặc.

585. chuyến bay bắt buộc: có nghĩa là thảm họa đến từ hư không, bị trói buộc.

586. dậm: một công cụ đánh cá.

588. thú nhận: thú nhận, thú nhận.

590. mây: làm mờ toàn bộ bầu trời. nói: một trường hợp rất bất công.

594. từ ngữ thấp hơn: hạ giọng, viện cớ năn nỉ, van xin.

lan chó: đáng tiếc, đáng tiếc. câu đầy đủ là: kẻ xấu cứ đánh và đánh, mặc cho người nước ngoài la hét, họ chỉ nhắm mắt làm ngơ.

593. ánh sáng cao: thanh nhà phía bắc ở trên cao. dây oan: dây trói oan. những người lính đã trói và treo ngược hai cha con trên sàn nhà.

599. thịt và máu: thịt và máu, chỉ vua và vua.

600. hình minh họa thay đổi theo chủ đề bên phải: bạn gặp một tình huống là bạn phải theo tôn giáo “chính xác” (bạn không thể giữ tôn giáo “cổ điển” như bình thường). Ý tôi là, bạn phải cư xử phù hợp tùy theo tình huống.

601. thỏa mãn yêu cầu biểu thị mối quan hệ yêu đương giữa kiều và kim trong.

hòn đảo: công lao của cha mẹ.

603. hải minh sơn: bể thề non sông.

604. sinh thành: công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ.

605. trịch thượng: bày tỏ suy nghĩ.

606. ủng hộ: một từ phớt lờ ý kiến ​​của người khác để thể hiện ý kiến ​​của chính mình một cách chắc chắn.

607. già đi: người già lại già đi.

608. bản dịch: một người làm việc trong một ngôi nhà, tức là văn phòng chính quyền cấp huyện.

614. quy định: sửa chữa, chăm sóc.

617. chết và ly biệt: chết và nói lời từ biệt được gọi là “chết”, và sống cách biệt được gọi là “sinh”. Đó là hai bi kịch lớn của đời người. Tuy là hai cảnh, nhưng người ta thường dùng nó như một thành ngữ, nói chung cho những người gặp cảnh “sinh ly tử biệt”, cũng như những người gặp cảnh “sinh ly tử biệt”.

619. hạt mưa: biểu thị trạng thái của một cô gái

tiếng lóng:

cơ thể tôi giống như một giọt mưa,

tiền phạt xuống ga, hạt giống về đầm lầy.

620. một tấc cỏ, ba thước xuân: vì từ mật mà xuân tâm. một bài thơ tả cảnh tình đi chơi nhớ mẹ của người giao mạnh trong triều đại tang gia có câu: dục vọng như tâm, trả tam xuân huy (ai nói lòng một tấc cỏ (cỏ ngắn). ) có thể trả lại ánh sáng ấm áp của mùa xuân ba tháng). một inch cỏ: cho một đứa trẻ. ba suối công ơn cha mẹ.

621. người băng: bà mối.

622. sương tức: vì chữ sương. tin sương chỉ liên quan đến việc phát sóng tin tức.

624. hành khách: khách từ xa.

625. học sinh: học sinh học tại quốc tử giám, một loại trường đại học của triều đình phong kiến, được thành lập ở thủ đô để đào tạo người dân trở thành quan lại.

626. linqing: quận ở tỉnh Sơn Đông (Trung Quốc).

627. tuần mất: bốn mươi năm (mỗi tuần có mười năm).

630. nỗi buồn của tôi: những vấn đề của riêng tôi, chỉ là một tình yêu dang dở với kim loại nặng. các vấn đề trong nước: thảm họa của toàn bộ gia đình hoàng gia.

635. gió lạnh: sợ gió.

638. nhịp điệu: cách điệu, cách điệu.

644. lễ cưới: đồ cưới, tiền mừng cưới.

645. nghìn vàng: trong triều đại Hán, nghìn vàng có nghĩa là một cân vàng, sau này nó được dùng để chỉ một nghìn lượng vàng.

646. phá nhà: nhà gặp khó khăn.

649. bình tĩnh: có nghĩa là vấn đề đã được giải quyết, suôn sẻ, giống như một con tàu đã dừng lại, không còn rung chuyển nữa.

650. danh thiếp: tên và tuổi của thiếp (người trên thiếp có hạn tuổi, tức là năm tháng nên gọi là thiếp canh). Theo tục lệ xưa, khi nhà trai bắt đầu trao nhau thiệp cưới thì họ sẽ cam kết với nhau.

651. Thái tải: biểu thị lễ cưới.

vu quy: về nhà chồng, vừa để rước dâu.

654. the beggar: request (người nước ngoài yêu cầu được ân xá cho nhà vua của mình).

658. gieo bóng: han vu di quấn công chúa, để công chúa ngồi trên, ném banh, ai lấy trộm thì làm thiếp.

660. vu khống: vu khống là vu cáo, vu khống là lật tẩy.

669. một mảnh mặt ửng hồng: giống như đang nói cái mụn của con gái.

671. she is a star: cô ấy là de-oanh. theo nữ sử: tấn phong thiên hạ, khi cha là kẻ vu cáo, phạm tội, bị giam ở trang an, chờ ngày hành hình, deoanh dâng thư lên hoàng đế van de, xin đầu hàng Để trả giá cho các quan để chuộc tội cho cha mình, Hoàng đế Wen cảm thấy buộc phải xuống thang để ân xá cho cha mình.

672. ly ly: cô ly ky. Theo sách Đường Đại Tùng Thư: Lý Kỳ vốn sống trong một gia đình nghèo khó, sẵn sàng bán mình cho dân làng thờ rắn để kiếm tiền phụng dưỡng cha mẹ. sau đó, cô giết chết rắn thần và sau đó kết hôn với vua Việt vạn tuế.

673. xuân: gốc cây tầm xuân, biểu thị cha mẹ. sách cổ nói: tuổi hạc: tuổi hạc, cách nói tuổi thọ. Theo sách cổ, sếu sống ngàn năm.

675. tấm lòng thủy chung: tình yêu thương dành cho con cái kéo dài không hồi kết.

676. gió và mưa: chỉ thiên tai mới xảy ra.

<3

678. hoa ô môi đã gãy cánh: cây vẫn xanh tươi, báo rằng vua bình an.

679. giống nhau: giống nhau.

680. Hoa đậu biếc: Hoa kết trái, có thể giữ được quả đến khi chín mà không rụng giữa chừng, gọi là hoa đậu biếc hay quả đậu biếc. cả câu: nghĩa cũng coi như chết non.

691. giúp đỡ vì: giúp đỡ.

692. lễ cấp sắc: lễ vật của dân chúng “thành tâm” đút lót cho quan. việc vặt: thời gian dùng thử, đó là thời gian dùng thử.

694. tinh ký: người ta thường dùng từ tinh ký để chỉ ngày cưới, vì theo tục lệ xưa, người ta rước dâu vào ban đêm.

697. dầu: cũng như ý nghĩa (mặc dù sẵn lòng, sẵn sàng).

698. một từ: một lời thề. yểu kiều đã nói: dù số phận có ra sao, chỉ có đau thương mới thề lời thề vàng.

703. sky: lieu duong.

707. luân hồi: kiếp khác, kiếp sau giống như nói luân hồi

thề hương: mảnh hương thề. xem chú thích 517.

708. trâu ngựa: theo thuyết luân hồi của nhà phật: nếu kiếp này một người mắc nợ ai đó mà chưa trả được thì kiếp sau phải hóa thân vào thân trâu ngựa ở nhà người khác để. trả nó.

ngì: tức là từ “nghĩa” được đọc không đúng chỗ.

trúc mai: một tình bạn bền chặt và thân thiết.

710. Love Block: Love Story: Ngày xửa ngày xưa có một cô gái đem lòng yêu một người bán hàng rong. người lái buôn không bao giờ trở lại, anh ta ngã bệnh và chết. khi hỏa táng, trái tim trở thành một khối rắn chắc, cháy mà không cháy, đập không vỡ. sau khi thương nhân trở về, trong lòng thương tiếc, nước mắt nhỏ giọt thành khối lập tức tan thành máu.

bán kính: nơi dưới suối vàng, tức là nơi ở của người chết.

711. hoàn thành: ở đây có nghĩa là suy nghĩ xung quanh, suy nghĩ không ngừng.

713. giấc mơ mùa xuân: chúc ngủ ngon.

715. bầu trời: có nghĩa là bầu trời, bầu trời máy móc.

bể dâu tây: cũng như “bể dâu tây”.

nhiều thứ: nhiều thứ, nhiều thứ.

717. nhẫn: theo cách nói cổ xưa, ngồi trên nhẫn có nghĩa là ngồi cả đêm.

726. loan luan: do loan luan, nghĩa là cái đuôi được làm bằng máu của con loon. Tương truyền, người xưa dùng dây đàn và dây cung để nối.

thừa sợi dây buộc lụa: so sánh sợi dây tình yêu với sợi dây tơ, sợi dây tình yêu bị đứt.

723. Lời thề non nước: Lời thề chỉ tan vỡ.

734. chín suối: do từ chín suối chỉ nơi suối vàng.

735. tờ mây: tờ giấy vẽ mây, tức là tờ giấy ghi các phiếu kim và kiều.

740. khúc nhang nguyền rủa: quýt gỗ thơm đã đốt thề kim, kiều. Ngày xưa, khi thề nguyền với nhau, người ta thường thắp hương.

746. liễu: cây ưa mọc gần nước. liễu rũ lá trước bất kỳ cây nào khác, vì thân hình yếu ớt ấy, người ta thường dùng văn cổ để so sánh với người phụ nữ.

747. dạ dày: bán kính của đêm đen, nghĩa bóng là cái chết.

749. tram phá bình tân: bach dio thơ, tang thi: binh tru tram triet thi ha como, tự vấn kim triêu hung dữ quân biệt. (Cái trâm gãy có cảnh gì vậy? Nó giống cảnh tôi chia lìa với anh ấy sáng nay). từ này được dùng để chỉ một mối tình tan vỡ.

751. đội quân của tình yêu: người yêu, cũng như người yêu.

753. bạc phận: công có nghĩa là mỏng, tức là bạc mệnh.

754. nước chảy, hoa trôi: hoa rụng, nước rút, chỉ cảnh cuối xuân, rồi thường mượn để nói kiếp người tàn.

759. xuan xuan: xuan duong, xuan duong, nghĩa là cha mẹ.

762. từ vựng: ngất xỉu, bất tỉnh.

giọt hồng: giọt máu, giọt nước mắt thảm.

769. nói rằng tình yêu đã đứt một nửa, đã tan vỡ.

772. thức mặc: chỉ là một khoảng thời gian rất dài.

một inch vàng: một inch trái tim bền như vàng.

773. gông: trinh, tiếng cổ.

775. Tôi khẳng định: ở nước ngoài cô ấy bị bán làm vợ lẽ, cô ấy bị coi là kẻ dối trá.

<3

780. quan chuồn: nghĩa đen là ống tre và dây đàn, thường chỉ là một cây đàn. Ở đây họ nói rằng họ mang theo các tiết mục âm nhạc để chào đón bên ngoài.

782. đại ý của câu là: một giọt nước mắt rơi xuống có thể xuyên qua cả hòn đá, ruột gan chui ra, có thể giết chết cả con tằm.

785. khu vực cư trú: nơi ở trọ, nhà trọ.

786. phím xuân: từ xuân ở đây không phải là xuân. lưu ý: khi sinh viên nhận ở nước ngoài là mùa thu: đêm mùa thu cách một giờ.

787. hồng xanh: lá xanh, hoa đỏ thường ám chỉ vẻ đẹp của người phụ nữ.

788. nghĩ về trái tim của bạn: nghĩ về trái tim của chính bạn.

yêu cầu nhiều lần: nhiều lần, nhiều lần.

789. sản phẩm đầu tiên: từ thế giới của các nàng tiên. thấp hèn, thô tục.

790. nắng che mưa, nghĩa là cẩn thận bảo vệ trinh tiết.

Chương 792. nhị hoa đào: hoa đào và nhị hoa giống thiếu nữ còn trinh.

Chương 793. gió đông: theo chữ ‘er’dao’ ở trên, nghĩa là: đừng để người yêu bẻ gãy ‘hai đào’, chẳng khác nào ngăn gió đông đến.

795. tình cờ: gặp lại lần thứ hai, đề cập đến việc gặp lại kim trong sau này.

799. yên: bệ, một loại bàn cổ, chân cao, đỉnh hẹp và dài.

806. tính khí: trò chơi phi pháp.

809. lầu xanh: vì chữ thanh lau: lầu sơn xanh. từ thanh lau nguyên chỉ nơi ở của giới quý tộc hay vua chúa, hay nơi ở của các mỹ nữ. sau này, baroque có nghĩa là nhà hát, nhà chứa.

810. gái mại dâm: thuộc loại gái mại dâm.

812. mùn cưa mướp đắng: Truyện cổ tích: “Một người lấy mùn cưa làm cám, đợi trời tối, mang ra chợ bán, gặp một người bán mướp đắng giả dạng dưa chuột. Hai người bán nhau rồi lừa nhau. mắc câu. ” điều này có nghĩa là mã sinh viên và ba của bạn là cùng một khu phố.

814. bán hương: mua gái khắp nơi về làm gái mại dâm. phấn và hương là hai thứ phụ nữ dùng để trang điểm, nên chúng được mượn để chỉ phụ nữ.

Nó đã bị cho ra rìa: nó có nghĩa là nó đã trở thành thông lệ, bạn đã quen với công việc.

815. market: thị trường của người dân, tức là các quảng trường đô thị, các khu đô thị. khắp nơi trong chợ, cánh đồng: một câu nói cổ, có nghĩa là: khắp chợ và cánh đồng, từ chợ đến đồng.

816. giả làm người hầu: mượn danh nghĩa tìm thiếp để hầu hạ.

<3

819. azalea: ban đầu có nghĩa là tươi sáng và xinh đẹp để chỉ người phụ nữ xinh đẹp.

821. trick trick: lừa bịp.

khuôn: giống như cái mép, nó bị kẹt vào mép và không thể thoát ra được nữa.

822. những nụ hôn: chào đón cô dâu.

823. cờ trong tay: ở đây có câu tục ngữ: cờ đến tay ai nấy vẫy, nói lên điều mã nghĩa là: Kiêu trong tay thì làm, muốn thì làm.

824. nhìn ngọc: mặt đẹp như ngọc.

bản nhạc vàng: bài hát của trái tim.

826. cụm từ này là do từ “tiều thien kim”: nụ cười của mỹ nhân đáng giá ngàn vàng.

827. bẻ hoa: phá trinh con gái.

828. vua: chỉ con gái của quý tộc.

