Một số vấn đề về lý luận diễn ngôn hậu thực dân (phần 1)


Benita Parry

I

Hiện nay có nhiều kế hoạch nhằm xác lập một mô hình nghiên cứu mới thay thế mô hình nghiên cứu cũ. Trong bài viết liên quan đến vấn đề này, Edward đã phát hiện ra điểm giống nhau trong các kế hoạch đó là: đều xuất phát từ mô hình lí luận mới, khách thể tri thức mới khác hẳn hoặc ít nhất là trên căn bản cải biến tiêu chuẩn quy phạm đang thịnh hành, xuất phát từ ý thức đời thường, từ ngoại diên, từ các phạm trù đối lập. Những kế hoạch này xuất hiện “đều nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế và chính trị”. Phương châm đối thoại, đa nguyên hóa trong phê bình đương đại được coi trọng nhằm tạo điều kiện cho khuyh hướng phủ nhận kế thừa truyền thống, khuynh hướng khác lạ ít có sức phá hủy đối với trật tự đã định hình ra đời.

Trong Xóa bỏ khoa học của chủ nghĩa đế quốc, khi phê phán chủ nghĩa phương Đông, Eward đã làm phong phú và mở rộng phân tích diễn ngôn thực dân, bản thân nó được sinh ra ở lối viết phá vỡ tính quy phạm của lí luận văn học, của phụ nữ trong thế giới bóc lột, của người da đen và của những người chống lại chủ nghĩa đế quốc, và ở nơi hội tụ ba điểm hoài nghi của chủ nghĩa hậu thực dân đối với kinh điển văn học phương Tây.

Việc kiến tạo văn bản thể hiện tư tưởng lật đổ uy quyền của chủ nghĩa đế quốc đã bắt đầu ngay từ trong nội bộ văn hóa tri thức, chính trị của phong trào giải phóng các vùng đất bị thực dân chiếm đóng, trong phản diễn ngôn (counter – discourse) được phát triển trong hoàn cảnh đó, trong phản diễn ngôn quen thuộc của giới học thuật phương Tây, phản diễn ngôn giải mã văn bản của các nhà hoạt động da đen người Mĩ, trong phản diễn ngôn được viết lại của lực lượng vũ trang tại một nửa khác của trái đất. Ngay từ những năm 50 của thế kỉ 20, vấn đề này đã được biên soạn bởi Frantz Fanon, nhà phân tích, biện luận tâm lí học, nhà lí luận và đội viên du kích.

Mặc dù hiện nay, khi phê phán chủ nghĩa thực dân, các nhà phê bình đều viện dẫn Frantz Fanon, nhưng có thể đây chỉ là cách thể hiện thái độ cầu thị thông thường, trong đó, cách nói đối địch của ngôn ngữ cá nhân và sự tham gia của hành động tập thể đi liền với nhau, hoặc là nói điều này là lối viết lí luận kết hợp phân tích chính trị với tự truyện tâm lí mang tính đại diện; nó không cần phải xác nhận sử dụng khung vấn đề của những quan niệm về nhận thức luận biện chứng nào đó, về thể nghiệm của nhân loại về tồn tại tự do và chân thực, và sự khác lạ, nó cũng không cần phải nhất nhất đem những văn bản này đọc thành diễn ngôn giải phóng. Tương đồng với tư tưởng của Fanon có hiện tượng học và chủ nghĩa hiện sinh cánh tả thẩm thấu chủ nghĩa Mác. Trong những bài viết của Fanon, phạm trù của Hegel được lịch sử hóa, ra sức làm rõ cấu tạo và kết cấu của hình thái ý thức chủ nghĩa thực dân trên phương diện chính trị. Thông qua làm rõ lập trường văn hóa xã hội của hai cực người da đen và da trắng được cấu tạo trước đó và siêu hình, công trình của Fanon hướng tới giải phóng ý thức của người bị áp bức khỏi cái lồng kìm kẹp “do người da trắng tạo ra”. Vì mục đích này, ông đã dùng phép nhị phân lí giải tư tưởng của chủ nghĩa thực dân, tư tưởng cho rằng người da trắng là luật pháp tối cao, người da đen lại là kẻ chống lại pháp luật, tương ứng với nó còn có một loạt những đối lập thường thấy, thể hiện giá trị cố định trong diễn ngôn ( thiện- ác, tốt – xấu, trắng – :Loại đối lập điển hình này chúng tôi gọi là “hỗn loạn đối lập thiện ác”), nhưng trên phương diện tồn tại, vai trò của phép nhị phân này là cải biến giao lưu đối thoại giữa cái cấu thành tồn tại và cái không thể hoặc khuyết thiếu của tồn tại với tự ngã gần gũi ý thức và những tự ngã khác thành quan hệ thực dân đầy tính xung đột giữa tự ngã và kẻ khác.

Đối với người quan tâm đến giải cấu văn bản chủ nghĩa thực dân, sách lược đầy tính mạo phạm của Fanon – sách lược muốn tái chiếm hữu chức năng chỉ ý bị tái hiện chủ nghĩa thực dân lạm dụng – dường như là sự tham dự tất yếu nhưng không thực sự đầy đủ. Những nhà phê bình theo đuổi lập trường này có thể sẽ thừa nhận, cần phải phân biệt nhận biết quá khứ để tổ chức các loại đối lập có nội hạm ý nghĩa sâu xa trong lĩnh vựa diễn ngôn chủ nghĩa thực dân, cách làm đó có thể loại trừ sự giả tạo trong thủ pháp tu từ của mô hình cấu tạo của nó.

Tuy vậy, họ cũng có thể đề xuất, phục chế và sắp đặt lại diễn ngôn tương phản đối lập mà trung tâm chủ đạo là đối lập ngôn ngữ loại bỏ, tẩy chay phân loại, sắp xếp, cũng là không thể giải phóng “kẻ khác” ra khỏi sự chèn ép trong sự tái hiện chủ nghĩa thực dân khô cứng, trong hình tượng đã được thực dân hóa, bị giản đơn hóa, từ đó thâm nhập vào trạng thái tự do “sai khác” của người bị đô hộ muôn hình muôn vẻ. Muốn phá bỏ tri thức chủ nghĩa thực dân, và cấy ghép vào trần thuật chủ nghĩa thực dân nhận được sự tiếp nhận rộng rãi, do chủ nghĩa dân tộc duy trì biểu đạt, do giai cấp thống trị biên soạn lịch sử viết ra , thì tất yếu phải cự tuyệt khái niệm cơ bản liên quan đến khung vấn đề. Vì thế, Homi K Bhabha cự tuyệt tiếp nhận quan điểm coi quan hệ thực dân là quan hệ đối lập đối xứng, vì theo ông: tính mâu thuẫn của tồn tại chủ nghĩa thực dân và khách thể cấu thành nên nó “khiến giới hạn mang tính lập trường của chủ nghĩa thực dân :sự phân biệt tự ngã/ kẻ khác – vấn đề quyền lực thực dân – phân biệt kẻ thống trị và người bị bóc lột, vừa khác với phép biện chứng của chủ nô, vừa khác với sự thấu xạ hiện tượng học của tính khác”. Gayatri Spivak nói: “tôi duy trì thái độ phê phán đối với đối lập nhị nguyên giữa kẻ đô hộ và người bị đô hộ. Tôi muốn kiểm nghiệm tính không đồng nhất của quyền lực thực dân, làm rõ hai cực của đối lập đó trong việc cấu thành đồng mưu khi lĩnh vực khoa học phê phán chủ nghĩa đế quốc bị bao vây”. Sách lược thúc đẩy lĩnh vực này thay đổi là: làm rõ quyền lực tồn tại cố định và bí mật như thế nào trong hệ liên quan đến sự “sai khác” tự nhiên của thống chủ nghĩa thực dân, thể hiện trong quá trình hình thành ý nghĩa, những đối lập nhị nguyên này bị phá vỡ, thậm chí bị đặt trong quan hệ mật thiết, kết hợp và dựa vào nhau; thông qua làm rõ phương thức biểu đạt mâu thuẫn của chủ nghĩa thực dân cấu thành nên chủ thể thực dân đầy mâu thuẫn cảm tình cảm như thế nào, từ đó hóa giải trung tâm người bị đô hộ với tư cách là khách thể thống nhất cố định của tri thức thực dân chủ nghĩa; thông qua hiển thị một không gian mỏ rộng quyền lực được bảo hộ bởi các loại phương tiện truyền thông, thúc đẩy hình thành các loại hoàn cảnh và quan hệ; thông qua cơ chế bị phát tán để loại bỏ cấu tạo quyền lực thực dân độc tài và ngoan cố. Cuối cùng, thông qua công khai đồng mưu giữa người bị đô hộ và nó, nhưng đồng thời lại tăng thêm thủ đoạn thuyết phục, áp chế tẩy chay để bài trừ sự tái hiện áp bức tàn khốc được chế độ hóa. Trong việc xóa bỏ phân hóa siêu hình học, trong lĩnh vực mang nhân tố tuyệt đối của phạm trù thân phận chưa được phân biệt và bản thể luận cung cấp cho chế độ chủ nghĩa thực dân căn cứ hình thái ý thức, phê bình sẽ là phân tích làm rõ người bị thực dân áp bức với lập trường khác biệt, khác nhau. Đối với những nhà phê bình này, đây là “kẻ khác” mang tính thống nhất tự thân, đối với một số người khác, nó lại là “tự ngã” ngoan cố, không thỏa hiệp, dùng để thay thế hoàn cảnh thực dân trong đấu tranh vĩnh viễn mà lí luận phản thực dân chủ nghĩa kiến tạo ra, có thể là bạo lực tri thức của chủ nghĩa đế quốc đã khiến nó biến thành một vùng cô tịch hoang vu, có thể là những người tranh đấu có địa vị không bình đẳng tranh luận về không gian tranh đấu quyền lực không cân bằng.

