Tại sao Bảng chữ cái tiếng Việt cần phải được “chuẩn hóa”?


(Trao đổi cùng tác giả bài “Một số biện pháp để chuẩn hóa Bảng chữ cái tiếngViệt”)

Does the Vietnamese alphabet need standardizing?

(Exchanging ideas with the author of the article

“Some suggestions to standardize the Vietnamese alphabet”)

Lê Thời Tân

Tóm tắt: Bài viết này tập trung trao đổi với quan điểm cho rằng “Bảng chữ cái tiếng Việt hiện hành có 7 chữ cái bị kì thị” (Ă, Â, Đ, Ê, Ô, Ơ, Ư) trong lúc lại “thiếu 4 chữ cái đã trở nên thông dụng” (F, J, W, Z) là thiếu sót cần phải có biện pháp để chuẩn hóa.

Từ khóa: chữ cái Latin,  chữ Quốc ngữ, bảng chữ cái tiếng Việt, chuẩn hóa

Summary: This article focuses on exchanging ideas relating to the claim: that “the current Vietnamese alphabet has 7 discriminated letters” and “4 letters which do not belong to the Vietnamese alphabet but have been used more frequently in the modern Vietnamese language” is a shortcoming and some measures should be taken to standardize the modern Vietnamese alphabet.

Key words: Latin script, written language, Vietnamese alphabet, standardize.

Quy luật phát triển của văn tự xét về mặt cách biểu đạt được khái quát thành từ biểu hình đến biểu ý đến biểu âm. Nhìn từ một góc độ nhất định, việc ta dùng chữ quốc ngữ cho tiếng Việt không ra ngoài quy luật đó. Ngày nay ta thường nói đến toàn cầu hoá. Trong thực tế cũng đã diễn ra quá trình toàn cầu hoá chữ cái La tinh. Như ta thấy trên Internet ngày nay, văn tự sử dụng chữ cái La tinh chiếm đến 99%. Những nước không dùng chữ cái La tinh cũng cần thông qua Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế (ISO) để thống nhất một tiêu chuẩn phiên âm La tinh tiện cho giao lưu văn hoá. Quan tâm nhiều hơn đến chữ Việt cũng chính là để tham gia tích cực vào quá trình toàn cầu hoá [1 tr.51]. Tất nhiên, thực khó mà nói đến “chữ quốc ngữ” nếu như chưa định hình được bảng chữ cái tiếng Việt. Việc tạo dựng bộ kí tự gọi là “Bảng chữ cái tiếng Việt” là một thành tựu lớn lao. Đến nay việc sử dụng bảng chữ cái này đã có lịch sử hàng thế kỉ. Thật là ấn tượng khi ta đọc thấy có bài viết đặt vấn đề “phân tích nhược điểm và thiếu sót của bảng chữ cái tiếng Việt hiện hành: có một số chữ cái bị kì thị (Ă, Â, Đ, Ê, Ô, Ơ, Ư) và lại thiếu 4 chữ cái đã trở nên thông dụng trong tiếng Việt hiện đại là F, J, W và Z” [5tr.153]. Và giải pháp chuẩn hóa bảng chữ cái tiếng Việt đã được tác giả bài viết nêu ra sau khi lần lượt luận giải tập trung về hai nhóm gọi là “Những chữ cái bị kì thị” và “Những chữ cái bị dùng lậu”. Về “Những chữ cái bị kì thị”, tác giả bài báo TS Lê Vinh Quốc nói:

