Câu chuyện một cái trại…


Tam Ích

Con người nào lại không có trong mình một mẩu thực thể giông giống như “chất” tôn giáo… Vì vậy, ngày xưa, khi gấp cuốn Ngọc Lê hồn lại rồi là Mộng Hà, Lê Ảnh trở nên những thần tượng. Và cùng một lúc với ông Hoàng Ngọc Phách, đầu thế kỷ XX cũng đã tạo ra trong Tố Tâm được một Đạm Thủy… Cứ vậy mà những thần tượng ấy ám ảnh thanh niên xưa cho đến đỗi giá được làm… Đạm Thủy lấy một ngày, dù có phải thổn thức và nhảy luôn xuống sông cũng… mãn ý.

Người trẻ tuổi thời đại ấy chỉ còn thiếu suy tôn những nhân vật tiểu thuyết ấy lên để chiêm bái! Tôi lấy làm lạ có người vẫn cho tiểu thuyết là đồ phù phiếm. Cứ xét luôn ảnh hưởng của cuốn La condition humaine của André Malraux chẳng hạn ra đời bên Pháp vào khoảng năm 1934 thì ai cũng phải thừa nhận rằng bất kỳ ở đâu, vào thời nào, tiểu thuyết hay không phải là… đồ phù phiếm chút nào. Trái lại, tác dụng của văn chương không phải là thứ đếm được như lời lãi ngoài chợ hay đo được thành kích thước – sở dĩ ai cũng lười biếng không thừa nhận, chỉ vì bao nhiêu tiếng nói của tiểu thuyết(langage romanesque) thường nằm một cõi riêng trong con người: cõi tiềm thức và vô thức! Và thân hình con người không bao giờ có chỗ trống: chẳng bị ám ảnh bởi một thần tượng, thì trí nhớ cũng mất đi một chỗ cho một thứ người điển hình bệnh hoạn như Ả Cu chẳng hạn… dung thân.

Thời kỳ ấy đã dừng lại: giữa xưa và nay đã có cả một biên giới. Ngày nay, nhân vật không hiện ra như một thần tượng nữa, và cho có điển hình trong tiểu thuyết thì cũng phải điển hình có sức khoẻ tinh thần.

Trên dưới ba ngàn người làm nghề chài lưới sống trên một khu vực địa dư và lập thành Trại Tân Bồi gồm có chín vạn, mỗi vạn là một làng. Con số ba ngàn ấy có một đời sống, có một cảm tình. Giữa dân tộc, con số ấy là một tế bào. Thành phần con số ấy có những cá nhân mạnh, tự mình tranh đấu với mình, tranh đấu với thiên nhiên, tranh đấu với tất cả những gì chận đường đi lên… Mỗi một cá nhân nhỏ đều tự vượt mình và ba ngàn cá nhân nhỏ làm thành một cá nhân lớn, tự tạo một nhân văn chung (humanisme collectif). Có thể gọi họ là một thứ người quần chúng (homme-foule) có tổ chức, có ý thức, ý thức được sức mạnh và khả năng của mình, sống một đời sống chung, cảm một thứ vui buồn chung, giận một thứ giận chung… Và khi không ở đó nữa thì cái người quần chúng có ý thức ấy đi chỗ khác và “đi đến lần vừa rồi là lần thứ ba”. Và đi đến đâu thì nơi ăn chốn ở, chỗ họp hành… giờ học tập… đâu ra đấy, có khuôn khổ hẳn hoi cả”. Trước khi đi không bao giờ hoang mang, “lúc nào đi là cứ việc đi”…

*

Nhân vật của tiểu thuyết gồm có ba ngàn người. Trong ba ngàn người, nổi bật ra là người già: Sịch Khậm và Lão Mỡi và một cặp thanh niên nam nữ, con gái Sịch Khậm và Lão Mỡi, yêu thương nhau.