Vì thế, những biện pháp giải cấu đối với hệ thống chỉ ý của chủ nghĩa thực dân, làm thế nào để có thể lấy sự phân loại thông qua lạ hóa và làm rõ tri thức thực dân tốt hơn Fanon để phá vỡ phương pháp bó buộc của nó đối với người bị thực dân áp bức, thúc đẩy thay đổi, từ đó lật đổ diễn ngôn quyền lực?

Trong trước tác của Fanon, người bị đô hộ được cấu thành từ hình thái ý thức chủ nghĩa thực dân chính là hình tượng chủ thể phân hóa của lí luận phân tích tinh thần, được giả định bởi loại bỏ thần thoại liên quan đến một tự ngã thống nhất của chủ nghĩa nhân văn. Do bị cự tuyệt quyền lợi chủ thể, coi biểu đạt của kẻ dân đối với “kẻ khác” là hắc ám và phủ định, từ đó làm tăng thêm nội hóa và chiết xạ, đồng thời do văn hóa của vùng quê bị chà đạp bị coi là kì dị cho nên người bị đô hộ phải sinh tồn trong điều kiện không chân thực.

Lời nói tồn tại tuyệt đối vì người khác… lời nói… nói cho cùng là phải dung nạp một loại văn hóa, gánh vác trọng trách của một nền văn minh…. Mỗi dân tộc bị thực dân áp bức- nói một cách khác, sự tử vong và chôn vùi mang tính sáng tạo văn hóa địa phương đã tạo nên ở mỗi dân tộc tâm lí tự ti khi vô tình đối diện với ngôn ngữ của kẻ khai hóa. Có thể nói, đối diện với văn hóa của tổ quốc… nói một loại ngôn ngữ chính là tiếp nhận một thế giới, một nền văn hóa.

Vấn đề mà Fanon đề xuất là sự cấu thành thân phận “tự ngã”, loại thân phận “tự ngã” này thừa nhận tính hợp lí của sự sai khác của người bị đô hộ, thậm chí đem lại năng lực phản kháng cho họ. Vì thế, cho dù duy trì khoảng cách nhất định với việc phát hiện lại truyền thống, không phải là làm mới cấu tứ từ bên trong và thúc đẩy văn hóa bản địa, mà là nhiệt tình chứng thực tập tục và tính ngưỡng, khôi phục sự sùng bái đối với tổ tiên, Fanon cho rằng sự phục hưng như vậy mang tính quan trọng chủ thể không thể nào so sánh được trong quá trình phá vỡ điều kiện bị đô hộ: “Khi xuất hiện trên một số sự kết hợp mạnh liệt, người bị đô hộ sẽ quyết định….tiến hành đấu tranh với hình thức dị hóa và các loại bóc lột của con người. Sự sâu sắc trong việc xâm nhập vào quá khứ chính là cội nguồn và điều kiện của tự do”. Ở đây, trước tác của Fanon từ trong điều đình, xúc tiến xác lập “tự ngã” cách mạng thống nhất một cách tự giác trên phương diện chính trị, chiếm lĩnh một vị trí chủ thể chiến đấu trong sự đối lập không thể thỏa hiệp với kẻ áp bức, từ đó, những người bất hạnh trên trái đất sẽ điều động, tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang phản đối quyền lực thực dân

Đấu tranh đòi độc lập của thuộc địa là sự dung hợp của hai lực lượng đối lập nhau về mặt bản chất… Đấu tranh độc lập của thuộc địa là sáng tạo chân chính của con người mới…. Đối lập thiện ác cơ bản của xã hội thực dân thống trị ở thời kì đấu tranh đòi độc lập của thuộc địa được bảo giữ hoàn hảo bị tổn thất. Có nghĩa là, thực dân luôn là kẻ thù, là đối thủ, là kẻ địch tất yếu bị lật đổ… Tính bất biến mà người bị đô hộ đặt ra chỉ có thể bị đặt trong nghi vấn, nếu như người bị đô hộ quyết định kết thúc lịch sử thực dân hóa-lịch sử bóc lột- lịch sử dân tộc, lịch sử đấu tranh đòi độc lập của thuộc địa được ra đời. Dolly Moore từng chứng minh: thông qua lật đổ và tích cực thay đổi hình thái ý thức bá quyền có thể ra đời cho ra đời phạm trù bị thống trị, phạm trù đoàn thể khác thường, và khiến nó bị đẩy ra bên lề, có thể xúc tiến hình thành hoạt động phá bỏ cấp tiến.

Jacques Derrida khiến chúng ta nghĩ rằng đối lập nhị nguyên là “chế độ đẳng cấp bạo lực”, trong đó, thuật ngữ này có khả năng khống chế thuật ngữ kia. Giai đoạn quan trọng trong việc hóa giải đối lập nhị nguyên liên quan đến sự lật đổ, sự lật đổ “khiến cao biến thành thấp”.Coi nhẹ giai đoạn này, muốn nhảy qua chế độ đẳng cấp tiến vào thế giới không có đẳng cấp, kết quả chính trị của cách làm này chỉ có thể là khiến nó hoàn toàn không bị tổn thất trong thế giới duy nhất mà chúng ta có. Sự lật đổ đối lập nhị nguyên chân thựct/ không chân thực… sự lật đổ bản thân tính chân thực… đều là phương diện khác của sự lật đổ mà Jaccques Derrida nói mà thôi. Ngoài ra nó đều là các giai đoạn khác nhau của quá trình tẩy chay.

Quá trình tẩy chay như vậy là quá trình khai sáng diễn ngôn đối lập bắt đầu từ Fanon, đương thời, những định nghĩa như kẻ thực dân, người bị thực dân thống trị trong cấu tứ của hệ thống tư tưởng cũ được sự thay thế bằng những cách dùng khác nhau của thuật ngữ này, nócố ý cổ động cố ý cổ động thay đổi tất cả với tư cách là khẩu hiệu chính trị phân tích hoàn cảnh chính trị và kích động lòng người. Baba không chấp nhận sự giải thích này trong lí luận của Fanon, trong Nhớ Fannon, lời mở đầu cuốn Người da đen, người da trắng, ông đã đem tính phản kháng trong các trước tác đặt vào chỗ khác. Vì đối với Baba, bất kì chính sách can thiệp nào đều không thể phái sinh trong sự lẫn lộn của hai phạm trù đối lập thiện ác của chủ nghĩa thực dân, ông không đồng ý với cách nói của Fanon về “tự ngã” của kẻ thực dân và “kẻ khác” của người bị đô hộ. (ông đã quá vội vàng trong việc gọi tên “kẻ khác”, lấy ngôn ngữ của chủ nghĩa chủng tộc thực dân nhân cách hóa hiện trường của “kẻ khác”), đồng thời, ông cũng bình giá về một số quan niệm của Fanon: “hệ thống thường thấy của chủ thể thực dân:người da đen/ người da trắng. tự ngã/ kẻ khác—- bị xáo trộn… Cơ sở truyền thống của thân phận chủng tộc bị xóa bỏ”. Trong một lần giải cấu trúc văn bản pháp y, ông đã phê bình Fanon quá dựa dẫm vào khái niệm của Hegel, đối với việc chứng thực hiện tượng học về tự ngã và kẻ khác cho đến phép biện chứng của chủ nghĩa Mac, Baba cho rằng Fanon là nhà chủ nghĩa kết cấu sớm thành danh:
Chính là thông qua hình tượng và huyễn tưởng – Những tượng trưng đó vượt qua trật tự giới hạn vô thức và lịch sử— Fanon mới khiến chúng ta nghĩ đến hoàn cảnh thực dân một cách sâu sắc. Khi lấy ngôn ngữ liên quan đến yêu cầu và dục vọng của phân tích tinh thần để bàn về sự khác biệt văn hóa của thực dân, Fanon đưa ra những nghi vấn mang tính bản chất đối với sự hình thành quyền uy xã hội và phát triển cá nhân trong diễn ngôn chủ quyền xã hội… Trong quá trình chuyển trung tâm chủ nghĩa chủng tộc từ chính trị chủ nghĩa dân tộc chuyển sang chính trị chủ nghĩa tự mãn, Fanon đã khai thác xung quanh một nghi vấn dẫn đến hoạt động mang tính phá hủy đối với thân phận và quyền uy.”

