Từ vụ Bakhtin đến trường hợp Vưgotski. Marx, nhà tư tưởng về cá tính con người


Lucien Sève [i]

Có ai chưa từng nghe nói về Mikhail Bakhtin, tượng đài người Nga của tư tưởng tiền phong đương đại? Rằng khi còn rất trẻ (ông sinh năm 1895), Bakhtin đã xuất bản những tác phẩm đánh dấu lịch sử hình thành tư tưởng Marxist thế kỷ XX: một cuốn sách quan trọng về Học thuyết Freud (1927), một chuyên luận làm nên thời đại về Phương pháp hình thức trong nghiên cứu văn học (1928), rồi liên tiếp trong năm 1929 một cuốn sách mang tính cách tân triệt để, Chủ nghĩa Mác và triết học ngôn ngữ và một cuốn sách rất đáng chú ý về Dostoievski – bốn cuốn sách lớn trong vòng ba năm, một năng suất phi thường. Nhưng có một chi tiết gây tò mò: ba trong số các cuốn sách này được xuất bản không phải với chữ ký của Bakhtin, mà của Valentin Voloshinov, với hai cuốn Học thuyết FreudChủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ, và của Pavel Medvedev với cuốn Phương pháp hình thức trong văn học. Các môn đồ của Bakhtin giải thích cho chúng ta về bí ẩn này theo những cách khác nhau: là người cực kỳ hào phóng, có lẽ Bakhtin đã tặng một món quà hậu hĩnh cho hai người bạn đang không có công trình xuất bản, bằng cách gắn họ với những công trình mà vai trò tác giả của họ nhiều lắm cũng chỉ là thứ yếu; hoặc: không chấp nhận thay đổi văn bản theo yêu cầu của nhà xuất bản, ở một Liên bang Xô Viết đang trong quá trình Stalin hóa, có lẽ Bakhtin đã nhờ các bạn cho mượn tên… Nhưng trong mọi trường hợp, có một điều mà tất cả chúng ta được mặc định: tác quyền của các công trình này không nghi ngờ gì nữa có lẽ thuộc về Bakhtine (1).

Sự quả quyết, tuy vậy, hơi luẩn quẩn; nó đã trở thành chủ đề của biết bao nhiêu khảo sát, giả định và bút chiến kéo dài hàng thập niên; nhưng vẫn không hề làm suy suyển vinh quang của Bakhtin. Vì thế, nhiều người đã hết sức ngỡ ngàng – như trường hợp của tôi – khi  khám phá, vào năm 2003, tác phẩm đầu tiên của Bakhtin: những đoạn trích từ một “luận văn triết học” được viết, người ta nói, vào năm 1924, dưới nhan đề “Tiến tới một triết lý về hành vi” (2) Điều gây ngạc nhiên – rất mạnh mẽ – là định hướng tư tưởng của luận văn này mâu thuẫn căn bản với định hướng mà ta thấy trong các cuốn sách về học thuyết Freud, về phương pháp hình thức trong văn học, về triết học ngôn ngữ Marxist, và, thậm chí phần nào cả với cuốn Dostoievski trong phiên bản ban đầu năm 1929 của nó. Trong bốn cuốn sách được xuất bản giữa năm 1927 và 1929 – một sức sáng tạo đáng kinh ngạc, ta sẽ đồng ý về về điểm này… -, Bakhtin xuất hiện không chỉ như là một nhà tư tưởng với cảm hứng Marxiste sôi sục, mà còn là người sáng tạo trên thực tế theo hướng này. Thế nhưng cái “triết lý về hành vi” mà ông truyền giảng chỉ vài năm trước đó lại có xu hướng khác hẳn một cách ngoạn mục: trong đó chúng ta thấy tác giả suy tưởng, với âm hưởng đạo đức – tôn giáo, về ý thức tội lỗi trong một thế giới mãi mãi được đánh dấu bằng cái chết của Đức Kitô – một văn bản, như Bronckart và Bota đã chỉ ra, trong đó bộc lộ một người gần như đối nghịch với chủ nghĩa Marx: một người Slavophile[ii]… Những suy tưởng như vậy có thể khá tương đồng với dự án một cuốn sách về Dostoievski – tuy ít phù hợp hơn nhiều, trong trường hợp này, với cách nó được thực hiện trên thực tế -, nhưng quả thực hoàn toàn không tương thích với định hướng duy vật – lịch sử của các công trình về học thuyết Freud, lý thuyết văn học và quan niệm Marxist về ngôn ngữ. Đã lạ càng thêm lạ…

Chúng ta sẽ vẫn còn tin vào cái huyền thoại đã ngự trị trong hàng thập niên này, nếu như hai nhà giáo đại học hồ nghi người Geneva, Jean-Paul Bronckart và Cristian Bota, không bắt tay làm cho mọi việc cuối cùng phải sáng tỏ. Kết quả – một cuốn sách đầy ắp thông tin dày sáu trăm trang (3) – gây sững sờ. Từ đây hé lộ ra những biến cố và khám phá của cuộc điều tra hồi hộp tầm quốc tế – đọc nó ta có cảm giác đang đọc một cuốn tiểu thuyết trinh thám mà bối cảnh là giới khoa học nhân văn và những mưu mô ý thức hệ to lớn. Dù sao cũng xin nói đại ý về điều bí mật. Vào những năm bản lề của thập niên 1960 và 1970, ở một Liên Xô đang bắt đầu kỷ nguyên suy thoái Brezhnev, các đương sự, những kẻ thao túng người Nga, với sự đồng lõa từ đầu của bố già Bakhtin (chết năm 1975), dựng lên sự ca tụng ông ta, dựa trên những bằng chứng dối trá của Bakhtin mà họ đưa ra như thể đã được chứng minh đầy đủ, rằng các tác phẩm tranh cãi thực ra là của ông ta. Một thủ thuật tiện lợi, bởi lẽ cả Pavel Medvedev lẫn Valentin Voloshinov đều có ý tưởng hay ho là chết sớm vào thập niên 1930 – Voloshinov vì bệnh lao, còn Medvedev thì bị xử tử trong một đợt “thanh trừng” của Stalin. Bằng cách đó, người ta cướp trắng của Voloshinov và Mevedev những tác phẩm đích thực là của họ mà không gặp nguy hiểm gì… Thủ thuật này nhanh chóng được tiếp sức ở tầm mức cao tại phương Tây, đặc biệt là ở Pháp (nhờ công của Tzvetan Todorov) và Hoa Kỳ (nhờ công của M. Holquist): hai cái tên Medvedev và Voloshinov mất sạch uy tín, còn Bakhtin được tôn lên thành nhà lý luận vĩ đại nhất của ngôn ngữ học và văn học trong thế kỷ XX. Từ đó, cả một ngành “Công nghiệp Bakhtin” (“Bakhtin Industry”) được phát triển, rất thuận tiện mà lại nhiều lợi nhuận – Trường đại học tham gia vào, sách và các bài báo đem lại thu nhập, tiền tác quyền thu về… Điều mà người đọc khám phá ra khi đọc cuốn sách kỳ thú này, đơn giản là: nó có thể cạnh tranh để giành danh hiệu cú lừa đảo trí thức vĩ đại nhất thế kỷ XX.