Yêu thương nhưng khó lấy nhau vì hai người cha không ưa nhau: một người xuất thân làm anh mõ và một người trước kia đã từng làm một thứ người ở Lương Sơn Bạc…

Nhưng rồi hai người cha cũng phải làm một cuộc tự mình thử thách với mình để thắng một thành kiến đương… chảy trong dòng máu. Họ tự vượt mìnhvà dung thứ cho tình yêu của con trẻ, một thứ tình thương yêu không trắng trợn sặc sỡ như tình yêu ở những thành phố… Họ yêu nhau và “Lực nhìn quanh nhìn quẩn và Thờn cúi đầu xuống. Hai người cùng nhìn nhưng chẳng biết nhìn cái gì cả”…

*

Tôi nghĩ ngay tới loại tiểu thuyết hoàn toàn phi ngã (roman impersonnel), loại tiểu thuyết tả đoàn thể (roman histoire d’une collectivité) như En un combat douteux của Jonh Steinbeck chẳng hạn, như Tempête của Ehrenbourg chẳng hạn.

Lão Mỡi, Sịch Khậm, Tom Joad, Mac, Jim, v.v. mà người ta tưởng là những vai chính, lại chỉ là cái cớ – xin nói lại: cái cớ – để cho đời sống số đông nổi bật lên chiếm hết… màn ảnh, và có thể lạm dụng danh từ mà nói rằng những nhân vật ấy – trái với những tiểu thuyết khác – mới là… bối cảnh.

Bỏ chú tiểu Lan đi thì Hồn bướm mơ tiên hết là tiểu thuyết. Bỏ Mai đi thì Nửa chừng xuân còn gì? Không có Tố Tâm thì Đạm Thủy thành người “mồ côi”? Và bỏ ông An Tiêm đi thì cuốn Quả dưa đỏ tàn tật.

Nhưng bắt Thờn và Lực chìm đi, bắt Mac, Jim, v.v. khuất đi. Trại Tân Bồi và En un combat douteux vẫn là tiểu thuyết như thường… Số đông vẫn là số đông. Các nhân vật không phải là một thứ nhân vật lờ mờ chiếm lấy cõi tiềm thức và vô thức (và cõi thức) của người đọc như những thần tượng. Và người ta vẫn có ấn tượng rằng có một số người, tuy không hiện hẳn ra trên sân khấu, chỉ ở sau… bối cảnh, nhưng vẫn lưu động, làm một việc, thở một hơi thở, buồn vui một nỗi buồn vui… như những nhân vật có mặt lớn trong sách.

*

Tuy nhiên, tôi cũng hơi dè dặt.

Bỏ Lực và Thờn đi còn được. Nhưng bắt Sịch Khậm và Lão Mỡi chìm đi thì… khó. Ở trong Trại Tân Bồi, cá nhân Sịch Khậm và Lão Mỡi vẫn nghênh ngang nổi bật ra và ám ảnh người đọc như thường…

Người viết tiểu thuyết sử đoàn thể là người xây dựng điển hình chung và tạo nhân văn chung (hamanisme collectif). Những nhân vật tuy khác nhau về cá tính, nhưng người đọc hình dung người vắng mặt cũng như người có mặt, trường hợp ẩn cũng như trường hợp hiện. Những cá nhân trong đoàn thể không nổi bật ra ám ảnh và theo người đọc, bắt mảnh sống số đông phải lùi vào bóng tối mất vị trí trong trí nhớ. Cuốn sách gấp lại rồi ở trong trí người đọc chỉ cần hình ảnh chung của một sức sống, và Mac cũng như Jim, Jim cũng như Dubois và Dupont… Sịch Khậm cũng như Lão Mỡi, Lão Mỡi cũng như Giáp, Ất như bất kỳ một ẩn số hay vị trí số nào, phải mờ đi…

Đạt được kỹ thuật ấy là thành công trong phạm vi nghệ thuật tiểu thuyết tả đời sống tập đoàn và lên đường đi lên của số đông. Sự thành công của Hoàng Công Khanh – nếu quả tình có sở đoản – là ở chỗ để cho caméra “lấy” Sịch Khậm và Lão Mỡi kích thước chiếm hết màn trắng – gros plan.