Sự giải thích này đã cứu Fanon với tư cách là một nhà lí luận hình thái ý thức tái hiện văn hóa, đem kiến giải cấp tiến của ông quay ngược trở về chính trị chủng tộc/ giới tính, cho đến việc mượn “thấu xạ tâm lí phức tạp trong quan hệ thực dân của bệnh lí học”, những vay mượn này có thể sẽ khiến ông trở thành tác giả bình thường, tuyên truyền tư tưởng đơn nhất. Tuy nhiên, lẽ nào không thể liên kết lí luận của Fanon và Baba? Thông qua việc đem trước tác của Fanon ra khỏi “Một thời khắc hoặc một phong trào chính trị” để ứng dụng vào chỗ khác, làm giảm bớt quá trình “lịch sử hóa kinh nghiệm thực dân” của ông, đem sự đấu tranh thống khổ và tính không xác định của quan hệ thực dân để phê phán kịch liệt sự miêu tả tỉ mỉ những xung đột vô tình của Fanon, Baba muốn dùng trách nhiệm chính trị của văn bản thức dậy ý thức tạo phản trong lí tưởng vốn không xác định của người bị đô hộ ở một hoàn cảnh trật tự thế giới đế quốc siêu cường khác. Baba giải thích sự xung động cách mạng đó thành “sự thảo luận về phép biện chứng giải phóng đầy mạo hiểm và tuyệt vọng của Fanon”— chuyển thành sự thừa nhận của Fanon đối với tình cảm đầy mâu thuẫn, thành sự trầm tư về da đen, mặt trắng, chính sự trầm tư này mới khiến cho sách lược “biến tính bi thương của sự hỗn loạn văn hóa thành sự điên đảo chính trị” ra đời. Vấn đề da đen da trắng trong toàn bộ trước tác của Fanon và thực tiễn giải cấu trúc của Baba là hoàn toàn thống nhất- trong trước tác của Fanon, mô hình đặc thù này có thể được xem là một lần tham thảo kịp thời tổng hợp các bệnh trạng của thực dân, sự tổng hợp bệnh trạng này cuối cùng sẽ bảo lưu cương lĩnh hành động chính trị và phân tích văn hóa trong tình huống đầy chất thơ vô tư của nó–. Sự giải mã như thế đã làm mờ nhạt mô hình của Fanon, coi hoàn cảnh thực dân là sự cố ý sâu sắc giữa người bị thực dân xâm lược và kẻ xâm lược, từ đó khiến đối đầu vũ trang trở thành hành động thực tế và sự giải phóng tình cảm tất yếu. Phê phán chủ nghĩa phản thực dân của Fanon là một loại văn bản giải phóng và tẩy chay. Cuốn sách Chính trị văn học của châu Âu thực dân là trường hợp tiêu biểu hấp thu lí luận đó, cũng là ranh giới giữa khung vấn đề đang phát triển trong nghiên cứu của ông và nghiên cứu của các nhà phê bình chủ nghĩa hậu cấu trúc, những người đi sau trong thời điểm quan trọng đã đề xuất mô hình chủ nghĩa thực dân về căn bản không phù hợp với lí luận của Fanon, có thể dùng để đem tiêu điểm nghiên cứu tập trung vào phân tích khác nhau về diễn ngôn thực dân. ở đây điều cần nói thêm rằng, bất luận là mô hình phân tích hình thái ý thức của James Mohammedhay trước tác của Homi Bhabha và Spivak với tư cách là ví dụ thực tiễn giải cấu trúc có bổ sung thêm phân tích, tất cả đều không thể được coi là cái có tính tiêu biểu, mà chỉ có thể xem là sự thực thi phương pháp đặc thù có tác dụng giải phóng các quan niệm và phê bình liên quan đến chính trị văn bản. Vì những người ra sức giải cấu tri thức thực dân tất nhiên liên kết lại hệ thống chỉ ý và các lực lượng xã hội, công khai liên kết những người phải chịu đựng bạo lực của chủ nghĩa đế quốc với trước tác của họ, đả kích chủ nghĩa im lặng chính trị là không cùng tiếng nói với trước tác của họ, những trước tác của họ cũng đem bản thân đặt vào vị trí thúc đẩy chính trị đọc hiểu giống như phê bình hình thái ý thức.

Một phương diện chính trị của phê bình như vậy phân biệt sâu sắc ở hình thái ý thức thống trị và hình thái ý thức đối lập của bản thân văn bản, xem nó là biểu hiện, của hoàn cảnh ngôn ngữ siêu việt. Một phương diện khác là phân biệt mô hình văn bản, những mô hình này coi diễn ngôn là hình thức cơ bản của thực tiễn xã hội từ đó có những đối đãi đặc biệt. Muốn thông qua việc kích thích và xóa bỏ sự đông cứng của ý nghĩa trầm tích trong văn bản để làm lộ ra cết cấu, thao tác và hiệu quả của hình thái ý thức, vậy loại chính trị của phê bình như thế lại là cái gì đây? Chỉ riêng cấu thành bản thân lí luận diễn ngôn thực dân hiện nay vẫn cần phải đề xuất thêm một bước vấn đề chính trị: chủ yếu chú ý văn bản quyền lực thực dân, bản thân không đối diện với văn hóa chủ nghĩa đế quốc, không quan tâm đến một loại thực tiễn của thể chế tri thức khác lạ của chủ nghĩa đế quốc. Có thể làm cho sự phê phán thay thế “thần thoại người da trắng” phương Tây như nó chủ chương hay không? Điều bài viết này hướng tới là phân tích diễn ngôn thực dân ở các loại tham số được phát huy tác dụng, vì thế, khi coi sự thảo luận về văn bản chủ nghĩa thực dân là sự miêu tả chân thực đối với hiện thực chuyển thành hệ thống tái hiện hình thái ý thức do loại văn bản này viết ra, có lẽ tất yếu cần thừa nhận thành tựu xuất sắc của sự phân tích này.

Trước khi những phân tích kiểu này được giới thiệu, cho dù nghiên cứu học thuật một thời gian dài kháng nghị, làm rõ hình tượng của chủ nghĩa trung tâm phương Tây và giả định về sự tồn tại của “tiểu thuyết ý chí chủng tộc” – nghiên cứu tác phẩm của chủ nghĩa thực dân bị khống chế bởi phê bình chủ nghĩa tự do, loại phê bình chủ nghĩa tự do này đã khắc họa một lãnh địa từ một đại lục mà chưa có ai bàn tới. Gọi là văn học đế quốc hoặc tiểu thuyết thực dân, đời đời tự xưng là học giả hoặc học sinh của chủ nghĩa phản thực dân ở chính quốc và thế giới thực dân. Có liên quan mật thiết đến thong tin thứ tự giải thích bá quyền, viết trong kí hiệu hình thái ý thức tương đồng với diễn ngôn chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa thực dân khiển trách thảo luận đối lập của loại giả định này là gương mặt khiến người ta khó có thể chấp nhận được của văn minh phương tây, đồng thời lại thừa nhận những khẳng định và ngăn cấm của thứ văn hóa theo đuổi và thực hiện quyền lực thực dân làm nó trở thành hợp pháp.

Sự bình luận của trường phái này vì thế đã thành công trong việc phân tách quan niệm chủ nghĩa thực dân và quan niệm khuếch trương chủ nghĩa tư bản phương tây, đồng thời đảm bảo sự phân hóa của thế giới do diễn ngôn chủ nghĩa đế quốc tạo ra. Chủ nghĩa mô phỏng (mimeticism) là tên gọi thể hiện mô hình của nó. Sách lược của nó là xác lập tính chính xác lịch sử, tính chân thực tâm lí và thị giác chủ nghĩa nhân văn. Tính giống thực dựa vào kết cấu hư cấu khác – đạt được sự kiểm nghiệm từ các sách, báo cáo, điều tra, luận văn do học giả phương tây, viên chức thuộc địa, sĩ quan, giáo sĩ, nhà báo, nhà thám hiểm, du lịch và sự xem xét lại; luân lí lại được phán đoán thông qua lí giải phương thức mà người bị đô hộ khó lí giải được hoặc thông qua tiến hành thẩm tra sự lãnh đạm và tê liệt cảm giác của những người theo chủ nghĩa thực dân. Vì các nhà phê bình có cùng tiền đề văn hóa và niềm tin vào tiểu thuyết mà họ bình luận, cho nên khi giải thích họ không thể giữ khoảng cách đối với thế giới thực dân bị miêu tả là khác thường. Hơn nữa, thông qua liên kết tiến thủ giữa siêu hình học và tranh luận đạo đức để thay thế mối quan hệ chính trị của xung đột, bản thân sự giải thích của họ cấu thành nên một loại diễn ngôn khác của chủ nghĩa thực dân. Đem kết cấu chính trị phong bế trong quá khứ của chủ nghĩa thực dân được cảnh giới nghiêm ngặt, đem sự không đối xứng liên tục giữa trung tâm quyền lực và bên lề của nó liên kết những khu vực bí mật, mô hình gần khoa học như vậy đã được tạo ra nhờ “nghiên cứu liên bang Anh” và “văn học liên bang Anh” trong sản phẩm của nó. Chọn tên gọi biểu trưng cho việc giải quyết khó khăn như vậy của quần thể văn hóa đa nguyên hài hòa hoàn mĩ là nhằm làm sang tỏ trước sau tồn tại sự liên kết chặt chẽ giữa các dân tộc trong qua khứ có sự nỗ lực cố gắng chung và trong hiện tại có mục tiêu chung. Do nghiên cứu sáng tác chủ nghĩa thực dân thoát khỏi phê bình chủ nghĩa kinh nghiệm và chính trị chủ nghĩa tự do sẽ làm lộ ra cấu tạo hình thái ý thức của khách thể ý thức chủ nghĩa thực dân, phân tích diễn ngôn thực dân đã tự tạo nên khó khăn lí luận cho bản thân. Vấn đề mà tôi muốn đề xuất có liên quan đến mô hình diễn ngôn thực dân áp đảo tất cả mọi quân tâm đến quá trình hình thành địa giả, mô hình này thoát khỏi thực tiễn diễn ngôn chủ nghĩa đế quốc năng động, đa nguyên giá trị và rộng mở hơn. Khi chọn viết về lịch sử chủ nghĩa thực dân khác, trên phương diện lí luận cự tuyệt tiếp nhận quyền uy biên soạn lịch sử quan phương phương tây, loại bỏ thứ lí luận chủ nghĩa Mác của “chủ nghĩa đế quốc coi nhạt hóa là lịch sử”, khiến bản thân không bị khiển trách là đã tạo nên lịch sử chủ nghĩa tự do với trần thuật chặt chẽ chính xác, nhưng lại không hề tạo ra trần thuật liên quan đến xung đột xã hội đặc thù và thời kì khác nhau, biến hóa, đứt đoạn, lúc đó những thời khắc khác nhau sẽ tồn tại nguy cơ bị đồng hóa. Vì thế, với tư cách là mô hình lón nhất, đặc thù trong rất nhiều trạng thái bất định của chủ nghĩa đế quốc, nền chính trị đầu tiên của chủ nghĩa tư bản tiền tệ quốc tế, chủ nghĩa đế quốc từng trải qua mô thức kết cấu trên phương diện hình thức của nó, chủ nghĩa thực dân nhận đực sự đãi ngộ giống như các hình thức khả biến khác.