Trong bảng chữ cái tiếng Việt hiện hành có bảy chữ đặc biệt, được tạo thành bằng cách bổ sung các dấu hiệu (“thêm mũ, thêm râu”) vào năm chữ cái Latin gốc (A, D, E, O, U) để làm thành những chữ cái mới cho riêng tiếng Việt (tạm gọi là các chữ biến thể). Đó là: Ă và Â (biến thể của A), Đ (biến thể của D), Ê (biến thể của E), Ô và Ơ (biến thể của O), Ư (biến thể của U). Nếu chỉ sử dụng để đánh vần (hay ghép vần), đọc, viết hay biên soạn từ điển thì những chữ biến thể này dường như không có vấn đề gì phải bàn. Nhưng khi sử dụng chúng trong những trường hợp khác lại có vấn đề phát sinh. Khi cần sắp xếp một hệ thống nào đó theo vần chữ cái, người ta chỉ dùng các chữ cái Latin gốc mà không dùng đến các chữ biến thể đó. Chẳng hạn, khi dùng bảng chữ cái để ghi ký hiệu các hàng ghế của hội trường, nhà hát, rạp chiếu bóng, sân vận động hay tàu xe, người ta đều ghi theo thứ tự như sau: A, B, C, D, E, G (…) O, P, Q (…), T, U, V, X, Y… Như vậy tức là các chữ biến thể (Ă, Â, Đ, Ê, Ô, Ơ, Ư) đã hoàn toàn bị loại bỏ. Khi cần trình bày các luận điểm theo thứ tự vần chữ cái, người ta cũng thản nhiên bỏ qua những chữ đó. Trong các môn học ở nhà trường, khi cần dùng bảng chữ cái để trình bày các ký hiệu hay công thức, những chữ này không bao giờ được áp dụng. Chẳng hạn ở môn hình học luôn có các tam giác A-B-C, nhưng chưa bao giờ có tam giác A-Ă -Â!

Kế đó bài báo dành mục “Những chữ cái bị dùng lậu” để bàn về việc bảng chữ cái tiếng Việt “thiếu 4 chữ cái đã trở nên thông dụng trong tiếng Việt hiện đại là F, J, W và Z”. Thực ra đây chính là vấn đề mà tác giả đã từng nêu trong trên báo Tuổi Trẻ một năm trước đó. Xin được trích dẫn nguyên văn: “Từ đầu thế kỷ 20 đến nay, cả bốn chữ cái này đã được dùng trong ngôn ngữ điện tín để thay cho dấu giọng và thay cho những chữ “thêm mũ, thêm râu” nêu trên. Khi ghi ký hiệu các hàng ghế người ta loại bỏ các chữ biến thể nhưng lại thêm vào bốn chữ cái gốc Latin này. Cả bốn chữ đó nằm trong học vấn ở nhà trường từ lâu với “lực F”, thang nhiệt độ F, các nguyên tố hóa học Flo, Fe, Wonfram, Zn, thời đại cổ sinh học “kỷ Jura” hay định luật “Jun-Len xơ”, với các bài toán tìm ẩn số x-y-z, các đơn vị đo công suất điện W hay kW hoặc đo sóng điện từ kHz, MHz và tên gọi của hàng loạt hóa chất như bazơ, saccarozơ, glucozơ, benzen… Chúng cũng chính thức hiện diện trong tên gọi tắt của các cơ quan, xí nghiệp của nước ta: Fafilm, Fahasa, TFS, VFF, Z751, Z755, Z25… Chúng thường xuyên xuất hiện trong các văn bản liên quan đến quan hệ quốc tế qua những tên gọi tắt của UNICEF, FAO, IMF, FIFA, AFC, WB, WTO, WHO… Trong đời thường mọi người đã quá quen với tần số FM, máy fax, đèn flash, festival, quần jeans, nhạc jazz, võ judo, thịt jambon, khu vực WC… Chữ Z được dân ta đặc biệt ưa thích nên một số người đã thêm nó vào tên của mình (Dzoãn, Dzếnh, Dzũng…), hoặc chêm vào từ thuần Việt (dzậy, dzũa, dzui dzẻ…) và thường nói câu “từ A đến Z” thay cho câu “từ A đến Y”! Nếu kể cả những tên người, tên đất và tên các sản phẩm của nước ngoài được viết đúng theo từ gốc trong các văn bản của nước ta thì tần suất hiện diện của bốn chữ đó nhiều vô số kể. Đặc biệt là trong công nghệ thông tin, bốn chữ này đã trở thành những ký tự không thể thiếu và bắt buộc phải dùng. Theo đó, mọi website đều phải gắn liền với chùm ký tự “www” và phải viết đúng chuẩn quốc tế (chẳng hạn như website của Liên đoàn Bóng đá Việt Nam: www.vff.org.vn); trong khi các phím shift, page down, F1, F2, F3, F4… là những quy chuẩn quốc tế trên bàn phím của máy tính điện tử mà ai dùng cũng phải biết. Nói chung, F, J, W và Z đã trở thành những chữ cái thông dụng và cần thiết trong xã hội nước ta. Sự khiếm khuyết các chữ này trong bảng chữ cái tiếng Việt đã làm việc sử dụng chúng không có cơ sở pháp lý, khiến chúng trở thành những chữ cái được dùng lậu.”[6] .