*

Một vấn đề thấp thoáng hiện ra trong cuốn tiểu thuyết của Hoàng Công Khanh: vấn đề cá nhân trong đoàn thể – ở phạm vi hẹp là cá nhân trong xã hội loài người. Cá nhân có giá trị tuyệt đối không? Cá nhân… trưởng thành cách nào? Con người tự thực hiện làm sao?

Tìm được câu trả lời tiềm tàng trong cuốn sách là giải quyết luôn luôn được cả vấn đề nhân văn mới: nhà văn riêng của từng người và nhân văn chungcủa tất cả.

Vạn nhất mà đem Sịch Khậm và Lão Mỡi đặt trên một miếng đất khác, giữa một khung cảnh khác và dưới một khí hậu xã hội khác, như Sài Gòn này chẳng hạn… thì cảnh tượng quả là sẽ đáng buồn! Người đánh mõ vẫn suốt đời “mõ này cả tiếng lại dài hơi”… và cái anh chàng làm nghề “anh hùng” trên mặt nước lại vẫn không bỏ được mặt nước. Cái… nấc thang xã hội chỉ dành riêng cho một số người: vấn đề nhân văn lại cũng chỉ là một món đồ trang sức… hiếm và danh từ vẫn giữ cái trống rỗng của danh từ! Có ai can đảm dám nói rằng cái mõ sẽ thành cái chuông vàng và Sịch Khậm sẽ khoác một thứ áo cà sa mới giữa cái cuộc sống mà con người lẻ loi chỉ thấy có… dốc! Trừ những người hóa hợp với số đông, con người lẻ loi có nhiều sinh tố cũng chỉ làm được cái việc lớn nhất là tìm “một chiếc thuyền con bé tẻo teo” để đi trên “ao thu lạnh lẽo nước trong veo”, trốn vào bản ngã, bằng lòng một nhân sinh hẹp. Nhân văn ấy là nhân văn tịnh. Và nhân văn tịnh là nhân văn hấp hối!

Lão Mỡi và Sịch Khậm, Lực và Thờn đã có cái may mắn là sống trong Trại Tân Bồi. Cá nhân tự kiểm điểm mình, tự vượt mình, tự thực hiện mình trong một khung cảnh tập đoàn lớn. Và cái khung cảnh tập đoàn lớn cũng trưởng thành theo cái đà của cá nhân. Cái homme-foule ý thức được thẩm quyền của mình song song với sự ý thức cá nhân (conscience individuelle) và tự thực hiện. Đó là đặt luôn cả vấn đề con người tự thực hiện mình. Hẳn ai cũng biết; sở dĩ con người trở nên bệnh hoạn và khủng hoảng về tinh thần cũng chỉ vì không thực hiện được hết cái phong phú của mình. Và muốn ngoại hiện (extériorisation) khả năng của mình, con người – nghệ sĩ chẳng hạn – phải tìm một lối thoát.. khác.

Đặt vấn đề lên đất sống của trí thức, thì nếu cái xã hội có đẹp tốt, đã chẳng sinh ra những phong trào trí thức và nghệ thuật bi quan, hoài nghi, bí hiểm… Đã chẳng có một thứ Chế Lan Viên xưa chỉ thấy có đầu lâu và khớp xương… một thứ Bích Khuê làm thơ nặng mùi khoái lạc… Đã chẳng có Đoàn Phú Tứ, Phạm Văn Hạnh phải rước bàn thờ siêu thực về làm chuyện mộng…