Do không gian thực dân bị cho là có cùng phạm vi với toàn bộ diễn ngôn chủ nghĩa đế quốc, thông qua việc hạn định thuộc địa là “kẻ khác” và là mã vùng của nó. Cấu tạo tự ngã châu Âu bị lăng mạ ở mô thức biểu hiện tự ngã vô cùng đa dạng của châu Âu, những mô thức này một lần nữa được tổ hợp lại trong văn hóa của những kẻ đi chinh phục theo chủ nghĩa đế quốc, và tiếp tục duy trì tồn tại dựa trên hình thức bị hoán đổi trong quyền lực văn hóa có sự cùng tồn tại của hình thức tư duy phổ biến và giá trị, chuẩn tắc phương tây.

Spivak cho rằng, “cái lí trong tự soi sáng của chủ nghĩa đế quốc” là “quy hoạch cấu thành khu vực và chủ thể” vẫn chưa minh xác; nhưng diễn ngôn công dân của văn hóa chủ nghĩa đế quốc phái bảo thủ tự do Anh quốc mà Baba tận lực nghiên cứu chỉ giới hạn ở kiểm nghiệm văn bản văn minh thời kì hậu khai sáng làm thế nào khác với bản thân ngôn ngữ của nó trong quá trình bình thường hóa chủ thể và quốc gia thực dân.

Một điều khuyết thiếu rất rõ ràng trong quá trình lí luận hóa diễn ngôn thực dân là kết quả tất yếu của các sách lược phân tích, những sách lược phân tích này khi tập trung giải cấu văn bản chủ nghĩa thực dân, hoặc là xóa bỏ tiếng nói của những người bị đô hộ, hoặc là giới hạn sự phản kháng của những người bị đô hộ trong tính toán và nghi vấn về thủ đoạn cai trị của thực dân. Phản đối sự nuối tiếc được tạo nên do coi bản nguyên đã mất là cơ sở cho sự ra đời hình thái ý thức phản bá quyền(Spivak, hoặc là phản đối tu từ phản kháng chính xác tự ngã (Baba), những lập trường này đã dẫn tới dánh giá thấp văn bản phản chủ nghĩa đế quốc do phong trào giải phóng dân tộc viết ra. Cùng với điều đó, quan niệm về bạo lực tri thức và sự phong bế diễn ngôn phản nghịch đã xóa bỏ người bị đô hộ với tư cách là chủ thể lịch sử và thành viên đấu tranh, là người sở hữu tri thức về “kẻ khác” và nhân vật thay thế người sản xuất truyền thống.

Chúng ta sẽ thảo luận trước tác của Spivak và Baba để thuyết minh cho tính giới hạn và năng lực sản xuất của thực tiễn giải cấu khác nhau của nó, đề nghị dùng những phác thảo phương pháp khác nhau của họ để áp chế sự phát triển của phê bình phản đối chủ nghĩa đế quốc. Chúng tôi sẽ chứng minh, khoảng trống trong luận văn sâu sắc của Spivak bắt nguồn từ một loại lí luận. Loại lí luận này khi chỉ định lựa chọn và thoát li khỏi người bị đô hộ đã gán cho diễn ngôn bá quyền quyền lực tuyệt đối. Trong một số bài viết nghiên cứu về sự cấu thành diễn ngôn chủ nhân và người mật báo kẻ bị đô hộ, Spivak đã kiểm nghiệm về “sự khuyết thiếu của văn bản có thể phản bác” sau bạo lực tri thức do chủ nghĩa đế quốc vạch ra, nhằm phát triển sách lược đọc hiểu có thể trình bày về chủ thể bị đô hộ trầm mặc trong lịch sử, loại chủ thể này trong trước tác của Spivak chủ yếu xuất hiện với tư cách là những người không thuộc tầng lớp tinh hoa hoặc là những người hầu nữ. Một loại áp chế – “chứng cứ từ khi chưa gặp ý thức thanh âm phụ nữ của chúng ta”, “không gian không tồn tại thuộc hạ (chịu sự phân biệt giới tính) mà chủ thể có thể trình bày”, “nghe không thấy hoặc đọc không tới thanh âm của người hầu nữ”, “thuộc hạ không được quyền nói”- đã nhắc lại một câu cách ngôn lí luận được tạo ra trong nghiên cứu về diễn ngôn quả phụ(Sati), ở đó, kí hiệu của chế độ phụ quyền ở Ấn độ và trần thuật hóa chủ nghĩa thực dân trong văn hóa Ấn Độ được tập hợp lại để xóa bỏ toàn bộ dấu vết tiếng nói của phụ nữ.

Điều mà Spivak tiết lộ là ví dụ thực tế về người phụ nữ ở nước thuộc địa bị hai tầng áp bức, họ do bị kìm kẹp giữa bị thống trị bởi chế độ phụ quyền trong nước và hình thái ý thức chủ nghĩa đế quốc nam tính ngoại lai, mà gia nhập vào “sự viết lại của văn bản xã hội của những thuộc hạ không nhận được sự tôn trọng đối với những quả phụ tự sát”: Một công chúa của thế kỉ mười mấy đã chống lại luật pháp nước Anh đương thời bằng cách biểu thị cô muốn làm một sati để, đã lợi dụng “điểm mơ hồ của ý chí tự do của chủ thể phụ nữ bị khinh thị về giới tính”.

Năm 1926 có một cô gái trẻ Bangladesh đã công nhiên treo cổ tự sát để miệt thị đối với những cấm kị của Ấn Độ giáo. Từ diễn ngôn satti, Spivak đề xuất chủ chương hình thành khách thể, cấu thành chủ thể phổ biến rộng rãi liên quan đến phụ nữ .

Trong sự cấu thành này, người phụ nữ thuộc hạ bị coi là phạm trù thống nhất đồng chất, cuối cùng bà đã tuyên bố thành công của phụ nữ trong việc phân khai quan hệ chủ quan khách quan này. Quan trọng là, thậm chí trong giới hạn của diễn ngôn đồng nhất này, Lata. Mani cũng đích xác tìm thấy chứng cứ của tiếng nói phụ nữ, cho dù là thông qua trung gian.

Nói như C.T.Mohanty trong khi phê phán trước tác của chủ nghĩa nữ quyền phương Tây đối với “phụ nữ thế giới thứ ba” , diễn ngôn tái hiện không nên bàn lẫn với hiện thực vật chất. Do người phụ nữ bị thực dân thống trị là sản phẩm được tạo nên từ quan hệ xã hội đa nguyên, bị định vị vào giai cấp khác nhau, cho nên có thể tìm thấy chứng cứ, dấu vết tiếng nói của phụ nữ trong lĩnh vực mà bản thân họ là người trị liệu, người hát thánh ca, nghệ nhân và người làm nghệ thuật, lấy đó chỉnh sửa cho mô hình của Spivak liên quan đến thuộc hạ trầm mặc.

Nếu như Spivak dường như đã lí luận hóa sự trầm mặc của phụ nữ thuộc hạ chịu hai tầng áp bức, như thế, mệnh đề liên quan đến bạo lực tri thức chủ nghĩa đế quốc của bà đã coi người bị thống trị, bất luận là nam hay nữ, như là chủ thể trầm mặc trong lịch sử. Câu chuyện mà bà đã xây dựng lại về chủ nghĩa thực dân là một quá trình tác dụng tương hỗ. Trong đó, châu Âu cùng với củng cố tự ngã tối cao của chủ nghĩa đế quốc, đã dẫn dụ dân chúng bị đô hộ và đồng mưu của nó dùng cấu thành bản thân người bị đô hộ làm “kẻ khác” và chủ thể (bị phụ thuộc) vô thanh âm.

Vì thế, Spivak một mặt kháng nghị sự phủ lấp lập trường của chủ thể người dân thuộc địa trong văn bản chủ nghĩa đế quốc. Mặt khác trong văn chương của bà vẫn không để cho người bị thực dân thống trị bất kì một không gian phát ngôn nào, những diễn ngôn này viết ra một cách có hiệu quả sự thực của người dân Ấn Độ trong đấu tranh chống lại và những kẻ chinh phục Anh và sự thống trị của quốc vương suốt 200 năm – bà đã nghiêm khắc gọi những diễn ngôn này là trần thuật hóa chủ nghĩa bảo hộ của kẻ bị thực dân đô hộ bá quyền hoặc chủ nghĩa trung tâm phản chủng tộc.

Sự phỉ báng đối với diễn ngôn chống lại chủ nghĩa dân tộc và khuếch trương phân phối vai trò cho phần tử nữ trí thức hậu thực dân, vì biên soạn một câu chuyện, giải thích một sự trần thuật, trong lịch sử để cho thuộc hạ phát ngôn, chính là phần tử tri thức nữ, và “trong phục vụ việc đọc”, tận dụng sách lược “phát triển giải cấu tài nguyên nhưng không thể trở thành lí luận đọc hiểu của phê phán chủ nghĩa đế quốc.