Lập luận của TS Quốc dường như có thể tóm lược như sau: 1) nhóm Ă, Â, Đ, Ê, Ô, Ơ, Ư có trong bảng chữ cái nhưng không được dùng để đánh thứ tự các hàng ghế, các đề mục, gọi tên các hình ở môn hình học. Để khắc phục sự kì thị đó, ta nên đưa chúng ra khỏi bảng chữ cái cơ bản; 2) nhóm F, J, W và Z đã được dùng thông dụng trong tiếng Việt nhưng chúng lại không có mặt trong bảng chữ cái chính thức (chữ “ngoài luồng”) thành ra việc dùng chúng thiếu đi cơ sở pháp lí (dùng lậu). Vì vậy cần bổ sung đưa vào bảng chữ cái (và tính ngay tới việc chuẩn bị để đối phó hệ/hậu quả  thay thế Z thay D, F thay PH).

Tóm lại là, để cho 7 chữ Ă, Â, Đ, Ê, Ô, Ơ, Ư tránh được “kì thị” thì yêu cầu bảng chữ cái tiếng Việt “tái định cư” chúng vào khu riêng (xem ra tình hình có vẻ để tránh kì thị “màu da” thì lại biến thành phân biệt “chủng tộc” vậy). Đồng thời, để chấm dứt “dùng lậu” thì đề nghị bảng chữ cái tiếng Việt “cơi nới” thêm chỗ cho bốn chữ F, J, W và Z. Nói gọn lại là, trường hợp bị “kì thị” không được dùng thì xử lí đưa ra ô riêng, còn trường hợp được “dùng lậu” thì đề nghị đưa vào.1 Kê dẫn của chính tác giả cho ta thấy “giải pháp chuẩn hóa” bảng chữ cái tiếng Việt – đơn giản thay – hãy quay lại học tập bảng chữ cái “Quốc văn Giáo khoa thư, 1925” hoặc làm như bảng chữ cái tiếng Pháp… Thực ra, cứ lẽ thường mà xét, “kì thị” và “dùng lậu” là con một nhà. Đưa F, J, W và Z vào cho khỏi “dùng lậu” thì dẫn đến “kì thị” những chữ khác. Giữ để không “kì thị” chữ khác thì đến lượt bốn chữ đó lại bị xếp vào hàng bị “kì thị”.2 Trường hợp “đưa vào” tưởng để rộng đường hòa nhập quốc tế thì vấp chữ “chập đôi” vốn có, trường hợp “đưa ra” tưởng để không kì thị dân tộc thì rồi lại thành ra phân biệt những chữ “đội mũ thêm râu có đuôi” với chữ “nguyên” Latin.3 Lập luận của TS Lê Vinh Quốc về câu chuyện  Alechxandre de Rhodes “loại bỏ bốn chữ cái” F, J, W và Z khi “sáng tạo chữ quốc ngữ” tạo cảm giác bốn chữ đó sở dĩ ngày nay ra nông nỗi lâm vào tình trạng “dùng lậu” ấy chỉ vì từ rất sớm chúng đã bị tiếm quyền bởi PH, GI, D và Đ: “Đến nay, các nhà ngôn ngữ học vẫn không hiểu vì sao khi sáng tạo ra chữ quốc ngữ, linh mục Alexandre de Rhodes đã loại bỏ bốn chữ cái gốc Latinh nêu trên (tức bốn chữ F, J, W, Z) để rồi phải dùng PH thay cho F, dùng GI thay cho J và dùng D để ghi cái âm đáng lẽ thuộc về Z; rồi lại phải chế ra chữ Đ để ghi cái âm vốn thuộc về D?” “Rất có thể sẽ bỏ chữ Đ để trả lại vai trò chính xác của chữ D (tức dùng D thay cho Đ), rồi dùng Z thay cho D hiện hành” [5 tr.156].4 Về việc này ông An Chi đã góp ý rất cụ thể trong bài “Có bị kì thị hay không”.5 Ở đây chúng tôi chỉ muốn lưu ý thêm rằng,  tuy nói “rất có thể” nhưng tới lúc đề xuất bảng chữ cái chuẩn hóa của mình thì tác giả đã thực sự bỏ chữ này đi. Vậy là, dù thế nào đi nữa, việc ông “đuổi” chữ Đ ra khỏi bảng chữ cái chẳng phải cũng là một sự kì thị hay sao?

