Phê bình thế hệ F và sứ mạng viết trong nền tảng văn học mới


Yến Thanh

Có thể nói, trên dưới mười năm qua, văn đàn nước nhà đã/đang chứng kiến sự trưởng thành và chiếm lĩnh văn đàn của một thế hệ viết phê bình mới, trẻ trung đầy nhiệt huyết, dũng cảm dấn thân trong một lĩnh vực vốn dĩ vẫn thường dành cho những “cây đa, cây đề”, cũng như những hệ lụy và nguy cơ thường trực mà người viết phải đối mặt. Ngày nay, thật khó hình dung đời sống phê bình đương đại nếu thiếu đi những tiểu luận, công trình của thế hệ phê bình mới này. Nhưng trước tiên, họ là ai?

Nhiều người định danh thế hệ phê bình mới này theo tuổi, tức 7x, 8x, 9x. Một số người khác, gọi tên thế hệ này dựa trên “cách viết đặc thù” của họ, là “thế hệ viết trên mười đầu ngón tay”. Chúng tôi lại muốn chọn cách định danh của Trần Thiện Khanh (xin xem phebinhvanhoc.com.vn) – một người nằm trong thế hệ, rằng đó là thế hệ phê bình f. f hẳn nhiên có nhiều nghĩa, có thể giải thích là fast (nhanh nhạy), fun (vui vẻ – hiểu theo lí thuyết trò chơi), fabulous (phi thường), hay f theo di truyền là nhằm chỉ các thế hệ (f1, f2…), nhưng theo chúng tôi, f trước tiên là facebook. Khi định danh một thế hệ phê bình facebook, tức chúng ta đang nói tới nền tảng viết của nó, tức viết trên nền tảng mạng. “Mười đầu ngón tay” chỉ dừng ở cách viết trên máy tính, “f” đi xa hơn bước nữa, viết bằng “ngôn ngữ nhị phân của máy tính” trên mạng toàn cầu internet. Lấy facebook làm biểu tượng, dĩ nhiên còn một ý nghĩa sâu xa khác, đó là cách thức kết nối và cách thể hiện sự quan tâm đặc thù của thế hệ này đối với đời sống văn học.

Theo David Kirkpatrick trong Hiệu ứng facebook và cuộc cách mạng toàn cầu của mạng xã hội, sở dĩ facebook được cả thế giới yêu thích, và nó trở thành phương tiện chính yếu mà chúng ta giao tiếp trong thế giới phẳng, là bởi cách thức xác định bạn bè, cũng như cách thức thể hiện sự quan tâm, tán đồng đặc thù của nó. Facebook giúp ta dễ dàng tìm kiếm bạn bè theo nhiều cách, và chúng ta xác minh một ai đó chủ yếu dựa trên những friend của họ là ai. Tức mối quan hệ xã hội xác nhận bạn là ai, bạn có địa vị gì, tức giá trị của bạn tùy thuộc vào ai đang là bạn của bạn. Thứ hai, bằng cách lập các nhóm quan tâm, cũng như cách thể hiện sự tán đồng qua các comment, các tag, hoặc nút like ở các status, note, và đặc biệt là các ảnh, hơn nữa mọi điều bạn quan tâm (like, tag và comment) đều hiện lên trên “tường chung” của những người bạn của bạn, facebook đã thực sự thay đổi cách thức chúng ta chia sẻ, tìm kiếm thông tin, cũng như cách tạo dư luận và định hướng người đọc. Theo nghĩa đó, chúng ta có thể kể ra hàng loạt những cây bút phê bình trẻ thế hệ f nổi bật như Cao Việt Dũng, Trần Thiện Khanh, Đoàn Ánh Dương, Mai Anh Tuấn, Đoàn Minh Tâm, Nguyễn Mạnh Tiến, Hoàng Thụy Anh, Nguyễn Quang Huy, Nguyễn Thanh Tâm, Hoàng Đăng Khoa, Nguyễn Văn Thuấn… Họ trước tiên, đa số đều sở hữu một tài khoản facebook, một số người có blog riêng nổi tiếng (ví dụ blog Nhị linh của Cao Việt Dũng), hoặc cả một trang web văn chương có tín thế (ví dụ phebinhvanhoc.com.vn của Trần Thiện Khanh). Tức họ viết và thể hiện tầm ảnh hưởng của mình lên sự viết trước tiên trên “thế giới mạng”, và sau đó, bao phủ lên “thế giới in”