“Một loại trần thuật khác về chủ nghĩa thực dân” của Spivak thông qua hệ thống văn bản mang tính lật đổ siêu việt làm rõ sự hư cấu và tính bài trừ trong những hồ sơ do lịch sử viết ra, mục đích là khiêu chiến đối với quyền uy ghi chép lịch sử được công nhận, hồi phục kí hiệu ý thức đã bị xóa đi của những người bị đô hộ, chúng ta nên bình giá lí luận của bà trên cơ sở này. Chính việc thông qua hóa giải phạm trù thống nhất, cố định mà cách làm này dựa vào, trần thuật của bà đã làm tiêu tan một số thói quen đó.Vì thế, xuất phát từ mục đích tận dụng, quản lí tài nguyên, bà đem người bị đô hộ xây dựng thành “kẻ khác” – kẻ bị mã hóa, kẻ “dường như bị phó thác vào tự ngã”, nhưng không phải hạng mục đối lập nhị nguyên của nó. Ngoài ra, biểu đồ đã trở thành “hiện thực” Ấn Độ là do những người đại diện xuất thân từ giai cấp và địa vị xã hội khác biệt vẽ ra.

Bản đồ đa dạng hóa (tất yếu) của họ đem những người bị đô hộ phân thành các loại khác nhau, là lập trường làm việc lợi ích của quyền lực ngoại lai – Ví dụ, có một loại học thuyết nhân khẩu lấy chủng tộc để hoạch phân một cách viễn tưởng khiến những kỉ thống trị Ấn Âu “chính nghĩa” được phục hồi, mà loại diễn ngôn giai cấp lại thúc đẩy hình thành vô sản giai cấp hóa nguyên thủy của “kẻ bị đô hộ”. Sự trùng cấu này không chỉ không thuật lại sự đấu tranh đơn nhất, đấu tranh giữa đại chúng bị áp bức như nhau với quyền lực thực dân ăn sâu vào trong tư tưởng con người, mà thể hiện ra một quá trình thâm hiểm hơn cả áp bức lộ liễu, vì ở đây, người bị đô hộ từng thuyết phục và đem kiến thức do chủ nhân tạo ra nội hóa thành nhận thức “tự ngã”: “Họ, (người đại diện châu Âu)thông qua cưỡng bức họ (người bị đô hộ) coi kẻ ngoại lai là chủ nhân, và tạo nên một cái mới từ thế giới không phải chưa một lần bị viết lên của bản thân họ.

Quá trình này tạo ra một lực lượng “khiến người bị đô hộ tự nhìn nhận kẻ khác”. Nơi nào có chinh phục quân sự, cưỡng bức chế độ và chất vấn hình thái ý thức, nơi ấy yêu cầu những người bị đô hộ đem lập trường của họ viết thành bạo lực tri thức của khách thể chủ nghĩa đế quốc và nghiên cứu diễn ngôn mang tính thiên lệch; sự ngoan cố và cự tuyệt được dùng để thay thế biểu đạt trong diễn ngôn đối lập, và phát sinh trong phong trào đấu tranh, là một câu chuyện kể liên quan đến “kẻ khác” củng cố bản thân của và thuộc hạ tự giải thoát.

Việc tổng kết mang tính lựa chọn và sơ lược đối với luận chứng tinh vi và phức tạp nhằm khai thác nội hàm chính trị của lí luận, loại định lí của lí luận này từ chối mang đến cho người bị đô hộ sự phản bác việc xâm lược hình thái ý thức của chủ nghĩa đế quốc hoặc tuyên bố khoảng không của tự ngã khác nhau:
Bất kì góc độ nào thể hiện thái độ phê phán chủ nghĩa đế quốc đều không thể làm cho “kẻ khác” biến thành “tự ngã”, vì sự nghiệp của chủ nghĩa đế quốc luôn là kẻ khác đem những thứ trên lịch sử có thể tuyệt đối là của “kẻ khác” biến thành “kẻ khác” đã được thuần hóa củng cố bản thân chủ nghĩa đế quốc…(chỗ này không dịch được?) Loại miêu tả văn học toàn diện không thể coi nhẹ sự phồn vinh trong khe hẹp của chủ nghĩa đế quốc hoặc trong sự đứt đoạn, sự đứt đoạn này được tạo ra do lập pháp ngoại lai mang mặt nạ pháp luật, một loại xác lập với tư cách là hình thái ý thức ngoại lai của chân lí duy nhất, và bận rộn với việc xác lập người bị đô hộ là cái mà toàn bộ khoa học nhân văn của “kẻ khác” muốn che đậy, củng cố.

Khi chủ đề này được dẫn vào trong việc đọc bản viết lại Biển xanh vô biên với tư cách là “yêu giản đơn”, Spivak đã thể hiện ra hạn chế của lí luận, loại lí luận này quy định diễn ngôn chủ nhân trước hết nằm trong cấu thành chủ thể người bị đô hộ (tự ngã) của lịch sử.

Khi đem quan niệm của Spivak và vấn đề mà Edward E. Said đề xuất trong “Chủ nghĩa phương Đông”: “chúng ta làm thế nào mới có thể từ góc nhìn tự do, hoặc không cưỡng chế và cùng với không thao túng để nghiên cứu văn hóa và dân tộc khác?” , khi đặt cạnh và cùng với thúc đẩy hình thành sự sắp đặt ngang bằng góc nhìn như vậy đối với sự chuyển hóa từ “kẻ khác” sang tự ngã (cho dù ngẫu nhiên có nhiều chủ nghĩa chủng tộc) được Rice tuyên bố trong tiểu thuyết của mình, thì có thể có một cách đọc mới đối với Biển xanh mênh mông, khi phản bác một số tín điều cơ bản của Spivak, đã đã trình bày lại khá nhiều kiến giải của bà.

Spivak cho rằng, do không thể phân cách giữa việc thiết lập thân phận văn hóa anh Quốc và tính khác (othering)của việc coi người bị thực dân đô hộ là khách thể, cho nên sự biểu đạt chủ thể tính nữ trong chuẩn tắc của chủ nghĩa cá nhân chủ nghĩa nữ quyền xuất hiện trong thời đại đế quốc chủ nghĩa cần phải tập trung bài trừ người phụ nữ bị áp bức, họ bị đặt vào trung gian giữa động vật và con người, trở thành thành khách thể kiến tạo linh hồn sứ mệnh xã hội của chủ nghĩa đế quốc.

Khi đem quá trình tác dụng tương tác vào trong việc bà đọc Biển xanh mênh mông, Spivak để Antuowanaite/ Bertha, người thừa kế tài sản sau giải phóng (post-emancipation ) của chủ nô đóng vai cho người phụ nữ bị đô hộ hi sinh trong sự nghiệp cấu thành chủ thể chủ nghĩa cá nhân phụ nữ châu Âu.

Mặc dù Spivak rõ ràng xác nhận Biển xanh mênh mông là một tiểu thuyết xuất phát từ lợi ích của người da trắng Creo chứ không phải của người bị đô hộ để viết lại một bộ tiểu thuyết kinh điển của nước Anh trong truyền thống tiểu thuyết châu Âu, và đặt Antuowanaite/ Bertha vào giữa những người theo chủ nghĩa đế quốc và những người da đen Jamaica, nhưng sự thảo luận của bà lại không theo đuổi tái hiện văn bản của văn hóa Creo, loại văn hóa này dựa vào hai loại nhưng lại là đơn nhất, riêng biệt, phân biệt ở sự biểu hiện của diễn ngôn thực dân của văn bản chủ nghĩa đế quốc.

Antuowanaite, nhân vật kiểu “Luoqiesite” này và David Crystal, nhắc lại nhiều lần thể hiện sự sắp xếp sai lầm đối với người Creo. Sự kết hợp giữa thân thiết và thù hận, giữa kẻ thực dân da trắng và người nô bộc da đen được viết vào văn bản thông qua hình tượng Antuowanaite và Tia, đối với Spivak, đây là một loại chuyển nghĩa này, dùng để thức dậy “kẻ khác” vốn không thể hình thành “tự ngã”.

Cái chúng ta ăn là cùng một loại thực phẩm, ngủ dưới cùng một mái nhà, tắm trên cùng một dòng sông. Khi tôi đang chạy, tôi nghĩ, tôi sẽ sống cùng 加蒂雅, sẽ giống như cô ấy…Khi tôi chạy lại gần, tôi nhìn thấy viên đá hình cái răng trong bàn tay cô ấy, nhưng tôi không nhìn thấy cô ấy ném đi… Tôi nhìn cô ấy, tôi nhìn thấy khi cô ấy bắt đầu khóc to lên, toàn bộ gương mặt của cô dường như vỡ vụn, chúng tôi cùng lặng nhìn nhau. Mặt tôi có máu đỏ, còn mặt cô ấy thì lệ nhiều như mưa. Tôi cảm thấy như nhìn thấy chính mình. Như đang đứng trước gương.