834. câu này có nghĩa là: khi quả đào tiên đến tay thì cành phải gãy để đáp ứng những nhu cầu cần thiết của cuộc sống (tức là làm câu “tức nước vỡ hoa” ở trên).

835. dưới đất: như người ta nói trên thế giới, trên thế giới. bao nhiêu khuôn mặt: bao nhiêu người.

836. biết hoa: biết giá trị của hoa. nghĩa là gái mại dâm dễ dàng phân biệt được người còn trinh với người đã chết.

837. nước vỏ lựu, mào gà: theo sách bắc lý chí: gái thanh lau tiếp khách xong thì uống nước lựu với mào gà sống rửa sạch, đóng giả gái để đánh lừa khách.

838. thực hành: sử dụng phương pháp sửa chữa như thể nó còn nguyên vẹn.

839. những đứa trẻ da đen: những đứa trẻ nhưng đần độn, đây chỉ là những vị khách không quen biết.

845. họa mi: loài hoa nở vào mùa xuân và đầu mùa hè, hoa màu vàng nhạt rất đẹp.

848. ngọc, hương: ngọc đẹp, hương thơm, ví có sắc đẹp.

850. đuốc hoa: viết hoa: đuốc hoa, hoa nến.

858. hy sinh: từ bỏ cuộc sống là tự sát.

860. hai yêu: chỉ cha mẹ. Ý tôi là, tự sát một mình thì không sao, nhưng còn cha mẹ thì sao?

862. dấu vết: tìm ra nguyên nhân sâu xa của sự việc.

863. giãn ra: nới lỏng Tình cảm của Kiều trước đây như bị bóp nghẹt, bây giờ nghĩ đi nghĩ lại nó cũng dần lỏng lẻo.

864. một lần: đã chết một lần. kiều nghĩ: sớm muộn gì cũng chết một lần, bây giờ có chết cũng có liên quan đến cha mẹ.

866. sôi gáy :: gáy ồn ào, vội vã. từ “sôi” mang ý nghĩa thúc giục.

867. tầng sáng: tháp canh vào buổi sáng.

tiếng còi: tiếng còi thổi vào buổi sáng sớm.

869. bước dài: đứt ruột nghĩa là quá đau đớn (như xé ra từng khúc ruột). phân kỳ: chia cắt con đường, ngăn cách người này với người khác như nói “tạm biệt”.

870. hooves: vó ngựa (câu: ngựa con ngày càng khỏe). các từ “xiên”, “nhanh” miêu tả con đường gập ghềnh, gập ghềnh và ngụ ý rằng gia đình ở nước ngoài đã rất vất vả kể từ khi họ rời đi …

871. trạch đình: thời qin và triều đại, người ta chia đường ở mỗi cung, cứ năm dặm là một cung ngắn, có một cửa hàng, gọi là “dân dinh” (cửa hàng ngắn) mười dặm là một cung dài, có một cửa hàng. một cửa hàng khác được gọi là “trường gia” (cửa hàng dài). Theo phong tục xa xưa, chủ nhân thường tiễn khách mười dặm đường, mở tiệc ở long đình rồi mới trở về.

873. chủ nhà và khách mời: chỉ nhà vua là sinh viên.

877. đào thơ – điều này có nghĩa là một cô gái trẻ và ngây thơ.

884. sử dụng một cách tiết kiệm: anh ấy do dự, anh ấy do dự, khi bước vào phòng ở nước ngoài, anh ấy do dự, nhưng khi anh ấy ra khỏi phòng, anh ấy đã vội vàng.

886. chủ và tôi tớ: chúng tôi chỉ lập mã và chúng tôi mã những người hầu.

893. tuần: tuần rượu, mỗi ly rượu được tiêu thụ là một tuần.

tip glass: ly tí hon, đây là một ly rượu.

894. break: nó, nó, y, âm nghệ tinh đây chỉ mã thôi.

986.in front of the yên: ở phía trước yên ngựa.

897. liễu yếu đào thơ: nghĩa là kiều còn non yếu, nết na như liễu yếu đào tơ.

899. chân trời góc bể: bởi chữ hải thiềm nhai: góc biển, nơi chung trời, nghĩa là xa.

901. span: một đơn vị đo lường cổ của Trung Quốc, dài 8 mét.

mil: 8000 yard, nghĩa bóng: rất cao!

quân tung: tùng là cây thông, cây cao, thẳng, khỏe mạnh, về mùa đông lá vẫn xanh tươi, trong văn học cổ thường dùng để tượng trưng cho người đàn ông. quân tử là một loại cây tre, thẳng ngang, thân rỗng nhưng không cong queo, thường được dùng để tượng trưng cho kẻ sĩ.

902. bảo vệ tuyết: bảo vệ khỏi tuyết và sương.

<3

904. được giao trách nhiệm: nghĩa là bầu trời bí ẩn đã buộc “sợi dây xích thẳng”.

906. sun and moon mirror: gương mặt trời và mặt trăng. từ “gương” ngụ ý tiết lộ tội lỗi. con dao của quỷ: thanh gươm của quỷ, ngụ ý trừng phạt, con ngựa nói: nếu con cư xử bất trung trong tương lai, trời sẽ bày tỏ tội lỗi của con và con sẽ bị ma quỷ trừng phạt.

907. gió lay mây vần vũ: chuyến xe đò xuôi chèo mát mái.

909. trông đẹp mắt: hãy quan tâm đến điều gì đó đã trải qua một chặng đường dài.

9912. gradient bạc: trắng, trắng.

yêu cầu trả giá: sương mù bám trên mặt cầu vào sáng sớm.

mây ngàn: những đám mây ở những nơi có cây cối rậm rạp. câu này miêu tả cảnh cuối thu, đầu đông.

913. một chút may mắn: một chút gió.

915. mờ nhạt: bầu trời cao đến mức khô cằn.

hùng vĩ trên biển: sương mù trên biển.

916. khúc sông: kiều nhìn trăng nhớ “vầng trăng” đã chứng kiến ​​lời thề nguyền của hai người trong đêm ấy.

917. từng màu xen lẫn hồng: rừng thu đã héo lá đỏ giữa từng tán lá xanh.

918. hôn thần: sáng sớm, biểu thị sự chăm sóc sáng sớm và thăm hỏi cha mẹ.

920. lam tri: tên huyện, thuộc tỉnh sơn đông.

921. xe ngựa: cỗ xe có rèm kết cườm, loại xe mà phụ nữ ngồi.

927. thưa ngài: con điếm xấu.

930. bức tượng: bức tranh bức tượng lông mày trắng có nghĩa là “thần trắng” của tôi.

932. tổ tiên: ông tổ, ông tổ có công lập nghề. những từ dùng để ám chỉ sự mỉa mai.

937. đổi hoa: giống như nói hoa bỏ đi, tức là lấy hoa mới để tôn thờ, ném hoa cũ xuống dưới tấm thảm để nằm.

938. xung quanh: bốn phía xung quanh.

942. Đồ ăn Hàn Quốc: ăn nguội, ăn đồ nguội.

thế tử giúp van công khôi phục lại ngai vàng, nhưng đồng thời cũng là để ban thưởng cho các cận thần. văn học đơn giản là quên đi cái chết. bất mãn chết trốn lên núi ẩn cư. khi van công nghĩ lại muốn chết nhưng từ bỏ quyết tâm ở ẩn, van công ra lệnh đốt rừng và quyết định chết trên núi. van công vô cùng hối hận vì hàng năm đến ngày giỗ không được thắp lửa. nên có tục ăn cỗ, cứ hai ngày trước … tiết thanh minh (có sách chép là một ngày) cấm đốt lửa, ăn đồ nguội, tổ chức nhiều trò vui: đá cầu, đánh đu, chọi gà. , nối xe hoa đi chơi.

nguyen tieu: đêm sơn nguyệt, tức là đêm rằm ngày rằm tháng giêng. đây là một cô nương cầu trời phù hộ cho cửa hàng xanh tươi của mình ngày đêm luôn chật kín người, đông vui như tiệc truyền thống.

945. nhan nhản: a vu, người nhà Hán, đi sứ đến hung nô không chịu phục, bị hung nô sai ra biển bắc chăn thả dê, Hán triều hỏi thì nói đã chết. , sau khi sứ giả phải thốt lên rằng thác là vua han. săn một con nhạn ở vườn thương lam, chân trói lụa thư vu, chỉ sau đó treo nô tỳ trả lại nhà Hán. do đó, người ta thường nói “tín vật” để chỉ những thông điệp. ở đây, tác giả sử dụng nghĩa của “tin tức” một cách đơn giản.

949. hương hoa gia tộc: bốn chữ này chỉ ngôi nhà hoặc bàn thờ để thờ gia tiên, ở đây tác giả dùng bàn thờ thần bụt.

952. chú mày: đó là phụ thân của mày, chỉ thanh mai trúc mã, cô nương bắt nàng phải cúi đầu nhận nàng làm mẹ nuôi. giấy khai sinh là của cha nuôi.

954. tiểu tinh: sao nhỏ, chỉ thê thiếp.

962. tam bánh: theo sách Đạo gia, “trong một người có ba vị thần: vị trên, tên là cụt, ở bụng; phần dưới của thân, tên là kiệu, ở chân, mà thường hại dân ”. do đó, sự tức giận và độc ác của con người được cho là do thần “tam thị” hay “tam cụt” gây ra, và từ tam penh thường được dùng để chỉ sự tức giận.

964. min: ta, tao (tiếng cũ).

978. da quỷ: roi da.

986. mái phong: thế giới của gió và bụi. nó có nghĩa là: một con dao tàn nhẫn cắt đứt ràng buộc với sự sống là cái chết.

993. trần gian tiền định: trần gian tiền định, thế giới vĩnh hằng.

1000. qiantang: tên con sông chảy qua Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc).

1006. xuân hoa là nhụy: xuân hoa là nhụy, tức là mới nở. nó có nghĩa là kieu vẫn còn trẻ.

1008. màu vàng: đây là sự kiên trì của một người phụ nữ.

1010. khóa xuân phòng: khóa xuân phòng, như nói cung cấm.

chờ ngày đào non: đợi ngày lấy chồng.

1013. báo tội: nói quả báo ác như thế nào.

chỉ: kẻ thù, kẻ thù.

1016. thị trường rõ ràng: bên phải, bên trái rõ ràng. ý kiến ​​chung: thật hợp lý khi lắng nghe những gì người cô nói.

1017. thần của những giấc mơ: cảnh báo giấc mơ của quỷ thần (tức là đập tiên).

1018. tức là nguyên nhân: nhân duyên có từ trước, chẳng hạn như nhân duyên.

1025. đối xử với bản thân: một từ cũ có nghĩa là tiết lộ.

tiếng lóng:

con cá buồn lội

Tôi buồn, không biết đi chơi với ai.

Ở đây, giao dịch có nghĩa là kiểm soát giọng nói của khách chơi.

1027. nhàn nhã: ở đây có nghĩa là kiên nhẫn, thư giãn.

1033. stop spang: tên tầng mà dì dành riêng cho người nước ngoài.

ngưng tụ: có nghĩa là ngưng tụ màu xanh lam.

1036. bụi hoa hồng: chúng ám chỉ bụi bay trên đường.

1037. bẽ bàng: chán chường, buồn bã.

1039. chén đồng: chén đồng tâm, tức là chén rượu thề đồng tâm với nhau.

1042. son môi – tấm lòng son sắt, đây chỉ là tấm lòng son sắt.

1044. quạt hồng, ấm và lạnh: quạt khi trời nóng, ấm khi lạnh, do chữ đông trong phòng lễ.

1045. hybrid garden: vườn lai già. theo sách của thượng cao: “lao lai tu, người quê mùa xuân hạ, đã hơn bảy mươi tuổi, nhưng còn cha mẹ già yếu, thường mặc áo dài ngũ sắc, múa trước sân đình. , và sau đó anh ta giả vờ ngã, khóc như một đứa trẻ, để làm cho cha mẹ anh ta hạnh phúc. ” Đây là điệu nhảy ở nhà của mẹ tôi, đó là ngôi nhà của tôi.

1046. root of death: rễ cây tử đằng (loài cây). từ này được dùng để chỉ cha mẹ, “vong nguyên đã được người ôm ấp” để nói rằng cha mẹ đã già.

1053. ghềnh: vực thẳm, vũng nước.

1057. rèm ngọc: do chữ châu mà rèm bằng ngọc.

1061. mạch: dòng dõi.

1063. bóng nga: bóng người đẹp, chỉ kiều.

1064. đeo thắt lưng: gắn bó bền bỉ.

1067. trong câu trên mây: có nghĩa là có phẩm cách khác biệt, như tiên trên cung trăng hay tiên nữ trên mây.

1070. chữ tim ở đầu câu là sở nói nỗi lòng của chính mình, còn chữ tim ở cuối câu là sở xin trái tim ở nước ngoài, hai chữ chỉ dành cho hai bạn.

1073. bài hát mùa thu: cửa sổ mùa thu (nói thời tiết lúc đó).

1080. lịch sự: tiết kiệm.

nỗi buồn: chìm đắm, mê đắm. yểu điệu muốn cầu xin sở khanh cứu nàng sống lâu thành phật cứu chúng sinh thoát khỏi ao trầm luân.

1081. mảnh cổ tích: một mảnh giấy cổ tích, tức là một bức thư.

1082. Nhà báo trả lời: Tôi phải trả ơn gia đình, bán mình cho cha tôi.

1084. tiện hồng: cánh chim hồng tiện, tức là người đưa thư. từ hoa hồng ở đây được sử dụng như một âm tiết, biểu thị sự tương ứng.

1086. tiên mai: Do chữ tiên mai, tiên giấy có cành hoa mai.

1090. dog time: giờ chó, tức là tám, chín giờ tối nay. hai chữ Việt của bộ phận, sắp xếp theo hình dạng của bảng chữ cái, sau đó trở thành hai chữ lẩu thap nat tuat, có nghĩa là thứ hai mươi mốt, giờ con chó chạy trốn. chính bộ phận bí mật đã ấn định ngày giờ bỏ trốn, nhưng kiều đã đoán ra.

1091. vỗ: những con chim bay lại từng con một.

1092. cầm nửa vầng trăng: Ý tôi là vào ban đêm, khi trăng chiếu vào hoa trà, bạn cầm nửa vầng trăng.

1096. Hộp tên duy trì Â Â Â ÂÂÂÂÂÂÂÂÂÂ có nghĩa là sự cầu khẩn.

Chương 1097. Bèo tấm: Giống như bèo tấm hoặc bọt nổi trên mặt nước, ngụ ý lang thang đơn độc.

Chương 1098. yên anh: đây chỉ là gái nhà thổ thôi. yểu kiều nói: nàng như con chim lạc loài mà mang nợ làm điếm.