. Trước kia, khoảng đầu thiên niên kỷ này, “thế giới mạng” còn là một danh từ miệt thị, khinh khi, nhằm chỉ sự thiếu nghiêm túc, ít tinh thần học thuật, vàng thau lẫn lộn, tức phi hàn lâm và phi chính thống. Nhưng ngày nay, chúng ta lại càng thấm thía những lời tiên tri của J.F.Lyotard trong Hoàn cảnh hậu hiện đại (1979): “Từ đây có thể rút ra một điều dự đoán là tất cả những gì trong tri thức đã có mà không thể dịch ra bằng cách ấy (chu chuyển trên nền tảng mạng) sẽ bị loại bỏ, và việc định hướng cho các hướng nghiên cứu mới mẻ này sẽ tùy thuộc vào điều kiện là các kết quả cuối cùng có thể dịch được sang ngôn ngữ máy”. Ngày nay, một nhà phê bình “mù chữ số” sẽ dần bị loại ra khỏi “cuộc chơi”, bởi tầm ảnh hưởng và tác động lên đời sống văn học của anh sẽ dần bị thu hẹp lại. Chúng ta từng thấy sự khốn đốn của các nhà xuất bản, hoặc sự sụp đổ của hệ thống báo chí in truyền thống tại phương Tây, ngay cả đối với những tượng đài báo in như Newsweek, The New York Times… cũng phải tuyên bố ngừng phát hành báo giấy để chuyển sang nền tảng báo mạng, thì có thể dễ hiểu cho sự lên ngôi của nền tảng mạng. Do đó, một thế hệ được sinh ra, lớn lên, đọc, viết và kết nối lẫn nhau trong nền tảng mạng đương nhiên sẽ dần chiếm lĩnh đời sống văn học nói chung (chứ không đơn thuần là đời sống văn học mạng) nhanh hơn chúng ta tưởng.

Họ trước tiên có lợi thế về tìm kiếm và chia sẻ tri thức, khi ngồi ở nhà nhưng có thể kiếm tìm sách trong toàn bộ các thư viện lớn trên quốc tế. Lợi thế đó dẫn đến sự cập nhật lý thuyết phê bình thế giới diễn ra một cách nhanh chóng, vượt khỏi quán tính nặng nề của công tác giới thiệu, kiểm định, dịch thuật, phát hành… của sách in truyền thống. Từ đó, chúng ta có thể thấy thế hệ phê bình f thường xuyên hứng khởi, đam mê với các hệ lý thuyết mới (ít ra là mới ở nước ta) như: hậu hiện đại, nữ quyền luận, liên văn bản, hậu thực dân, môi trường luận, tân lịch sử, phân tâm học, hiện tượng luận, mỹ học tiếp nhận… Cũng nhờ nền tảng mạng, nên sự giao lưu tri thức và chu chuyển lý thuyết trở nên tức thì, bỏ qua giới hạn về không gian và thời gian, tạo điều kiện cho những nhà phê bình trẻ thế hệ f dễ dàng tạo ảnh hưởng lên nhau. Chúng tôi xem xét “tạo ảnh hưởng” này từ hai góc độ. Thứ nhất, những công trình, tiểu luận nghiên cứu, phê bình của họ được đưa lên mạng, nên những người khác dễ dàng chia sẻ, tham khảo. Từ đó, chúng ta có thể thấy sự gần gũi, tương đồng đến kì lạ của các trường phái lý thuyết mà các nhà phê bình trẻ ngày nay theo đuổi: hậu hiện đại, hậu thực dân, nữ quyền luận… Thứ hai, họ đa phần đều là bạn bè của nhau trên thế giới mạng, có thể nói chuyện với nhau bất kì lúc nào, đang ở bất kì đâu, nhờ vào facebook, yahoo, skype, twitter… Đặc trưng này giúp dễ dàng tạo nên những trường phái (écoles) phê bình trong tương lai. Dĩ nhiên, muốn tạo nên những trường phái phê bình còn dựa trên nhiều yếu tố khác, nhưng sự giao tiếp, sự trao đổi tư tưởng là điều kiện tiên quyết.