Bảng chữ cái là cả một đại đề tài. Bàn bạc về vấn đề này cần một tầm nhìn ngữ học bao quát “từ A đến Z” (hoặc “lẽ ra phải nói từ A đến Y” – lời của chính tác giả6). Tiếc rằng trình độ a bờ cờ về ngữ học như chúng tôi không cho phép bản thân lập luận được thành hệ thống luận điểm a bê xê rành mạch. Vậy thì cách tốt nhất là cứ lần lượt men theo các luận điểm của tác giả bài báo vậy. Trước tiên thử xét trường hợp đánh thứ tự hàng ghế bằng các chữ cái. Có thể thấy trong trường hợp này, người ta đã dùng các chữ cái (mẫu tự/con chữ/chữ) như những kí hiệu/hình hiệu.7 Khi dùng để đánh thứ tự hàng ghế, ta có thể xem xét chữ cái như một hình hiệu – tri giác bằng mắt (tương tự như đánh số vậy). Chúng tôi tin rằng những người nghĩ bảng chữ cái trước hết nhắm “khả năng ghi lại đủ chân thực, đủ chân xác bộ mặt ngữ âm của các từ ngữ”[3] tiếng ta và nó có “đặc thù” riêng khiến đáng để gọi là “bảng chữ cái tiếng Việt” sẽ thấy chẳng có gì là kì thị khi những chữ Ă, Â, Đ, Ê, Ô, Ơ, Ư ghi âm tiếng Việt này không được dùng để đánh thứ tự. Sự thực là dãy chữ Latin A, B, C, D, E, G,… với  truyền thống xướng/gọi tên con chữ kiểu Pháp a, bê, xê, đê, en lờ,.. … vê đúp, dét  (lẫn cả cách gọi tên chữ kiểu Việt i dài Y) khi điểm hàng ghế trong hội trường cũng chẳng làm nảy sinh vấn đề gì cả. Nếu phân biệt hàng ghế với bảng chữ thiếu “7 chữ kì thị” đó mà vẫn sợ lẫn khi xướng/nói thì dùng chữ số (nhìn hay đọc “thứ nhất”/“số một”, “thứ nhì/hai”/“số hai”) vậy. Chẳng qua kí hiệu thì nằm trong hệ thống, khi chữ cái đã dùng cho cả hàng hay dãy thì con số dành để đánh cho từng ghế.8 Có thể thấy dãy không có các “biến thể” “đội mũ thêm râu” A, C, D, E, F, G, H, I, K, L, M, N, O, P, Q, R, S, T, U,… tự bản thân chúng đã thành một hệ thống kí hiệu “tối ưu” cho việc đánh thứ tự hay tạo dấu hiệu phân biệt. Cách làm đó có lợi cho tri giác. Quan trọng hơn câu chuyện đánh thứ tự thuần bằng chữ cái Latin hay đánh thứ tự theo bảng chữ cái tiếng Việt, ở đây vấn đề chủ yếu là kí hiệu giúp phân biệt và nhận diện tốt hơn.9 Một cách giản dị, câu chuyện nên được nhìn nhận như vậy. Vì vậy, có thể nói việc nhìn nhận hiện tượng gọi là “những chữ cái bị kỳ thị” là cách nhìn không đúng vấn đề. Không phải một số chữ cái không được dùng (trong những trường hợp mà tác giả kê dẫn) thì kết luận thành “chúng bị kì thị” rồi liền đề nghị có biện pháp với bảng chữ cái tiếng Việt.