Nhưng, tuy bản thân họ không phải là người Anh, thực chất lại là người bị xã hội ruồng bỏ, người Creo lại là chủ của người da đen, giống như tiểu thuyết của Bronte khiến độc giả thông qua Rochester nhìn thấy Bertha Mason ở trung gian giữa nhân loại và động vật (“trong một đêm, tôi bị tiếng kêu thất thanh của cô ấy làm thức tỉnh… đó là 1 đêm tàn khốc ở quần đảo tây Ấn Độ… Đó là tiếng kêu phát ra từ trong sâu thẳm”). Tiểu thuyết của Cais cũng thông qua Antuowanaite đem đến cho người đọc cái nhìn quen thuộc về người da đen phản bội: “ cùng một gương mặt xuất hiện nhiều lần, ánh mắt sáng lên, miệng mở ra”, phát ra “tiếng kêu đáng sợ… đáng sợ hơn cả tiếng kêu của con thú hoang”. Sự độc đáo của câu chuyện này là ở chỗ Antuowanaite đóng vai “ người phụ nữ đến từ thuộc địa”, đây là kết quả do Spivak quy định, tức là sự xâm lược ngôn ngữ của chủ nghĩa đế quốc xóa bỏ sự viết của bản thân người bị đô hộ: vì thế, người phụ nữ da đen trong Biển xanh mênh mông được hoàn chỉnh tự ngã, tất nhiên bị trả lại địa vị nhân vật không quan trọng, trong khi đó người phụ nữ da trắng Creo lại bị hiểu lầm là phụ nữ bị đô hộ được sinh ra do nguyên lí chủ nghĩa đế quốc, cái chết của cô bị lí giải là “phúng dụ cho bạo lực tri thức thông thường của chủ nghĩa đế quốc, là chủ thể tự ngã tìm lại bản thân tạo thành vì sứ mệnh xã hội làm đẹp cho kẻ thực dân”. Cùng với cho phép Christopher nói về ngôn ngữ của chủ thể và ngôn ngữ của người giải thích do Ricewei đảm nhiệm, Spivak cũng cho rằng tính hạn chế của diễn ngôn văn bản mà bà đặt ra, nhưng không như những điều mà văn bản luận chứng, mà là sự lật đổ diễn ngôn văn bản

Cái mà sách lược đọc hiểu của Spivak tất yếu bao trùm là coi Christopher là người bị đô hộ, viết về tự ngã cá biệt, nữ tính, bà miệt thị gia tăng yêu cầu của những diễn ngôn miệt thị đó của cá nhân bà. Cho dù bà là một người tiền nô lệ, là lễ vật kết hôn tặng cho mẹ của Antuowanaite, vì thế mà trở thành người hầu vô cùng chăm chỉ chu đáo. Nhưng Christopher đã phá vỡ sự biểu đạt Creo khiến cô trở thành “kẻ khác” bị thuần hóa, khẳng định bản thân là kẻ thù công khai của pháp luật chủ nghĩa đế quốc và kẻ thực dân, của chế độ phụ quyền.

Với tư cách là bố mẹ đẻ của đám trẻ và mẹ “kế” của Antuowanaite, trong cuộc sống cá nhân Christopher coi thường quyền uy phụ quyền, từ bỏ danh tiếng người cha, cự tuyệt không thừa nhận bố của đám trẻ là chồng của cô; nói dối là người bảo hộ của Antuowanaite, cô chỉ trích tài sản “Luoqiesite”đối với cô, bóc lột kinh tế bản thân và giới tính của nhân thân, với tư cách là người thuộc chủ nghĩa cá nhân nữ tính, cô kịch liệt bài xích hành vi của đàn ông, bất luận là người da đen hay người da trắng.
Là người bị đô hộ nắm vững ngôn ngữ của kẻ xâm lược – “cô có thể nói lưu loát tiếng Anh, nếu cô muốn, tiếng Pháp của cô cũng tốt như những người ở phía bắc nước Pháp” – Christopher tận dụng sự phong phú ngôn ngữ địa phương của tiếng Anh, còn lợi dụng cách nói trào lộng phổ biến sau thời giải phóng, cách nói này khiến người Anh coi chế độ nô lệ là phi chính nghĩa, đồng thời làm giầu cho bản thân thông qua hình thức bóc lột hợp pháp: “Không còn chế độ nô lệ nữa rồi! cô có thể cười to lên! Tất cả những cái mới đến đã được pháp luật bảo hộ. Không có gì khác. Họ có pháp luật! có tiền phạt, có nhà ngục và hệ thống liên minh. Họ có xe đạp để đến ép nát đôi chân của mọi người. Cái mới đến còn giảo hoạt hơn cái trước đó, chỉ có vậy mà thôi. “Với tư cách là U nữ, Christopher rất giỏi trong một lĩnh vực tri thức khác cấu thành sự uy hiếp đối với nhận thức luận quan phương của chủ nghĩa đế quốc, là công cụ mà văn hóa của những người bị đô hộ không phục tùng.

Sự phản kháng của Christopher không phải chỉ ở quy mô nhỏ, có hạn, không phải chỉ được dùng để tiến hành trong phạm vi không gian kí hiệu văn hóa chủ đạo, mà là phát động một thái độ công kích mãnh liệt đối với kẻ thù, từ đó cấu thành lên một loại phản diễn ngôn. Cô rất hiểu tính hạn chế của chấp pháp hậu giải phóng. Vì thế khi “Luoqiesite đe dọa báo thù cô, cô liền lập tức tìm đến sự bảo hộ của pháp luật: “Đây là một quốc gia tự do, tôi là một người phụ nữ tự do” – Đây chính là vai trò của cô trong bài viết này, đối với sự phản bác của anh ta cô đã cân nhắc để cô trở thành nhân vật của chủ nghĩa cá nhân nữ tính, của người da đen: “tôi không biết đọc và viết. Nhưng những việc khác tôi đều hiểu” (xem phần phụ lục).

Trong xây dựng lại của Spivak, Christopher sau khi thanh minh và trước khi kết thúc tiểu thuyết, không chỉ không có bất kì sự trần thuật nào, mà còn không có sự giải thích tính cách hoặc lí do thỏa đáng nào. Nhưng, nếu như coi cô là một kiểu truyền thống khác, là kẻ chiếm hữu, là thực tiễn của truyền thống khiêu chiến với hệ thống tri thức quyền uy của chủ nghĩa đế quốc, thì cô mất đi từ trong câu chuyện vào thời gian đó là vừa hợp với logic vừa hoàn toàn phù hợp với tính cách:

“Nước Anh”, Christopher nói, khi cô nói nhằm ám chỉ tôi. “Anh(cô) cho rằng có cái như thế à?”

“Anh hỏi như thế nào? Anh có biết chỗ như thế không?”

“Tôi chưa từng nhìn thấy chỗ như thế, tôi làm sao biết được?”

“Tôi không tin có một nước gọi là nước Anh?”

“Tôi không phải nói là không tin, tôi nói là tôi không biết. Tôi biết thứ mà tôi từng gặp. Nhưng ở đây tôi lại chưa từng gặp nó”.

Một người phụ nữ da đen từ kinh nghiệm của mình biết được son phấn của cô, thuốc và cả những lời chửi rủa ở quần đảo phía tây Ấn Độ là có hiệu quả. Sự biểu hiện kinh nghiệm chủ nghĩa có ảnh hưởng rộng rãi này do được sử dụng quá nhiều mà đã từ bỏ biểu hiện của chủ nghĩa lí tính mà người Anh thường gọi, đồng thời cũng đã thừa nhận tính hữu hạn của quyền thức tri thức của cô. Do ở Jaimaica có thể chịu sự khiển trách và trừng phạt quan phương –“Luoqiesite” muốn dùng pháp quan và cảnh sát uy hiếp Christopher –một sự tương đồng hóa khác của văn hóa Creo và trí tuệ của quần thể người da đen – Antuowanaite dựa vào loại đồng hóa này, và vô cùng tin tưởng vào tiềm lực của sự đồng hóa đó. Nhưng khi tiểu thuyết truyền đến nước Anh, Christopher tất yếu xa rời loại trần thuật này. Vì ở đây, U thuật của cô không hợp pháp, cô có thể“dứt khoát ra đi” sau khi phát biểu kiến giải .

Việc giả câm giả điếc với thanh âm của người bị đô hộ vốn có thể nghe thấy của Spivak và giác quan tinh nhạy của cô đối với những thứ chưa được biểu đạt trong mô hình phê bình nữ quyền phương Tây là không đồng nhất, những mô hình phê bình này khi phá vỡ kết cấu nam tính, đã tái tạo và phá vỡ nguyên lí của chủ nghĩa đế quốc và kết cấu của chủ nghĩa thực dân,

“tạo ra những lời giả dối liên quan đến cấu thành sự thật của hội chị em toàn cầu, nhưng mô hình thôi miên của nó lại vẫn là tính khả năng sinh thành hoặc đối tác đấu tranh của nam tính và nữ tính khiến giới tính được phổ biến hóa, họ là nhân vật trong cuộc cạnh tranh ở Châu Âu”. Spivak yêu cầu xây dựng tiêu chuẩn khoa học quốc tế. Đem đến cho “thế giới thứ ba vũ đài tầng thứ hóa triệt để lớn hơn” để “xác định quyền bình đẳng về ngôn ngữ, địa lí, lịch sử”, trong tác phẩm của mình cô nghiêm khắc hạn định (thậm chí là không cho phép?) người bị đô hộ lại được viết trong không gian lịch sử, cho dù khi thông qua sách lược giải cấu do tầng lớp trí thức phân tử hậu thực dân phát minh để tận dụng “tính khả năng của chủ nghĩa can thiệp” cũng đều giống nhau mà thôi.