1099. nhục và chết: bởi từ sinh và tử, bằng xương bằng thịt. miêu tả câu chuyện: cơ sở của sự sống và cái chết đã có (đó gọi là làm cho người chết sống lại, làm cho thịt mọc ra xương khô – làm cho người chết sống lại, xương khô mọc ra thịt). do đó, người ta thường đề cập đến lòng tốt rất sâu sắc.

1100. cỏ tranh biên ải: miêu tả câu chuyện: Địch Lệ Nhiệt Ba có người yêu, lúc sắp chết cũng dặn dò con trai là phải đem thê thiếp đi chôn. giặc chết, thiếp không đem về chôn. Sau khi cải trang thành tướng quân, ông đi đánh nước Tề, gặp vị tướng quân khí phách, khỏe mạnh nổi tiếng, trong lúc đánh nhau bỗng nhiên do hô vấp phải cỏ ngã, bị ngụy bắt được. Đến đêm, tôi nằm mơ thấy một ông già đến nói: “Ta là cha của thần thiếp, tạ ơn ngài không chôn con gái ta, nên ta buộc cỏ quấn vào chân nàng làm nàng vấp ngã để tạ ơn.”

truyện tranh phong tục: bạn đồng hành đến chơi núi âm hoa để cứu sống một con chim. Đêm đó, một học sinh mặc áo phông vàng đến đưa cho anh bốn chiếc vòng và nói: “Tôi là sứ giả của mẹ Tây Vương Mẫu đã cứu mạng tôi, xin đa tạ.” do đó, “cỏ kết thúc với một đường viền” thường được cho là để thể hiện lòng biết ơn.

1107. hậu thế: đuổi gió, nói rằng ngựa đi rất nhanh.

1108. dưới trướng: vì lời chiến mà xuất binh chịu sự chỉ huy của một nguyên soái. từ này được dùng để chỉ cấp dưới của bộ phận.

trẻ em: những người trẻ tuổi có sức khỏe tốt. Chu khanh khoe rằng gia đình mình có ngựa tốt, thuộc hạ hùng mạnh, nghĩa là nếu trốn thoát được thì chắc chắn sẽ có phương tiện và người bảo vệ, không phải lo lắng gì.

1110. ba mươi sáu: “ba lục bát” là danh từ dùng để chỉ tất cả chúng. trong câu này, chỉ có một cách tốt hơn để trốn thoát.

1111. gió đôi và mưa đơn giản: nó có nghĩa là bất chấp những trở ngại …

1114. quá nhiều: quá nhiều, quá nhiều, nghĩa là công việc đã dang dở.

1119. lậu: xem nhỏ giọt. trong thời cổ đại, “đồng hồ nước” được sử dụng để tính toán thời gian. Đó là một chiếc đồng hồ bằng đồng, có một lỗ nhỏ ở đáy, một bình nước ở giữa, và một cái tên được khắc ở giữa; nước trong hồ cạn lỗ, độ trong tên dần lộ ra, nhìn thì biết giờ ngày đêm. danh từ đồng hồ ngày nay còn được gọi là từ gốc ở đó.

1122. the heart of the country: trái tim của đất nước.

1124. dễ dàng thức dậy: một cơn náo động dâng lên.

1125. gan của vàng: có nghĩa như “trái tim của vàng.” kieu đoán có người đuổi theo mình từ phía sau nên rất hồi hộp và sợ hãi …

1128. dặm rừng: đường rừng, đường rừng.

1130. nau nau: vậy nau, ý bạn là vậy sao?

1132. móng vuốt: móng vuốt sắc nhọn của động vật. nó có nghĩa là không có đầu ra.

1139. thú nhận, thú nhận.

implore: cầu xin, cầu xin.

1142. đất nước non trẻ có nghĩa là một con đường trở về một đất nước non trẻ, có nghĩa là một nơi xa xôi.

1150. người bảo lãnh: người chịu trách nhiệm bảo lãnh.

khiêu khích: tự thú, thú nhận, hắn muốn ép người Việt Nam ở nước ngoài phải giữ lời hứa, nên hắn đã lập tờ giấy thú tội và buộc người đó phải trình diện với tư cách là người bảo đảm cam kết của họ.

1151. đóng vai: cùng nhóm tuổi.

1152. nhận trách nhiệm: nhận trách nhiệm về người nước ngoài.

1160. phù du: hoa phù du, túi xách với người đẹp.

1161. dao chém: Khi đánh giặc giả vờ thua chạy bỏ chạy để mọi người đuổi theo, rồi bất ngờ vung dao chém, gọi là “dao chém”. “dao đào” là một ngọn lửa.

1162. mộ đồng: cho rằng tu ba và chu khanh thông đồng lừa gạt kiều bào.

1146. không có thắc mắc: nếu không, tại sao không tự nhiên …

1166. sân nếu: chia rẽ, đánh nhau. ma kiều khuyên kiều nên kìm nén cơn tức giận, không nên trung thành với cục.

1173. dụ gió lôi mây: dụ mây gió cuốn theo mình. có nghĩa là quyến rũ gợi cảm.

1178. anh hùng này: sử dụng vũ lực để đánh bại mọi người.

1189. anh yên: chỉ dành cho con gái.

1181. giếng: giếng sâu.

1182. ăn lời: nuốt lời, tức là không tiết kiệm lời nói.

1184. cái mặt này, cái mặt này: những lời này, kieu giễu cợt vào mặt cục và nói, đáp lại “bộ mặt” của cục trên.

1186. vô đạo đức: cũng như không trung thực, không trung thực, không có lương tâm.

1191. trên bạch giá: vì có câu tục ngữ: bạch như giá, bạch như bạch, bạch như băng (lưỡng lự là do chữ bạc).

1028. mở và khép kín, riêng tư: chỉ giọng văn căng thẳng, nửa kín, nửa hở, tình tứ như van xin, riêng biệt như thường, tức là thủ đoạn dụ dỗ.

1210. biên giới bảy chữ cái: bảy cách đối xử với khách bên ngoài khiến họ ngất ngây.

âm thanh trong tám ngành nghề: tám cách đối xử với khách khi đang ngủ, đối với mỗi hạng người, sử dụng một cách riêng để làm hài lòng họ.

1213. khóe mắt: khóe mắt; đôi mắt sắc như lá ngân hạnh.

<3

1216. giám khảo: hiểu biết, thông minh, biết chơi.

1218. nét lưỡi liềm: lông mày hình lưỡi liềm.

hồng nhan: mặt hồng.

1220. nghiêm khắc: ở đây giống như nói lung tung, xấu xa.

1221. el khue: từ khue el.

1227. hoa đào: rèm màu đỏ, được phụ nữ sử dụng rộng rãi.

1231. gió đưa cành chim: lá chở gió, cành đón chim, chỉ việc chở khách đến chơi.

1232. chung ngoc: việt nam, chiến binh nước đời, đẹp trai, có những bài cao ngất về du đãng, thần bài phú, nói về mây mưa của thần núi vu sơn …

trang khanh: (là nhân vật chính, nhưng thường được đọc là trạc hoặc trạc): tên tu ma tương tự người hán, mê sắc đẹp của zhuo van quan, gảy đàn tranh một cách thô bạo, khiến nó ngủ ở ban đêm, ra khỏi nhà và đi theo tôi.

<3

1239. mây mưa – chỉ tình yêu trai gái.

1242. gió như gió, hoa kề bên: nghĩa là cảnh dễ chịu trong chuồng.

1242. tuyết: bóng trăng soi khắp bốn bề. hai dòng 1241-1242 tả bốn cảnh: “wind, flowers, snow, moon” (gió, hoa, trăng tuyết).

1246. trên mặt trăng: bằng ánh trăng.

under the flower: dưới cắm hoa. hai câu 1245-1246 tả bốn sở thích: đánh đàn, đánh cờ, ngâm thơ, vẽ tranh (cầm, thi, khảo, hoa).

1249. Trúc mai gió mưa: mưa gió biểu thị tình yêu (như nghĩa nghiền mưa gió) trúc mai có nghĩa là tình bạn. đây là note trước: kiều vô tâm mọi chuyện mưa gió …

1250. nghiến: cách nói mệt mỏi, rệu rã. cũng có nghĩa là bị nghiền nát.

1253. bóng dâu: bóng mặt trời trên đầu dâu. sách hoài cổ nói: mặt trời lặn ở hướng tây, đổ bóng trên ngọn cây. người sau mượn từ làm dâu để chỉ tuổi già của mình.

1255. nghìn dặm: tức là một nghìn dặm.

1257. patio: hiên trồng hoa. vua triều ca đã tự tay trồng ba cây huệ trong vườn nhà và nói: “Con cháu ta sau này sẽ đạt được danh ba vị chiêng” (ngày xưa, trước sân nhà vua là chỗ ngồi của trồng ba cây chiêng, ba cây huệ, nên phong tước phong làm tể tướng, nên sân đình thường được dùng để chỉ những nhà có con cháu lỗi lạc).

ngây thơ một chút: chỉ là thủy văn và vương phi.

1258. Trân châu cam: loại thực phẩm quý và ngon. trong hai câu này nói lên rằng cha mẹ mỗi ngày một già, con cái trong nhà, sau khi bà lớn tuổi, chỉ còn lại hai đứa con nhỏ, ai sẽ thay bà chăm sóc. >

1261. Triều đại: theo sách taiping quang: han heng, nhà tang lấy một lá cờ nổi tiếng là liêu thị ở đường đình đại, trường an, rồi ra làm quan, bỏ vợ ở đó ba năm, không hái được. nàng lên có phải ngươi gửi liễu một cái bài đăng rằng: liễu chương, liễu chương hài tử thanh mai trúc mã trong cung? lịch sử thùy trước hài lòng bỏ tay người khác! (cây liễu chương, cây cúc trúc năm xưa xanh tươi, nay còn chưa? dù cành dài vẫn rủ xuống như trước, nhưng có lẽ đã vào tay người khác rồi!). điều này có nghĩa là: khi kim trong đến Liêu Dương để giúp chú của mình trở về, anh ấy sẽ hỏi người yêu cũ của mình (thủy kiều).

1262. cành xuân: cành xanh tươi đẹp ..

1263. tình nghĩa sâu nặng: biểu thị tình anh em, nghĩa dày: biểu thị tình nghĩa vợ chồng. yểu kiều muốn thủy chung lấy tình huynh đệ thay nàng trả kim trong nghĩa.

1264. hoa đó, cành này: “hoa đó” có nghĩa là thủy văn, “cành này” chỉ kim loại quý.

1266. Quan thoại: quê hương

ý nghĩa của hương: ước mơ về quê hương.

1267. bộ đôi: cũng như bộ đôi. xem chú thích 240.

1268. hoàng hôn: buổi tối khi mặt trời sắp lặn có ánh sáng vàng vàng gọi là hoàng hôn.

1269. thỏ bạc, thỏ vàng: giống như nói “thỏ lặn, thỏ đực” có nghĩa là dành cả ngày và đêm tương ứng.

1275. khách du lịch: khách đến tham quan.

1276. ky tam: tên chú, theo truyện thanh tam tài là tên của chú mình.

1277. huyện Thích, huyện Châu Thương: tức là huyện Vũ Tây, tỉnh Thường Châu, tỉnh Giang Tô (Trung Quốc).

1278. đúng: tức là cha. cha thì nghiêm, mẹ thì hiền, nên người ta gọi ông là “nặng”, “nặng”, mẹ là “mẹ”, “của thân”.

1279. hồng thiếp: vì chữ tiên hồng thiếp hồng gửi mỹ nhân. hương khê: hương khuê, phòng khách của phụ nữ, phong tục xưa của phụ nữ thường dùng hương thơm nên gọi là hương khê.

1281. tù trưởng: do từ luu đến tù trưởng, mạng che mặt có các tua làm bằng lông vũ ngũ sắc.

1287. common sense: thông thường như thế.

1289. mận đào: nói về vẻ đẹp của người con gái.

1290. màu vàng: chỉ ra rằng độ đồng tâm được giữ lại với nhau.

1296. nhặt nhạnh: so chữ, phục rượu tự đãi.

trình tự thơ: liên hợp các câu thơ, do từ “liên cú” một trò chơi của người xưa, thường là hai người hoặc nhiều người cùng làm một bài thơ.

1297. hương sớm, hương trưa: hương sáng, hương chiều.

1298. go on board: lên tàu. Trung Quốc có hai cách chơi cờ:

phi thường: đi

biểu tượng

: tức là cờ vua.

1299. orgy: tìm kiếm niềm vui.

1301. làn sóng thời trang: chỉ vẻ ngoài của một người phụ nữ xinh đẹp.

1303. tải xuống: chỉ cần thu thập và tiêu tiền một cách nhanh chóng, không cần phải đếm xem có nghĩa là tiêu tiền mà không hối tiếc.

1306. hơi đồng: tức là mùi tiền. Thời cổ đại, tiền được đúc bằng đồng, vì vậy “đồng” có nghĩa là tiền.

1308. lựu lửa: hoa lựu khi nở có màu đỏ như lửa, chỉ cảnh mùa hạ.

1312. nghĩa là kiều có thân hình đẹp và đầy đặn.

1314. luật tang: tức là thể thơ thất ngôn bát cú (luật năm chữ) hoặc luật bảy chữ (luật bảy chữ), mỗi bài có tám câu, năm âm, theo luật. của luật. . hình thức này có từ thời nhà tang, do đó nó được gọi là luật tang.

1317. liên tục: tính liên tục của condor. “dieu” là một loài chuột đến từ các khu rừng trên núi lạnh giá, có đuôi lớn, lông dài tới một inch, màu vàng hoặc đen tía. Trong triều đại nhà Hán, theo quan chức này, tất cả những người hầu cận của nhà vua đều đội mũ đuôi diều hâu để tự lừa mình. thời qủy, các vua chúa cướp ngôi hoàng đế, ban hiệu cho kẻ hầu người hạ, mỗi khi gọi hội lại ngồi đẩy người đội nón ra đi, nên dân chúng thời đó chế giễu: “Đồ thật. ira, cầu nguyện cho sự thô tục tuyệt vời. đuôi chưa đủ thì dập đuôi chó.) Về sau, người ta dùng từ “cau” (ghép) để chỉ một cái gì đó đòi hỏi trong tự nhiên. từ “nối” ở đây, là một từ khiêm tốn tự ti về việc tái tạo lại thơ ông chú sinh ra.

1318. nỗi nhớ: nỗi nhớ quê hương.

1319. mây vàng: nói nỗi nhớ, vì câu xưa: nguyệt trung cúc vân. thực trung đại hoang văn, hậu tứ gia giả cư chi hoang văn (cõi trần nhiều mây trắng, đất thục nhiều mây vàng, nhớ nhà gọi là nhớ mây vàng).

1322. nhánh đó, cái này: chỉ kiều và bạn ba. chú sinh tưởng kiều là con nhà cô nương.