Trở lại với ba ngàn người ở Trại Tân Bồi. Con người đây không phải là một quân cờ cho người chơi muốn đi nước cao nước thấp gì tùy ý, không phải là một thứ bánh xe không có linh hồn chạy một chiều với những bánh xe khác trong một bộ máy có sẵn. Khả năng của cá nhân ở đời sống tập thể này phát triển theo một nhịp lớn và kết quả sự tranh đấu chung với bản thân, với trời đất, đã tạo ra những trường hợp nói rất nhiều: Lão Mỡi điềm nhiên chứng kiến một cái chết làm đau lòng một người cha làm Sịch Khậm bỗng ý thức được một sự đần độn của mình và bỏ được một thành kiến. Sự hy sinh và sự ý thức cùng xảy ra trong một khung cảnh lớn: trên một khu vực địa dư “không phải ta chỉ thấy một chiếc lá mà thấy cả một rừng cây”, rừng cây gồm có cây có lá làm rừng cây, lá cây có tốt tươi là nhờ… đất.

Sống trong một xã hội thiếu tổ chức, con người, trừ phi là phải đi theo “hướng của dòng tiến hóa”, cho có muốn hóa hợp với cái mà người ta gọi là… xã hội, cũng là chuyện mơ hồ. Đã hy sinh cái phong phú bên trong của mình nuôi cho “thiên hạ” sống, lại còn đi trên một cái dốc… Nhân văn ấy là nhân văn đi xuống, và con người vô tình đã tự dối mình. Sự tự dối mình chỉ diễn ra trong tiềm thức và vô thức của cá nhân nên con người thường dễ lầm.

*

Cuốn Trại Tân Bồi còn lôi ra cả một vấn đề xu hướng văn học. Nói một cách khác là vấn đề trường văn nghệ. Trường văn nghệ đây là trường duy nhiên(naturalisme).

Văn chương duy nhiên thịnh hành nhất ở Mỹ cũng đã đến ngày hết sứ mạng. Các nhà tiểu thuyết Mỹ khai thác đất duy nhiên đã gần hết, dân tộc Mỹ đương đòi hỏi một chất nghệ thuật khác. Hội họa của họ đã đi vào cõi trừu tượng (peinture abstraite), còn văn chương đương bước thấp bước cao… Người ta vẫn viết bài nói về hoàng hôn của văn phái duy nhiên rồi.

*

Cứ một biến cố lớn lại đẻ ra một phong trào văn nghệ mới lớn hay nhỏ, và một hay nhiều nhân tài. Cuộc chiến tranh 1870 và cuộc khởi nghĩa Communenăm 1871 đã đẻ ra một chàng Rimbaud và một xu hướng… Trận Thế chiến thứ Nhất đã đẻ ra một chủ nghĩa dada, và sau đó phái siêu thực. Và tiếng dội của chiến tranh ngoài chân trời bắt đầu năm 1939 cũng đã dồn vào bản ngã vào mộng vào cõi trừu tượng Đoàn Phú Tứ, Xuân Sanh, Phạm Văn Hạnh trong nhóm Xuân Thu Nhã Tập… Khói lửa đất nước cũng đã làm cho Tạ Tỵ vẽ tranh lập thể… Có lẽ cái nước Mỹ chưa có một biến cố lớn nên chủ nghĩa duy nhiên đã về chiều rồi mà văn chương còn bước thấp bước cao… đi vào lối science-fiction, để đến đỗi bên Pháp bây giờ lại cũng có người kêu rằng tiểu thuyết hết… thời rồi và Raymond Queneau một thi nhân, một văn sĩ đàn anh Pháp cũng đã chủ trương rằng science-fiction sẽ thắng và đã lập hội Science-fiction.