Một phương diện khác, Homi Bhabha thông qua khôi phục phương pháp người bị đô hộ dùng tiếng nói của bản thân để chất vấn diễn ngôn chủ nhân, trong giới hạn của diễn ngôn bá quyền sản sinh ra lập trường tự trị của thuộc địa, và từ đó làm rõ một loại “chính trị” vô cùng khác biệt. Tập trung sớm nhất ở giải cấu diễn ngôn thực dân, sau đó dùng ngôn luận không thích đáng của người bị đô hộ gia tăng năng lực viết liên tục thay đổi vị trí cho loại văn bản này, luôn đi ngược lại với quan niệm mà Baba cho rằng vẫn chưa được thể hiện rõ ràng trong Chủ nghĩa phương Đông của Said

Là “quyền lực và diễn ngôn hoàn toàn do kẻ thực dân chiếm hữu”. Baba nhắc lại một lần nữa mệnh đề lối viết phản chủ nghĩa thực dân, tức là mục tiêu của diễn ngôn thực dân là giải thích người bị đô hộ thành những người bị rơi vãi trên phương diện chủng tộc, để chứng minh cho tính hợp lí của sự thống trị và chinh phục. Vì thế, do ông cho rằng tác dụng của việc phát huy quan hệ giữa tri thức và quyền lực là mâu thuẫn, cho nên, ông chỉ ra, hệ thống diễn ngôn được phân chia trong trần thuật, thông qua (điểm sai lầm) lợi dụng thuật ngữ của hình thái ý thức chủ đạo cấu thành nên người phá bỏ thực dân mang lập trường khác nhau đã bị xua đuổi, có thể điều đình và chống lại mô hình kiến cấu này. Đem tính ý đồ và tính đơn hướng quy vào loại phân tích quyền lực thực dân, dùng cách nói của Said, thúc đẩy châu Âu không hề giấu diếm ý đồ tiến quân vào phương Đông, trong quá trình phân tích những hướng đi khác nhau, Baba kiên trì cho rằng điều này không chỉ coi nhẹ việc tái hiện một loại khái niệm vừa biểu đạt lịch sử vừa biểu đạt huyễn tưởng, mà còn thống nhất chủ thể thể hiện thực dân với tư cách là khách thể bị động của diễn ngôn chủ đạo trên vị trí cố định. Với tư cách là nhà phê bình đương đại, thông qua làm rõ sự biểu đạt đa nguyên và mâu thuẫn của chủ nghĩa thực dân, Baba muốn làm rõ tính giới hạn trong quyền lực diễn ngôn của nó, đồng thời đề xuất phản yêu cầu đối với yêu cầu “biểu đạt đối với “diễn ngôn phi đối thoại, diễn ngôn đơn nhất”; thông qua làm rõ thói quen cố định rộng rãi và lập trường chủ thể đem đến sự thay đổi cho người bị đô hộ trong văn bản chủ nghĩa thực dân, ông ra sức giải phóng thuộc địa ra khỏi sự miêu tả xấu xa với tư cách là “kẻ khác” bị câu thúc, đơn độc của châu Âu, từ đó tiến vào trong sự “khác biệt” tự trị của người bị đô hộ. Tuy nhiên, làm lại sự tận dụng này cho dù được tạo thành từ việc giải cấu của phần tử tri thức hậu thực dân, nhưng vẫn là thông qua làm rõ diễn ngôn chủ nhân có thể đã nhận được sự chất vấn của kẻ bị đô hộ mà trở thành cái có khả năng. Đối với Baba, thuộc hạ đã nói rồi. Ông đã phục hồi một loại lời nói của người bị đô hộ đối với việc đọc văn bản chủ nghĩa thực dân.

Thông qua đem mệnh đề phân tích tinh thần từ cấu thành chủ thể chuyển sang cấu thành văn bản, Baba giải cấu kinh tế xung đột của diễn ngôn thực dân để làm rõ thừa nhận và phủ nhận sự khác biệt văn hóa/ lịch sử/ chủng tộc của loại diễn ngôn này; trong quan niệm liên quan đến cơ giới quyền lực của Michel Foucault, quan hệ giữa quyền lực và tri thức luôn là sự phản ánh có tính sách lược của yêu cầu bức thiết của thời khắc lịch sử nhất định; thông qua sử dụng loại quan niệm này, Baba miêu tả một cách rõ ràng diễn ngôn của tầng lớp dưới đáy xã hội thành đặc tính tranh luận sai khác và yêu cầu biểu hiện mô hình khác biệt. Thuộc địa là một loại sản xuất hiện thực cố định, vừa là “kẻ khác” vừa là cái có thể biết, bị giải thích thành giống như dụ ngôn bái vật giáo của Freud, đem phong tục với tư cách là mô hình tái hiện của bái vật và vật bị cản trở xếp vào lĩnh vực được công nhận trong đó, lại có liên quan với đồ thị tưởng tượng của Lancan.

Vì thế, kiến tạo cấu trúc diễn ngôn thực dân là các loại chuyển ý của các loại bái vật giáo – biểu hiện phức hợp của ẩn dụ và hoán dụ, cũng là hình thức công nhận xâm lược và là hình thức tự mãn mà đồ thì tưởng tượng dễ dàng đạt được… Mọi người vì thế mà có một cỗ xe chứa đủ các loại lập trường xung đột, chính là những lập trường này cấu thành lên chủ thể trong diễn ngôn thực dân. Trong nội bộ hình thức diễn ngôn đặc thù nhất định, trong mấu chốt lịch sử đặc thù nhất định, sử dụng bất kì lập trường nào đều có vấn đề – đây là trường hợp cố định và biến đổi.

Trong loại trần thuật này, quan hệ quyền lực được được lí luận hóa căn cứ vào phạm trù phân tích tinh thần, nhưng sự phản kháng của người bị đô hộ lại chỉ giới hạn ở sự nhìn lại cái nhìn từ bên ngoài, coi nó là sự ngưng thị của người bị huấn luyện đang di chuyển vị trí. Baba tiếp tục đem lĩnh vực thảo luận mở rộng đến sản xuất văn bản kiểm nghiệm sự khác biệt. Coi “quan niệm” mô phỏng vừa là “một sách lược cải tạo, điều chỉnh và huấn luyện thực hiện chủ thể hóa thực dân thông qua thích hợp với”kẻ khác”, vừa là mô phỏng không thích đáng của người bị đô hộ đối với loại diễn ngôn này, loại diễn ngôn này có vai trò uy hiếp đối với quyền lực thực dân.

Ở đây, điều mà Baba xây dựng lại là quá trình song trùng của sự di chuyển vị trí. Trong di dộng giữa biểu đạt của kí hiệu phương Tây và ý nghĩa thực dân của nó, sách lược của tri thức chủ nghĩa thực dân đã bị phá hoại. Khi diễn ngôn công dân của quần thế ngưng kết trên văn hóa đột nhiên biến thành văn bản văn bản mang sứ mệnh văn minh, tiền đề biểu đạt của nó xung đột với công cụ khống chế xã hội của nó, vì thế, tính không bao hàm lẫn nhau của tư tưởng tự do nước Anh và tư tưởng chủ nghĩa đế quốc của British liền bị lộ ra: “trong quá trình quy phạm hóa của quốc gia thực dân hoặc quốc thể, mộng tưởng của công dân thời đại Khai sang đã dị hóa ngôn ngữ tự do của bản thân nó, tạo ra một loại ngôn ngữ khác liên quan đến chuẩn tắc của nó. “Quá trình giải cấu văn bản quyền uy thuộc địa được hoàn thành do sản phẩm của loại diễn ngôn này. Trong một sự khuyết thiếu của văn bản, sự thẩm định của Spivak sau khi bao lực tri thức trong kế hoạch chủ nghĩa đế quốc có thể phản bác, trong nơi “mô hồ của ý chí tự do của chủ thể ((nữ tính)chịu sự coi thường về tính“ thấy được vành đai trống rỗng phi hợp tác, Base đã sinh ra một loại hoàn cảnh diễn ngôn mang đến một thẩm định tường tận, không ngừng cung cấp nhân chứng cho người bị đô hộ từ diễn ngôn thực dân phản thực dân nội bộ và từ hoạt động yêu sách. Ở đây, thực dân hóa tự động của người bị đô hộ đáp ứng yêu cầu diễn ngôn thực dân, có cùng phạm vi công dân biến đổi, không rõ ràng mà người bị đô hộ mượn để cự tuyệt thỏa mãn yêu cầu trần thuật của kẻ đô hộ và công dân biến hóa thuộc về cùng một phạm vi. Khái niệm mô phỏng này từ đó đạt được sự phát triển thêm một bước nữa trong giả thuyết “tạp giao” của khung vấn đề diễn ngôn thực dân.

Baba chủ trương, dục vọng của người theo chủ nghĩ thực dân đối với kẻ khác đã cải tạo, có thể biện nhận, cơ hồ tương đồng, một khi người bị đô hộ có được sự biểu đạt mới thì đều là do vay mượn mà sinh ra, đó là không đồng nhất với loại kịch hóa của quan hệ dựa dẫm thực dân được công nhận thông qua hình thức tự mãn. Vì trong “thời đại tạp giao”, những thứ mà người bị đô hộ viết lại không phải là sao chép nguyên tác chủ nghĩa thực dân, mà là ở vật tự nó không đồng nhất về mặt tính chất, ở đây, giải mã sai và không hợp điệu lộ rõ tính mâu thuẫn và không xác định trong văn bản chủ nghĩa thực dân, và phủ nhận nó là hiện trường của quyền uy. Vì thế, đối với việc phản lại văn bản của diễn ngôn quyền uy thực dân bị đặt trong sách tiếng Anh của người bị đô hộ, trong chất vấn được tiến hành căn cứ hệ thống ý nghĩa văn hóa, đây là một loại chuyển đổi vị trícó thể đọc thấy trong đại diện của chủ nghĩa thực dân và trong ghi chép của đại sứ:

Thông qua vấn đề kì quái do người bị đô hộ đề xuất, từ cái nhìn về mặt sau của lịch sử có thể thấy những thứ bị họ chống lại trong suy nghĩ về hiện trường đối với người Anh – đó là họ với tư cách là phương tiện ngôn ngữ và văn hóa và trung gian tôn giáo.. chỉ đối với diễn ngôn đã đạt đến mức độ này của hình thức chiến tranh phòng ngự, tiêu chí mô phỏng ở những thời khắc không phục tùng đó trong huấn luyện công dân nội bộ của công dân là: dấu vết của việc chống lại đại quy mô. Hơn nữa, muốn thay đổi những thứ bao hàm rõ ràng giữa các hàng chữ luôn là hiện thực cường quyền.