Điều ẩn giấu đằng sau vụ Bakhtin 

Một điều đáng lưu ý: các tổ chức truyền thông lớn đã hào hứng chừng nào khi đóng góp vào vinh quang đang lên của Bakhtin, thì đến nay, họ lại nín thinh chừng ấy về sự bùng vỡ của quả bong bóng đầu cơ văn hóa này – đã hơn một năm kể từ khi được phát hành[iii], cuốn sách mặc khải của Jean-Paul Bronckart và Cristian Bota vẫn chưa được họ quan tâm đúng mức. Ngược lại, từ phía các môn đệ của Bakhtin, người ta đã không quên phê bình nó theo kiểu bới lông tìm vết. Trên Tạp chí thế giới Nga Serge Zenkin có một bài viết uyên bác dài[iv], điểm cuốn sách một cách khắt khe để cố khẳng định rằng “muốn chứng minh quá nhiều, J.-P Bronckart và C. Bota đã chẳng chứng minh được gì.” (4) Ở đây, chúng ta sẽ nhường cho các tác giả và người phê bình việc tranh luận và phản bác thêm trước các chuyên gia. Chúng ta sẽ chỉ bàn về cái gốc của vấn đề: có hay không, Bakhtin có phải là tác giả của những tác phẩm lớn ký tên Medvedev và Voloshinov, như huyền thoại về Bakhtin vẫn không ngừng khẳng định, hay không? Serge Zenkin buộc phải thừa nhận, mặc dù bằng những ngôn từ mà chúng ta phải ngưỡng mộ về  nghệ thuật dùng uyển ngữ: “Có một thời, đó thực sự là ý kiến áp đảo, nhưng bây giờ con lắc đã xoay chiều: ngày càng ít  người ủng hộ quan điểm coi Bakhtin là tác giả các “văn bản tranh cãi”; bản thân những văn bản ấy cũng được tái bản và nghiên cứu với tư cách là tác phẩm của những người ký tên khi chúng xuất hiện và không thấy có trong Tổng tập trước tác của Bakhtin”[v]. Hóa ra, điều chúng ta đang chứng kiến không phải là sự phá sản của một sự ngụy tạo, mà chỉ là một “sự trở lại của con lắc” đơn thuần cơ học… Trong mọi trường hợp, kết quả đã rõ, ngay cả với những môn đệ hiếu chiến của Bakhtin: Bakhtin, người đã đích thân tham gia vào trò bịp bợm văn học kếch xù này, không phải là tác giả của Phương pháp hình thức trong nghiên cứu văn học – cuốn sách đó chắc chắn là của Pavel Medvedev -, cũng không phải là tác giả của Học thuyết FreudChủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ – những cuốn sách này là của Valentin Voloshinov, không thể phủ nhận -, và thậm chí ngay cả cuốn Dostoievski, có lẽ, cũng có phần đóng góp đáng kể của các học giả Marxist trẻ tuổi về mặt định hướng lý luận (5), điều mà về sau Bakhtin, người rất xa lạ với chủ nghĩa Marx, sẽ phủ nhận. Có thật là Jean-Paul Bronckart và Cristian Bota đã “không chứng minh được gì”? Thật vậy ư? Ít nhất, họ cũng đã khẳng định được điều này: chúng ta đã chứng kiến một sự đánh tráo phi thường.

Bởi vì từ lâu nó liên quan không chỉ đến một trò gian xảo đơn thuần mang tính địa phương của một số tay bịp bợm văn học người Nga; vụ việc đã mở ra một quy mô đáng kể; tại những nước phương Tây chủ chốt, đặc biệt ở Pháp và Hoa Kỳ, như Jean-Paul Bronckart và Cristian Bota đã chỉ ra, nó thậm chí còn đạt đến tầm cỡ của một “cơn mê sảng tập thể”. Làm sao giải thích sự chuyển hóa một vụ biển lận di sản bẩn thỉu thành một hiện tượng tư tưởng – văn hóa quốc tế to lớn như vậy? Chính ở đây, không nghi ngờ gì nữa, câu hỏi trở nên hấp dẫn. Hãy xem xét sự việc gần hơn một chút. Các tác phẩm của Pavel Medvedev và Valentin Voloshinov rất đặc trưng cho chủ nghĩa Marx ở Liên Xô những năm 1920, một chủ nghĩa Marx trẻ trung, thám hiểm, sáng tạo, đôi khi thậm chí vượt lên trước hàng thập niên so với những trào lưu tư tưởng trước đó. Đồng thời, đó là thứ chủ nghĩa Marx hoàn toàn không mang tính sách vở, khác về bản chất thứ chủ nghĩa Marx của Stalin. Điển hình là trường hợp cuốn Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ của Voloshinov. Trong lời nói đầu cho ấn bản tiếng Pháp năm 1977, Roman Jakobson không tiếc lời ca ngợi một ông Bakhtin khi đó được người ta nghiễm nhiên coi là tác giả: khi đề cao tính “mới mẻ” và “độc đáo” của “kiệt tác” này, Jakobson viết rằng nó đã “thành công trong việc thúc đẩy các nghiên cứu ký hiệu học ngày nay tiến lên phía trước và giao cho chúng những nhiệm vụ mới có tầm vóc lớn lao.” (6) Vậy mà, những công trình hạng nhất này, thay vì được trưng bày ở Liên Xô như là những đóng góp xuất sắc của chủ nghĩa Marx cho khoa học nhân văn, lại đơn giản biến mất hoàn toàn khỏi sân khấu học thuật kể từ thập niên 1930, và hầu như không hề xuất hiện trở lại: Chủ nghĩa Stalin đã lướt qua, với tính giáo điều chết chóc của nó. Vì vậy, kể từ năm 1970, dịch và xuất bản những cuốn sách này ở phương Tây dưới tên Bakhtin không chỉ là một hoạt động trí tuệ tiện lợi mà còn là một thương vụ béo bở. Thêm nữa, đó cũng là sự chỉ trích ngầm hiệu quả nhất, bằng cách nói đổng, đối với chủ nghĩa Marx chính thống của cả Paris lẫn Moskva. Roman Jakobson, chẳng hạn, trong lời nói đầu ngắn viết cho cuốn sách về triết học ngôn ngữ, chỉ cần dùng một từ để nói đến “chính sách ngu dân” mà “nhà nghiên cứu lỗi lạc”, tức tác giả cuốn sách, phải đối mặt, là đủ để tạo ra một hiệu ứng tối đa ở các độc giả có học phương Tây.(7) Vụ Bakhtin hoàn toàn không phải là cấu phần văn hóa nhỏ nhất của một chuỗi những vụ thanh trừng sâu rộng mà hiệu ứng cuối cùng là sự sụp đổ của Liên Xô.