Nhóm các chữ “dùng lậu” ít hơn về số lượng so với nhóm các chữ “bị kì thị”. Tuy vậy thực tế “sử dụng” chúng như ta thấy qua kê dẫn của tác giả là khá phức tạp. Để có thể thực sự có được một phản biện xác đáng cho luận điểm “cần đem chúng vào bảng chữ cái để chấm dứt tình thế dùng lậu” ta cần lần lượt thảo luận từng trường hợp cụ thể.10 Bản thân sự khái quát hóa thành ba trường hợp (i), (ii) và (iii) như thế cũng cần được coi lại và trong mỗi trường hợp thì từng cách nói kiểu “xuất hiện ở từ tiếng Việt”, “từ viết tắt người Việt tự đặt”, “nằm trong từ phiên âm sang tiếng Việt”, “từ nước ngoài đích thực” đều phải được giới thuyết rõ thì thì mới mong có được một sự đối thoại tích cực. Chẳng hạn, ta thấy tác giả xếp benzene vào trường hợp (i) “gốc từ nước ngoài nhưng phiên âm sang tiếng Việt” nhưng độc giả có thể cho đó là từ tiếng Anh, thậm chí là danh từ viết đúng theo quy định của IUPAC. Độc giả cũng có thể hỏi tại sao tác giả lại đưa từ cafe vào trường hợp (iii) “từ nước ngoài đích thực nhưng không có từ Việt thay thế, hoặc nếu dịch hay phiên âm sang tiếng Việt sẽ trở nên rắc rối, thiếu chính xác so với dùng từ nguyên gốc”. Đó phải chăng là café tiếng Pháp? Viết tiếng Việt cà phê (đã Việt hóa tới độ bình dân nghĩ rằng đó cũng là một loại ) thì có trở nên rắc rối, thiếu chính xác hay dùng tiếng Anh coffee thì chính xác hơn? Trong trường hợp (iii) này ta còn thấy có từ jambon. Thực tế không ít người viết giăm bông, thậm chí như lời ông An Chi – viết  kiểu “đầu gà đít vịt” jambông. Nói chung các hiện tượng đó chứa đựng nhiều vấn đề yêu cầu được mổ xẻ đến nơi đến chốn trước khi đặt giải pháp này nêu kiến nghị kia.11 Khỏi phải nói trong các trường hợp mà tác giả nêu ra, phiên âm luôn là một câu chuyện hết sức phức tạp. Nhưng chúng tôi tin rằng nếu ngày nay chả còn ai phân vân với phiên âm từ Hán Việt hay chê trách nói café, frein, chambre, enveloppe thành cà phê, phanh, săm/xăm, lốp thì cũng chẳng có gì mà phải yêu cầu đưa ngay những chữ cái gọi là “dùng lậu” ấy vào bản chữ cái tiếng Việt cả. Phiên âm là một vấn đề phức tạp, chúng tôi không đủ sức bàn. Chỉ xin dẫn lại ý kiến của GS Cao Xuân Hạo và xin được tỏ thái độ tán đồng:

Một khi “tiếng” đã được tháo rời ra thành âm, các văn bản tiếng Việt có thể sao đúng chính tả của bất cứ từ ngữ nào (đặc biệt là các tên họ) được viết bằng chữ La Tinh hoặc đã được chuyển tự sang hệ chữ La Tinh. Điều này làm cho việc phiên âm các tên họ của người nước ngoài trở nên hoàn toàn vô ích và thậm chí rất có hại, nhất là khi ta biết rằng theo thống kê sơ bộ hơn 90% các tên họ nước ngoài (kể cả người Pháp và người Anh) bị phiên âm sai chỉ vì người viết không biết đọc các tên họ ấy (chứ không phải vì quy tắc chính tả tiếng Việt không cho phép phiên âm đúng). Vả lại làm sao có thể biết đọc cho đúng tên họ của dăm trăm thứ tiếng trong nhân loại? Trong tình hình văn hoá của thế giới ngày nay, việc truyền thông, trao đổi được thực hiện chủ yếu là qua văn bản, cho nên chính tả quan trọng hơn phát âm rất nhiều. Cái thói phiên âm sinh ra do một định kiến hoàn toàn vô căn cứ (chưa bao giờ được kiểm nghiệm), cho rằng quần chúng ít học và học sinh không thể viết đúng và đọc đúng những từ như volt, watt, ampère hay những tên như Marx, Engels.” [4].

Để tạm gói lại vấn đề, xin dẫn ra đây trường hợp có khi là đã đồng thời liên quan đến cả hai chuyện “kì thị” và “dùng lậu” mà TS Lê Vinh Quốc đề cập: chữ W trong cách cách viết tắt bất hủ TW. Có thể lấy đó làm ví dụ cho việc “dùng lậu” (hiểu “lậu” theo nghĩa nào đi nữa – giấu diếm, ngoài luồng hay bất hợp pháp) hay không? Chuyện thực ra có lẽ là rất giản dị. Các văn bản hành chính đã được đánh máy bằng máy đánh chữ nhập ngoại và người ta dùng chữ W thay cho Ư không có trên bảng phím. Tất nhiên cũng có cách giải thích khác cho rằng đó là kết quả “rút gọn” của “uwowng” từ cách gõ kiểu TELEX. Thậm chí có người cho rằng W trong viết tắt TW về mặt đánh máy chữ  được tạo nên từ việc gõ hai lần chữ V tạo thành VV “mô phỏng” Ư. Dù thế nào đi nữa thì tình tiết cơ bản của câu chuyện vẫn là: “trung ương” viết tắt là TƯ12 và W thay cho Ư tạo thành cách viết tắt phổ biến TW. Liệu có thể nhìn nhận chuyện này thành chuyện “kì thị” Ư và “dùng lậu” W được không? Để rồi sau khi nhìn nhận thành như thế liền đi đến kết luận cần có giải pháp sửa đổi bảng chữ cái tiếng Việt? Thực ra chuyện có thể nói một cách giản đơn rằng, ở đây W đã trở thành kí hiệu của chữ Ư trong cách viết tắt TW thế thôi. Nói cách khác đó chỉ là câu chuyện giải pháp kĩ thuật mà thôi.13

Cách nói “những chữ cái bị kì thị” và “những chữ cái được dùng lậu” có thể được xem là một cách nói gây ấn tượng mạnh và khá thú vị. Nhưng suy cho cùng đó cũng chỉ là một cách mô tả hiện tượng. Sự mô tả hiện tượng đó không dính dáng gì cho lắm tới bản chất ngữ học của việc nhận diện trở lại bảng chữ cái tiếng Việt. Chúng tôi không thấy có gì là đích đáng khi đặt vấn đề đề nghị chuẩn hóa bảng chữ cái do chỗ có hiện tượng gọi là “kì thị” và “dùng lậu” hai nhóm chữ cái theo hình dung của TS Lê Vinh Quốc.

                                                                                           Hà Nội, 7- 2013

Chú thích

[1] Nghe nói ở Ý hai chữ J và W cũng đâu có chính thức được đưa bảng chữ cái, thậm chí bảng chữ cái tiếng Ý còn “khuyết thiếu” cả vài ba “chữ cái Latin” nữa (X, K, Y). Không rõ dân Ý có thấy bất an khi “dùng lậu” những từ có các chữ cái này không? Câu chuyện “chuẩn hóa” bảng chữ cái tiếng Việt mà TS Quốc đã nêu gọi gọn lại cũng là chuyện “tách tách nhập nhập”. Ông An Chi nhận xét “sinh sự sự sinh”. Chắc không ít độc giả cảm thấy rất ấn tượng trước một “đề tài ngiên cứu” như thế (chúng tôi cứ mạn phép viết chữ “ngiên” đúng theo quan điểm mà chính tác giả Lê Vinh Quốc có nêu trong bài – “Bỏ vần NGH, nhất loạt sử dụng vần NG (nge, xã hội chủ ngĩa)”.