1323. mùa thu ba: sóng mùa thu, chỉ con mắt (nói rằng con mắt trong suốt như dòng chảy mùa thu).

1327. chúa tể của mùa xuân – chủ nhân của vườn xuân, chủ nhân của hoa xuân, đây chỉ là sự kết thúc của cuộc đời. câu này có nghĩa là: chú đẻ ở nhà đã có vợ rồi.

1329. hiểu biết lẫn nhau: hiểu và thông cảm cho nhau.

1330. nước non: sông núi biểu nghĩa cho lời thề nên vợ thành chồng.

1334. thái thú, nô tỳ: thú là “thê thiếp”: cưới vợ lẽ, chỉ chú ruột của đấng sinh thành; cống “hoàn lương”: hoàn lương, tức là bỏ lầu xanh trở về, lấy chồng, chỉ ở nước ngoài. hai bên gặp nhiều khó khăn.

1335. binh khang: vào thời nhà tang, ở hoàng thành trạch an, gần cửa bắc, có một làng gọi là binh khang dành cho gái điếm ở, sau này được dùng làm danh từ chỉ khu phố điếm thường thấy.

1339. kệ quế: kệ điện quế. lưng dâu tằm chép: trên mặt trăng có quế và tiêu, cao năm trăm trượng, nên khi tả trăng người ta thường dùng các từ quế điện, quế cung.

1340. chị hằng: chị hằng nga, người biện hộ ở cung quế, nói về bóng vợ.

1341. giải đồng: giải đồng tâm.

1342. nhiều người hơn, người cũng vậy … những từ người ta dùng để chỉ ở nước ngoài, các chữ cái dưới đây chỉ ngày sinh.

1343. bèo mây: nói trạng thái bồng bềnh, bất định như bèo, mây trên không.

1344. bể tình: bể tình, nghĩa là tình vợ chồng.

1347. ổn định tay: ổn định tay. Kiêu nói: nếu mạnh tay thì vợ mới có quyền.

1349. từ trong ra ngoài: vợ cả và chú ruột. Theo nghi thức cổ xưa: nam bên ngoại, nữ bên nội: nam lo việc ngoài, nữ lo việc nhà. Yết Kiêu nói: nếu quyền lực của người vợ cả lớn hơn sức mạnh của người đàn ông.

1350. hàm sư tử: đời sống khom lưng, phong trần, hiệu là nữ cư sĩ, hay nói chuyện đạo Phật, vợ thùy mị, dữ dằn, hay ghen tuông, mỗi lần cởi đồ đãi khách, có tài ca hát, ở nhà nội trợ. , liễu thị đụng tường. chống gậy, hò hét khiến khách phải giải tán. thức dậy, cất cánh, viết một số câu chuyện cười:

“thuy tu long khâu một cư sĩ ngoại tộc,

cuộc trò chuyện không phải là vô tận,

con sư tử nóng bỏng của van ha dong hong

vương trượng bị mất trong ánh sáng tự nhiên. “

bản dịch:

“tốt như một giáo dân

“nói không có lý thuyết, có lý thuyết, giấc ngủ không quan trọng

“chợt nghe tiếng sư tử hà đông gầm rú

“cây gậy rơi, trái tim bàng hoàng.”

dang la: loài dây leo (tức là dây bện, dây tơ hồng) dùng làm từ chỉ cát tường ở các loài cây lá kim, so với số phận không đáng kể.

1352. Một số người lớn tuổi ở Nghệ – Tĩnh biết hai từ đầu của câu này là dấm hoặc véo. có nghĩa là: bếp lửa âm ỉ (biểu thị sự ghen tuông) khó chịu hơn lửa đỏ.

1353. nhà thông: nhà thung lũng, đọc ẩn, có nghĩa là nhà mùa xuân, vì chữ xuân dương chỉ chú sinh.

1355. liễu ngõ, hoa tường vi: hãy ví những cô gái trong nhà xanh như cây liễu bên đường, hoa đầu tường, ai hái cũng được.

1363. ngô, lào: xứ ngô (china), xứ lào (ai lao) mà tác giả dùng theo nghĩa bóng. nghĩa là: đừng nghĩ xa, đừng làm gì lung tung.

1366. gió ba: nhiễu động, biểu thị các sự kiện không lường trước được.

1370. tăng: núi ở phía tây.

1371. kiến trúc: một viện tre, một khu nghỉ mát được bao quanh bởi tre.

<3

1373. chiến tranh, hòa: ở đây chiến tranh là vấn đề của các vụ kiện, và hòa bình là cách thức thương lượng. theo truyện kim văn kiều từ thanh tam: ông chú đưa việt kiều về nhà hoa, một mặt phú ông nước đó, sau đó một mặt dựa vào cây dương để khoe khoang về tội mua chuộc con gái của. một gia đình lương thiện làm gái điếm, ngược lại là tần vay đến thương lượng người xa xứ chuộc lại lầu xanh.

1376. bỏ lỡ cơ hội: lỡ âm mưu, lỡ thủ đoạn của ông chú.

1378. Báo thù: Gái mại dâm bỏ nghề cũ, quay về cuộc sống lương thiện.

1380. mái ai: bụi chỉ mặt đất xanh.

1381. truc, mai: biểu thị tình cảm vợ chồng thắm thiết.

1383. hương hỏa: biểu thị tình nghĩa vợ chồng.

1384. sen ngọc: hai cụm từ chỉ cây trúc mai đã “sum vầy” về một nhà.

1386. bãi ngô: sân có trồng ngô. Cây ngô đồng là loại cây thân cao, cành lá xanh tươi nên thường được gọi là cây lá vàng giữa đám lá xanh nghĩa là mùa thu.

1387. hàng rào mùa thu: hàng rào hoa rơi.

sương xuân: hoa mùa xuân có thể chịu được sương, tức là hoa cúc.

1389. gió và sét: gió, sấm sét, hãy nói rằng cơn giận nổi lên như gió, như sấm.

1390. ông rất ngại: trong lòng rất sợ để con gái mình vào chốn lầu xanh như vậy, vì như vậy không những hủy hoại thanh danh gia tộc mà còn là tai họa cho thái giám.

1391. biện minh: ở đây nó có nghĩa là tuyên bố rõ ràng và rõ ràng.

1393. huấn luyện nghiêm khắc: lời dạy của người cha.

1396. sấm sét: do từ sấm sét, biểu thị uy quyền, chẳng hạn như la hét và đánh.

búa rìu: vì chữ Việt, chỉ tham gia sát phạt, cả câu: dù có đánh chết cũng chấp nhận.

1397. bàn tay nhúng chàm: bàn tay nhúng chàm, dù bạn có lấy tay ra, nó cũng sẽ bị nhuộm chàm.

1400. đã kết hôn thì không được buông, giống như muốn cầm đàn hạc mà chơi thì không được đứt dây.

1402. bạc đen: nghĩa là không rõ ràng lắm. có những người phân giải đen bạc là sống chết.

1404. sốt gan: nóng gan, nóng như máu.

quỳ lạy cáo: cáo là phục, quỳ là quỳ. Theo phong tục xưa, ai vào quan báo cáo việc gì thì phải quỳ trước mặt đường mang theo một lá thư.

1405. đất bằng phẳng nối sóng: chữ ba ba đào.

1406. phủ đường: phủ đệ, phủ đầy.

giấy hồng: Lệnh tiếng Quan Thoại.

ngừng điều tra: yêu cầu thẩm vấn.

1408. vườn hoa: sân có đường bao phủ (chữ in hoa ở đây chỉ là chữ)

1409. mặt sắt: Do chữ thập, mặt đen, cứng như sắt, thường được mượn để chỉ vị quan ngay thẳng, nghiêm túc.

1415. nguyên đơn: đơn khởi kiện của nguyên đơn, tức là chú (chú và kiều là bị đơn).

1419. trừng phạt gia đình: trừng phạt gia đình có nghĩa là buộc phải chịu đựng một tội ác, hình phạt, ở đây là trừng phạt bằng gậy mà nhà trường dùng (gậy) để đánh.

1422. yi kieu nói: Tôi đã quyết định trở lại cuộc sống của mình, tôi không muốn bị mắc kẹt trong ngôi nhà xanh một lần nữa, giống như một con nhện bị mắc vào một mạng lưới một lần nữa.

1423. đục, trong: có nghĩa là: đục hoặc trong, xấu hoặc tốt.

1424. thơ yếu: yếu ớt, chất phác.

sấm sét: sấm sét, chỉ sự trừng phạt.

1426. ba cây: vì chữ tam miêu là một loại hình đồ gỗ cụ thể thời xưa, tức là cổ, cái (còng cổ, còng và cùm vào chân). ở đây, từ “cây” dùng để chỉ những hình phạt dành cho thân thể yếu ớt của kiều nữ.

hoa mẫu đơn: cành hoa đẹp nói kiều.

1437. bìa đường: nhắm mục tiêu chính phủ.

1440. yêu cầu một mối quan hệ: yêu cầu một mối quan hệ, nói về việc kết hôn.

1446. giải pháp: cất cánh, loại bỏ hàng rào, điều này có nghĩa là loại bỏ lối ra để khắc phục sự cố này.

Chương 1452. mộc cổ: cái gông. tiêu đề của bài thơ là vịnh cồng.

1455. xứng với tang: nghĩa tương đương với thơ của tang.

thịnh vượng: đó là thời kỳ thịnh vượng nhất của thơ ca triều đại nhà tang, Trung Quốc;

1458. chau tran: ở chau tu, huyện phong, ngày xưa có họ chau và họ tran luôn gần gũi nhau, sau này người ta dùng hai chữ chau tran để chỉ một cuộc hôn nhân mỹ mãn.

1459. thu hút sự tức giận và căm ghét: mua chuộc và gieo rắc điều ác và nuôi dưỡng sự tức giận.

1467. loại cũ là nhạc cụ dùng để đánh như chiêng, trống. xuy là những dụng cụ âm nhạc để thổi, như sáo.

1468. trường đào: bày hoa đào, đây là rạp cưới.

1470. lily: hoa huệ, hoa lan, ngụ ý cảnh sum họp.

1473. ma trận: ngôn ngữ cũ có nghĩa là đắm chìm trong một cái gì đó và quên đi. đây là ý nghĩa.

1474. có nghĩa là cuối mùa xuân và đầu mùa hè

1478. nhạn (mùa xuân) nhạn (mùa thu), chúng thay đổi lẫn nhau, tức là từ mùa này sang mùa khác. ở đây có nghĩa là thời gian đã trôi qua gần một năm.

1480. tao khan: bã rượu cám. người nhà cùng ăn bã, cùng ăn cám, tức là vợ cả lấy từ khi con còn nhỏ. Vua Quang Vũ đời Hán muốn gả em gái mới góa vợ là Hồ Dương công chúa cho Tống Hoàng hậu, nhưng Hoàng hậu đã có vợ. vua hỏi hoang, hoàng nói: Trẫm không được vợ, không được hạ đường, tức là vợ lấy được trong lúc ăn cám, không bỏ được. nhà vua biết ngay.

1485. phi thường: khác người thường, ý người sâu, hiểm độc.

1496. quay lại trang: về nhà.

1498. ninh gia: về thăm nhà.

1499. Quan: cửa quan, hà là sông. ly quýt: ly rượu chia tay.

1500. xuan dinh: có thể hiểu là nơi gặp gỡ, vui vẻ.

cao lâu: cũ thị: cao lâu có nguồn gốc khác nhau, nơi riêng biệt trong long thành.

1501. qin river: con sông ở xứ qin xuyen, thuộc tỉnh cam tuc. theo tân da, qin là sông tân hoài, thuộc tỉnh giang sang, quê hương của chú sinh (hư vô).

1502. Yangguan: tên một cửa khẩu ở biên giới tỉnh Thiểm Tây, Tây Bắc Trung Quốc.

1507. yến tron ​​kim: nghĩa là không rõ ràng lắm. đại ý của câu này là: kiều cho rằng không thể hai người lấy nhau được.

1508. Nếu bạn nhắm mắt bạn không thể bắt được một con chim, nếu bạn nhắm mắt bạn không thể bắt được một con chim. nghĩa là không thể che giấu việc có vợ lẽ.

1509. boo pass: nghĩa là vị vua của tình yêu.

1510. nói thật: tức là nói thẳng thắn, nói rõ ràng, không giấu diếm.

1519. máy bay: áo sơ mi. Thông thường, trong buổi chia tay, người ta dứt áo ra đi thể hiện sự lưu luyến. chia cắt nghĩa là dứt áo ra đi.

1520. phong: một loại cây ở Trung Quốc, lá chia thành nhiều nhánh, gần giống như lá thầu dầu ở nước ta, vào mùa thu lá chuyển sang màu đỏ.

quan san: quan đèo, núi, thường dùng để chỉ khoảng cách.

1521. dặm hồng: đi một dặm giữa những bụi hồng. chìa khóa là đi xa, bình yên là yên. người ta thường dùng hai từ chinh an để chỉ việc đi đường dài.

1528. camera trong: chĩa vào người vợ. cây này có nghĩa là: bây giờ chúng ta hãy nói về người vợ là chủ gia đình trong nhà.

1530. sắp xếp lại: sắp xếp lại, tức là bộ quan trọng nhất trong sáu bộ của triều đình phong kiến.

1531. dang tiền định: cổ thi: tương lai là vương phi của dang vuong cac (thời gian đã đến rồi, sao lại đưa anh về bảo vệ dang vuong?). nó có nghĩa là có một cơ hội tốt.

1534. ràng buộc: có nghĩa là ràng buộc, đặt người khác vào khuôn, cho phép người đó cho phép.

1535. vườn vừa thêm hoa: nghĩa là chú có thêm thê thiếp.

1538. đen và bạc: cùng nghĩa với bạc và bạc.

hoa mặt trăng: do từ vốn và trăng, có nghĩa là trò chơi của trai gái.

1541. lý lịch: cách cư xử của cấp trên, tư thế của cấp trên.

1551. thẻ tiền: trước mặt bạn.

Chương 1552. tục ngữ: Chưa thăm ván đã bán tàu. ở đây, chỉ trẻ sơ sinh là già.

1560. thị phi: nghĩa là phải nói trái, sai nói phải trái, đan xen đúng sai khiến người nghe mắc lỗi.

1568. lầu hồng: vì chữ hong lou, nhà quyền quý, cũng được dùng để chỉ nơi ở của những phụ nữ giàu có.

1571. tẩy dầu mỡ: bột giặt. Theo phong tục xưa, khi có người từ xa trở về, họ mở tiệc để “lau mái”, nghĩa là rửa sạch bụi trần khi đi đường.

1578. tham khảo ý kiến: thẩm vấn.

1580. Kéo dây trong rừng: Tục ngữ nói rằng kéo dây làm rung chuyển cả một khu rừng. Câu này có nghĩa là: Người chú sợ việc tiết lộ lý lịch đi nước ngoài sẽ gây hoang mang trong gia đình.