Nhưng từ thời điểm các môn đồ của Bakhtin quyết định đi xa hơn và cuối cùng để lộ ra tư tưởng thật, mang tính tôn giáo, ở vĩ nhân của họ, đặc biệt với việc xuất bản cuốn Tiến tới một triết lý về hành vi, cái huyền thoại kia đã bị xói lở không gì ngăn cản được. Một khi đã phát hiện ra rằng bản chất của Bakhtin từ đầu đến cuối là một nhà tư tưởng tôn giáo, rằng ông ta thậm chí dị ứng và thù địch với chủ nghĩa Marx, mà bằng chứng, trong số những bằng chứng khác, là những chỉnh sửa ông ta thực hiện trong lần tái bản năm 1963 cuốn Dostoievski, thì cái giả thuyết rằng ông ta là tác giả đích thực của các công trình của Medvedev và Voloshinov đương nhiên mất hết tính khả tín. Serge Zenkin công nhận rằng các công trình này không thể là một phần trong tổng tập tác phẩm của Bakhtin, nhưng vẫn cố gắng dùng một thủ thuật cuối cùng để giải cứu cho cái huyền thoại kia bằng cách nói đến một sự “thần kỳ”: “Tất nhiên, Zenkin viết, […] Bakhtin đã phải trải qua một bước tiến hóa nhanh một cách thần kỳ – từ một thứ triết học hiện tượng luận và tôn giáo đến các khoa học nhân văn khách quan và xã hội luận…”[vi] – thuật ngữ sau cùng này cho thấy cách tác giả mô tả chủ nghĩa Marx… Nhưng nhân danh sự “thần kỳ” này – từ một người Slavophile triệt để năm 1924, Bakhtin trở thành một nhà Marxist đầy sáng tạo vào năm 1927 – để thuyết phục những ai có tinh thần phê phán thì thật khó có cơ hội thành công.

Đột nhiên, thái độ các môn đồ của Bakhtin về các cuốn sách, mà tác quyền nay phải phục hồi cho Medvedev và Voloshinov, xoay ngược hẳn lại: khi được gán cho Bakhtin, đó là những kiệt tác; từ khi Bakhtin không còn là tác giả, người ta bỗng phát hiện ra rằng không nên đánh giá chúng quá cao, và thêm nữa, thực ra, đó là thứ chủ nghĩa Marx kém cỏi hơn nhiều so với những gì người ta từng nói. Theo hướng này, Serge Zenkin trích dẫn một văn bản mới đây của Patrick Sériot về cuốn Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ. Nếu đọc một cách không định kiến, tác giả này nhận định, “đó là thứ chủ nghĩa Marx thô sơ“, đó là thứ chủ nghĩa Marx bị quy giản thành một “Nguyên tắc thu gọn của nhất nguyên luận duy vật”, một thứ chủ nghĩa Marx “không có biện chứng”, không có “tư tưởng” (“theo nghĩa của Hệ tư tưởng Đức“), và cũng “không có cả đấu tranh giai cấp lẫn cách mạng” (8)… Quay ngoắt 180° so với thái độ nhiệt tình của Roman Jakobson… Ở đây, chúng ta sẽ không dấn sâu vào một cuộc tranh luận thứ cấp xung quanh sự đánh giá mới lạ này về cuốn Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ. Chúng tôi chỉ nói điều này: vào năm 1929, nhà nghiên cứu trẻ Voloshinov đã quả cảm biết chừng nào khi khởi sự khai phá một miền đất mới của ngôn ngữ học, nhất là khi ông không hề có một tấm bản đồ; như Voloshinov đã viết trong dòng đầu tiên của Lời nói đầu, “Cho đến nay, vẫn chưa có một tác phẩm Marxist nào về triết học ngôn ngữ”. Và những vấn đề mà ông tiên phong nhận trách nhiệm làm sáng tỏ – một cách vừa say mê vừa mò mẫm, trái ngược hẳn những nỗ lực trường ốc cứ muốn nhồi nhét ngôn ngữ vào những chiếc hộp của một học thuyết đã được xác lập trước – vào thời đó, là những vấn đề hoàn toàn mới, được đặt ra bởi các mối quan hệ biện chứng – không nhìn thấy phép biện chứng ở đây thì thật đáng kinh ngạc – giữa ký hiệu và ý nghĩa, ngôn ngữ và lời nói, lời dẫn trực tiếp và lời dẫn gián tiếp v.v…, và qua những vấn đề ngôn ngữ – tâm lý học này là những vấn đề khái quát hơn về mối quan hệ giữa hoạt động tâm thần, tư tưởng với cơ sở xã hội, những vấn đề gắn liền với – Voloshinov đề cập một cách rõ ràng – đấu tranh giai cấp… Chỉ cần có một chút ý niệm về tình trạng gần như bằng không trong nghiên cứu về chủ nghĩa Marx ở phương Tây, chẳng hạn ở Pháp, vào năm 1929, ta cũng có thể đánh giá được, tác phẩm này là một ví dụ tiên phong xuất sắc đến mức nào của chủ nghĩa Marx sống động.

Nhưng đó đích xác là điều mà vụ Bakhtin trên thực tế đã giúp xuyên tạc, và thậm chí, hiện nay, hạ thấp giá trị. Bởi lẽ, cái kết luận, trực tiếp hay không, mà ngành “Công nghiệp Bakhtin” đã chưng cất được trong nhiều thập kỷ, đó là: những người theo chủ nghĩa Marx không nên nhắc đến những tác phẩm Nga thập niên 1920 đó để chứng minh những đóng góp phong phú của xu hướng tư tưởng Marxist cho khoa học nhân văn, vì hai lý do, đó là từ lâu những cuốn sách này đã bị xếp vào tủ ngay cả ở Liên Xô và, hơn thế nữa, chúng là tác phẩm của một tác giả mà tư duy thực sự chí ít cũng không phải như họ tưởng tượng[vii]. Ngày nay, có lẽ còn vì lý do là sự giảm giá của các văn bản lâu nay được ca tụng, khi người ta buộc phải hết tin Bakhtin. Và thêm nữa, vì toàn bộ vụ việc, như Jean-Paul Bronckart và Cristian Bota đã chỉ ra một cách đầy đủ, đồng thời dựa trên sự bịp bợm của những người tôn vinh Bakhtin và trên cơn mê sảng tập thể của những người tham gia việc tôn vinh đó, những điều rất không tiện quảng bá.

Từ vụ Bakhtin đến trường hợp Vygotsky

Những người biết, dù chỉ chút ít, về trước tác của nhà tâm lý học Liên Xô xuất sắc Lev Vưgotski (1896-1934), không thể không nhận thấy sự tương đồng giữa ông với Voloshinov, tác giả của Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ. Có cảm giác đó là một cặp trí thức song sinh. Cùng tuổi (Voloshinov, cũng như Vưgotski, sinh năm 1896, nếu không cũng là 1895) và cùng có số phận bi thảm (cả hai chết vì lao phổi ở cuối độ tuổi ba mươi); họ làm việc trong cùng một lĩnh vực mang tính khái quát – mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn văn hóa – xã hội và hoạt động tâm thần cá nhân – với cùng một cách hiểu về những bài học của Marx, đối lập với cách hiểu giáo điều kinh viện; với cùng một cách tiếp nhận những gì được coi là năng sản trong các ngành khoa học nhân văn, bao gồm cả Freud; với cùng một sức sáng tạo trong việc khai phá những miền đất còn khá xa lạ. Người ta tự hỏi, làm sao họ lại có thể không quen biết nhau, hình như thế, mặc dù họ có trích dẫn nhau – Voloshinov trích dẫn bài báo “Ý thức như là một vấn đề của tâm lý học ứng xử” của Vưgotski trong cuốn sách của ông về học thuyết Freud và trong văn bản dài năm 1930, “Tâm lý, ý thức, và vô thức.” (9) Vưgotski trích dẫn và đánh giá cao Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ của Voloshinov, điều người đọc không hề biết, lý do là nhà xuất bản Liên Xô đã xóa trích dẫn này mà không chú thích trong lần tái bản hồi thập niên 1980 – nửa thế kỷ sau, Volochinov – “Bakhtin” vẫn chưa tồn tại… Chi tiết nhỏ bé này đặt chúng ta vào con đường dẫn tới một sự kiện quan trọng. Bằng một cách khác với vụ Bakhtin, nhưng trường hợp Vưgotski vẫn đưa chúng ta đến ba nhận xét chung: tính năng sản sáng tạo tuyệt vời của chủ nghĩa Marx ở Liên Xô trong thập niên 1920; sự hủy diệt tính sáng tạo này bởi quá trình Stalin hóa trong thập niên 1930; tiếp theo là sự phủ nhận ít nhiều tinh vi tính sáng tạo đó, trong nửa sau của thế kỷ, bởi lý luận phản Marxist phương Tây. Trước tác và số phận của Vưgotski, cho đến tận hôm nay, là những minh họa không thể tốt hơn về ba nhận xét này.