Mặc dù có nhiều thuận lợi, nhưng phê bình văn học thế hệ f vẫn phải đối mặt với “những con thủy quái hồ Loch Ness” – tức những khó khăn và nguy cơ trong thời đại phê bình của họ. Thứ nhất, so với mặt bằng chung của người đọc bình dân, những tác phẩm phê bình của họ thường vượt quá tầm đón nhận của độc giả bình thường. Bởi vì, khác với phê bình ấn tượng của Hoài Thanh, cũng khác với phê bình tiểu sử học hoặc xã hội học truyền thống, đa phần những nhà phê bình thế hệ f đều là phê bình lý thuyết (lấy lý thuyết làm đối tượng phê bình), hoặc ứng dụng những lý thuyết mới mẻ của phương Tây như chúng tôi đã nhắc ở trên vào việc khảo cứu văn bản. Lối phê bình này kén người đọc, dễ tạo cảm giác khô khan, nặng nề, lại đòi hỏi người đọc phải có một tầm đón nhận nhất định, có sự tìm hiểu sơ bộ về lí thuyết. Thứ hai, nhằm truy cầu những cái mới có tính cách mạng, vượt chuẩn, lệch chuẩn, phù hợp với các lý thuyết mà họ theo đuổi, các nhà phê bình thế hệ f thường không chọn những tác phẩm dễ đọc, các best seller, những tượng đài cũ kĩ, mà chủ yếu lấy đối tượng khảo cứu là những tác gia, tác phẩm có sự phổ biến hẹp, hoặc nổi danh trên thế giới nhưng ở Việt Nam có thể còn vượt ngưỡng tiếp nhận với nhiều người đọc. Ví dụ, đối tượng quen thuộc của họ thường là những nhà văn đổi mới về sau như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Đặng Thân… ở Việt Nam hoặc Márquez, Murakami, Houllebecq, F.Kafka… trên thế giới. Nhiều người đọc, trong đó có cả những nhà phê bình khác thế hệ không thể đọc, hoặc không thích những đối tượng nghiên cứu nói trên, từ đó, những công trình phê bình về nhóm đối tượng này cũng dễ bị loại ra khỏi tính hợp thức của sự đọc. Thứ ba, không thể không tính đến sự phức tạp của nền tảng mạng, nơi mọi tri thức, văn bản đều có quyền tồn tại, chu chuyển, chia sẻ. Từ đó, thiếu đi một chuẩn kiểm định, một chuẩn xuất bản, tức là đánh mất một bộ lọc quan trọng đối với những nghiên cứu lệch lạc, phiến diện hoặc đơn thuần không có giá trị. Thứ tư, khoảng cách thế hệ phê bình, mà cốt lõi là sự khác nhau về lý thuyết phê bình, dễ tạo ra những ngộ nhận, phê phán có tính quyền uy của những người đi trước với phê bình thế hệ f. Mặc dầu, không phải mọi phê phán đều thiếu bao dung và do “khoảng cách lí thuyết” gây nên.