1583-1584: Ý kiến ​​chung là ngọc tốt, vàng hay thau, chúng ta đều biết phân biệt rõ ràng, không thể sai sót.

1593. nguyên chất: một loại rau, một con cá. Tôn triều đại hán, khi làm quan ở xa, nhìn thấy gió thu, chợt nhớ đến món canh rau muống thanh tịnh ở quê, bèn bỏ quan trở về. do đó, người ta thường dùng hai từ đơn giản để chỉ hoạt động giải trí ở quê hương mình.

1594. co thi: ngô đồng trùng phùng, thân thế tri thu: (chỉ một chiếc lá rụng trên ngô đồng mà ai cũng biết là mùa thu). câu này đại khái là: cô chú sinh ra ở quê bạn mới bắt được mùi rau và mùi cá nên đã bắt đầu sa ngã.

1596. quýt: giống quýt, chỉ ở vùng núi và biên giới.

1599. mây bạc: do từ mây trắng bay ra. đường đi làm xa, thường chỉ tay lên đám mây trên núi thai hang mà nói: “nhà bố mẹ em đây”. ở đây thường nói người chú có cha ở xa.

1606. xe hương: vì từ hương xa dùng để chỉ xe của người phụ nữ.

quynh ninh là hỏi thăm sức khỏe của bố mẹ.

1609. thành ngữ: ngứa ngáy, đố kỵ, ghen ghét, nói hai điều khó chịu nhất.

1614. đường biển: bằng đường biển.

1621. color: secret: mẹ của thái giám rất khen ngợi kế hoạch này.

1623. nến: ngọn nến leo: dây neo.

1624. dog: con chó, Eagle: chim ưng, hai con vật dùng để săn bắn. ở đây họ thường chỉ định những người hầu trung thành của mình.

cong quang: giống như côn đồ, dùng để chỉ những kẻ vô lại.

1626. thuận gió: gió thuận. một lá: một ngọn nến, kiều ở lam tri lúc đó lam tri nguyên là kinh đô cổ khí nên gọi là ben te.

1630. ấm áp và lạnh lẽo: vì từ “wen loong” (hành lang ôn hòa phía đông), ngọt vì từ “cam”, có nghĩa là con cái phải trút bỏ nóng lạnh và phục vụ những bữa ăn ngon cho cha mẹ.

1632. lời nước: lời non sông, biển cả. lời mỉa mai: lời nói trung thành rắn như sắt.

1633. yucca: do từ cát mà ra. xem chú thích 902.

1636. cung quang: cung tren cung trăng, cung la nguoi phu nu. Hằng nga là một người vợ tốt, cô ấy đã đánh cắp thuốc trường sinh của chồng mình rồi chạy về một mình trên cung trăng; về cơ bản câu này nói: hãy mạo hiểm sống một mình như thể chúng ta đang sống trong một cung điện ở Hàn Quốc.

1638. ba ngôi sao: vì lời kinh: ba ngôi sao trên trời (ba ngôi sao trên bầu trời). ở đây tác giả chỉ mượn câu đó để nói ngoài trời đêm ấy gió thổi, trên trời có trăng sao, v … v …

1642. quỷ thần kinh: quỷ khóc, thần sợ, ý nói rất đáng sợ.

1667. leftovers: thức ăn thừa.

1668. An táng: lễ mặc quần áo mới cho người chết và quấn lụa trước khi đưa vào quan tài. tang lễ: lễ tang và ăn chay.

1670. hành trình: bằng đường bộ.

1673. trung đường: nhà giữa.

1674. sẵn sàng cho việc thờ cúng: giường bàn thờ.

mặt bàn: mảnh gỗ có viết tên người đã khuất để thờ ông.

1680. mãi mãi: như tạm biệt, vĩnh biệt vĩnh viễn không bao giờ gặp lại nhau.

1684. Ma quỷ: Đốt một tấm bùa hộ mệnh để triệu hồi ma quỷ.

từ bi: cảm thông với cõi thần bí, tức là cõi của ma và linh hồn.

1685. ba đảo: ba đảo tiên: bong lai, phuong truong và doanh châu. người ta thường dùng nó để chỉ cõi thần thánh hay cõi tiên.

chín luồng: chín luồng, tức là âm phủ.

1689. Đạo sĩ: Giống như đạo sĩ, chỉ có hắn nhìn thấy pháp.

tinh đàn: ban thờ thần linh các pháp sư.

1690. xuất thần: linh hồn của thầy cúng rời khỏi thể xác để vào cõi thần thánh.

1695. chẵn lẻ: dấu hiệu là số mệnh, một trong 12 dấu hiệu của tử vi. trong sách tướng số có câu: nếu cung mệnh có sao chiếu mệnh thì người đó sẽ gặp khó khăn. câu này cơ bản nói: nếu bạn nhìn vào số của thuy kiều, bạn đang gặp rắc rối lớn.

1697. tiếng rít: cách nói cũ, có nghĩa là hiển nhiên hoặc ngay lập tức.

1701. trung gian: ông già, bà đỡ, những người làm nghề chài lưới, câu bóng.

1709. cảnh: nến đi nhanh.

1715. lương thực: kê vàng. Trước đây, khi một học sinh đời Đường đi thi, gặp một ông lão cho mình mượn gối để ngủ. ông mơ thấy mình thi đậu, làm quan hơn 20 năm vinh hoa phú quý. khi tôi tỉnh dậy, nồi kê của nhà hàng vẫn chưa được nấu chín. sau này sử dụng hai từ hoàng lương để chỉ những giấc mơ.

tinh thần buổi sáng: Ngày xửa ngày xưa, có người gặp một cô gái trong rừng, họ cùng nhau uống rượu, đến sáng thức dậy thì thấy mình đang nằm dưới gốc cây mai. đây chỉ có nghĩa là một giấc mơ.

Năm 1719. thời con gái: những người hầu nữ trẻ tuổi.

Năm 1722. Thiên Quang cai quản: Thiên Quang là sáu vị quan tài giỏi nhất do nhà Chu lập ra. lãnh chúa là vị trí của vizier.

Năm 1724. bảy báu: bảy sản phẩm quý giá như vàng, tre, ngọc bội, xà cừ, mã não, san hô và ngọc trai. ở đây chỉ có chiếc giường được khảm bằng những đồ vật quý giá.

Năm 1731. mèo hoang: mèo hoang sống trong mồ; gà rừng sống ngoài đồng, người ta thường dùng để so sánh với gà lông xù, gà chọi.

1735. luật gia đình: nội quy để trừng phạt người hầu và người giúp việc.

1739. tre stick: thanh tre.

1741. cây đào: cây đào, hoa huệ, thường dùng để chỉ phụ nữ.

1744. phiên thị pi: ở nhà có nhiều quý nhân, chia làm phiên họp và phiên phục vụ, nên gọi là phiên thị pi.

Năm 1745. thanh ly: áo lam. các cung nữ ngày xưa mặc áo lam nên được gọi là thanh và.

1747. Quản gia: Trong gia đình quan lại phong kiến ​​xưa, những người phụ nữ xưa thường đảm việc nhà và quản lý số lượng người giúp việc, gọi là quản gia.

Năm 1750. nghĩa là: ở đây nó có nghĩa là thử và thao túng mọi thứ.

lối sống: trân trọng cuộc sống, nghĩa là tránh con đường đau khổ và cái chết.

Chương 1752. Willow và osier là hai loại cây thân mềm thường được dùng để chỉ phụ nữ.

Chương 1753. nghiệp oan: tiền bạc, nghiệp chướng bất chính, nghĩa là có thù hận vô cớ và tội lỗi trong quá khứ.

1755. tai và vách rừng: do thành ngữ: rừng có mạch, vách có tai.

Năm 1761. mái phong: nghĩa đen là gió bụi, thường được dùng để chỉ nỗi thống khổ mà con người phải chịu đựng.

1765. tiền để lại: nợ nần, hận thù kiếp trước.

Năm 1774. Địa ngục, thiên đường: Theo giáo lý nhà Phật, những kẻ ác sau khi chết nên xuống địa ngục để chịu tội, còn linh hồn của những người lương thiện sẽ được lên thiên đàng. ở đây ý tôi là nơi đau khổ và nơi hạnh phúc.

Năm 1778. tơ tre: vì chữ ty: tơ là tơ để làm dây thừng, trúc là tre để làm sáo. hai từ này thường được dùng để chỉ âm nhạc nói chung.

1786. trận đấu: cuộc họp cụm từ này có nghĩa là: Thủy kiều nghĩ rằng nếu tình cảm giữa cô và chú muốn nối lại thì chỉ có thể là kiếp khác.

1782. nghĩa là khi thủy chung nhìn về phía bốn bể, đâu đâu cũng thấy mây trắng, nhưng chẳng thấy quê hương đâu.

Năm 1788. cố hương: ban đầu có nghĩa là cố hương, sau này còn được dùng làm từ patria (quê hương cũ).

Năm 1791. uy: vì chữ tình như loài chim sống có đôi có cặp nên người ta thường dùng để chỉ nghĩa vợ chồng. uyen bay: nghĩa là thủy kiều không còn nữa (chim đã bay đi).

Năm 1793. trăng non: trăng đầu tháng. Người ta có câu: Các cô chú học trò thấy trăng lưỡi liềm đầu tháng như lông mày mỹ nữ mà nhớ kiều.

năm 1794. câu này có ý nói: thủy kiều không còn nữa. cô y tá nhìn thấy mùi nước hoa còn sót lại của cô ấy và trái tim cô ấy tan nát.

Năm 1797. cố chấp: người quen cũ. ở đây chỉ có thuy kiều.

Năm 1799. home: nhà và thị trấn, đó là nhà. ở đây nó đề cập đến quê hương của chú ở quận wuxi.

1803. nhà hương: bằng chữ hương khê.

Năm 1816. thành ngữ: giết người không gớm tay. chỉ là một mưu mẹo nham hiểm ở đây.

Năm 1823. Linh hồn lạc lối và lạc lối: Theo từ linh hồn, nó có nghĩa là nỗi sợ hãi khủng khiếp.

Năm 1830. hành động: thay đổi nét mặt, chuyển lời nói.

Năm 1831. hiếu thảo: có tang cha mẹ. Tôi đến đây để sinh con và kết thúc tang thương cho mẹ tôi.

Năm 1832. kỳ quái: bài thơ có câu hoài nghi, mộng hề (tìm mẹ trên núi). Sau đó, anh ta đã dùng hai từ bi thương để nói rằng anh ta yêu và nhớ mẹ của mình.

chung thien: suốt cuộc đời có nghĩa là không bao giờ quên.

Năm 1833. đạo hiếu: con trai hiếu thảo với cha mẹ.

Năm 1834. giảm bớt phiền muộn: giảm bớt phiền não.

Năm 1835. trả thù: một ly rượu do chủ nhà phục vụ để mời khách.

khắc: ly rượu do khách phục vụ để đáp lại chủ nhân. ở đây người ta nói rằng vợ chồng khuyến khích uống rượu và mời nhau.

Năm 1836. giữ hồ: mang bầu rượu. nghĩa là bắt Việt kiều phải đứng hầu rượu cho vợ chồng con nuôi uống.

Năm 1846. tinh vi để chỉ người có việc buồn không nói được. ở đây có nghĩa là: ly rượu đưa ra mời có cảm giác đắng như xà phòng, nhưng vì sợ bị liên lụy nên phải uống ngay.

Năm 1856. nội ngoại là ngoại, thái giám là hoạn quan: nội là nội chỉ khuyến sinh, ngoại.

Năm 1865. thả rồng: nghĩa là thời gian, khoảnh khắc.

Năm 1866. cam kết: hài lòng, vâng.

Năm 1871. phòng: phòng ngủ của cô dâu và chú rể;

Năm 1875. thuy: chim cha. lovebirds: chim uyên ương. ở đây chỉ có bọn hoạn quan dùng mưu để chia rẽ vợ chồng chú tiểu kiều.

Năm 1885. Đại dinh: dinh thự, dinh thự, chỉ nơi ở của giới quý tộc. ở đây mượn để chỉ nơi ở của chú và thái giám.

Năm 1896. body: khai báo, khai báo.

Năm 1897. cash front: ở phía trước.

Năm 1910. cửa không: vì từ không có chủ ngữ. vì đạo Phật cho mọi thứ trên đời đều là “không” nên người ta gọi đạo Phật là “vô môn”.

Năm 1913. Quan âm: Chùa thờ Quan thế âm bồ tát. đây là đền thờ riêng của thái giám.

Năm 1915. cây cổ thụ: cây lâu năm.

sơn hồ: giả núi và quả óc chó để trang trí.

Năm 1917. báu vật: ánh sáng tang tóc.

Năm 1918. năm lễ vật: năm lễ cúng phật, tức là hương, hoa, đèn lồng, trà và trái cây.

Năm 1920. ba quy y: ba nghi lễ “quy y”, tức là quy y phật, quy y pháp, quy y tăng, nghĩa là quy y cả tâm lẫn thân để theo đạo Phật.

Năm điều răn: năm điều răn, đó là, điều răn giết người, điều răn gian dâm, điều răn gian dâm, điều răn nói chuyện phiếm, điều răn uống rượu.

xuất gia: xuất gia có nghĩa là trở thành một tu sĩ.

Năm 1921. áo sơ mi xanh dương: quần áo của những người giúp việc.

nhà: áo choàng của nhà sư.

Năm 1922. tên pháp lý: tên được đặt cho một phong tục tôn giáo. trac tuyền là pháp danh do thái giám đặt cho kiều.

Năm 1924. xuân hạ thu: tên hai cung nữ do thái giám cử đến quan âm ở lại cùng kiều bào giúp hương đèn.

Năm 1926. rừng tía: do chữ truc lam, nơi ở của phật bồ tát.

bột hồng: vì từ trần tục, tức là thế giới trần tục, thế giới

Năm 1927. nhân duyên: duyên vợ chồng. ở đây, chỉ nhân duyên giữa ông ngoại và chú ruột.

Năm 1930. viết tay: chữ viết tay.

heart aroma: hương trái tim. nén hương lòng người vì tấm lòng thành kính.

Năm 1931. giọt nước từ cành dương: vì nước từ dương chi. Theo sách phật, phật quan âm có cành dương liễu và bình đựng nước cam. khi muốn cứu ai đó, anh ta lấy một cành dương liễu tưới nước vào bình. ở đây, giọt nước từ cành dương được dùng để biểu thị phép lạ của phật.

Năm 1932. trái tim lửa: từ trái tim lửa, nó dùng để chỉ tất cả các loại ham muốn tình dục sinh ra từ trái tim con người.

chen duyên: nhân duyên ở thế gian.