Người ta đã hương khói cúng chủ nghĩa tả chân cũ, người ta đã khóc chủ nghĩa duy nhiên cũ. Sau cái thời kỳ đọc tiểu thuyết tả đời sống kháng chiến ở Pháp và cái đời sống ở những trại tập trung Đức, thiên hạ đua nhau đọc tiểu thuyết của Sartre…

Tiểu thuyết nước Pháp bây giờ đã lâm vào ngõ bí. Mấy cái giải thưởng Goncourt, Femina, v.v. chỉ là những tác phẩm lạt lẽo chẳng có gì mới lạ. Hai mươi năm sau, người ta đọc lại La condition humaine của André Malraux còn thấy thú vị hơn nhiều thì quả tình văn chương nước Pháp đang đánh dấu hỏi…

Ngày nay, cái cuốn đọc được hơn hết có lẽ là cuốn Drôle de Jeu của Roger Vailland được giải thưởng Interallié năm 1945 và sau đó là cuốn Bon pied bon oeil. Và cái ngày Vailland viết Un jeune homme seul là ngày tác phẩm của Vailland gây ra một cuộc thảo luận khá ồn ào.

Ngộ nghĩnh hơn hết là nhà tiểu thuyết Roger Vailland đã sáng tác với lối văn duy nhiên!

Nguyễn Văn Lang đã viết Tìm sống, Sao Mai đã viết Nhìn xuống và Hoàng Công Khanh đã viết Trại Tân Bồi bằng văn duy nhiên. Màu sắc khác nhau một chút, nhưng có lẽ ở tạm chung một văn phái.

Thứ văn chương duy nhiên này động mà không tịnh. Căn nhà duy nhiên cũ của Emile Zola và của Vũ Trọng Phụng đã thuộc hẳn về lịch sử. Cái chủ nghĩa duy nhiên của Sao Mai và Hoàng Công Khanh này đã mang một màu sắc mới. Hẵng tạm gọi là tả chân mới chẳng hạn. Nhà xuất bản Vỡ Đất, xuất bản cuốn Trại Tân Bồi quả đã vỡ được đất mới.

Tôi đã đọc Terre défrichée của Cholokov và Terre défrichée cũng thuộc về loại tiểu thuyết tả đời sống tập thể. Sợ mang tiếng là thiên lệch, nếu không, tôi sẽ nói tôi đọc Trại Tân Bồi thấy hứng thú hơn nhiều. Nhưng cũng xin nói luôn một ý tưởng rất thành thực kẻo người viết bài này mang tiếng là nói chuyện… phiến diện… Chẳng biết từ đây về sau ra sao, nếu chỉ đếm từ đây về trước, thì hình như ông Hoàng Công Khanh chỉ nên hãnh diện rằng mình đã viết được Trại Tân Bồi… mà thôi.

Đã nói đến Trại Tân Bồi thì phải nói đến Hoàng Công Khanh. Đã nói đến họ Hoàng thì cũng phải nói nốt một ý tưởng nữa cho đầy đủ. Người ta có thiện cảm với tác giả Trại Tân Bồi và Quan điểm văn nghệ nhân dân bao nhiêu, thì người ta lại buồn cho người đã viết Mối tình đầu, Mẹ tôi sớm biệt một chiều thu, Yêu chỉ một lần, bấy nhiêu. Có người đã nói là Hoàng Công Khanh không có lập trường văn nghệ gì rõ ràng. Họ Hoàng trả lời làm sao với dư luận?

1954

Nguồn: Lá Bối xuất bản lần thứ nhất, in tại nhà in Đăng Quang, 734a Phan Thanh Giản – Sài Gòn. Giấy phép số 481 TBTTCH/BC3/XB Sài Gòn ngày 22 tháng 2 năm 1967, ngoài những bản thường in thêm 100 bản đẹp dành riêng cho tác giả, nhà xuất bản và thân hữu. Thư từ, liên lạc về Nxb xin gửi cho Từ Mẫn, bưu điện xin đề tên cô Cao Ngọc Thanh. Giá 120 đồng. Bản điện tử do talawas thực hiện

Leave a Reply