Cho dù là một bài viết đầy mâu thuẫn của những tác phẩm tai tiếng, cũng rất dễ dàng bị giải mã sai một cách ngây thơ, nhưng sự thành công lí luận hóa của Baba khiến chúng ta nhìn thấy những khoảnh khắc đó; tức là diễn ngôn thực dân đã bị biểu đạt song trùng đảo lộn từ trong căn nguyên đã them một bước chịu thời khắc phá hoại của khách quan diễn ngôn của nó; là thời khắc những bản gốc do chủ nghĩa thực dân biên soạn được người bị đô hộ biểu diễn từ đó li khai và phá hoại nguyên tác chủ nghĩa thực dân. Luận điểm ở đây không nằm ở người bị đô hộ có quyền lực thực dân, mà nằm ở sự phá vỡ văn bản thực dân khi người bị đô hộ dùng thứ tiếng Anh đã bị phá vỡ biểu đạt lại loại quyền lực này, giải thích khác đi thông tin và ý nghĩa của sách tiếng Anh (chỉ tiêu chí của quyền uy thực dân và dục vọng thực dân, kỉ luật thực dân), vì thế khiến sự thực thi tuyệt đối của quyền lực trở thành không thể.

Giải phóng người bị đô hộ từ địa vị diễn ngôn bị coi là hỗn loạn và phi pháp của châu Âu, khiến nó bước vào địa vị “tạp giao”, từ đó mà thành công, khiêu chiến và cự tuyệt đối với chế độ thực dân, loại trần thuật như vậy không lưu lại không gian nào cho quan niệm tổng thể hóa về bạo lực tri thức. Kinh tế xung đột của văn bản chủ nghĩa thực dân cũng không cho phép chịu thao tác xâm lược diễn ngôn của bất kì chướng ngại nào: “những thứ mà diễn ngôn thực dân song trùng biểu hiện không phải là bạo lực do một cường quốc viết ra một cường quốc khác, (mà là) một phương thức biểu đạt đầy mâu thuẫn, nó viết lại một cách đầy mâu thuẫn về kẻ đô hộ và người bị đô hộ. “tác dụng của bài viết này chính là dùng một cụm giao dịch diễn ngôn làm cho việc tái hiện chủ nghĩa thực dân phản truyền thống của lực lượng phản đối bị phong bế trong đấu tranh di chuyển vị tríthêm: “ những chỗ sai khác và mang tính khác, hoặc không gian của phái đối lập, trong nội bộ một hệ thống “chi phối” như vậy của những điều mà tôi đề nghị, chưa bao giờ hoàn toàn ở bên ngoài, hoặc là những đối lập không thể hòa giải. “Giống như trần thuật mang khả năng lựa chọn của Spivak, những suy tư của Baba đối với quyền uy công nhận lịch sử là cái phát sinh trong lĩnh vực của bản thân diễn ngôn thực dân, nhưng quyền lực thực dân ở đây được lí luận hóa vì bị coi là chức năng văn bản, từ đó có thể nói, hình thức đấu tranh chính đáng của thực tiễn phê bình xuất phát từ mục đích chính trị chính là muốn làm rõ kết cấu kiến tạo của hệ thống chỉ ý, vì thế tước đoạt sứ mệnh mà nó muốn thống trị: Nếu như kết quả của quyền lực thực dân được coi là sản phẩm của văn hóa tạp giao, nhưng không phải là yêu cầu quyền lực của nhà cầm quyền thực dân hoặc sự chèn ép trầm mặc đối với truyền thống của người bị đô hộ, như thế thì một sự thay đổi thị giác to lớn đã phát sinh. Nó làm rõ trong tính mâu thuẫn của cội nguồn diễn ngôn truyền thống, thúc đẩy xây dựng một loại hình thức phá hoại trên tính không xác định đó, đem điều kiện diễn ngôn chủ đạo biến thành lí do can thiệp. Trước kia và ngay cả hiện tại những người đấu tranh chống thực dân vẫn ra sức phản đối các loại chủ nghĩa đế quốc đương đại, hoàn toàn có thể dùng sự không tín nhiệm tương đương đối với loại kiến tạo kết cấu này để đọc lí luận hóa của các nhà phân tích diễn ngôn, điều này tăng thêm kịch tính cho hoàn cảnh mà họ vì điều đó mà đấu tranh và cho loại tranh luận mà họ dấn thân vào. Đây không phải là tấn công vào sự khó khăn trong phân tích, mà là một loại quan sát, tức là những trần thuật mang tính lựa chọn này của chủ nghĩa thực dân đã làm mờ hóa “sự đấu tranh mang tính quyết định sống còn giữa hai nhân vật chính”(Fanon Những người bất hạnh trên trái đất. p30), hiện thực hoặc mỗi phong trào giải phóng đã viết ra đều là phản diễn ngôn được ghi chép (counter – discourses). Sự khác biệt quan trọng trong thực tiễn phê bình của Spivak và Baba bị ẩn đi trong một kế hoạch chung, kế hoạch này đặt tiêu chí ở sử dụng quá mức diễn ngôn và những mặc định của đối với sự thúc đẩy hình thành kinh tế – xã hội và chế độ chính trị cũng như hình thức thực tiễn xã hội khác có liên quan với nó. Ngoài ra, vì mệnh đề của họ không cho phép bất kì một luận điểm nào ngoài diễn ngôn, có thể làm nảy sinh ý kiến phản đối, từ đó, sự nghiên cứu của họ tập trung vào việc đem cơ chế kích động đặt vào trong kết cấu tái hiện chủ đạo, nhưng không dùng một loại tri thức khác đối diện với những kết cấu này. Đối với Spivak, sự hiếu chiến tri thức của chủ nghĩa đế quốc đã tiêu hủy phần lớn văn hóa cũ, không đem đến bất kì một điểm trống nào để người bị đô hộ lưu lại diễn ngôn phản kháng; đối với Baba, kế hoạch và tâm tư mà người bị đô hộ muốn thể hiện đã làm lay động tính hiệu quả của sách vở anh ngữ, nhưng vẫn chưa viết ra được một loại văn bản khác – Baba không muốn tham dự vào kiến tạo kết cấu của loại văn bản này. Cho rằng loại diễn ngôn phản chủ nghĩa thực dân “cần phải có một hệ thống vấn đề, kĩ thuật, sách lược để kiến tạo kết cấu của nó”. Trong nội bộ mô hình phê bình của một kiểu cự tuyệt giống như thế khác, tổng thể hóa nhân tố trừu tượng của quyền lực thành hoàn cảnh hư cấu chủ đạo hoặc phụ thuộc, khái niệm bá quyền là khái niệm không thể tách rời khái niệm phản bá quyền (phản quyền lực). Trong lí luận liên quan đến tranh đấu và quyền lực này, kết cấu quan hệ của nhân vật thông qua sự mê hoặc của hình thái ý thức khiến nhân vật bị áp bức bị biên duyên hóa đối với hiện tồn thể hiện sự tán đồng. Quá trình này tất yếu sinh ra sự chống đối và chính kiến khác nhau, vì chủ thể bị xem là cái được cấu thành thông thực tiễn xã hội khác biệt và qua sự mê hoặc không bao hàm nhau. Trong loại giao lưu tranh luận này, người tiếp nhận đàm thoại khiêu chiến đối với người đàm thoại. Kết quả của nó là, một loại diễn ngôn khác được đào luyện trong quá trình không phục tùng và chiến đấu đã chiếm cứ cái mới, chiếm cứ lĩnh vực chưa bao giờ bị thực dân hóa và lĩnh vực “Utopia”(xã hội không tưởng). Khi dự đoán mối quan hệ khác, giá trị và hi vọng khác, diễn ngôn bá quyền cuối cùng bị coi là mảnh đất rộng đầy sự bất an mà bị loại bỏ.

Ở thời đại mà tư tưởng biện chứng vẫn chưa thực sự thịnh hành trong các nhà lí luận diễn ngôn thực dân, nhớ lại một chút, suy tư của Fanon về hình thức đối thoại của quyền lực châu Âu và người bị đô hộ tạo phản là đã cấu tạo quá trình chống đối văn hóa và phá bỏ văn hóa như thế nào, đã tham dự vào việc biên soạn loại văn bản có thể phản bác lại chủ nghĩa thực dân như thế nào, đồng thời dự báo một loại hoàn cảnh khác của chủ nghĩa đế quốc siêu việt, đây là điều vô cùng có ích:

Đối mặt với người da trắng, người da đen muốn có một quá khứ hợp pháp hóa, muốn một loại phức hiệp được trừu xuất ra… Tôi quyết không nên hiến thân cho sự phục hưng văn minh vẫn chưa được thừa nhận chính đáng của người da đen. Tôi không thể đem bản thân biến thành một người của quá khứ… Tôi không phải là tội đồ của lịch sử… Chỉ có thông qua giả thiết công cụ, lịch sử siêu việt, tôi mới có thể khai sáng chu kì tự do của mình.

(Còn nữa)

Đỗ Văn Hiểu dịch từ bản tiếng Trung

Nguồn: Lí luận văn hóa chủ nghĩa hậu thực dân. La Cương chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Bắc Kinh 1999

Bản tác giả gửi phebinhvanhoc.com.vn


Leave a Reply