Năm 1937. kinh gác: gác ghi các việc làm, chỉ nơi ở của kiều.

hiệu sách: tức là thư viện, phòng đọc, nơi sinh viên ở.

Năm 1940. bảo mật: tư vấn về sức khỏe.

Năm 1944. áo lam: do chữ thanh sam dùng để chỉ áo lam của các nhà Nho thời xưa.

Năm 1950. bọ cát bạch ngọc: nghĩa là kiều giống như “bạch ngọc” nhưng bị cát nghiền nát.

Năm 1953. đường bê tông: trang viên. ở đây dùng với nghĩa: “nối dõi tông đường”. có nghĩa là người chú nghĩ rằng mình không có con trai để nối dõi tông đường.

Năm 1957. bão: mưa to và gió lớn. ở đây chỉ cơn thịnh nộ khủng khiếp của hoạn quan.

Năm 1987. thư pháp: viết.

Năm 1988. Lan thẻ – đình đình: vì chữ lan-đình, thẻ là một bài văn tự sự rất hay của nhà văn vường hy chí, trong triều đại q.

Năm 1991. trà zen: trà chùa.

pho mai: gỗ mai già dùng làm nước uống, màu nước đỏ hồng, chính vì vậy mới có tên là hồng mai.

Năm 1992. thư viện: nhà đọc, cũng như thư viện.

Năm 2008. đầu hàng: chữ Hán là dấu chấm hết. bỏ từ “bó tay” sau từ “kết thúc” là một cách chơi chữ của tác giả.

2011. đối xử với bản thân: ở đây một lần nữa nó có nghĩa là nói chuyện, làm ầm ĩ lên.

2014. Có một câu cổ ngữ: giận là thường, cười là thường, có nghĩa là: giận là thói quen, tiếng cười khó lường. câu này sử dụng ý tưởng đó.

2018. câu này có nghĩa là: bị giam giữ ở đây lâu dài, một ngày nào đó chúng ta sẽ bị tra tấn nặng nề hơn, hoặc bị loại bỏ.

Năm 2020. câu này có nghĩa là: thủy kiều nghĩ thân phận mình như cánh bèo ở dưới nước, ở đâu cũng nổi, không thèm quan tâm nữa.

Năm 2024. kim ngân: vàng và bạc, chỉ các đồ thờ cúng như chuông và dao kéo được đúc bằng vàng và bạc.

Năm 2036. triện: tên của ngôi đền, có nghĩa là chiêu mộ những người ẩn dật.

Năm 2038. trụ trì: trú ngụ và chủ trì mọi công việc trong chùa.

Năm 2043. tiểu thiền: Giống như tiểu hòa thượng, là tiểu hòa thượng (ngữ khí tự trọng).

Năm 2044. phật sư, phật sư: theo thầy, theo phật, giống như câu nói “yêu cầu tăng, phật”.

Năm 2045. tu sĩ: một nhà sư tự học.

Năm 2046. pháp bảo: chỉ đồ thờ quý giá.

sư huynh: sư đệ cao cấp, lãnh đạo trong giới tu sĩ.

2047. khán giả: mang cả ngày đến trước mặt bạn.

Năm 2050. vĩnh viễn: biệt hiệu của một nữ tu sĩ khác đóng vai giáo viên của cô ấy.

hôn nhân: tốt bụng, tử tế, thân mật.

2053. là ngươi: vì thẻ phòng, cư sĩ.

2059. thông minh: thông minh, minh mẫn;

2062. khía cạnh bạc: ánh bạc, ánh trăng sáng như bạc.

2064. dan viet: người bố thí, thường ám chỉ những người có công với chùa, hoặc người đến viếng chùa.

ông già: theo tiếng Phạn, chùa được gọi là già lam.

Ở đây, thật ngớ ngẩn khi đợi nước đến chân rồi mới nhảy.

Năm 2088. cùng chủ đề: cùng thầy, cùng trường, có nghĩa là bạc hà cũng là một khu công trình xanh như ba của bạn.

Năm 2096. tục ngữ: tiếng lành đồn xa, tiếng xấu đồn xa. ở đây ông ta mượn ý đó để nói rằng Thủy kiều mang tiếng trốn chúa, trộm cắp, dù sao mọi người cũng không đồng tình.

Năm 2097. Gia đình không lành mạnh: Người phụ nữ địa phương nói rằng Kiều là một gia đình bất công ở kiếp trước đã vào nhà cô để chuẩn bị gây ra tai họa cho cô.

break the house: phá vỡ ngôi nhà.

Năm 2099. xe dây: giống như xe lụa, nghĩa là cưới xin.

2108. kết hôn: kết hôn, trở thành vợ chồng.

chou thai: nơi buôn bán bạc, ở tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc).

2118. trong các cổ ngữ: chim cung phụng, kiến ​​cây là cao phi, nghĩa là con chim nào bị cây cung làm tổn thương cũng sợ bay cao khi nhìn thấy cây cung.

2123. sở thích: hỏi, hỏi, muốn kết hôn.

2124. tân minh: thề bên nhau chân thành.

2132. thanh hoàng thông công: nghĩa là: bạc hanh thề rằng: nếu ta không tốt với ngoại, ta sẽ nhờ thanh hoàng, thông công.

2134. hội tơ hồng: tức trăng già, thần xe kéo dây thừng cho người ta lấy nhau.

2139. nhà tù: tên gọi khác của nhà chứa.

2151. Theo thuật số xưa, đào hoa là hung tinh, nếu là cung hoàng đạo nam thì bệnh tật, nếu là mệnh nữ thì phải là tửu điếm.

2157. quân đỏ – chỉ bạn tin. quần hồng: quần đỏ, dùng để chỉ một cô gái.

2164. mặt phấn: khuôn mặt trát phấn, biểu thị thân phận con gái.

2166. bien dinh: một nơi biên cương xa xôi.

2167. râu hùm, hàm én, mày ngài: dấu ấn của người anh hùng: râu hung dữ như râu hùm, hàm rộng như chim én, mày cong và to như con tằm.

2196. anh hùng anh hùng: anh hùng anh hùng.

2170. kung fu: võ thuật chiến đấu bằng gậy.

đúng: một môn võ thuật chiến đấu thủ công.

sách lược về việc dùng binh, vì chữ lục thao và chữ tam là hai sách binh thư cổ.

2172. viet dong: đề cập đến tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) ở phía đông sông Việt, do đó được gọi là việt đồng.

Năm 2176: Hoàng sao, một thủ lĩnh nông dân thời nhà tang, có câu: Bán cung kiếm trời, nhất thời chỉ bán cung kiếm, tung hoành khắp trời. , chỉ cần một mái chèo để du ngoạn cả dòng sông).

2176. trái tim cô gái: có nghĩa là: người đẹp.

lầu hồng: do chữ hồng lâu.

2179. tâm phúc tương cờ: cờ tương tức kỳ tương. hứa với nhau. từ hải muốn trở thành tri kỷ với việt kiều chứ không phải là tình yêu nhất thời trăng hoa.

2182. mắt xanh – tể tướng của đời tấn, người coi trọng ai thì nhìn bằng mắt xanh, người khinh thường người thì nhìn bằng mắt trắng. câu này có nghĩa là: de hai hỏi kiều, xưa nay bạn chưa từng tôn trọng ai phải không?

2184. cá lồng chim – chỉ những người bình thường, sống trong điều kiện nuôi nhốt.

2192. binh-nguyễn quan: hiệu là triệu thang, một trong những công thần của triều đại Triệu, thời chinh chiến, ông được ban đất ở vùng đồng bằng nên được gọi là đồng bằng, nổi tiếng là người có hiếu. cao thích triều đại có câu nói: trí dũng nhắm vào thùy thị, người tinh thần không chịu sánh với đồng bằng, nghĩa là không biết hướng về ai, khiến người ta nhớ đến đồng bằng.

2196. Tôn Đường: Tên vùng đất, nơi tổ tiên Tào Tháo khởi binh đánh đuổi nhà tục, xây dựng đế chế chuyên nghiệp. câu này có nghĩa là: Thủy kiều tin rằng hải của ngươi sẽ làm nên sự nghiệp của hoàng đế.

2200. tâm sự: người hiểu bạn.

Năm 2202. trần trụi: cát bụi, chỉ khi anh hùng ẩn náu, không có danh phận gì để phân biệt với người thường.

Năm 2204. một nghìn bốn vì chữ thần tài, một nghìn cỗ xe chỉ cảnh giàu sang.

Năm 2205. tâm trí trước hết là tương thích: cảm giác và ý nghĩa tương thích với nhau.

Năm 2208. ngân sách ban đầu: số tiền đã chi tiêu trước đó.

hoàn lại tiền: trả lại.

2210. Eight Immortals: Eight Immortals là Chung Li Quyền, Lã Động Tân, Trương Quốc Lão, Lý Tiễn Quai, Lâm Thái Hòa, Cao Quốc Cửu, Hà Tiên Cô và Hàn Tử Tử. người ta thường vẽ hình tám nàng tiên này trên rèm.

2212. so phượng cưỡi rồng: xưa được dân nước quý trọng, vua chúa phong cho con gái gả, trong bói toán có câu: phượng vũ phi … (phượng bay). Thời Đông Hán, Hoàng Hiên và Lũng là hai danh nhân lấy được con gái Hoàn Yên, người đời ca tụng hai người con gái của Hoàn Yên cưỡi rồng. câu này dùng ý nghĩa của hai điển tích đó để nói rằng hải và thủy chung là đẹp.

2214.macho: ở đây nó có nghĩa là một người đàn ông tài năng và có ý chí mạnh mẽ.

2219. hạnh phúc đôi bên: biết nhau bằng tâm, hiểu nhau trong bụng.

2220. tuổi thơ chung: cộng đồng phụ nữ và trẻ em gái.

2222. chiêng: tức là cổ chính, chỉ chiêng và trống thông thường. tinh: tức là cờ sao, chỉ lá cờ giống như cái quạt, tượng trưng cho vệ binh và quân đội ngày xưa.

2224. nghi gia: do chữ tùy nghi trong kinh thi có nghĩa là vợ chồng hòa thuận. ở đây hai chữ nghi gia có nghĩa là người con gái về nhà chồng.

2230. bởi: một con chim rất lớn. trong sách chuang tzu có câu bình đẳng danh đồng, quân trai thường giả chín vạn li (một loài chim dẹt, bay lên từ biển nam, vỗ cánh bay trong gió bay lên chín vạn li. ). dặm bay). người ta thường dùng hình ảnh đó để chỉ người anh hùng hành động rộng khắp, có con đường sự nghiệp lẫy lừng.

2235. Tổ tiên của Hán Cao Tổ là người vùng Du, sau khi lên ngôi vua đã về làng đó chơi. đời sau dùng hai từ tùng du để chỉ quê hương, ở đây ghép với từ tang tu thành thành tố chỉ quê quán.

2236. thơ han du tang: van hoanh qin le gia ha at? nghĩa là: mây che núi, có biết quê hương ở đâu không? nghĩa là kieu cảm thấy nhớ nhung.

2242. Nghĩa là Kiều tuy đã dứt tình với Kim Trọng nhưng lòng không quên chàng, như đóa sen tàn nhưng sợi tơ vẫn nối.

2245. nước lưu vong trước đây: nghĩa là nước xuất xứ, đất nước ngoài.

2250. binh lính lửa: bởi vì từ war fire có nghĩa là chiến tranh.

2251. hào quang giết người: hào quang khốc liệt của hiện trường giết người, thường được dùng để chỉ những cảnh sát giết người và trừng phạt.

2252. ngạc nhiên: hai con cá to lớn, hung dữ, thường dùng để chỉ những tay tài hoa trong bữa tiệc chiến đấu. Armor: áo giáp và vũ khí, điều này đề cập đến những người lính.

2260. phu nhân: lời nói với vợ của những người quyền quý. đây chỉ là một ngoại ngữ.

2263. cung nữ: thiếu nữ trong cung, thiếu nữ trong cung điện. cung nữ: loại người hầu hạ hơn người hầu cận cung nữ, ở đây tác giả dùng những danh từ này để chỉ nàng hai giống như hoàng đế.

2265. phượng hoàng loan: cỗ xe, kiệu và quyền trượng có chạm khắc, thêu và phượng hoàng.

2266. hoa: mũ hoa.

này: áo hồng như ánh mặt trời ..

2269. bức thư lửa: bức thư tốc hành, hãy lấy nó trước để đưa tin.

2270. nam dinh: triều đình phía nam do tu hải lập ra.

trụ sở: doanh trại lớn, nơi đóng quân của xu hai.

2272. chào mừng: hãy đích thân đến gặp anh ấy.

2273: trọng lượng: khăn (mũ); thắt lưng: thắt lưng xung quanh hàng may mặc. câu này có nghĩa là chữ Hải lúc này không ăn mặc giống như khi xuất ngoại khi còn trẻ, mà ăn mặc theo phong cách của một hoàng đế.

2275. cá nhân duyên: câu cá nghĩa là vợ chồng đẹp đôi bên nhau.

2284. hoa mai: lều có thêu hoa mai, chỉ phòng ngủ của các ông chồng.

2297. quân nghiêm chỉnh: chỉnh đốn lại các bậc quân tử.

tuyển dụng tướng: chọn tướng.

2298. sao: vì từ sao có nghĩa là nó di chuyển nhanh như các vì sao thay đổi vị trí.

2299. ba quân: danh từ chỉ quân đội chung. trong quá khứ, các nước chư hầu có ba đạo quân, mỗi đạo quân có 12.500 người. và các nước thường chia quân đội thành ba bộ phận: quân trung, quân tả, quân hữu; hoặc: quân vừa, quân cấp trên, quân kém hơn.

2303. lệnh tiễn biệt: cờ lệnh có mũi tên sắt của các tướng sĩ dùng làm tín hiệu hoặc thông điệp.

2307. tuyên thệ: tuyên bố và hiểu rõ về binh lính trước khi xuất ngũ.

2308. tuân theo: tuân theo mệnh lệnh.

2309. trả thù: nói là trả ơn, nghĩa là làm điều thiện thì sẽ được đền đáp, nếu ghét thì người ta sẽ có lúc báo thù.

2312. , về: tên của các đơn vị quân đội cũ.

tiếp thị: đứng trong sự tôn thờ.

phi song: xếp thành hai hàng.

2314. chú đồng: súng lục bằng đồng.

2315. trường cào cào: dịch nghĩa từ bành trướng của con hổ. Trước đây, họ thường dùng da hùm để làm bức màn lớn để chủ soái bàn bạc với các tướng, nên các tướng dùng từ “hổ” để chỉ nơi làm việc của nguyên soái.

trung quân: đạo quân đóng ở giữa, do tướng quân đích thân chỉ huy.

2318. thành viên cửa: thành viên là ngã ba của xe. Ngày xưa, khi đóng trại quân đội dùng xe làm cổng, nên cổng doanh trại quân được gọi là “nhân dân tệ”.