Nhận thức rõ hơn ai hết, ngay từ giữa thập niên 1920, mức độ sâu sắc của cuộc khủng hoảng tâm lý học, dù lúc đó đang có những tiến bộ đáng chú ý bậc nhất, Vưgotski đưa ra một cách phân tích mới mẻ (10): có sự phân ly đầy kịch tính giữa một thứ tâm lý học muốn là duy vật nhưng chỉ có khả năng nghiên cứu các tập tính sơ đẳng, và một thứ tâm lý học có bản chất sâu xa là duy tâm, nhưng về phần mình, lại từ chối đi xa hơn một hiện tượng học về các ứng xử phức tạp; lối thoát cho cuộc khủng hoảng này cuối cùng là một sự giải thích duy vật về các chức năng tâm thần bậc cao. Tại Viện tâm lý học Moskva, nơi Vưgotski làm việc, nhiệm vụ này được hiểu là phải tạo ra một nền “tâm lý học Marxist”, một công thức mà ông phê phán triệt để. Không thể có một thứ tâm lý học Marxist, giống hệt như không thể có, chẳng hạn, một ngành khoáng vật học Marxist; vì vậy, cái mà chúng ta cần là một nền tâm lý học khoa học, đơn giản như vậy. Nếu ai đó tưởng tượng rằng có thể đạt được điều đó bằng cách sơn phết những câu trích dẫn Marx lên một nền tâm lý học phi khoa học, thì người đó đang có một một ảo tưởng thô lậu. Thêm nữa, không có, không thể tìm thấy trong Tư bản của Marx cái tâm lý học đã hoàn chỉnh mà chúng ta tìm kiếm: không ở đâu có khoa học trước khoa học. Điều vô cùng quý giá mà nhà tâm lý học tìm thấy trong Tư bản, đó là cái hoàn toàn khác: trước hết, đó là một kiểu mẫu đầy tính gợi ý trong việc phê phán một ngành khoa học đang khủng hoảng, ngành kinh tế chính trị, và việc khắc phục cuộc khủng hoảng này bằng cách sáng tạo ra một quan niệm mới thích hợp – đó chính xác là những gì cần phải làm với tâm lý học; và còn trực tiếp hơn nữa, với sự phân tích lao động sử dụng công cụ, bộ Tư bản gợi cho ta một con đường cực kỳ năng sản trong nghiên cứu để nhận thức, theo quan điểm duy vật, một chức năng tâm lý cao cấp là gì: một hoạt động được trung gian hóa (activité médiatisée) không chỉ bằng công cụ, mà còn bằng ký hiệu. Bằng cách nghiên cứu ký hiệu đó, chúng ta có thể hiểu được sự kiểm soát hành vi, hành động tự nguyện, động cơ được phản ánh, và thậm chí là tính cách cá nhân. Điều Vưgotski đã làm hoàn toàn không phải là đặt nền móng cho một nền “tâm lý học Marxist” bánh vẽ, mà là vạch ra một con đường cực kỳ hiệu quả cho một nền tâm lý học thông minh, giống hệt như con đường mà Voloshinov vạch ra cho một nền ngôn ngữ học sáng suốt, hoặc Medvedev – cho một nền phê bình văn học sắc sảo. Và chính bằng cách này, họ tạo nên hình hài của một chủ nghĩa Marx sống động.

Nhưng đó cũng chính là điều không thể tha thứ đối với hệ thống Stalinist, dựa trên sự tập trung toàn bộ quyền lực nhà nước tối cao vào một nhà độc tài, người nói với nhà nghiên cứu Marxist: việc của anh không phải là suy nghĩ độc lập, hãy bằng lòng với việc sắp đặt kiến thức của anh vào những hình thức đã được chỉ định, nếu không muốn điều tồi tệ nhất xảy ra. Vưgotski là một nhà Marxist hết sức sáng tạo, lại thêm gốc Do Thái, nhưng cũng mắc bệnh lao, nên đã thoát khỏi trại cải tạo của Stalin, nhiều khả năng chính nhờ chết rất sớm, vào năm 1934, giống như Voloshinov, người cũng chết vì bệnh này vào năm 1936. Trong khi đó, Medvedev và David, người anh em họ của Vưgotski, cũng là một trí thức Marxist tích cực gốc Do Thái, trở thành nạn nhân của những cuộc đại thanh trừng. Người ta đã nói đủ điều về quy mô những tội ác của Stalin, cũng như về sự nghèo nàn lý luận của thứ chủ nghĩa Marx bị Stalin hóa. Nhưng chắc chắn, người ta vẫn chưa tổng kết được di sản khổng lồ của lý luận Marxist ở Liên Xô thập niên 1920, đã được báo trước ngay từ trong cơn bùng nổ tri thức đầu thế kỷ, thời điểm Cách mạng 1905. Và theo tôi, chúng ta vẫn còn chưa đánh giá đúng mức sự nở rộ phi thường của những ý tưởng mới mẻ được khơi dậy bởi cuộc Cách mạng Tháng Mười 1917 mà không lâu nữa chúng ta sẽ kỷ niệm một trăm năm. Nếu thử đánh giá sơ bộ về những gì đã phôi thai ở Nga trong phần ba đầu tiên của thế kỷ XX – từ các khoa học nhân văn đến sáng tạo thi ca, văn học, sân khấu, hội họa, âm nhạc hay điện ảnh, từ các sơ sở của khoa học vũ trụ và các lý thuyết phi tuyến tính đến khoa học giáo dục (11) – người ta sẽ không thể không có một ấn tượng mãnh liệt. Xuyên qua những biến động xã hội chưa từng có và một cuộc nội chiến đẫm máu bậc nhất, động lực tuyệt vời của ý tưởng “cải biến thế giới” đã nâng tinh thần biết bao người vượt lên chính mình và thúc đẩy họ đến tận cùng sáng tạo. Khi đánh giá những gì chủ nghĩa Stalin đã phá hủy, cần phải dùng thước đo này: một trong những thời kỳ sáng tạo văn hóa rực rõ nhất của lịch sử hiện đại, và ở trung tâm của toàn bộ tính sáng tạo ấy có cảm hứng từ Marx. Chúng ta hãy đọc, hoặc đọc, lại chương cuối tuyệt vời trong cuốn sách cuối cùng của Vưgotski, Tư duy và ngôn ngữ (12), kết quả dang dở của một sự suy tư rộng lớn về ký hiệu và ý nghĩa được ông đọc trên giường trước khi mất: tác giả của nó vừa được chôn cất, công trình tràn trề tính năng sản này đã bị xếp xó trong nhiều thập kỷ. Đúng như Lautréamont từng nghĩ: tất cả nước biển khơi cũng không đủ để rửa sạch một vết máu trí tuệ.

Trường hợp của Vygotsky hết sức điển hình không chỉ cho những tai ương đầy kịch tính do chủ nghĩa Stalin gây ra, mà cho cả những điều ngu ngốc kéo dài mà nó để lại cho những người kế tục, trừ Gorbachev, cho đến tận thời đại nước Nga ngày nay của Putin. Phải mất năm mươi năm để cuối cùng cũng xuất hiện ở Moskva cho dù không phải toàn tập thì ít nhất cũng là một bộ tuyển đáng kể gồm sáu tập tác phẩm của Vưgotski; chưa hết, ấn bản được chờ đợi quá lâu này còn phải có chất lượng in đáng xấu hổ, hoàn toàn không được phê bình giới thiệu, nhan nhản những lỗi, và còn nguyên những dấu kiểm duyệt cũ… Vì Vưgotski đã trở thành một vinh quang toàn cầu của tâm lý học, người thừa kế hiện nay của kho lưu trữ gia đình hiểu rõ bà ta đang sở hữu một kho báu như thế nào; bà ta đã ký, như một doanh nhân chín chắn, một hợp đồng độc quyền với một nhà xuất bản lớn của Canada; nhà xuất bản này vẫn chưa thực hiện bất kỳ một ấn phẩm mới nào, nhưng đã bỏ hòm riêng khóa chặt, với giá hời, một di sản tác phẩm còn rất ít được khám phá – kết quả đáng kinh ngạc của một sự nghiệp trí tuệ lớn sinh ra dưới nhãn hiệu của một thái độ quyết liệt chống chủ nghĩa tư bản.

Nhưng số phận dành cho trước tác của Vưgotski ở các nước phương Tây chủ chốt nói chung cũng không hề vinh quang hơn. Người bạn và cộng sự của Vưgotski, Alexander Luria, cũng là một nhà nghiên cứu tâm lý thần kinh nổi tiếng, hồi thập niên 1960, chắc chắn đã thuyết phục được các nhà tâm lý học Bắc Mỹ về giá trị đặc biệt trong tư tưởng độc đáo của Vưgotski; nhưng kết quả đầu tiên từ đó là việc nhà xuất bản danh tiếng MIT Press công bố vào năm 1962 tại Hoa Kỳ cuốn Tư duy và ngôn ngữ qua một bản dịch khiến ta sững sờ: cuốn sách khoảng một triệu từ này bị cắt bớt hai phần ba, thành một phiên bản thiếu nhiều sự triển khai cả phê phán lẫn thí nghiệm, bị cắt cụt một cách đáng hổ thẹn gần như mọi dẫn chiếu đến chủ nghĩa Marx… Năm 1978, một số nhà nghiên cứu khác ở Hoa Kỳ cho xuất bản dưới nhan đề Mind in society một toát yếu các tác phẩm của Vưgotski bị xử lý theo cách mà các tác giả phải tự thừa nhận là “làm đồ dởm” (“tampering”) (13), và định hướng của nó là phết một cách không biết ngượng lên tư tưởng tâm lý học của Vưgotski những màu sắc văn hóa Anglo-Saxon điển hình, làm sai lạc bản chất của nó (14). Trường hợp nước Pháp thậm chí còn tồi tệ hơn. Vào giữa thập niên 1980, khi Vưgotski đã được biết đến, thậm chí được công nhận, hầu như trên toàn thế giới, từ Mỹ tới Nhật Bản qua nhiều nước châu Âu, vẫn không có cuốn sách nào của Vưgotski được dịch ra tiếng Pháp – năm mươi năm sau khi ông qua đời… Ta cảm thấy ở đây không chỉ có sự sơ xuất, tôi hiểu điều đó khi nói chuyện với người bạn lớn của Vưgotski, nhà tâm lý học Xô Viết Alexis Leontiev, nói tiếng Pháp và  yêu nước Pháp, người đã tỏ ra rất buồn trước tình trạng đó. Khi đó còn lãnh đạo Editions sociales, một nhà xuất bản cộng sản với nguồn tài chính hạn hẹp, tôi đã nhận trách nhiệm chấm dứt tình trạng đáng trách này (15). Nhưng nếu nỗ lực xuất bản này đã thúc đẩy đáng kể phong trào nghiên cứu chuyên sâu về Vưgotski ở Pháp (16), thì nó lại vấp phải, thậm chí cho đến tận hôm nay, sự bàng quan có hệ thống rất đáng lưu ý của giới truyền thông. Hơn hai mươi lăm năm sau khi Tư duy và ngôn ngữ được xuất bản bằng tiếng Pháp, tiếp đó là khoảng mười lăm cuốn sách của, hay về, ông, một tờ báo như Le Monde vẫn chưa một lần nhắc đến tên Vưgotski. Một ví dụ hùng hồn, trong số rất nhiều ví dụ khác, về sự phân biệt văn hóa đầy ngoan cố cần phải xem lại.

Marx và cá tính con người

Hãy trở lại với cái từ khinh khỉnh mà Serge Zenkin sử dụng để mô tả những gì ông phán là định hướng tư duy của Medvedev và Voloshinov trong các nghiên cứu Marxist của họ: đó là những tác phẩm “xã hội luận”. Cái sáo ngữ không thể chấp nhận này đã nói lên tất cả về cái bị coi là bản chất tư duy của Marx: sự quy giản liều lĩnh “tính  người” thậm chí không phải về “tính xã hội”, mà về  một thứ “xã hội luận” thô lậu, nghe như một thứ chủ nghĩa tập thể tinh thần bàng quan với tính cá nhân, một thứ chủ nghĩa khách quan mù tịt về tính chủ thể, tóm lại, một quan niệm vô nhân tính về con người. Chúng ta có thể đoán được nó sẽ cái dạ con sản sinh ra thứ thực tiễn chính trị nào – đối mặt với nó chủ nghĩa cá nhân tôn giáo sẽ nổi lên vì danh dự bất diệt của mỗi chúng ta. Và người ta bị bắt buộc phải đồng ý, không chỉ rằng chủ nghĩa Stalin thực sự là một hình thức đặc biệt dã man của sự phi cá nhân hóa, mà còn rằng, ở chính thượng nguồn của tai biến này, cái được gọi là “chủ nghĩa Marx” bị trình bày một cách không biết xấu hổ như là sự đề cao một chiều giá trị của “tính xã hội”, sự hô hào tập thể hóa một cách liều lĩnh, gửi trả cá nhân vào chủ nghĩa cá nhân tư sản và con người vào hệ tư tưởng tôn giáo. Ví dụ đặc trưng, trong số rất nhiều ví dụ khác, là dấu bằng mà Bukharin đặt vào giữa chủ nghĩa Marx và “xã hội học tổng quát”, và nếu nhiều nhà Marxist xuất sắc, như Gramsci, đã đứng lên chống lại sự đơn giản hóa này, thì ta cũng phải thừa nhận rằng đó không phải để đề cao cá nhân so với các mối quan hệ xã hội. Rõ ràng là có ác ý trong sự đồng nhất hóa như vậy giữa chủ nghĩa Marx với “xã hội luận” thuần túy và chất phác, điều đó không có gì phải nghi ngờ, nhưng cũng không ai có thể phủ nhận rằng trong một thời gian quá lâu, chính những người Marxist cũng đã làm cho nó có vẻ hợp lý bằng cách họ quan niệm, trình bày và ứng dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Vậy mà, vấn đề không chỉ là ở chỗ cái xã hội luận một chiều của chủ nghĩa Marx ấy không chảy ra từ cội nguồn tác phẩm của Marx, mà còn ở chỗ nó phản bội tác phẩm của ông một cách hiển nhiên đến mức người ta phải tạo ra cho nó cả một sự giải thích mang tính lịch sử. Chúng ta sẽ không bàn ở đây một vấn đề lớn xứng đáng được bàn, vấn đề tư tưởng của Marx về cá tính con người (17), mà chỉ chỉ ra bằng những nét lớn, rằng ngay cả ở lĩnh vực này, Marx cũng thật xa lạ với cách hiểu phổ biến[viii] đã bị gán quá lâu cho “Chủ nghĩa Marx”. Tất cả bắt đầu, theo nghĩa nào đó, vào năm 1845, với một văn bản cực kỳ quan trọng, đó là Luận cương về Feuerbach, mà điểm thứ 6 tuyên bố rằng “bản chất con người” – nói cách khác, những gì làm cho chúng ta trở thành con người như chúng ta đang là – “không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”. Nếu đọc một cách phiến diện, tuyên bố này sẽ dẫn đến kết luận rằng thay vì chú ý đến cá nhân, ta cần phải chuyển toàn bộ sự chú ý sang các mối quan hệ xã hội. Tư tưởng của Marx là hoàn toàn khác, như nó được thể hiện đầy đủ vào năm sau, trong Hệ tư tưởng Đức: bí ẩn của cá nhân văn minh không nằm ở một cái “bản chất” tưởng tượng bên trong nó, mà ở trong tính nhân loại được khách quan hóa, tức là “tổng hòa những quan hệ xã hội”; nhưng chính trong khi thu nạp các quan hệ xã hội, bao giờ cũng bằng những cách riêng biệt, mà mỗi cá nhân biến bản thân mình thành một con người được phát triển một cách lịch sử, sự phát triển cũng là “cứu cánh tự thân” duy nhất của lịch sử.” (18) Xu hướng duy nhất của lịch sử, trên thực tế, với Marx, là xu hướng mà chúng ta trao cho nó khi làm cho sự phát triển tự do và đầy đủ của mỗi cá nhân trở thành cứu cánh tự thân. Đó là lý do tại sao trong Hệ tư tưởng Đức ông trình bày quan niệm của ông về xã hội cộng sản như là “xã hội duy nhất mà trong đó sự phát triển tự do của các cá nhân theo ý hướng của họ không phải là một cụm từ trống rỗng.” (19) Đó là lý do tại sao chúng ta đọc thấy trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản một câu không thể hình dung nổi đối với những ai coi chủ nghĩa Marx là một “xã hội luận”, rằng trong xã hội không còn giai cấp, “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cần thiết cho sự phát triển tự do của mọi người”. (20) Và đó cũng là lý do tại sao, cả ở cuối Quyển I, bộ Tư bản, khi tóm tắt bằng một câu kết quả của sự tước đoạt những kẻ tiếm đoạt tư bản chủ nghĩa, Marx mô tả nó – thoạt nhìn có vẻ nghịch lý – như là sự phục hồi “sở hữu tư nhân” (21) thông qua “sở hữu chung về đất đai và các phương tiện sản xuất”, trái ngược hẳn sự tập thể hóa do nhà nước tiến hành, tước đoạt quyền sở hữu của những người sản xuất trực tiếp: trong chủ nghĩa cộng sản, mỗi người đều phải đích thân trở thành đồng-sở-hữu-chủ của các  nguồn lực công.

Chỉ riêng phát hiện tối quan trọng này, mà trở nên hiển nhiên nhờ Vưgotski – theo đó chính với tư cách một sinh thể có bản chất xã hội mà con người mang đậm tính cá nhân – đã cho phép ta hiểu rằng trước tác của Marx rất năng sản, không chỉ trong lĩnh vực của các khoa học xã hội – kinh tế học, xã hội học, chính trị học, sử học… – mà hoàn toàn không kém năng sản trong lĩnh vực tri thức về cá nhân – tâm lý học, tâm thần học, tâm phân học, ngôn ngữ học tâm lý, xã hội học tâm lý, tiểu sử học tâm lý… Theo nghĩa này, chúng ta không ngần ngại nói rằng cách đọc Marx của Althusser, dù không quên những gì chúng ta phải chịu ơn ông, từ lâu đã truyền bá một phiên bản bị cắt xén nghiêm trọng của chủ nghĩa duy vật lịch sử, bị cắt lìa khỏi chiều kích nhân chủng học mà việc khôi phục lại có tầm quan trọng hơn hết. Quan trọng không chỉ về mặt lý thuyết, mà, thậm chí còn cấp bách hơn, cả về mặt đường lối. Bởi vì chúng ta biết rõ rằng đường lối này bị coi là đường lối Marxist duy nhất, được hình thành vào thời điểm của giai cấp vô sản thời của Germinal[ix], một đường lối nhìn giai cấp công nhân như một khối vô danh, mạnh nhờ số đông, một đường lối ngoại thuộc (hétéronomique), đặt ý nghĩa của cuộc đấu tranh bên ngoài người tranh đấu, trong một học thuyết bác học, một bộ tham mưu tự xưng, và về sau, trong một nhà nước toàn trị; chúng ta biết rõ tầm vóc anh hùng lớn lao cũng như sự đói khổ tột cùng phát sinh từ đó. Cũng chính vào thời đại đó, “chủ nghĩa Marx” bị nhiều người quy giản khủng khiếp thành thứ «xã hội học tổng quát”. Thiên tài của Marx, trái lại, là đã phát hiện ra ngay trong chủ nghĩa tư bản thời đại Victoria – bằng những phân tích cực kỳ sâu sắc về cái sẽ được gọi là sự xâm nhập của khoa học vào sản xuất và về những gì đã được sáng kiến của các chiến sĩ Công xã Paris dự báo – xu hướng chủ đạo của lịch sử hiện đại hướng tới sự phát triển toàn diện của cá nhân người lao động; và đã hình dung về chủ nghĩa cộng sản như là kết quả của xu hướng đó, tức là như là tính độc lập liên đới (autonomie solidaire) của các cá nhân hành động của nó: “Sự giải phóng người lao động sẽ là sự nghiệp của chính người lao động.” Như Isabelle Garo đã phân tích rất hay trong một tác phẩm gần đây (22), “sự chủ thể hóa[x] tập thể chỉ có thể có là cái đi kèm với sự cá nhân hóa tích tụ của các cá nhân, trong khi kiến tạo nên ý thức phê phán của riêng họ và tham gia vào một cuộc đấu tranh không do ai áp đặt.” (23) Bởi lẽ, với Marx, “dứt khoát phải đoạn tuyệt cách nghĩ về tính tập thể, bất kể nó như thế nào, như là cái tiên quyết trong quan hệ với cá nhân.” (24) Vì vậy, nhiệm vụ cải biến thế giới của chúng ta ngày nay có tầm quan trọng to lớn: Chúng ta sẽ chỉ có thể khắc phục được sự tha hóa lịch sử đáng sợ hiện nay bằng cách phát huy cao độ tính chủ động giải phóng trong mỗi người, để xây dựng của một cái “mọi người” khác hẳn về chất.

Nhưng chúng ta cũng hiểu rõ tại sao chiều kích quan yếu này trong tư tưởng của Marx lại đích thị là cái không thể chấp nhận được đối với lý luận phản Marxist, hoặc nếu dùng thuật ngữ của Ricoeur, đối với lý luận phi Marxist (amarxisme). Chuyện sẽ đi đến đâu nếu như mọi người thấy rõ rằng Marx không đơn thuần là nhà tư tưởng kiên định nhất của chủ nghĩa cộng sản, mà ông, nói một cách khái quát, còn là nhà tư tưởng đáng tin cậy nhất của lý thuyết về nhân cách, hay đúng hơn: ông là một lý thuyết gia sáng chói về sự giải phóng xã hội – lịch sử đơn giản vì ông đồng thời cũng là lý thuyết gia của chính phong trào vì tự do phát triển cá nhân – tiểu sử? Sẽ không còn cái lý do tiện lợi để tiếp tục bấu víu lấy cái thế giới tự do kinh doanh… Đó là lý do sâu xa, tại sao điều bị cái ý thức hệ “thống trị vô độ” («immensément dominante») (25) kìm nén một cách khó hiểu nhất trong các nghiên cứu mang cảm hứng từ Marx, đó là những gì liên quan đến cá nhân, đến tâm thần, đến tính chủ quan. Một tác phẩm năng sản của một nhà nghiên cứu Marxist về triết học ngôn ngữ ư? Chắc chắn là có một thủ đoạn gian trá… Một quan niệm mới về các chức năng tâm thần cao cấp ở một nhà tâm lý học Xô Viết ư? Chắc chắn là chẳng có gì đáng chú ý… Những đóng góp có giá trị hạng nhất cho nhận thức về con người đã bị nền văn hóa của chúng ta kỳ thị như vậy, và tình trạng có nguy cơ còn trầm trọng hơn nữa, nếu như chúng ta không can thiệp một cách mạnh mẽ, xét sự thống trị hiện nay của nền nhân học Anglo-Saxon vốn rất xa lạ với văn hóa Marxist. Những mất mát về lý thuyết và thực tiễn vì lý do này, chúng ta có quá nhiều ví dụ, từ sự ngu ngốc tệ hại kéo dài của quan niệm tất-cả-do-gien, đến sự xóa nhòa vô trách nhiệm ranh giới giữa tâm thần của linh trưởng hoang dã và của con người xã hội. Trước tác của Vưgotski, thật tệ hại, vẫn ít được biết ngoài một nhóm nhỏ các chuyên gia – cả Sartre, cả Foucault, cả Ricoeur, cả Bourdieu đều chưa từng đối diện với tư tưởng của ông trong suy tư của họ về ý thức và tiểu sử – chúng ta đã đánh mất rất nhiều, nhưng họ cũng vậy…

Vâng, quả thực, chúng ta cần phải gấp rút phổ biến tư tưởng của Marx về tính cá nhân và tính chủ thể.

Ngô Tự Lập dịch từ tiếng Pháp 

 (Nguyên bản: http://www.contretemps.eu/interventions/laffaire-bakhtine-cas-vygotski-marx-penseur-lindividualit%C3%A9-humaine)

 Chú thích của Lucien Sève

(1). Đây là một công thức – nghi thức – mà chúng ta thường đọc được, chẳng hạn dưới ngòi bút của Marina Yaguello, người dịch và giới thiệu cuốn Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ, Minuit, 1977, tr. 10.

(2). M. Bakhtine, Pour une philosophie de l’acte (Tiến tới một triết lý về hành vi), L’Age d’homme, Lausanne, 2003. (Theo một cách phiên âm tiếng Nga quy ước, cái tên này được viết là “Bahtin”).

(3). JP Bronckart, C. Bota, Bakhtine démasqué – Histoire d’un menteur, d’une escroquerie et d’un délire collectif (Lột mặt nạ Bakhtin – câu chuyện về một kẻ lừa dối, một chuyện bịp bơm và một cơn mê sảng tập thể), Droz, Genève, 2011.

(4). Xem S. Zenkine, «Jean-Paul Bronckart, Cristian Bota, Bakhtine démasqué», Cahiers du monde russe, n° 52/4, 2011.

(5). Không những các cuốn sách ký tên Medvedev và Voloshinov không phải là “món quà” do Bakhtin hào phóng tặng bạn, mà rất có thể là chính Medvedev và Voloshinov mới là những người hào phóng tặng bạn một phần cuốn Dostoievski, mà một mình Bakhtin ký tên.

(6). Mikhail Bakhtine (V. N. Voloshinov) [Tôi giữ nguyên cách trình bày của cuốn sách, L.S.], Le Marxisme et la philosophie du langage, op. cit., tr. 8.

(7). Nhân đây, xin nhấn mạnh rằng J.-P. Bronckart và C. Bota không phủ nhận mọi đóng góp cá nhân của Bakhtin, mặc dù chúng ta buộc phải công nhận rằng ông ta là một kẻ lừa dối nhiều lần tái phạm. Những ai đọc cuốn sách về Rabelais của ông (M. Bakhtine, L’œuvre de François Rabelais et la culture populaire au Moyen Age et sous la Renaissance, Gallimard, 1970) vẫn lưu giữ ấn tượng về một công trình có sức nặng. Điều mà họ nói chung không biết, đó là mức độ những gì nó nợ Ernst Cassirer, bởi lẽ Bakhtin không chỉ là một kẻ lừa dối, mà còn là kẻ đạo văn cố ý (xem sách của J.-P. Bronckart và C . Bota, mục 3.3 của Chương VI, “Niềm đam mê đạo văn của Bakhtin”).

(8). Những đoạn trích Patrick Sériot là từ lời nói đầu ông viết cho  cuốn V. N. Vološinov, Marxisme et philosophie du langage, Lambert-Lucas, Limoges, 2010.

(9). Xem L. Vygotsky, Conscience, inconscient, émotions, La Dispute, 2003, tr. 95-121.

(10). Xem Vygotski, La Signification historique de la crise en psychologie (Ý nghĩa lịch sử của cuộc khủng hoảng tâm lý học), La Dispute, 2010.

(11). Trong ba lĩnh vực sau cùng, có thể kể, chẳng hạn, các công trình lớn – thường bị công chúng phương Tây đánh giá thấp hoặc bỏ qua – của Konstantin Tsiolkovsky, một lý thuyết gia hàng đầu của khoa học vũ trụ, Andrei Kolmogorov, một trong những nhà toán học sáng tạo nhất thế kỷ, và Anton Makarenko, người tiên phong trong giáo dục trẻ em phạm pháp.

(12). Vygotski, Pensée et langage (Tư duy và ngôn ngữ), Françoise Sève dịch, La Dispute, in lần thứ 4, 2012.

(13). L. S. Vygotsky, Mind in society, Michael Cole, Vera John-Steiner, Sylvia Scribner, Ellen Souberman (tuyển chọn), Harvard University Press, Cambridge, Massachussetts, London, England, 1978, tr. x. Tuy nhiên, cần ghi nhận những nỗ lực từ sau 1990 tại Hoa Kỳ theo hướng tiếp nhận trước tác của Vưgotski một cách chính xác hơn.

(14). Có thể tìm thấy nhiều thông tin và phân tích về sự tiếp nhận trước tác của Vưgotski ở Phương Tây trong bài giới thiệu dài mang tính lịch sử – phê bình tôi viết cho cuốn sách quan trọng của Vưgotski, Histoire du développement des fonctions psychiques supérieures (Lịch sử phát triển các chức năng tâm thần cao cấp), bản dịch của Françoise Sève, do Michel Brossard và Lucien Sève chuẩn bị bản thảo, sắp được nhà La Dispute xuất bản trong năm 2013.

(15). Bản dịch tiếng Pháp đầu tiên của duy và ngôn ngữ, do vợ tôi, Françoise Sève, thực hiện, được Editions sociales xuất bản năm 1985. Cùng thời gian đó, năm 1985, nhà xuất bản Thụy Sĩ Delachaux et Niestlé cho ra mắt cuốn Vưgotski ngày nay, tập hợp một số bài viết của Vưgotski và các bài nghiên cứu về tác phẩm của ông, do B. Schneuwly và JP Bronckart chủ biên. Kể từ đó, vì nhà xuất bản Thụy Sĩ đã ngừng hoạt động, La Dispute là nhà xuất bản bằng tiếng Pháp duy nhất in tác phẩm của Vưgotski (cái tên mà không có lý do để ký âm trong tiếng Pháp bằng chữ “y” ở cuối). Với kế hoạch của nhà xuất bản này, cho in trong năm 2013 cuốn Lịch sử phát triển các chức năng tâm thần cao cấp và một tuyển tập tác phẩm của ông về giáo dục học, người đọc Pháp ngữ cuối cùng sẽ có thể tiếp cận phần lớn các công trình chủ yếu của Vưgotski.

(16). Để có khái niệm về vấn đề này, xin đọc hai tuyển tập các bài nghiên cứu rất đa dạng do nhà tâm lý học Yves Clot chủ biên, nhà La Dispute xuất bản, Với Vygotsky, 1999, tái bản 2002, và Vưgotski ngày nay, 2012.

(17). Phần mình, tôi đã dành một phần quan trọng sự nghiệp nghiên cứu lý luận của mình về chủ đề này, từ Chủ nghĩa Marx và lý thuyết về nhân cách (1969) đến tập 2 của bộ sách bốn tập Nghĩ về Marx hôm nay  dành cho vấn đề “con người” (La Dispute, 2008) và trong cuốn sách mới của tôi, Tha hóa và giải phóng, phi lộ bởi Nhiệm vụ khẩn cấp của chủ nghĩa cộng sản và nối tiếp bởi Marx, 82 văn bản về tha hóa trong bộ Tư bản, La Dispute, 2012.

(18). Đặc biệt, xem: K. Marx, Manuscrits de 1857-1858 dits «Grundrisse», Editions sociales, 2012, tr. 446-447; K. Marx, Le Capital, cuốn III, tập 3, Editions sociales, 1960, tr. 198-199.

(19). K. Marx et F. Engels, L’Idéologie allemande, Editions sociales, 1976, tr. 445 (bản dịch có sửa chữa của tôi).

(20). K. Marx et F. Engels, Manifeste du parti communiste, Editions sociales (song ngữ), 1972, tr. 89.

  1. K. Marx; Le Capital, Livre I, Editions sociales, 1983 ou PUF/Quadrige, 1993, tr. 857 (tôi nhấn mạnh).
  1. «Individu, classe, parti: politique et subjectivation», trong I. Garo, Marx et l’invention historique, Syllepse, 2012, tr. 47-76.
  2. Ibid., P.61.
  1. Ibid., tr.71.Đây làlý do tại sao, nhưJean-Jacques Goblot đã chỉ cực kỳ rõ trongmộtnghiên cứu về “Lenin vànguồn gốc củachủ nghĩa Stalin” (xem J.-J.Goblot, Những tiểu luận về phê phán theo quan điểm Marxist, La Dispute, 2011), về điểm này Marx đã nhìn xa hơn Lenin, người cho rằng chủ nghĩa tư bản Nga đã chỉ cho thấy hiệu quả, một từ gây hiểu lầm, của “kỷ luật nhà máy”.
  2. Mượn cách nói của bác sĩ tâm thần cộng sản xuất sắc Lucien Bonnafé. Xem cuốn sách có khả năng kích thích cao độ của ông, Dans cette nuitpeuplée18 textes politiques de Lucien Bonnafé, psychiatre, Editions sociales, 1977.

Chú thích của dịch giả Ngô Tự Lập

[i] Lucien Sève (sinh 1926) là một nhà triết học Marxist Pháp. Tốt nghiệp Thạc sĩ Triết học (agrégé de philosophie) tại Đại học Sư phạm (ENS) năm 1949, ngoài giảng dạy và viết sách, ông tích cực tham gia phong trào cộng sản, được bầu vào Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Pháp (từ 1961 đến 1994). Năm 1969, công trình Marxisme et théorie de la personnalité (Chủ nghĩa Marx và lý thuyết về nhân cách) làm dấy lên một cuộc tranh luận sôi nổi với Luis Althousser. Từ năm 1970đến 1982, ông lãnh đạo nhà xuất bản Éditions sociales của Đảng cộng sản Pháp.

[ii] Slavophile: Trào lưu trí thức thế kỷ 19, đề cao truyền thống văn hóa Nga, chống lại ảnh hưởng của phương Tây.

[iii] Bài viết này được công bố lần đầu trên tạp chí Contretemp, số mùa thu năm 2012.

[iv] Bản tiếng Nga: Зенкин, С. “Некомпетентные разоблачители”, < http://magazines.russ.ru/>

[v] “Некоторое время это мнение было практически господствующим, но сегодня маятник качнулся назад: сторонников бахтинского авторства «спорных текстов» становится меньше, сами эти тексты переиздаются и изучаются как произведения тех, за чьей подписью они появились, и не фигурируют в Собрании сочинений Бахтина”

[vi] Nguyên văn tiếng Nga: “…Бахтину при­шлось проделать поразительно быструю эволюцию — от феноменологической и религиозной философии к объективизму и социологизму гуманитарных наук…”

[vii] Ý nói, Bakhtin không phải là người Marxist nên các cuốn sách “tranh cãi” không phải là những công trình Marxist.

[viii] Nguyên văn: “bản vulgate– bản dịch Kinh Thánh từ tiếng Latin, được thực hiện vào thế kỷ thứ IV, về sau trở thành bản được nhà thờ Công giáo coi là chính thức và phổ biến rộng rãi.

[ix] Germinal (1885): tên một cuốc tiểu thuyết của Émile Zola.

[x] Chủ thể hóa (tiếng Pháp: subjectivation, tiếng Anh: Subjectification): một khái niệm triết học chỉ quá trình kiến tạo chủ thể cá nhân, do Michel Foucault sáng tạo và được một số nhà tư tưởng khác như Gilles Deleuze và Félix Guattari phát triển.

Nguồn: Bản đăng trên Phê bình văn học do dịch giả gửi

Leave a Reply