2 Có “lậu” suy cho cùng là do có “kì thị” hoặc quy định độc quyền (ví dụ thời Pháp thuộc có “rượu ty” thì rượu dân nấu thành “rượu lậu”).

3 Đọc phần viết về những chữ cái bị kì thị những tưởng tác giả sẽ đề nghị dùng Ă, Â, Đ, Ê, Ô, Ơ, Ư vào việc ghi kí hiệu hàng ghế và đổi gọi “tam giác A-B-C” thành “tam giác A-Ă-”. Nhưng rồi đến khi đề xuất giải pháp “chuẩn hóa” bảng chữ cái thì tác giả lại đề nghị xem chúng chỉ là “phụ chú” của “bảng chữ cái cơ bản”.

4 Không ngại xem thêm lí giải về Đ/D/Dz của Nguyên Nguyên (bài “Năm Mùi, thử tìm hiểu chữ D (và Dz) trong tiếng Việt” – honque.com/HQ021/bKhao_nNguyen.htm‎). Các cắt nghĩa ngữ học cẩn trọng sẽ khiến độc giả lấy làm boăn khoăn trước những cách nói đại loại “Chữ Z được dân ta đặc biệt ưa thích nên một số người đã thêm nó vào tên của mình (Dzoãn, Dzếnh, Dzũng…), hoặc chêm vào từ thuần Việt (dzậy, dzũa, dzui dzẻ…)”.

5  Xem trên http://petrotimes.vn/news/vn/hoc-gia-an-chi-giai-dap/co-bi-ky-thi-hay-khong.html.

6 Cứ theo logic đó thì cũng nên chuyển cách nói “X-Y-Z” thành “V-X-Y”.

7 Đương nhiên các chữ cái tự thân chúng là để ghi âm – mỗi con chữ là một kí hiệu “ghi âm” nói ra/đọc lên được. Đó vốn là “bản mệnh” của chữ cái.

8 Giả tưởng tình huống có hội trường dùng các chữ Ă, Â, Ê đánh dấu hàng ghế cùng cửa ra vào và “em-xi” MC (microphone controller) sẽ gọi “mời nam đại biểu ở ghế “á” một (Ă1) và nữ đại biểu ở ghế “ớ” ba (Â3) ra cửa “ê” (Ê)…”! Không ngại giả tưởng thêm tình huống những kí hiệu chữ cái biến thể này bị phai/mờ/mòn/bay mất phần “râu/mũ” – phần mà khi ta sơn/khắc/đúc chúng người ta cũng đã thấy “thêm công thêm việc”. Như là những hình ảnh tri giác từ hệ thống, sự khác biệt hoàn toàn giữa các kí hiệu giúp người ta phán đoán dễ dàng hơn cả trong trường hợp bị hạn chế hay trở ngại trong quan sát.

9 Về lí mà nói nếu những người đánh dấu hàng ghế “nói thẳng” ra rằng họ chọn dùng dãy chữ Latin A, C, D, E, F, G, H, I, K, L, M, N, O, P, Q, R, S, T, U,… thì ta cũng không thể quy tội kì thị Ă, Â, Đ, Ê, Ô, Ơ, Ư cho họ được. Chuyện không phải là họ đã không dùng bảng chữ cái tiếng mình hay dùng bảng chữ cái tiếng mình mà cố tình gạt bỏ mấy chữ “đội mũ mang râu” Ă, Â, Đ, Ê, Ô, Ơ, Ư.  Câu chuyện tương tự như việc – ví dụ người Trung Quốc dùng dãy A, C, D, E, F, G, H, I, K, L, M, N, O, P, Q, R, S, T, U,… để đánh dấu hàng ghế trong nhà hát, hội trường mà không nghĩ tới chuyện đó là một sự  kì thị đối với – chẳng hạn dãy “甲乙丙丁(Giáp, Ất, Bính, Đinh,…) – 子丑寅卯 (Tí, Sửu, Dần, Mão,…)” của hệ thống can-chi truyền thống.

10 Gạt trường hợp “từ phiên âm” ra, ông Nguyễn Đức Dương phân chia một cách rất dễ theo dõi các trường hợp còn lại có chứa các chữ F, J, W, Z thành 5 trường hợp (xem Cấp “giấy chứng minh” cho bốn chữ cái, Tuổi Trẻ, ngày 7/5/2012). Chúng tôi tán thành cách đặt vấn đề cấp “giấy chứng minh” và nghĩ rằng thực tế sử dụng bốn chữ F, J, W, Z  (là những chữ không được dùng để ghi lại âm vị nào của tiếng Việt) này chả tới mức khiến ta phải nêu yêu cầu đưa chúng vào bảng chữ cái tiếng Việt.

11 Cá nhân chúng tôi chẳng kì thị gì sự phồn tạp nhiễu nhương hoặc dùng từ mới hơn  – “bựa” trong “thực tiễn” nói-viết giữa xã hội. FAFILM rõ là một lối viết lai ghép hổ lốn mà cách nói/đọc (giờ) GMT viết tắt của tiếng Anh thành “giê em-mờ tê” cũng là sự thường. Nhưng dù gì thì lúc nào cũng tồn tại một ranh giới giữa những cái thuộc vị trí bên lề, “dùng lậu” thực sự với những thứ chính thống, chuẩn tắc, không phận sự miễn “kì thị”.

12 Viết tắt TƯ không có dấu chấm cách giữa hai chữ gây đọc liền thành “tư” (“của tư” và “bốn”).

13 Chúng tôi tán đồng quan điểm chấp nhận F, J, W, Z  như là “yếu tố ngoại biên” (Trần Chút) và việc đưa chúng vào từ điển chỉ là để “mở rộng khả năng xử lý văn bản” (An Chi). Tương tự, “Nếu chỉ là việc “thêm các ký tự này” dùng cho “công nghệ thông tin” thì  không liên quan gì đến bảng chữ cái tiếng Việt. Môn học này, hay tài liệu giới thiệu về “công nghệ thông tin” chỉ cần nêu “phàm lệ” là đủ, không cần phải điều chỉnh bản chữ cái của tiếng Việt làm gì.” (Trần Trí Dõi). Có thể theo dõi lại các trích dẫn này từ bài “Xin để yên chữ quốc ngữ” của An Chi trên http://nhavantphcm.com.vn/doc-duong-van-hoc/an-chi-xin-de-yen-chu-quoc-ngu.html.

Tài liệu tham khảo

[1] Lê Thời Tân (2008), “Chữ cái La tinh: Phiên âm Hán ngữ và chữ Quốc ngữ Việt Nam”, Tạp chí Văn Hóa Nghệ An, số 132, 9/2008; Tạp chí Hợp Lưu, 107, tháng 9&10/2009

[2] An Chi (2011),  “Xin để yên chữ quốc ngữ”, Đương Thời, (35) – 2011.

[3] Nguyễn Đức Dương (2012), “Cấp “giấy chứng minh” cho bốn chữ cái”, Tuổi Trẻ, 7/5/2012.

[4] Cao Xuân Hạo (2003), “Mấy nhận xét về chữ Quốc ngữ”, Tiếng Việt văn Việt người Việt, Nxb Trẻ, 2003.

[5] Lê Vinh Quốc (2013), “Một số biện pháp để chuẩn hóa bảng chữ cái tiếng Việt”, Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM, (46) 5/2013.

[6] Lê Vinh Quốc (2012), “Những chữ cái bị kỳ thị”, Tuổi Trẻ, 3/5/2012.

Nguồn: Bản đăng trên Văn học nhà trường do tác giả gửi.Copyright © 2012-2014 – VĂN HỌC NHÀ TRƯỜNG

Leave a Reply