2326. màu chàm: mặt xanh như đổ chàm.

nguy hiểm: Tôi run như cầy sấy.

2329. nhân sâm và thương truật: theo quan niệm của người xưa, nhân sâm sao tây, nhân sâm sao đông, sao hạ thổ, nhân sâm sao lên. hai ngôi sao này không bao giờ gặp nhau, vì vậy nó được dùng để chỉ khoảng cách ngăn cách chúng. so sánh thiên văn hiện tại là hai ngôi sao orion và bọ cạp.

2334. tục ngữ: Kẻ cắp gặp bà già, nghĩa là hai kẻ quanh co gặp lại.

2341. bà già: dùng để chỉ quản gia của gia đình hoạn quan.

cao cấp: chỉ chiếu sáng.

2348. tờ mẫu: cô ấy làm nghề giặt dây trên lối đi bộ lát ván. han xin han nhận được một bữa ăn từ mẹ của mình trong triều đại nhà Hán, sau đó làm vua, cảm ơn một ngàn đồng tiền vàng.

2353. hiến dâng: giao những thứ bị bắt.

2354. hậu kiểm: đang chờ xem xét.

2377. bộ ba: biết lỗi của mình, mình biết mình có lỗi.

2382. hại người, hại người: làm người thì hại người.

2387. nội dao: đao, chuyên chém người.

2395. tòa án: nơi xử tử kẻ có tội.

2396. bầu trời xanh và ngày trắng: bầu trời xanh và ngày trắng

2398. de qui: chào tạm biệt để ra về.

2399. điều tuyệt vời nhất là: chỉ có một cơ hội trong một nghìn năm. câu này thường được dùng để chỉ một cơ hội hiếm có.

trở lại: điều này có nghĩa là gặp gỡ và trò chuyện.

2404. cẩu nội: cẩu trên ruộng. Mây ngàn – Mây bay khắp núi rừng. nó có nghĩa là đi từ đây đến đó, nơi không an toàn.

2405. walk: đi bộ, tiếng Phật giáo, chỉ nhà sư đi bộ.

2406. lời tiên tri: thông báo những điều chưa xảy ra.

2407. kỳ tái ngộ: hẹn gặp nhau.

2409. default: mặc định.

2416. vida vida: trọn đời có nghĩa là kieu muốn hỏi số phận mình trọn đời.

2425. khắc xương ghi lòng: khắc chữ minh tâm, khắc chữ tâm: nghĩa phụ ân sâu ghi tạc vào lòng, khắc ghi vào xương không bao giờ quên.

2426. mây ngàn: ân tình rộng lớn như trời cao.

2427. quốc ngữ: một học giả tài ba, nổi tiếng cả nước.

2430. tục ngữ xưa: tỏ ý bất bình, dùng dao dựa vào, nghĩa là người anh hùng hào hiệp, giữa đường gặp chuyện bất công thì rút gươm ra, cứu giúp kẻ bị áp bức. câu này vay mượn ý tưởng đó.

2432. give thanks: cảm ơn sâu sắc.

lòng biết ơn: lòng biết ơn của người khác dành cho tôi.

2434. Việt Nam: một quốc gia ở đông nam Trung Quốc;

qin: một quốc gia ở phía bắc Trung Quốc. qin trong tiếng Việt có nghĩa là xa.

2438. tha bổng: rửa tội oan, tức là của người thủy thủ trên biển, mở tiệc rửa tội oan cho Việt kiều.

2440. thái bình: uy thế của quân đội. câu này có nghĩa là: uy thế của minh quân từ đó vang lên như sấm.

2444. quận thành: thành trì của một quận. Câu này có nghĩa là: Quân của Hải đã tấn công và chiếm được năm quận ở miền nam Trung Quốc.

2446. giá bao gạo: giá để treo quần áo, bao để đựng gạo nghĩa là con người vô dụng và hèn hạ.

2448. cô và quả: tên tự xưng của các bậc vua chúa thời xưa. vua cũng giống như vua. câu này có nghĩa là: hải của ngươi cũng xưng là trái cây, trở thành vương phi, trở thành vương phi một phương không kém ai.

2449. lực: cạnh tranh bằng vũ lực. cụm từ này có nghĩa là: trước cờ của xu hai, không ai dám chống lại.

2450. sức mạnh: nắm lấy quyền lực.

đúng tần số: địa hình ven biển.

2452. kinh luan: nghĩa đen là kéo sợi và bện lụa, người ta thường dùng để nói cách khắc phục tình hình kinh tế chính trị.

2453. xe đẩy: do từ dừng ly (bánh xe đẩy). Thời xưa, khi cử một vị tướng đi đánh giặc, nhà vua thường một lần xuống xe của vị tướng đó để tỏ lòng thành kính. câu này có nghĩa là: vua của triều đại ming đã gửi một vinh dự để chiến đấu từ biển, đó là một điều rất quan trọng.

2454. cơ sở vật chất tiện nghi: tùy ý nhưng đẹp.

dong nhung: bảo trọng, tăng tốc nhập ngũ.

2457. chiến thuật: gọi điện dụ địch đầu hàng.

2477. thần vương: tôi tớ của vua.

2478. thanh vân: mây xanh, người xưa dùng để chỉ con đường công danh.

2481. phu nhân: phu nhân của các quan lớn ngày xưa, được vua ban cho tước phu nhân.

2484. có đạo hiếu: hiếu thảo với cha mẹ.

dac trung: trung thành với vua.

2485. cypress: vì từ cypress có nghĩa là một mảnh của một con tàu, nó có nghĩa là trạng thái nổi.

2491. bình thạnh: Do trong kinh có chữ “điện bình thiển”, có nghĩa là vua sắp xếp đất nước sao cho trời đất phẳng lặng.

2494. không xác định: tên một con sông ở vùng biên giới tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc). Trong quá khứ, trên con sông đó đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh giữa người Hán và người Hồ, khiến nhiều người chết.

2496. huang chao: một thủ lĩnh nông dân nổi loạn vào cuối triều đại nhà tang, ông đã từng bao vây kinh đô Chang’an, lưu lạc trong mười năm, và sau đó bị giết bởi thuộc hạ của mình.

2502. áo giáp: gắn áo giáp.

tước vũ khí: cho quân đội ngừng chiến đấu.

2530. thành phố và thành phố yêu liên minh: họ thề với nhau dưới thành phố để chứng tỏ rằng họ sẽ không làm hại lẫn nhau và sẽ trung thực giữ lời hứa mà họ đã hứa.

2506. vương: quân của vua, quân của hồ thờ.

2507. quyết thừa cơ hội: quyết mưu là nhân cơ hội biển cả để chống lại nghĩa quân.

2508. lễ tiến binh: phía trước làm lễ chiêu hàng, phía sau chuẩn bị binh mã, nghênh chiến.

cờ chạm khắc: thời hạn cố định.

bài tập: thất bại.

2509. châm ngôn: kêu gọi, an ủi, đầu hàng.

tiên phong: đội quân đi trước. câu này có nghĩa là: ho tấn phát mưu giương cờ “chiêu phu” trước.

2512. quan lớn mặc lễ phục: mặc quần áo của một quan lớn không mặc quân phục.

2529. bản lĩnh: trí tuệ và sức mạnh.

2533. dòng thu: đây chỉ là những giọt nước mắt.

2535. không khí bất công bị trói buộc: không khí bất công của ký ức bị quấn chặt. nghĩa là giữa chữ hải và chữ duyên dường như cùng chung một ân oán.

2542. vũ khí: binh lính là vũ khí. con đường là áo giáp và mũ bảo hiểm mũi nhọn. người ta thường dùng hai từ quân sự để chỉ trận chiến.

2543. tham gia đội đền: thủ đoạn đã được sắp đặt ở nơi có đền thờ. câu này có nghĩa là: thật tốt khi biết rằng tòa án có một kế hoạch, nhưng cũng nhờ vào lời nói của bạn, nó có hiệu quả.

2552. một trăm trận chiến: một trăm trận chiến, có nghĩa là một người đàn ông có kinh nghiệm trong trận chiến.

2553. vợ chồng danh giá: chồng làm quan thì vợ cũng được tôn vinh.

2555. không biết xấu hổ: cùng nghĩa với kiêu ngạo, có nghĩa là một người di chuyển khắp trời và đất.

2561. đất xấu: thuê đất xấu.

2564. mai táng: chôn cất theo sơ đồ, không có quan tài. thức ăn thừa: cũng như thức ăn thừa.

2565. bại trận: ăn mừng (thắng trận).

2567. thị yên: phục vụ trên bàn tiệc.

2581. tam sinh hương hỏa: bởi chữ tam sinh hương hỏa, tức là duyên vợ chồng của một đời xưa.

2582. sợi dây vay mượn: chỉ đơn giản là nối lại nhân duyên vợ chồng.

2586. tieu lan: tên nàng là phung thục phi, vợ của hoàng hậu nước Tề, nam triều bắc triều. sau khi trạng nguyên chết đi trở về tay người khác, sợi dây đứt đoạn, ông đã viết một bài thơ cảm động, trong đó có câu: “tâm ly dục ly biệt ly, tình ly biệt ly. Tức là nếu.” muốn biết trái tim tan vỡ, bạn nên xem sợi dây trên đầu gối. câu này mượn câu đó.

2588. phần gốc: vì từ phần du.

2591. khía cạnh quốc gia: tiếng Quan Thoại đang làm việc ở một quốc gia.

2596. văn phòng công cộng: nơi làm việc chính thức, cũng như văn phòng công cộng, v.v.

2598. Tiếng Quan Thoại: Giống như Người Tù Đất, tiếng Quan Thoại được tìm thấy ở quê hương, có thể ở vùng dân tộc thiểu số.

Chương 2609. tơ đào: cũng như tơ hồng. câu này có nghĩa là: ai đã chia cắt nhân duyên của mình, ngược lại với câu sau: “nợ ở đâu, ai đã đút vào tay?”. món nợ này có nghĩa là “buộc phải giao tình mới cho viên quan đất”.

2619. triều: nước thủy triều. ở cửa sông Tiền Đường (Trung Quốc) khi thủy triều lên nghe tiếng kẽo kẹt.

2621. thần ngủ: điềm báo giấc mơ của thần, ý nghĩa của lời báo mộng trong giấc mơ, khi kiều chết ở nhà: “Sông Tiền hẹn ngày sau”.

2626. cây bút tuyệt vời: cuốn tự truyện cuối cùng, được viết trước khi ông qua đời để nói cho người khác biết cảm xúc của mình.

2627. cửa hồng: cửa tàu.

rèm cửa màu ngọc trai: rèm cửa có trang trí hạt cườm hoặc rèm cửa sơn màu đỏ.

2635. nước: cách gọi nổi tiếng của ngư dân để chỉ sự lên xuống của thủy triều.

2638. người xưa thường dùng hai từ “hương thơm” để chỉ phụ nữ.

2646. âm dương trở lại: khi âm khí hết thì dương khí lạ trở lại. câu này cũng có nghĩa tương tự như câu thái cực quyền, có nghĩa là khi vận rủi của người ta hết thì vận rủi của họ sẽ quay trở lại.

2650. Bí đỏ: Bí khô được nạo ruột để trữ nước.

nep: một chiếc quan tài bằng tre đan để đựng quần áo và sách. hai thứ thường được các cựu chiến binh sử dụng.

<3

2655. phù hộ đường lên trời: người ta nói rằng con người trên thế giới này tìm thấy hạnh phúc hay bất hạnh là do ý muốn của thượng đế chứ không phải ngẫu nhiên.

2668. thanh lâu: gái điếm. thanh y: người giúp việc. Thủy kiều một lần làm điếm ở lam tri, một lần ở châu thái giám, một lần hầu hạ thái giám, một lần ở nhà thái giám.

2670. cào cào: người xưa thường dùng hai từ lang sói để chỉ tướng giặc. điều này có nghĩa là người Việt Nam ở nước ngoài phải sống chung với những kẻ xấu xa.

2680. nhân duyên: danh từ Phật giáo có nghĩa là nhân duyên do chính mình tạo ra từ kiếp trước.

2683. tri kỷ: bằng câu nói ân tình của người cha. câu này có nghĩa là: thủy chung nhớ ơn cha mẹ sâu sắc.

2687. gói công đức: tức là coi như công đức.

2688. nơi trú ẩn: tội lỗi từ kiếp trước.

2697. con đường: ngôi nhà lợp bằng rơm, cỏ.

2699. ngư dân: một ngư dân.

2703. nước bạc: nước bạc.

2705. ngư dân: người đánh cá già, tức là “người đánh cá” đã đề cập ở trên.

2711. linh hồn mai quế hổ phách: bởi từ hổ phách mai quế linh hồn. hai chữ “mai quế lộ” ở đây dùng để viết chữ đẹp.

2720. âm công: công lao cứu người làm trong bí mật, không ai biết.

2732. thao luu: một cabin cũng giống như một xưởng.

2741. tang lễ: hỗ trợ tang lễ, cũng có nghĩa là hỗ trợ tang lễ.

2743. garden: tức là khu vườn với mái hiên “quyến rũ” nơi Kim trong đã học trước đây. nhưng nơi đây chỉ là nơi cả hai quay lại tình yêu trước đây.

2748. ghé qua nhà tang, nhân dịp thanh minh, ông đi đến một nơi kỳ ngộ, tìm kiếm một cô gái mà ông đã gặp một năm trước, chỉ thấy cửa đóng, người đi đâu đó vắng bóng, vì lẽ đó đã viết một bài thơ, trong đó có câu: đối mặt tri hà bất khứ, đào hoa đồng phong. nghĩa là: mặt người chẳng biết đi về phương nào, hoa đào vẫn nở nụ cười gió đông như xưa. cây này dùng câu thơ ấy nói không thấy bóng người kiều nữ mà chỉ thấy hoa đào vẫn nở nụ cười trong gió đông như ngày xưa.

2757. thủ tục tòa án: tòa án, tòa án. ở đây nó từng có nghĩa là chỉ một vụ kiện.

2765. di cư: chuyển đến nơi khác.

2779. biến gia đình: thảm họa gia đình.

2783. lang jun: một thuật ngữ dùng để chỉ người chồng trẻ và những người đàn ông trẻ tuổi nói chung.

Năm 1788. luân hồi: vượt ra ngoài. câu này có nghĩa là: nếu chết mà còn thánh thì kiếp sau xin bù đắp.

2789. ký ghi chú dinh ninh: ghi chú, hướng dẫn chi tiết.

2801. ván đã đóng tàu: nghĩa là thủy kiều nay đã vào tay người khác.

Chương 2807. trang sức: nhẫn vàng, vật quý trao cho thủy chung như một lời nhắn nhủ khi gặp nhau (dòng 318: đeo tay vàng, quàng khăn vuông).

