“Phê bình là diễn ngôn về một diễn ngôn. Đó là ngôn ngữ thứ sinh hoặc siêu ngôn ngữ, nó hành nghề trên ngôn ngữ nguyên sinh (hay ngôn ngữ – đối tượng)” – Roland Barthes.

"Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên ở Việt Nam viết truyện viễn tưởng hiện đại"

Cũng xin nói thêm là thủ pháp "viễn tưởng" của truyện hiển nhiên ngay từ đầu truyện. Trước Hayes Edwards, nhiều Đọc tiếp

Có nên xem Nguyễn Ái Quốc là cha đẻ truyện viễn tưởng Việt Nam?

Gần đây có học giả nước ngoài xem Nguyễn Ái Quốc là cha đẻ truyện viễn tưởng Việt Nam, có Đọc tiếp

Tiếp cận diễn ngôn của các đại biểu tự sự học cấu trúc luận cùng chuyện phân biệt hai chiều đồng-lịch đại và tính cách nguyên-thứ sinh của dụng ngữ Nói-Viết

Dù gì đi nữa thì ta cũng phải thấy rằng sự thể diễn ngôn nằm trong quang cảnh lời nói, Đọc tiếp

Vô thức tập thể

  I. LƯỢC SỬ KHÁI NIỆM Vô thức tập thể là thuật ngữ do nhà tâm lí học phân tích người Thuỵ Đọc tiếp

Mai Quốc Liên

Mai Quốc Liên có những đóng góp đáng ghi nhận trong hoạt động giảng dạy và đào tạo ở bậc Đọc tiếp

Phong Lê

Bên cạnh công việc nghiên cứu, Phong Lê còn tham gia giảng dạy và đóng góp vào công tác đào Đọc tiếp

Phê bình Mới

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Evelyne Grossman* Trước tiên cần phải nói rằng tất cả các lý thuyết phê bình mà chúng tôi sẽ đề cập đến trong loạt bài giảng này không tách rời nhau một cách tuyệt đối. Có những ảnh hưởng tương tác lẫn nhau, có những pha trộn giữa các khuynh hướng, có những chồng chéo về thời gian. Chính là để đơn giản hóa và để có thể trình bày sáng rõ mà tôi chia tách thành các khuynh hướng tiếp cận: phê bình mới, phân tâm học, và khuynh hướng tiếp cận triết học. Ba các...

Về mối quan hệ giữa dịch thuật và nghiên cứu văn học ở Việt Nam

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Nguyễn Duy Bình   Trong lịch sử phê bình văn học Việt Nam, dịch thuật đã đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tiếp nhận các trường phái, lý thuyết phê bình của nước ngoài. Không phải ngẫu nhiên mà thời kỳ nào dịch thuật phát triển thì phê bình văn học cũng phát triển theo. Chúng ta có thể hình dung lịch sử phê bình văn học Việt Nam được hình thành từ những diễn ngôn phê bình và việc dịch các công trình nghiên cứu – phê bình văn học nước ngoài góp ...

Bức tranh dịch thuật từ một góc nhìn

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Thúy Toàn Gần đây nhất, có một nhận xét ngắn gọn về tình hình dịch văn học thời gian qua như thế này: “Thời gian qua ta đã viết được những gì? Không nhiều. Ta đã dịch đựơc những gì? Cũng chưa có gì là nhiều. Đó là chưa kể đến chất lượng dịch thuật vốn bị người ta ta thán, nhất là số lượng phát hành của mỗi danh tác nhân loại kia, thấp đến khó tưởng tượng được đối với một đất nước gần 90 triệu dân”. Trên mặt báo chí khác nhau còn thườ...

Thư mời viết tham luận Tọa đàm “Đỗ Lai Thúy và Thơ như là mỹ học của cái khác”

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

  TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI             CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM           KHOA VIẾT VĂN – BÁO CHÍ                                     Độc lập – Tự do – Hạnh phúc     THƯ MỜI VIẾT BÀI THAM DỰ TỌA ĐÀM “Đỗ Lai Thúy và Thơ như là mỹ học của cái khác”                        Kính gửi: Các nhà nghiên cứu - phê bình; các nhà giáo; các nhà thơ, nhà văn Cuối năm 2012, nhà nghiên cứu - phê bình Đỗ L...

Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu những năm 1980

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Lại Nguyên Ân Sáng tác truyện của Nguyễn Minh Châu, đặc biệt là truyện ngắn, ra mắt dăm bảy năm gần đây, đã trở thành gần như một loại sự kiện, ít ra là đối với giới văn học. Tôi nghĩ là mình không thổi phồng sự việc, bởi xung quanh mảng sáng tác này của nhà văn đã có một loạt bài phê bình, có cả một cuộc thảo luận dành riêng với nhiều ý kiến nhận xét không giống nhau, chẳng những ở mức độ khen chê mà ngay ở cách giải thích, cắt nghiã. Không dám đi ...

Khi quyền kể chuyện được trao cho nhân vật

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Lại Nguyên Ân 1/ Sao đổi ngôi [1]  không chia thành các chương lớn. Toàn bộ câu chuyện được ước lệ là lời kể của Sơn, nhân vật chính, bắt đầu vào một đêm ở binh trạm 55 giữa Trường Sơn khoảng đầu những năm 1970 (hoặc nói chung là sau Mậu Thân), coi như điểm bắt đầu một tình bạn của bộ ba Sơn - Hoài - Xoan, cái tình bạn sẽ được mở rộng trải dài cho đến cuối những năm 1970, và nó chính là cơ sở tạo nên đường dây cốt truyện.  Như ta thấy rõ, Sơn ...

Khuynh hướng duy ngữ trong văn học hiện nay

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Trịnh Bá Đĩnh Trong đời sống văn học hiện nay có một xu hướng khá nổi bật, có thể gọi là xu hướng duy ngôn ngữ, tức là đặc biệt đề cao ngôn ngữ. Có thể thấy điều đó ở nhiều khu vực: trong thơ, trong tiểu thuyết, trong lí luận phê bình. Ở đây tôi xin chỉ ra một vài trong số các biểu hiện ấy và sẽ nêu lên quan điểm của mình. Trong lĩnh vực thơ ca, nó biểu hiện rõ nhất qua sự tái xuất của những nhà cách tân thơ như Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng…...

Nhà phê bình Vương Trí Nhàn: chúng ta hướng tới “giúp cho nền văn học thoát ra khỏi tình thế bế tắc hiện nay”

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Nhân dịp website tròn một tuổi, chúng tôi kiểm điểm lại những việc đã làm, trên cơ sở những ý kiến bàn thảo thẳng thắn về tình hình sáng tác/dịch thuật/phê bình văn học Việt Nam đương đại Phê bình văn học sẽ xây dựng một định hướng chung phù hợp cho hoạt động của mình. Phê bình văn học hy vọng có thể đáp ứng được ngày càng tốt hơn nhu cầu nghiên cứu, tra tìm thông tin của nhiều chủ thể. Chúng tôi chờ đón những góp ý từ nhiều phía của độ...

Tính hiện đại một cái mốt cuối thế kỉ XX

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Jean Francois Dortier  Lời tòa soạn: Sinh ra vào cuối thế kỷ XX, trào lưu hậu hiện đại thực hiện một cuộc giải cấu trúc về những lý tưởng của tính hiện đại (lý trí, chân lý, tiến bộ…) để đánh giá những khác biệt cũng như tính đa dạng của các văn hóa, các quan điểm, các lối sống. Tinh thần của hậu hiện đại là hoài nghi các đại tự sự. Tuy nhiên, hiện nay chính bản thân hậu hiện đại cũng đang bị hoài nghi, tức là sự hoài nghi bị hoài nghi. Ở Việt Nam ...

Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Nguyễn Đăng Điệp DẪN NHẬP Từ khi coi Eva được sinh ra từ cái xương sườn của Adam, mặc nhiên, vai trò của nữ giới bị coi là vai trò lệ thuộc và bị chi phối bởi nam quyền. Hơn thế, với hành vi dụ dỗ Adam ăn trộm táo thần, Eva đã trở thành nguồn gốc sinh ra tội lỗi. Như vậy, trong cái nhìn lịch sử, nhất là từ khi hệ thống văn tự được xác lập, phái nam gần như giữ vai trò thống trị tuyệt đối. Không phải ngẫu nhiên mà man vừa có nghĩa là nam vừa có nghĩa l...

Nhân dịp kỷ niệm ngày thi sĩ Mai-a-cốp-ski từ trần: Chúng ta tiếp thu di sản của nhà thơ Xô Viết vĩ đại như thế nào?

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Nhân Hồng Thi sĩ Mai-a-cốp-ski, mất ngày 14-4-1930, cách đây 25 năm, là một thiên tài vĩ đại của thơ văn Liên Xô. Sta-lin đã nói "Mai-a-cốp-ski đáng là và sẽ là nhà thơ hay nhất, vĩ đại nhất của thời đại Xô Viết…" Không phải đảng viên cộng sản, Mai-a-cốp-ski rất gắn bó tha thiết với Ðảng: "Tôi không xa Ðảng và tôi tự đặt cho tôi nhiệm vụ phải chấp hành tất cả những nghị quyết của Ðảng bôn-sê-vích, dù rằng tôi không có thẻ đảng". Thấm nhuần ý thức p...

Thay lời kết: Khi người viết văn không xem cầm bút là một nghề nghiệp

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Vương Trí Nhàn Từ sau 1945, một kiểu người viết văn đã hình thành với chỗ mạnh chỗ yếu của họ. Bài viết không có tham vọng trình bày vấn đề một cách toàn diện, mà chỉ đi vào một số khía cạnh: - Nên nghĩ sao để đưa công việc viết văn thành một hoạt động nghề nghiệp thực thụ. - Nên lo sao để trau dồi bản lĩnh người viết  và hình thành nên những trí thức có cốt cách vững vàng. - Nên đánh giá sao để mức độ quan liêu hoá, từ đó dần tìm cách gi...

“Để biết mình, hãy nhìn vào mắt người khác!” (Trò chuyện triết học)

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Nguyễn Thị Từ Huy - Bùi Văn Nam Sơn Nguyễn Thị Từ Huy (NTTH): Tiếp tục cuộc trò chuyện với nhiều vấn đề triết học sẽ lần lượt được đề cập, ta không thể không đến với những triết gia lớn trong quá khứ. Tác phẩm và tư tưởng của họ có thể mang lại câu trả lời cho những câu hỏi nóng bỏng của chúng ta ngày nay? Bùi Văn Nam Sơn (BVNS): Chắc hẳn không ai bỏ công nghiên cứu triết học và nỗ lực diễn giải những tác phẩm cổ đại hay hiện đại nếu không ...

Nghiên cứu Bakhtin ở Trung Quốc

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Hiểu Hà Bakhtin (1895 - 1975) là một trong những nhà tư tưởng quan trọng nhất của thế kỷ XX. Ông đã có nhiều đóng góp to lớn trên các lĩnh vực: triết học, mĩ học, thi pháp học, ngôn ngữ học, kí hiệu học và nhân văn học, v.v... Kể từ những năm 60 lại nay, tư tưởng của ông có ảnh hưởng lớn không những ở Nga mà còn ở nhiều nước phương Tây, đặc biệt là ở Pháp, Mĩ, Anh..., di sản học thuật của ông ngày càng được nghiên cứu toàn diện và sâu sắc. Ở Trung Quố...

Ngôn ngữ thân thể trong thơ Bích Khê

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Trần Đình Sử Đọc thơ Bích Khê không ít người đã có nhận xét về yếu tố thân thể con người, đặc biệt là thân thể giai nhân và thân thể chủ thể trữ tình làm thành một nét đậm, nét chủ âm trong thơ ông. Đó là hiện tuợng độc đáo hợp quy luật phát triển của  tư duy thơ hiện đại. Nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của trực giác, mà trực giác luôn luôn gắn liền với thân thể. Không có trực giác bên ngoài thân thể. Thân thể là phạm trù quan trọng của tri...

Lý thuyết (văn học) là gì?

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Nguyễn Hưng Quốc Gần đây, chúng ta hay nói đến lý thuyết văn học. Nhưng lý thuyết là gì? Một trong những biểu hiện cụ thể nhất của tư duy tiền-lý thuyết là quan niệm cho lý thuyết như một bộ tín lý và cẩm nang cố định, thậm chí, bất biến. Chẳng hạn, lý thuyết sẽ cung cấp cho người ta những định nghĩa rõ ràng và dứt khoát về văn học, những đặc điểm và những chức năng quan trọng nhất của văn học, mối quan hệ giữa văn học và những lãnh vực khác như c...

Tản mạn: Tiền phong, hiện đại, hậu hiện đại

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Umberto Eco "Hậu hiện đại", không may, là một thuật ngữ xài đâu cũng được. Tôi có cảm tưởng là hôm nay người ta áp dụng nó cho mọi chuyện mà người sử dụng thích. Mặt khác, hình như có một ý đồ làm thuật ngữ này trượt lùi: trước tiên nó có vẻ thích nghi cho một vài nhà văn hoặc nghệ sĩ hoạt động trong hai mươi năm vừa qua, rồi dần dà kéo lại tới đầu thế kỉ, rồi lùi lại nữa, và cuộc đi vẫn tiếp tục, chắc không lâu nữa phạm trù hậu-hiện đại s...

Phê bình nữ quyền: Anh – Mỹ

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Phê bình văn chương nữ quyền Anh – Mĩ chia sẻ mục đích chung như tất cả các vấn đề của nữ quyền: vạch trần cơ chế thiết lập trên cơ sở những gì xã hội nam quyền giữ lại và bằng những gì cơ chế đó được giữ lại, với mục tiêu cao nhất là sự chuyển dịch các quan hệ xã hội. Vì thế đối tượng của phê bình nữ quyền mang “tính chính trị” một cách thiết yếu. Các nhà nữ quyền ủng hộ hoạt động chuyển dịch này bởi họ tin rằng xã hội nam quyền c...

Khái niệm thẩm mỹ học

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Nguyên Sa Thẩm mỹ học đã được nhắc đến ở đây ở đó trong những tờ trước. Bây giờ, nhìn riêng một mình nó. Môn học mang tên Thẩm mỹ học, trong lịch sử triết học, không phải là một môn học mới lạ, không phải mới được tạo thành trong những ngày tháng gần đây, mà thật ra đã xuất hiện ngoài hai mươi thế kỷ, đã có một quá trình tiến triển lâu dài. Những triết gia lớn của lịch sử triết học không những đã đề cập tới những vấn đề siêu hình, l...

"Thơ khó" hay là câu chuyện của những giới hạn

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Nguyễn Thanh Tâm  Trong một bài viết có tên “Thơ khó” đăng trên báo Ngày nay, số 145, thứ Bảy, 14 Janv, 1939, Xuân Diệu đã diễn giải những suy ngẫm của mình về hai lối thơ: dụng tâm khó và khó một cách vô tâm, chuyển dẫn từ quan niệm và thực hành thi ca của Mallarmé, Baudelaire,…Theo Xuân Diệu, “Mallarmé đã cố ý làm cho thơ của ông tối tăm, bí hiểm; ông đã giấu nghĩa của thơ ông để thiên hạ đi tìm” (Thơ khó – Xuân Diệu). Khi sáng tạo, Mallarmé nghĩ đến độc g...

Sức mạnh của tưởng tượng thi ca. Những khởi nguyên của thi pháp

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Wilhelm Dilthey Lời giới thiệu: W. Dilthey và trường phái lịch sử - tinh thần Wilhelm Dilthey (1833-1911) là người sáng lập ra trường phái lịch sử tinh thần, hay triết học văn hoá, trong nghiên cứu văn học. Những quan tâm lý thuyết văn học của Dilthey xuất phát từ vị trí độc đáo của nhà tư tưởng trong ông. Và, dĩ nhiên, điều mới mẻ này, cũng như La Mã, không phải được xây dựng xong trong một ngày. Dilthey chia tay với thế giới truyền thống của các trừu tượng triết h...

Tọa đàm "Đỗ Lai Thúy và Thơ như là mỹ học của cái khác"

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI                                       CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM  KHOA VIẾT VĂN – BÁO CHÍ                                     Độc lập – Tự do – Hạnh phúc   THƯ MỜI THAM DỰ TỌA ĐÀM “Đỗ Lai Thúy và Thơ như là mỹ học của cái khác” Kính mời: Các nhà nghiên cứu - phê bình; các nhà giáo; các nhà thơ, nhà văn, các phóng viên báo chí, và những người quan tâm.  Khoa Viết văn - Báo c...

Học trò đời xưa với quốc sự

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Phan Khôi Không ai có thể lấy ý riêng hoặc quyền riêng mà xui giục học trò nhúng vào quốc sự hay là cấm đoán học trò phải tránh xa quốc sự. Điều đó chỉ nhờ có lịch sử làm chứng. Cứ theo lịch sử thì học trò với quốc sự dường như có quan hệ một cách riêng. Đương khi trong nước thái bình, trăm việc đâu ra đó, thì học trò chỉ biết một sự học; đến khi nước lắm việc, chánh phủ đổ đốn, trong quốc dân lại không có cái cơ quan gì chánh đáng để xét nét...

Nhà quê và thơ lục bát (về thơ Đồng Đức Bốn)

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Lại Nguyên Ân   Tôi thử nhớ lại xem mình đã gặp thơ Ðồng Ðức Bốn trong trường hợp nào. Dạo đó cách nay đã hơn mười năm, vào một ngày nào đó, một số người chúng tôi tình cờ gặp nhau khi đến mừng một bậc đàn anh lên lão thất tuần. Người lên lão bảy mươi ấy là Trần Ðộ. Ông vốn tính rất trẻ, hôm ấy đã đưa chúng tôi xem một bài thơ mà ông bảo không biết của ai, vì ông thấy thích nên chép lại:   Cái hôm em ở với chồng, Ðể ai ho...

Vấn đề khai thác…

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Tam Ích Kích thước gia tài trí thức của tiền nhân, kể cả danh nhân văn học cận hiện đại, để cho người đời khai thác, thật không thể dùng thông minh của con người mà đo lường nổi. Bên Tây thì thời cổ La - Hy, đến thời La - Hy, đến thời Phục hưng… Bên Đông thời từ Ngũ Đế và Hạ Thương cho đến Khổng Khâu đời Xuân Thu trở về sau. Người cận đại và hiện đại chỉ còn khai thác và dùng kính vạn hoa soi vào gia tài ấy để phong phú hóa, nhất là để thừa ...

Mấy vấn đề lý luận về phê bình văn học

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Trần Đình Sử Trên thế giới thế kỉ XX được mệnh danh là thế kỉ của phê bình. Đó là vì phê bình xuất hiện nhiều trường phái thay thế nhau, tranh luận nhau, đặt ra hàng loạt vấn đề thiết yếu của đời sống văn học. Phê bình văn học vươn lên thành một hoạt động độc lập với văn học, có tác động tích cực trở lại đối với tiến trình văn học hiện đại. Trong trào lưu đó lý luận về phê bình phát triển mạnh, trở thành một bộ môn được giảng dạy tron...

Vấn đề hội nhập: Từ kinh tế đến văn hóa

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Lại Nguyên Ân Hội nhập vào đời sống quốc tế là vấn đề thời sự ở nước ta trong nhiều năm qua. Với chủ trương làm bạn với tất cả các nước có chế độ xã hội chính trị khác nhau, sự hội nhập về xã hội chính trị đã và đang diễn ra. Với chủ trương mở cửa thị trường trong nước cho người nước ngoài vào đầu tư, kinh doanh, sự hội nhập về kinh tế đang tiến bước.   Về mặt kinh tế, hiểu một cách ít nhiều giản đơn hóa, thì hội nhập có nghĩa là...

Kết cấu tác phẩm nghệ thuật ngôn từ (phần 2): Vấn đề không gian nghệ thuật

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

 Iu. Lotman 2. VẤN ĐỀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT Sự quan tâm tới vấn đề không gian nghệ thuật là kết quả của những quan niệm xem tác phẩm nghệ thuật như một không gian được giới hạn theo những kiểu nào đó, một không gian hữu hạn phản ánh bên trong một đối tượng vô hạn là cái thế giới bên ngoài tác phẩm. Khi chúng ta tiếp xúc với các môn nghệ thuật tạo hình (nghệ thuật không gian), thì điều trên sẽ trở nên đặc biệt rõ rệt: những luật lệ phản ánh không gia...

Lý luận tiểu thuyết trong "Theo giòng" của Thạch Lam

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Lã Nguyên 1. “Phép làm tiểu thuyết” không phải là đối tượng quan tâm của Thạch Lam. Trong số những đại diện lí luận cho khuynh hướng văn học lãng mạn trước 1945, Thạch Lam là người có nhiều suy ngẫm sâu sắc về tiểu thuyết. Quyển Theo giòng của ông đã tập hợp nhiều bài viết có giá trị, ví như: Vài ý kiến về tiểu thuyết, Quan niệm trong tiểu thuyết, Những người đọc tiểu thuyết, Tiểu thuyết để làm gì, Cái “hoàn toàn” lạnh lẽo, Sự sống trong tiểu ...

Thơ Thanh Tâm Tuyền

23/05/2013 | 4. Các thể tài phê bình | No Comments

Nguyễn Vy Khanh Tôi Không Còn Cô Độc (1956) Như thiền thi đời Trần lên núi hét một tiếng để nhận chân thân phận cát bụi nhỏ nhoi của mình trong hư vô, Tôi loan báo "Tôi Không Còn Cô Độc" để thấy hiện rõ cái cô độc của mình, của thân phận con người. Nhưng tôi chấp nhận vì tôi muốn làm kẻ nhập cuộc, hết mình dấn thân, để tự giải thoát. Tôi bất chấp ám ảnh, cạm bẫy, lừa dối, buồn nôn vây phủ, cả tự tử và tha nhân là địa ngục (Jean-Paul Sartre). Tôi "ph...

“Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên ở Việt Nam viết truyện viễn tưởng hiện đại”

Trên trang http://phebinhvanhoc.com.vn có bài của Trần Đình Sử nhan đề “Có nên xem Nguyễn Ái Quốc là cha đẻ truyện viễn tưởng Việt Nam?”.
Mở đầu bài này, ông viết:

“Gần đây có học giả nước ngoài xem Nguyễn Ái Quốc là cha đẻ truyện viễn tưởng Việt Nam, có học giả Việt Nam liền phụ hoạ, lập tức gây nên chuyện đạo văn ồn ào”. Đọc tiếp

Có nên xem Nguyễn Ái Quốc là cha đẻ truyện viễn tưởng Việt Nam?

Trần Đình Sử

Gần đây có học giả nước ngoài xem Nguyễn Ái Quốc là cha đẻ truyện viễn tưởng Việt Nam, có học giả Việt Nam liền phụ hoạ, lập tức gây nên chuyện đạo văn ồn ào. Vấn đề khoa học ở đây theo tôi, cần phải xét, có nên xem Nguyễn Ái Quốc có phải là cha để của truyện viễn tưởng không đã. Tôi cứ nghĩ, nếu đúng cụ Nguyễn là cha đẻ truyện viễn tưởng thật, thì từ nay trong các giáo trình đại học, trong các sách giao khoa mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đang và sẽ soạn thảo để thay bộ hiện hành, thế nào chả có một mục như thế, và học sinh nước ta trong các kì thi, thế nào chả có thêm một đề văn : hãy chứng mình Nguyễn Ái Quốc là cha để truyện viễn tưởng Việt Nam. Để đỡ khổ cho các em, tôi xin nêu ngược lại vấn đề : Có nên xem Nguyễn Ái Quốc là cha để truyện viễn tưởng Việt Nam?

Trong thời đại ngày nay, khi nhu cầu dự đoán tương lai tăng lên rõ rệt trong mọi lĩnh vực đời sống thì phạm trù tương lai trong văn học cũng có một ý nghĩa bức thiết, nhất là đối với văn học. Đọc tiếp

Tiếp cận diễn ngôn của các đại biểu tự sự học cấu trúc luận cùng chuyện phân biệt hai chiều đồng-lịch đại và tính cách nguyên-thứ sinh của dụng ngữ Nói-Viết

Lê Thời Tân

Việc quên tính cách lịch đại của nói-viết đã tạo điều kiện cho việc nhận nhầm rằng diễn ngôn là nói thuộc về lời nói động còn văn bản là viết thuộc về ngôn ngữ tĩnh. Thực tế cái thao tác đồng đại hóa chia đôi nói viết đó qua một hồi luận giải về vấn đề gọi là các hướng tiếp cận (ngôn ngữ học) đối diễn ngôn rất có thể đã dẫn ta đến với một sự lẫn lộn các bình diện (ngôn ngữ-lời nói) của ngôn ngữ học cấu trúc luận. Việc đó đồng thời cũng khiến ta lẫn lộn khu vực nghiên cứu của các tác giả phân tích diễn ngôn. Hậu quả chính là việc quy một cách giản tiện rằng cặp diễn ngôn/văn bản là đối ứng đồng đẳng với cặp lời nói/ngôn ngữ của ngôn ngữ học cấu trúc luận F.de Saussure.

Thực ra, viết đi sau hay đi kèm nói vẫn là phần thuộc về nửa lời nói song song với nửa ngôn ngữ trong thế lưỡng phân của F.de Saussure. Diễn ngôn được tạo nên từ cả nói lẫn viết và nó thuộc về lời nói. Dù gì đi nữa thì ta cũng phải thấy rằng sự thể diễn ngôn nằm trong quang cảnh lời nói, diễn ngôn chồng trùng lên hay thuộc về hoạt động ngôn ngữ. Tổ sư ngôn ngữ học cấu trúc luận F.de Saussure có nói đến tương lai có thể hình thành nên một khoa “ngôn ngữ học của lời nói” trong khi ngôn ngữ học ngôn ngữ mà ông đã xây dựng lại sẽ là tiền đề của ngành lớn hơn – ngành kí hiệu học. Có thể xem nghiên cứu diễn ngôn ngày nay là khoa học của lời nói hoặc bao quát hơn khoa học của hoạt động lời nói. Nếu bằng lòng với cách gọi “khoa học diễn ngôn” với ít nhiều sắc thái “phiếm chỉ” như thế thì ta sẽ thấy khoa học này có nhiều hướng nhiều nhánh. Có hướng “siêu ngôn ngữ” muốn trực diện với đời sống đích thực của lời nói đối thoại phức điệu của Bakhtin hồi đầu thế kỉ XX. Đến cuối thế kỉ XX lại có hướng đặt lại vấn đề diễn ngôn trong bối cảnh hậu-giải cấu trúc luận của J.Derrida, M.Foucault. Giữa thời gian đó có việc các nhà ngữ pháp tạo sinh, ngữ pháp chức năng muốn thoát ra khỏi tù túng của lưỡng phân ngôn ngữ-lời nói của ngôn ngữ học cấu trúc luận cổ điển trong lúc các nhà tự sự học quay lại lập trường ngữ pháp cấu trúc luận để tiếp cận diễn ngôn truyện kể. Quên mình trong đồng đại hóa viết-nói dễ rơi vào ảo tượng viết tạo văn bản tĩnh/nói tạo diễn ngôn động, gây chướng ngại cho việc tiếp cận tồn tại đích thực của diễn ngôn. Đọc tiếp

Vô thức tập thể

 

I. LƯỢC SỬ KHÁI NIỆM

Vô thức tập thể là thuật ngữ do nhà tâm lí học phân tích người Thuỵ Sĩ Carl Jung (1875-1961) đặt ra vào đầu thế kỉ XX để chỉ một cấu trúc tâm lí chung cho mọi con người thuộc mọi thời đại. Trước khi Jung nêu ra khái niệm này, Sigmund Freud (1856-1939), người sáng lập phân tâm học lần đầu tiên đưa ra thuật ngữ vô thức. Thuật ngữ vô thức do Freud đề xuất và phát triển về sau này để trở thành hạt nhân của học thuyết phân tâm học của ông hoàn toàn chỉ mang tính cá nhân, theo đó, vô thức là những kí ức bị dồn nén khỏi ý thức nhưng có thể khôi phục lại được nhờ các kĩ thuật phân tâm học. Một nhà tâm lí học khác, Carl Jung, sau một quá trình cộng tác lâu dài với Freud từ 1907-1913 với tư cách một cộng sự và chủ tịch Hội Phân tâm học quốc tế từ 1908 đến 1914, đã bất đồng quan điểm sâu sắc với Freud trong việc nhấn mạnh tính cá nhân của vô thức này cũng như yếu tố tính dục và mặc cảm Oedipus như là nguồn gốc của sự phát triển tâm lí cá nhân và văn hoá xã hội. Sự chia tay giữa hai nhà tâm lí học lớn này đã đánh dấu sự khởi đầu của hai trường phái tâm lí học với hai cách nhìn về vô thức khác hẳn nhau, đặc biệt là thuật ngữ “vô thức tập thể” do Jung đề xuất để phân biệt với vô thức của Freud mà ông gọi là “vô thức cá nhân”. Tuy nhiên, nguồn gốc sự ra đời của thuật ngữ này lại xuất phát từ ba nguồn có sự phụ thuộc sâu sắc lẫn nhau:

1. Giấc mơ bản thân và ý tưởng về vô thức tập thể: Ý tưởng về vô thức tập thể lại bắt nguồn từ một giấc mơ của Carl Jung. Trong tự truyện Những kí ức, giấc mơ và suy nghĩ của mình, Jung kể về sự phát hiện các lớp của vô thức từ một giấc mơ mà ông trải qua trong chuyến đi giảng bài ở Mỹ năm 1909 cùng với Freud. ông mơ về một ngôi nhà(được gọi là “nhà của tôi” trong bối cảnh giấc mơ) gồm nhiều tầng. Trong giấc mơ đó ông khảo sát các tầng của một ngôi nhà từ tầng chính (thời hiện đại), đến móng (quá khứ lịch sử gần) và vượt qua đó tới tận các tầng hầm (quá khứ lịch sử cổ xưa, như thời Hi Lạp và La Mã, và cuối cùng là quá khứ tiền sử và thời Paleolithic). Giấc mơ này được Jung suy nghĩ trong một thời gian dài và đã trả lời cho ông một câu hỏi mà ông đã tự hỏi trong chuyến đi “tâm lí học của Freud đã được dựa trên những tiền đề gì? Nó thuộc về phạm trù nào của tư tưởng con người”. Hình ảnh giấc mơ này, Jung viết, “trở thành một hình ảnh dẫn đạo” cho việc nhận biết cấu trúc tâm thần như thế nào. “Nó chính là ấn tượng đầu tiên của tôi về một tính tập thể và tiên nghiệm phía bên dưới tâm thần cá nhân”. Đọc tiếp

Mai Quốc Liên

Nhà nghiên cứu lý luận, phê bình Mai Quốc Liên sinh ngày 8/3/1941 ; quê quán : xã Điện Phước, huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam. Tốt nghiệp cử nhân văn học khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1963. Cử nhân Đại học Hán học (1970) và Cao học Hán học (1972, Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam ). Là  Tiến sỹ văn học, Giáo sư văn học. Sau một thời gian làm cán bộ nghiên cứu tại Viện Văn học,Viện Hán Nôm, từ sau 1975, ông chuyển vào Nam làm báo rồi dạy Đại học và Sau Đại học tại Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh. Vào Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1981. Hiện là Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Quốc Học ( thuộc Hội Nhà văn Việt Nam), Ủy viên, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận – Phê bình, Hội Nhà văn Việt Nam, Ủy viên Hội đồng Lý luận – Phê bình VHNT Trung ương (từ 2003)

Các tác phẩm chính: Đọc tiếp

Phong Lê

Nhà nghiên cứu lý luận, phê bình Phong Lê tên thật là Lê Phong Sừ. Sinh ngày 10 – 11- 1938. Quê quán: xã Sơn Trà, huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh. Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo.

Năm 1959, tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Từ cuối 1959 đến 2003, làm công tác nghiên cứu tại Viện Văn học, từng giữ các chức vụ Trưởng phòng nghiên cứu rồi Viện trưởng Viện Văn học Việt Nam, kiêm Tổng biên tập Tạp chí Văn học ( 1988 – 1995 ). Giáo sư văn học ( 1991), Giải thưởng Nhà nước về Khoa học xã hội và nhân văn ( 2006 ). Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ 1979, Ủy viên Hội đồng Lý luận, phê bình Hội Nhà văn Việt Nam khóa III ( 1985 – 1993).

Kể từ bài viết đầu tiên đăng trên tập san Nghiên cứu văn học năm 1960, cho đến nay Phong Lê đã hoạt động văn học trải dài trên nửa thế kỷ. Ông đã cho in hàng trăm bài phê bình, tiểu luận trên các báo, tạp chí chuyên ngành, xuất bản trên 20 đầu sách đứng tên riêng, chủ biên hơn 20 cuốn sách là công trình tập thể của nhóm nghiên cứu là cán bộ Viện Văn học, chủ trì một số công trình khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ, sau khi nghiệm thu đã xuất bản thành sách. Đọc tiếp

Nguyễn Hiến Lê (1912 – 1984)

Sinh ngày 8. 01. 1912 tại Hà Nội, quê làng Phương Khê, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc thành phố Hà Nội).

Xuất thân trong một gia đình Nho học, năm 1934, ông tốt nghiệp Trường Cao đẳng công chính Hà Nội, được bổ vào Nam Bộ làm việc, từ đó định cư luôn ở miền Nam cho đến khi qua đời.

Ông khởi nghiệp cầm bút từ năm 1935, lúc đầu là nghiêp dư, các bài viết trên các thể tài: du kí, kí sự, tiểu luận, dịch thuật. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông thôi làm công chức, chuyển sang nghề dạy học ở tỉnh lẻ. Từ năm 1952, ông chuyển lên Sài Gòn, chuyên sống bằng nghề cầm bút và xuất bản sách. Ông mở nhà xuất bản tư nhân mang tên ông, chủ yếu xuất bản những tác phẩm của mình. Đọc tiếp

Tiếp xúc văn hóa Việt Nam và Pháp (phần 3/3)

Phan Ngọc

         Quá trình giải thể cấu trúc

Mặc dầu thời gian dài chịu ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa Pháp chỉ sáu mươi năm, có thể nói văn hóa Việt Nam đã thay đổi rõ rệt hơn thời gian dài tiếp xúc với văn hóa Hán trên hai nghìn năm. Xét về bề mặt, mọi mặt của văn hóa Việt Nam trước đây đều mang hình thức Trung Quốc, song văn hóa Trung Quốc không tạo nên được một sự thay đổi về hệ tư tưởng. Đó là vì Việt Nam và Trung Quốc đều là biểu hiện cùng một phương thức sản xuất gọi là phương thức sản xuất châu Á, đều là những biểu hiện của nền kinh tế cống nạp. Có sự khác nhau về trình độ, nhưng không khác nhau về bản chất. Dưới một chế độ như vậy, người dân chỉ có quyền hưởng dụng, không có quyền sở hữu, quyền sở hữu là quyền của nhà vua về danh nghĩa, nhưng thực ra là để phục vụ bộ máy quan liêu. Kết quả, không thực sự có giai cấp, nên mọi người chỉ cần thi đỗ là làm quan, và mội người làm quan thì cả họ được nhờ, và ngược lại một người phạm tội, cả họ bị trị tội.

Cũng vậy, không có hàng hóa theo nghĩa đen của chữ này, tức là một vật mà mọi người phải mua với một giá như nhau. Cũng không có pháp luật, theo nghĩa là những qui định chung áp dụng như nhau cho mọi người, khách quan. Ở đây, tục lệ gần như thay thế pháp luật, và pháp luật chỉ chú trọng đến hình luật, tức là những qui định về sự vi phạm tục lệ, mà hầu như không có dân luật, khi quyền lợi một người thay đổi theo cương vị trong tôn ti, trong đó có vai trò của lí lịch là cực kì quan trọng. Ở một xã hội như vậy, tôn ti là tất cả, chứ không phải là tài năng, sức lao động. Tôn ti cai trị biểu hiện thành bổng lộc, những đặc quyền theo cấp bậc. Tiền lương thực tế không đáng kể, mà sự hưởng thụ là dựa trên bổng lộc. Toàn bộ bộ máy nông thôn sống đơn thuần bằng bổng lộc, mà không có lương. Dân phải nộp cả thuế lẫn tô. Tô và thuế là được qui định chung cho từng làng rồi sau đó bộ máy hào lí qui định phần đóng góp của từng hộ. Lễ là then chốt, cái chìa khóa làm xã hội này vận hành. Người ra phải học nó từ nhỏ và phải suốt đời theo nó. Mục đích của lễ là củng cố tôn ti bằng một hình thức đẹp, đôi khi có vẻ dân chủ. Do đó, có họp làng, cúng tế, khao vọng, lễ hội. Dĩ nhiên, đã có sự thay đổi khi triều đại Nguyễn thay thế triều đại Lê, khi ông quan này thay ông quan khác. Nhưng các nguyên lý làm kỉ cương cho xã hội không hề thay đổi. Chính vì vậy sự tiếp thu văn hóa Hán, xét cho cùng chỉ là cấp những hình thức mới, có thể đẹp mắt hơn, nhưng không xảy ra hiện tượng cấu trúc hóa lại văn hóa cũ, trước hết bằng cách giải thể cái cấu trúc cũ, tổ chức nó lại theo một kiểu mới. Khi tiếp xúc với Pháp, dần dần diễn ra một sự giải thể cấu trúc. Quá trình này cho đến năm 1945 vẫn chưa trọn vẹn, nhưng điều cơ bản đã xuất hiện. Việt Nam, từng bước một, rời khỏi phương thức sản xuất châu Á để nhập vào guồng máy chung của thế giới. Đọc tiếp

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, một nhà nghiên cứu văn học tài hoa, uyên bác

 LTS:  Sau bài viết của TS. Đặng Thị Hảo, theo yêu cầu của bạn đọc, kỳ này Phê bình văn học xin tiếp tục đăng bài đề dẫn của GS Vũ Khiêu – người lãnh đạo lâu năm của Ủy ban Khoa học xã hội (trong đó có Viện Văn học) và là một trong những người chịu trách nhiệm  thẩm định đầu tiên công trình Văn học Cổ cận đại Việt Nam, từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật – nêu một vài nhận định khái quát về tác giả: GS. Nguyễn Huệ Chi.

Phê bình văn học Đọc tiếp

Quan niệm nghệ thuật và “Triết lý sáng tác” của Edgar Allan Poe

Hoàng Kim Oanh

1.Mở đầu 

Giới nghiên cứu lâu nay vẫn cho Edgar Poe là một nhà thơ chủ trương  “Nghệ thuật vị nghệ thuật”, là “lý thuyết gia” đầu tiên của thi phái này. Có lẽ bởi sáng tác của ông không quan tâm đến những vấn đề chính trị, xã hội, mà chỉ hướng về nội tâm con người. Và có thể bởi Poe quá chú trọng đến hình thức nghệ thuật sáng tác. Thực ra vấn đề này không phải không có những tranh cãi, phủ định, xuất phát từ nhiều điểm nhìn khác nhau. Có người cho rằng sáng tác của ông có ý đồ kỹ thuật quá đậm, nhà thơ chỉ là một “thợ văn” hơn là một thiên tài nghệ thuật đích thực. Thậm chí còn đánh giá tác phẩm của ôngchỉ là những mảnh ráp nối từ cuộc đời ông”, “chỉ là sản phẩm của một kẻ loạn thần kinh, đầu óc bệnh hoạn, thiếu thăng bằng (Baym Nina, 1989,1355). Thế nhưng, ngày nay, đã có nhiều bài báo, công trình đặt lại vấn đề này, thậm chí còn đề cao “nhà thơ điên” Edgar Allan Poe là “thiên tài bí ẩn, kì lạ nhất” của văn học Mỹ và thế giới, người để lại nhiều ảnh hưởng nhất ở các nền văn học Đông – Tây thế kỉ XIX đến nay. Bài viết này tập trung tìm hiểu quan niệm thẩm mỹ độc đáo của Poe về Cái Đẹp và những cách tân độc đáo của ông trong việc sáng tạo ra “triết lý” sáng tác thơ, thiết lập các nguyên tắc thẩm mỹ trong truyện ngắn, để lại nhiều dấu ấn trong nghệ thuật sáng tác văn chương Việt Nam.

2. Quan niệm nghệ thuật về Cái Đẹp của Edgar Allan Poe    Đọc tiếp

Tiếp xúc văn hóa Việt Nam và Pháp (phần 2/3)

                                                                   Phan Ngọc

Ba xu hướng phê phán Nho giáo (tiếp theo)

Các biếm họa của Phong hóa, Ngày nay đã tung ra ba điển hình quen thuộc với nhân dân trong những năm 1930 – 1934 không kém gì các nhân vật của Nguyễn Du, đó là: Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh, cùng các nhân vật của xã hội mới đại diện cho lớp người thân Pháp. Nhóm Tự lực Văn đoàn, có lẽ vì nhìn xã hội theo con mắt tư sản, nên đối với họ, nông thôn chỉ là chốn quê mùa, dốt nát, là xứ sở để bọn Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh hoành hành, nơi tập trung mọi hủ tục: khao vọng, xôi thịt, đút lót, tệ ăn trên ngồi trốc, ma chay, đình đám. Còn thái độ đối với nông dân tuy có khác nhau từ chỗ là kẻ chỉ biết chịu đựng, mất hết nhân cách như ở Nhất Linh (trong Chàng nông phu) đến những còn người tốt, hiền lành, nhưng bất lực (trong Thạch Lam), nhưng điều không thấy là phẩm chất cao quí của người lao động, điều mà Xô-viết Nghệ Tĩnh lẽ ra phải là một bài học. Đối với xã hội thành thị, hai tờ báo công kích tệ tham ô, chế độ nghị gật, sự xu nịnh Pháp, nhưng không đả động đến phương diện kinh tế là mặt kìm hãm sự hình thành của nền kinh tế tư sản dân tộc.

Xu hướng này có những mặt tích cực. Đọc tiếp

Những điều chưa biết về học giả Nguyễn Văn Vĩnh

LTS: Sau một thời gian dài bị phủ lấp dưới những định kiến, đến hôm nay, cái tên Nguyễn Văn Vĩnh đã bước ra ánh sáng với tư cách một học giả, nhà văn hoá lớn, có công hoàn thiện và phổ cập chữ quốc ngữ, đồng thời, thuộc thế hệ khai sinh văn học dịch và báo chí Việt Nam.

Nhưng, con người có bộ óc chứa đựng những tư tưởng kỳ vĩ, có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến xã hội đương thời, có một cuộc đời oanh liệt và kỳ lạ đến phút chót, còn những gì mà hậu thế chưa nhìn rõ? Câu hỏi ấy phần nào được giải đáp trong bộ sách dài chín tập Lời người man di hiện đại, với tập 1 – Thiết chế làng xã của người nông dân Việt Nam phát hành vào tháng 8 tới, lần đầu tiên tuyển chọn và giới thiệu trước tác đồ sộ của Nguyễn Văn Vĩnh. Đọc tiếp

Phê bình dịch thuật Việt Nam đang ở đâu?

Nguyễn Duy Bình

Ở đâu và ở thời nào cũng thế, có dịch thuật là có phê bình dịch thuật. Nhưng thế nào là phê bình dịch thuật đúng nghĩa? Có chăng những sự biến chuyển về cách đánh giá dịch thuật? Phê bình dịch thuật có theo kịp hoạt động dịch văn học vốn đang trong giai đoạn phát triển rầm rộ, đặc biệt với sự bùng nổ của các phương tiện thông tin đại chúng?

  Đọc tiếp

Về sự phân biệt thi pháp học và lí luận văn học

Trần Đình Sử

 

1. Nêu vấn đề phân biệt và xác lập quan hệ giữa thi pháp học với lí luận văn học trong thời đại ngày nay đối với một số người là việc làm có vẻ ngược đời. Bởi thời đại nay, theo một số quan niệm nào đó là thời đại “giải cấu trúc”, hoài nghi đại tự sự,  không còn chủ quan, khách quan, nội dung, hình thức, thời đại tháo tung mọi ranh giới, xoá nhoà mọi đường biên, thời đại của xuyên môn, liên ngành, liên văn bản. Bản thân ranh giới của văn học cũng thay đổi, tính văn học bị lung lay, đặc trưng văn học bị biến động, ranh giới của lí luận văn học, do đó cũng đang bị mở rộng, dịch chuyển. Có ý kiến nêu có thể không cần “lí luận văn học” nữa, chỉ cần “lí luận” (lí thuyết khoa học nhân văn) nói chung là đủ. Ấy vậy mà nêu vấn đề phân biệt nhằm tạo các ranh giới, phân môn biệt loại có vẻ như đi ngược trào lưu. Theo tôi hiểu hai hướng đó không hề mâu thuẫn nhau, bởi giải cấu trúc là môt lối tư duy mới, nhưng không có nghĩa là thủ tiêu cấu trúc mà chỉ là thay đổi quan niệm về cấu trúc. Nếu chỉ giản đơn là thủ tiêu cấu trúc thì sẽ thủ tiêu luôn Saussure, Jakobson, Lotman và bao nhiêu nhà cấu trúc chủ nghĩa khác nữa. Lúc đó thì sẽ không còn gì, không có cả văn hoá, bởi vì văn hoá suy cho cùng cũng là cấu trúc, là trật tự của con người để vượt qua cái hỗn độn, hỗn mang, là cái đối với con người là vô cấu trúc. Trong suốt quá trình văn hoá, con người không ngừng tạo ra cấu trúc rồi phá bỏ cấu trúc cũ, đổi thay cấu trúc, nói cách khác là giải cấu trúc và tái cấu trúc luôn song hành với nhau để thích ứng với quan niệm trật tự mới. Lí luận văn học, thi pháp học cũng như vậy.

2.Thực tế hiện nay trong nhiều công trình khoa học trên thế giới thuật ngữ thi pháp học và lí luận văn học đang có một quá trinh tách nhập rất phức tạp.  Sự phân biệt, xâm nhập ấy thể hiện ở mấy biểu hiện sau. Đọc tiếp

Chung quanh khái niệm “mô thức” của Northrop Frye

 Phạm Quang Trung

Trong tay tôi có 4 tư liệu liên quan đến chủ đề, gồm:

(1) Mục II – Lý luận phê bình văn học “cổ mẫu thần thoại”, trong Chương 11 – Tâm phân học, Tập Lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX, Phương Lựu, Nxb Văn học, H. 2001.

(2) Northrop Frye, Thi Nguyên – 100 nhà lý luận phê bình văn học thế kỷ XX – Viện Thông tin Khoa học Xã hội, H. 2002. Đọc tiếp

Tiếp cận Diễn Ngôn: Cấu trúc nhị nguyên luận F.de Saussure và Ngôn quyển đối thoại luận của M.Bakhtin

                                                                                   Lê Thời Tân

1.Hai thuật ngữ “kết cấu” và “cấu trúc” trong nghiên cứu Diễn Ngôn hiện nay

Có cách hiểu cho rằng tiếp cận ngôn ngữ học đối với diễn ngôn là xem diễn ngôn đối lập với văn bản như ngôn ngữ học cấu trúc luận đã đối lập lời nóingôn ngữ (tách lời nói khỏi dòng chảy cá nhân khó lòng theo bám để tiện nghiên cứu cái ao chung ngôn ngữ). Đây đó xuất hiện cách nói “phân tích cấu trúc diễn ngôn”.[1] Vậy mà theo chúng tôi về logic một khi đã coi diễn ngôn là lời nói thì ngôn ngữ học cấu trúc luận thực sự không làm việc với nó. F.de Saussure từng nói sự phân biệt ngôn ngữlời nói tạo nên ngã ba đầu tiên trong công việc kiến lập lí luận hoạt động ngôn ngữ. Không thể tiến lên đồng thời trên hai lối rẽ từ ngã ba đó, F.de Saussure chỉ bước đường ngôn ngữ học cấu trúc luận (tuy trước lúc khởi bước đường mình ông cũng đã dự kiến viễn cảnh lối rẽ đường bên kia với cái tên “ngôn ngữ học lời nói”). Ông đã đi trọn đường mình và cũng từng dự kiến chân trời mới của khoa kí hiệu học. F.de Saussure nói ngôn ngữ học mà ông xây dựng sẽ chỉ là một bộ phận của một sémiologie général.[2] F.de Saussure nêu những dự kiến đó một cách hiển ngôn trong Giáo trình Ngôn ngữ học Đại cương. Không hiểu sao lại có những luồng ý kiến bàn tới hạn chế hay mặt tiêu cực của ông là đã tự “đóng khung” vào việc chỉ nghiên cứu nội tại ngôn ngữ, làm cho mọi hướng nghiên cứu mở rộng của ngôn ngữ học đi vào ngõ cụt! Thực ra vấn đề nếu có nêu nên là: nếu còn tiếp tục cái hùng tâm tráng khí cấu trúc luận đó thì ông sẽ phát triển ra sao phương pháp của mình vào cái sự-thể mà xưa kia do logic nhị nguyên sau khi lưỡng phân ông chỉ làm việc với một nửa của lưỡng phân – nửa ngôn ngữ  đó? Hoặc giả chúng ta phải thấy lại rằng sự-thể lời-nói này sau đó phải chăng đã được tiếp cận trở lại trong hoạt động tạm gọi chung là “nghiên cứu diễn ngôn”. Và hoạt động này cũng không đơn giản chỉ là làm việc vẻn vẹn với “lời nói” vừa vặn trong thế lưỡng phân của F.de Saussure? Các câu hỏi cốt lõi tiếp theo có thể là: Làm sao để có thể đặt vấn đề “cấu trúc hóa” kiểu nhị nguyên luận Saussure đối với sự thể diễn ngôn đa dạng tột độ và luôn tùy biến dính chặt vào chủ thể bản ngữ?[3]  Chủ-khách thể sẽ tự/được/bị phân tách luân chuyển hoán đổi thế nào trong vũ trụ diễn ngôn? “Diễn ngôn học” (nếu có thể liều gọi được như vậy) có còn chẳng hạn sẽ như ngôn ngữ học F.de Saussure cũng “chỉ chấp nhận một quan điểm duy nhất – quan điểm của người bản ngữ”?[4] Nếu phải như thế thì nó sẽ làm thế nào? Và sự đa dạng vô cùng và tột độ của thực tiễn diễn ngôn có ngăn cản được cái ý hướng cấu trúc hóa trừu tượng cao độ đối với nó? Đọc tiếp

1. Tin tức - sự kiện | Điểm báo

Những điều chưa biết về học giả Nguyễn Văn Vĩnh

LTS: Sau một thời gian dài bị phủ lấp dưới những định kiến, đến hôm nay, cái tên Nguyễn Văn Vĩnh đã bước ra ánh sáng với tư cách một học giả...

2. Lý thuyết phê bình

Trung tâm và Ngoại biên: Từ hệ hình cấu trúc luận đến hệ hình hậu cấu trúc luận

Lê Nguyên Long “There is no way out of the game of culture; and one’s only chance of objectifying t...

3. Lịch sử phê bình

Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại đến văn học nghệ thuật trên thế giới và Việt Nam

Nguyễn Văn Dân 1. Trên bình diện thế giới Lịch sử thế giới cho thấy các trào lưu hiện đại chủ nghĩa đã có vai trò không nhỏ cho sự phát ...

4. Các thể tài phê bình

“Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên ở Việt Nam viết truyện viễn tưởng hiện đại”

Trên trang http://phebinhvanhoc.com.vn có bài của Trần Đình Sử nhan đề "Có nên xem Nguyễn Ái Quốc là cha đẻ truyện viễn tưởng Việt Nam?". M...

5. Chân dung phê bình

Nguyễn Huệ Chi và những dấu ấn khoa học sau hơn nửa thế kỷ nghiên cứu văn học cổ cận đại Việt Nam

Đặng Thị Hảo LTS: Mới đây, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam vừa cho ra mắt cuốn Văn học Cổ cận đại Việt Nam, từ góc nhìn văn hóa đến các mã n...

6.Những vấn đề hiện thời của phê bình

TS. Nguyễn Thị Từ Huy: “chọn bài dựa trên chất lượng chứ không dựa trên các loại chức danh hay chức vụ hay sự nổi tiếng”

Nhân dịp website tròn một tuổi, chúng tôi kiểm điểm lại những việc đã làm, trên cơ sở những ý kiến bàn thảo thẳng thắn về tình hình sáng t...

7. Thiết chế xã hội của văn học

Nhân ngày thơ Việt Nam, nhớ lại một bản thảo bị mất

Lại Nguyên Ân Trong những thông báo về việc tổ chức Ngày Thơ Việt Nam năm nay, 2013, thấy có nói trong ngày này cũng sẽ kỷ niệm 70 năm Hội ...

8. Tư tưởng - triết học - văn hóa

Tiếp xúc văn hóa Việt Nam và Pháp (phần 3/3)

Phan Ngọc          Quá trình giải thể cấu trúc Mặc dầu thời gian dài chịu ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa Pháp chỉ sáu mươi năm, có thể ...

9. Diễn ngôn (văn học)

Diễn ngôn như một phạm trù của tu từ học và thi pháp học hiện đại

V.I. Chiupa Lời người dịch: Giờ đây “diễn ngôn” đã trở thành khái niệm của khoa học liên ngành và khoa học đa ngành. Theo dõi quá trình hìn...

10.Giới thiệu tác phẩm

Màu tự do của đất (giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2012)

Nhà thơ Trần Quang Quý quê Thanh Thủy, Phú Thọ. Hiện công tác tại Nxb. Hội Nhà văn. Tác phẩm chính: Viết tặng em trong ngôi nhà chật(thơ,...

11. Hồ sơ văn học

Chứng từ Thanh Tâm Tuyền (1 và 2)

Thanh Tâm Tuyền là một trong những nhà thơ tiên phong đổi mới tư duy thơ, một nhà thơ lớn có bóng bao trùm một miền thơ rộng của thế kỉ XX. ...

12. Ebooks và chuyên đề

Cây bút, đời người (Tập chân dung văn học,Nxb. Hội Nhà văn, 2005)

Mục lục  Lời dẫn                                                                        - Xuân Quỳnh, cuộc đời để lại trong thơ        ...

13.Văn học nhà trường

Đây thôn Vĩ Dạ từ hình ảnh đến biểu tượng

Lê Thị Hồ Quang 1. Rõ ràng là có một thế giới thiên nhiên rất thực đã và đang tồn tại trong Đây thôn Vĩ Dạ. Đó Là một thế giới của ''vườn...