Do vậy, muốn thoát khỏi sự truy bức của “những con thủy quái hồ Loch Ness”, những nhà phê bình trẻ thế hệ f cần những điều kiện sau. Thứ nhất, cần giới thuyết kĩ càng hơn, chi tiết hơn về các lý thuyết mà mình sử dụng, cũng như đối tượng mà mình khảo cứu. Cũng cần tính đến tầm đón nhận của người đọc cụ thể, tính chất khoa học cụ thể ở nơi (báo in, báo mạng, hội thảo, kỉ yếu…) mà công trình, tiểu luận của các nhà phê bình công bố nhằm điều chỉnh lối viết. Dĩ nhiên, việc thông hiểu các tác phẩm phê bình không phải dành cho mọi độc giả, nên chúng ta cũng không đòi hỏi viết phê bình ngày nay như viết tuyên truyền, viết cổ động như thời bình dân học vụ. Hiểu là một quá trình, đòi hỏi sự nỗ lực cả từ phía người đọc. Do đó, chúng tôi tin rằng, cùng với sự đi lên của dân trí, sự phát triển nhanh chóng của khoa ngữ văn học, sự giao lưu, hội nhập với thế giới một cách toàn diện, những công trình phê bình của các nhà phê bình thế hệ f sẽ không còn quá “bí hiểm” đối với người đọc trong tương lai ngắn. Thứ hai, nền tảng mạng là nơi khởi đầu, nhưng việc chính thức xuất bản thành tác phẩm in quy chuẩn, hoặc công bố tiểu luận trên các tạp chí khoa học hàng đầu, lại cần là đích đến của các công trình phê bình thế hệ f. Kết hợp cả nền tảng mạng và nền tảng xuất bản in, các nhà phê bình thế hệ f sẽ vừa xác lập được tính chính thống, lại vừa thể hiện được tầm ảnh hưởng rộng rãi trong đời sống văn học. Một loạt những công trình phê bình của các nhà phê bình trẻ thế hệ f thời gian gần đây như Đoàn Ánh Dương, Hoàng Thụy Anh, Đoàn Minh Tâm… chính là nỗ lực qui chuẩn hóa, chính thống hóa các công trình phê bình của thế hệ f. Thứ ba, về khoảng cách lý thuyết giữa các thế hệ phê bình, chúng tôi tin rằng, cùng với sự du nhập sâu rộng với thế giới, sự giới thiệu, dịch thuật diễn ra gấp gáp, mau lẹ ngày nay, những lằn ranh và đường biên ấy sẽ dần bị xóa bỏ. Những nhà phê bình thế hệ đi trước sẽ dần nhận ra, họ cũng từng một thời trẻ tuổi, cũng từng gánh chịu những nghi ngại cho các tìm tòi, khám phá có tính cách tân, lệch chuẩn của mình.

Tôi từng có một suy nghĩ thú vị thế này, có nhiều nhà phê bình “trưởng lão” cứ làm như họ không có tuổi trẻ, tức sinh ra ngay lập tức đã già, đã trưởng thành, không bao giờ có những vấp váp, sai lầm. Nhưng đồng thời khi đó, tôi cũng nảy sinh một tiếng nói đối thoại lại. Đó là những nhà phê bình thế hệ f ngày nay cũng không mãi trẻ, không mãi cách tân và tìm tòi quyết liệt. Tức là, họ cũng sẽ già, sẽ bị lịch sử bỏ lại sau lưng nếu không dũng cảm dấn thân và ý thức một cách sâu sắc rằng họ cũng có những giới hạn và rồi cũng sẽ bị lịch sử bỏ lại sau lưng. Mọi sự tự mãn, ung dung trong những vầng hào quang quyền uy và giáo điều mà thế hệ f sẽ (dần) xác lập được, rồi sẽ khiến họ bị tụt lại đằng sau một thế hệ phê bình mới, phê bình thế hệ G chăng? Lịch sử phê bình chẳng phải là lịch sử của những thế hệ phê bình gối đầu nhau xô đẩy về phía trước như những con sóng vỗ bờ hay sao.

Nguồn: Văn nghệ Trẻ số 49 ra ngày 8- 12- 2013

Leave a Reply