2824. care of yourself: chăm sóc cha mẹ của bạn. câu này có nghĩa là: kim trong, thay vì ở nước ngoài, hãy chăm sóc cặp vợ chồng hoàng gia như cha mẹ của họ.

2828. lam thanh: giáo viên học sinh nói dối rằng mình đến từ đó, nên kim trong đã cử người đến đây để hỏi về tin tức ở nước ngoài.

2859. khoa cử: các kỳ thi được mở theo ý chỉ của nhà vua, không giống như các kỳ thi thông thường.

2860. bàn xuân: vì từ bàn xuân, bảng thi nói về mùa xuân. tham gia tấm bạt lò xo có nghĩa là vượt qua kỳ thi.

2861. Cổng trời: từ chữ thien mon, có nghĩa là cổng của vua.

đường mây: do chữ vân lộ hay thanh vân lộ, có nghĩa là con đường công danh, tài lộc.

2862. ngõ hanh: tức là hanh viên ở kinh đô trang an. Vào thời nhà Đường, các tân tiến sĩ có thể tham dự tiệc tùng và ngắm hoa tại đây.

phần dặm: do từ part du mà ra, có nghĩa là nhà. xem chú thích 2235. cây này tượng trưng cho vinh quang của kim, vị vua khi thi đỗ và trở về danh giá.

2864. perfect (hoặc hoàn thành): hoàn hảo. câu này có nghĩa là: vua là con rể thông luật.

2870. Ngọc Đường: Vào đời Tống Thái Tông, vua ở trong cung điện hàn lâm có ba chữ Ngọc Đường Villa. đời sau, ông dùng hai chữ “ngựa vàng” để miêu tả cảnh vật trù phú, phú quý.

2873. ngoại trưởng: làm quan ở ngoại (không phải huyện nhà).

2874. wife and children: vợ và con cái.

2875. cha con quay vào xuân thu, làm quan huyện, thường chơi đàn tính, đời sau gọi huyện dinh quan như quan đường.

2876. triệu đời giếng tong, ra làm quan, chỉ đem đàn hạc, tổ tiên thanh cao lương thiện.

2883. thanh qi: câu này có nghĩa là: thủy chung và thủy kiều là chị em nên rất dễ thích nhau.

2884. giọng điệu: tin tốt.

2885. thăng chức: đi làm trước công chúng.

2893. kiên trì: kiên quyết giữ gìn trinh tiết của bạn.

2894. liều mạng: chỉ có thuy kiều tự tử khi mới về nhà.

Hắn nhất định là bị lừa, hắn chỉ sợ bị sở lừa.

Chương 2907. tóc tơ: chân tơ kẽ tóc, nghĩa là hãy hỏi thật kỹ.

2922. thiên tài: một món quà từ thiên đường.

2924. động đất kinh hoàng: đất trời sôi động.

2926. van mong: tiếng cổ, nghĩa là tin tức, manh mối.

2927. tien hao: cùng nghĩa với tăm, tin tức.

2937. bình: bèo, bê: cỏ dại. hai vật này thường trôi theo nước và gió. ở đây để chỉ thân phận lang thang của kiều nữ.

2938. nắp chung: spout: cái vạc để nấu thức ăn. chung: tiếng chuông báo hiệu giờ ăn. cái mỏ chung ở đây ám chỉ cảnh vinh hoa, phú quý.

2939. treo ấn của quan: treo ấn ở nhà công vụ rồi bỏ đi, không làm công chức nữa.

2944. năm nào: bởi từ ngữ năm đám mây, có nghĩa là tấm thảm có những đám mây năm màu; mặt trời là giường của nhà vua.

2948. kham ban: kham, ban đầu có nghĩa là kính, sau này dùng để chỉ vua. ví dụ: cách nói kham sai, kham …

quyết định: sắc lệnh ban hành mệnh lệnh của nhà vua.

2949. cải cách: đổi đi làm ở nơi khác. Nam – bình: tên huyện, thuộc tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc), trên sông Qiantang và Hàng Châu.

2950. Châu Dương: tức là Dương Châu, tên tỉnh Giang Tô (Trung Quốc), bên kia sông Tiền Đường và hang Châu.

2952. phó sĩ quan: đến văn phòng, đến văn phòng.

2954. Phúc Kiến, Chiết Giang: hai tỉnh ở đông nam Trung Quốc, nơi có những bãi cát cổ xưa của xuhai.

2957. Hàng Châu: tên chính phủ, nay là thủ phủ của tỉnh Chiết Giang.

2960. bỏ lỡ cơ hội: bỏ lỡ một âm mưu, phạm một sai lầm, bị kẻ thù bắt được.

thu linh: thu thánh khí, nghĩa tử.

2962. nhà tù trái đất: tù trưởng địa phương, cũng như từ tiếng phổ thông để chỉ trái đất.

2963. ngọc và ngọc: thường dùng để chỉ cái đẹp đẽ, quý giá:

“gieo hạt trầm hương” ở đây chỉ đơn giản là gieo duyên thủy chung.

2967. summon the soul: triệu hồi linh hồn.

thiết bị: đặt một vật phẩm ghi tên người đã khuất để tôn thờ.

dan trang: Băng đảng đã thực hiện nghi lễ tẩy rửa.

2970. cánh hồng: cánh chim hồng. Tôi cũng hiểu cách cư xử nhẹ nhàng của một cô gái xinh đẹp.

2972. vệ tinh – tên một loài chim nhỏ sống trên bãi biển. Theo sách thần phả: ngày xưa con gái của hoàng đế chết đuối trên biển, biến thành chim vệ tinh, hàng ngày lấy đá trên núi Tây Sơn ném xuống biển lấp biển. ở đây vì thuy kiều nên mượn điểm đó.

2973. bắp thịt. damn Destiny: định mệnh. Cụm từ này có nghĩa là: sự ủy thác của Chúa, số phận kỳ lạ.

2975. tâm linh: viên thờ linh hồn người chết.

2984. Shaman: Được đồn đại là những nhà sư và ni cô, những đạo sĩ có đẳng cấp cao hơn.

2985. nhân quả: ở đây có nghĩa là nhân duyên, nhân duyên.

2989. cổng bồ đề: cổng phật.

2990. thao am: chùa mái tranh.

2991. tiền phật: trước bàn thờ phật.

2999. minh dương: bóng tối và ánh sáng, tức là âm phủ và âm dương.

3000. Cửu Nguyên: tên một nước thuộc tỉnh Sơn Tây (Trung Quốc) vào thời xuân thu là nơi chôn cất các quan đại thần, đại tiến sĩ đời nhà khí, người đời sau dùng từ ngữ nguyên để chỉ các phần mộ ở nói chung.

3005. giang tân: bên sông;

3011. ông chủ: phát triển và trưởng thành.

3020. trọng lượng trần: bày tỏ lòng biết ơn.

từ bi: thương người, lời phật.

3039. luân hồi: gặp lại kiếp thứ hai, nghĩa là người thân như chết đi sống lại để gặp gia đình.

3049. rebirth: sinh lại lần thứ hai, tức là sống lại. chỉ vào cơ duyên của sự giác ngộ.

3051. trước hết: vì câu xấu nhất, hãy cố gắng tốt hơn, đã từng là thời, bây giờ là thời, hoàn cảnh khác nhau không thể sửa được.

3052. vâng mệnh: theo lẽ phải thay đổi, nghĩa là phải thay đổi công việc để thích nghi, không phải lúc nào cũng có thể giữ đạo.

3056. lập đền thờ: xây dựng đền thờ, nghĩa là bạn sẽ lập đền thờ của chính mình, mời các giác quan đến chung sống.

3063. hợp tác: bởi chữ kinh thi: thiên mệnh chỉ hợp, nghĩa là mệnh trời khiến kim trong và thủy chung gặp nhau mà kết hợp.

3065. đất phẳng ba đào: nghĩa là những bất trắc trong đời người cũng giống như đất phẳng và sóng.

3068. tục ngữ: máu chảy ruột rà, nghĩa là giữa ruột thịt có mối quan hệ khăng khít như ruột thịt, máu chảy thì ruột mới nhẵn.

3071. gương vỡ lại lành: dịch từ “kính vỡ” trong tiếng phàm phu (Trung Quốc) duc lấy xương lạc chúa. biết rằng nước sắp bị diệt vong, vợ chồng chắc chắn sẽ phải chia lìa, nên gương vỡ lại lành, mỗi người giữ một nửa, dùng làm vật hẹn ước, rồi chắc chắn hai người gặp lại nhau. chồng và vợ. . câu này sử dụng từ điển đó.

3075: cương thi: hư thực, thực nhất … thực, tam hề … (mộng rụng, quả có bảy phần …, mộng rụng, quả rụng ba phần. ” … phần) nghĩa là xuân đã muộn, nên lo chuyện cưới xin. ở đây thuy văn có nghĩa là kiều còn đủ tuổi kết hôn.

3085: thân mật: thỏa thuận với nhau một cách dịu dàng, thiết yếu.

3087: mọi thứ thay đổi và các vì sao di chuyển: điều đó có nghĩa là mọi thứ trên thế giới đều thay đổi.

3088: Câu này có nghĩa là: Trước khi có lời thề sống chết có nhau, dù sống chết cũng phải giữ lời thề đó.

3091: gia gia: miêu tả truyện có câu: nam có quyền, nữ có gia. nghĩa là con trai có vợ, con gái có chồng. phim hài gia đình thất tình: vợ chồng đẹp đôi có duyên.

3094: cụm từ này có nghĩa là: người con gái lấy chồng phải như hoa có nguyệt, trăng chưa tàn, điều này cho thấy người con gái còn nguyên vẹn.

3096: đuốc hoa: cụm từ này có nghĩa là: nếu còn trinh nguyên thì đêm tân hôn cũng không hổ thẹn.

3097: to have aident: gặp tai nạn.

3104: kết cấu trần: bụi bẩn.

3110: cầm sắt: kinh thị: vợ ngoan như cổ sắt. (vợ con hòa thuận như chơi đàn tỳ bà). người sau dùng hai chữ sắt đá để chỉ tình nghĩa vợ chồng.

mang cờ: Khi gặp gỡ bạn bè thường đánh đàn và đánh cờ cho vui, nên người ta thường dùng hai từ quất để chỉ tình bạn. cụm từ này có nghĩa là: bạn phải đánh đổi tình yêu giữa vợ và chồng để lấy tình bạn.

3118: right: quyền thay đổi, tức là thay đổi hành vi theo hoàn cảnh. kinh: giữ đạo thường, thường lê.

3126: chàng trai: vì chữ “tao lang”, cách xưng hô của một cô gái với người mình yêu. ghi chép chuyện tình: ngừng giao hàng, trong triều, một người yêu bị ép bán cho các bên liên quan. ông bùi ngùi viết một bài thơ, trong đó có câu: “Hề môn nhơn thâm thấu biển, mưu phá thôn lộ lộ (cửa sâu như biển, từ đó có người qua đường). nghĩa là: làm sao bạn có thể dửng dưng chấp nhận người yêu cũ?

3140: câu này có nghĩa là: kim trong và thủy chung kể chuyện vui buồn cho đến đêm khuya, trăng lên cao.

3148: theo tiếng: bằng câu vợ chồng theo tiếng nói. được dùng để thay thế từ vợ chồng.

3160: câu này có nghĩa là: nếu sau này kim trong nghĩ đến việc có con để nối dõi tông đường thì anh đã có vợ rồi.

3161: kiều ngầm nói rằng: nàng bị ong bướm cưỡng bức do kiêu căng, nhưng tâm hồn vẫn trong trắng. từ trinh tiết được hiểu về mặt tinh thần, không phải về mặt thể chất.

3175: mò kim đáy bể: dịch câu từ sea de la staff có nghĩa là làm một công việc rất khó và cần nhiều nỗ lực.

3176: Cụm từ này có nghĩa là: Tìm kiếm nàng thật lâu chính là theo đuổi lời thề vàng son, không phải tìm một cái lãng tử.

3180: cao thâm: cao sâu, nghĩa là kiều mang ơn sâu của kim trong.

3199: dương hòa: âm ấm của mùa xuân.

3200: phalaenopsis: bướm.

trang sinh: tức là chu kỳ trang, hoặc trang chết. cuộc sống của các quốc gia tham chiến. Trước đây, Trang Chu nằm mơ thấy mình trở thành bướm bay lượn, giật mình tỉnh giấc và tự hỏi: Không hiểu mình đã trở thành bướm hay con bướm đang trở thành mình. ở đây chúng ta nói về cây vĩ cầm, về cuộc phiêu lưu.

3202: hoàng đế shu: vua của đất nước.

azalea: loài chim quốc gia. Truyền thuyết kể rằng vua Thục vì buồn mất nước đã biến thành chim đỗ quyên và khóc lóc thảm thiết.

3203: đỗ quyên: hồ bơi dưới biển đẹp lung linh.

3204: lam dien: tên một ngọn núi ở tỉnh Thiểm Tây, nơi sản xuất nhiều ngọc quý.

3210: đau khổ đến tận cùng tương lai: cay đắng đến tận cùng, nghĩa là xui xẻo đã hết, hạnh phúc đã bắt đầu đến.

3219: Quý phi: Một cô gái dịu dàng nhưng có tâm hồn cao thượng.

3220: sáng sớm mận đêm đào: sớm mai ôm đào đêm, nghĩa là trăng gió, tài tử nhất tình. xem chú thích 1289.

3236: Quan cấp: Quan cấp, có nghĩa là kim quan làm quan có thể được thăng chức tùy thời.

3237: Kế thừa: Đảm đương việc nhà cũng đồng nghĩa với việc truyền lại dòng họ.

3238: cù: chỉ người vợ đầu tiên. xem chú thích 902.

Quế: Xưa nhà họ Đẩu, đời tông, có năm người con trai kiệt xuất, dân gian có câu ca tụng: Đan quế ngũ chi hương (quế đỏ năm cành thơm). xem thêm từ điển thực tế. Câu này ám chỉ những điển tích ấy để nói rằng Kim Trọng đời sau có nhiều con cháu lớn.

___________________

Như vậy trên đây chúng tôi đã giới thiệu đến bạn đọc Chú Thích -Truyện Kiều – Culture-Văn Hóa – Nguyễn Văn Tiến. Hy vọng bài viết này giúp ích cho bạn trong cuộc sống cũng như trong học tập thường ngày. Chúng tôi xin tạm dừng bài viết này tại đây.

Website: https://phebinhvanhoc.com.vn/

Thông báo: Phê Bình Văn Học ngoài phục vụ bạn đọc ở Việt Nam chúng tôi còn có kênh tiếng anh PhebinhvanhocEN cho bạn đọc trên toàn thế giới, mời thính giả đón xem.

Chúng tôi Xin cám ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *