Vấn đề kịch tiền phong


Tam Ích

Những vấn đề văn nghệ Âu Mỹ thì nhiều lắm, nhưng vào giữa thế kỷ XX có hai vấn đề lớn trong một số vấn đề lớn khác: là vấn đề văn chương kịch tiền phong (littérature dramatique d’avant-garde) và vấn đề tiểu thuyết mới (nouveau roman). Tôi xin nói về vấn đề trên trước: nói nó là một vấn đề cũng được mà nói nó là một hiện tượng văn nghệ cũng được. Nó đương trưởng thành ở Âu Mỹ.

Nó phát sinh vất vả lắm. Nhưng tới lúc trưởng thành thì nó lại mau chóng… lớn: nó lớn vùn vụt, lớn ngang tầm nhận định và tầm thông minh của người Âu Mỹ, nhưng tốc lực trưởng thành của nó lại đi quá tầm thông minh và hiểu biết của người Việt Nam – nói trí thức giới Việt Nam thì đúng hơn. Nói vậy bởi vì thế nào rồi nó cũng… qua đây, cũng như ngày xưa những chủ nghĩa lãng mạn, tả chân… đã qua với ông bà chúng ta và cả chính chúng ta vậy. Hiện thời “hành trình” của nó qua Việt Nam đương dè dặt – có thể nói là chưa có hình bóng nó thì đúng hơn. Nhưng ở Đông Kinh bên Nhật Bản chẳng hạn thì nó đã nghênh ngang có vị trí rồi!

Lãnh tụ văn nghệ của phong trào văn nghệ kịch tiền phong ở Pháp là các kịch gia Ionesco, Adamov, Beckett, v.v. Những vở kịch điển hình của nó là: En attendant Godot của Samuel Beckett, La cantatrice chauve, Les chaises… của Eugène Ionesco, v.v. Cũng nên thêm Le balcon chẳng hạn của Jean Genêt là một kịch gia thi gia văn gia được Jean Paul Satre ngưỡng mộ. Cách đây chừng năm mười năm, khi Beckett và Ionesco… viết xong kịch của họ và đưa cho các nhà sản xuất các chủ rạp dựng… thì chúng khẩu đồng từ, đủ một trăm phần trăm các chủ rạp và sản xuất gia… từ chối – không những từ chối, lại còn xuống “sắc lệnh” rằng những kịch gia ấy, hoặc họ điên, hoặc họ khùng, hoặc họ đùa… dai, hoặc họ chọn sai lúc để mà ỡm ờ. Có người lại cho rằng kịch gia mà ỡm ờ với chủ rạp như vậy thì nên liệng bình mực vào mặt họ… và nhốt họ lại ít lâu cho tâm trí họ lấy lại thăng bằng…

Nhưng Ionesco và Beckett… là những văn thi sĩ rất cứng cổ – cứng cổ với chính mình và với người – và rất lỳ. Vừa lỳ vừa kiên tâm: như Beckett chẳng hạn, Beckett có đủ mười hai giờ trên mười hai giờ của một ngày có mặt trời để mà ngồi lỳ… lỳ, đăm đăm nhìn trước mặt mình… nhất định không nói nửa tiếng với bạn bên cạnh mình, kể cả là bạn tri âm. Họ đủ can đảm ngồi như vậy – lỳ lợm, phóng biếm (cynique), kiên tâm, khinh người, người Á Đông xưa của chúng ta thì gọi là khinh thế ngạo vật… Nhưng đến cách đây vài năm… bỗng nhiên những vở kịch En attendant Godot, Les chaises, Le cantatrice chauve, Rhino céros… lại diễn khắp châu Mỹ – diễn liên tiếp và thường trực hàng sáu tháng, chín tháng, một năm, hai ba năm…

Ionesco, Beckett, Genêt… bỗng nổi tiếng như cồn. Kịch phẩm in ra bán rất chạy – còn kịch thì dựng và diễn rất lâu, là lẽ dĩ nhiên rồi! Tác giả từ chỗ nghèo… đói trở nên giàu có – giàu có – giàu có nhưng tiền thì mặc kệ tiền, nếp sống vật chất thì vẫn lôi thôi như xưa, như khi chưa nên danh vọng vậy…

Rạp hát đông nghịt. Khán giả ngựa xe như nước áo quần như nêm…

Đầu đuôi như vậy!

Vậy chứ bên Âu Mỹ, sao lại có chuyện lạ như vậy? Lạ ở chỗ dám viết kịch không ai đọc, trừ tác giả. Lạ ở chỗ tác giả cứng đầu và cứng cổ… Lạ ở chỗ bỗng nhiên gió ngược chiều thổi lại… Văn nghệ từ chỗ đương là quái thai trở nên mang tính chất rất “nhân văn” (humaniste) – các nhà phê bình kịch đi từ một thái cực đến một thái cực: nghĩa là từ chỗ “liệng bốn sự thật” vào mặt tác giả đến chỗ trầm trồ tác giả – cách nhau chỉ mấy năm.

Nhưng còn khán giả? Đây mới là trường hợp chính yếu: từ chỗ rạp hát vắng như bãi tha ma, rạp hát trở nên đông như kiến. Khán giả đi xem kịch: họkhông tới thì phong trào văn nghệ tiền phong là phong trào chết ngay trong trứng – mà họ tới đông thì phong trào lên cao – và được gọi là tiền phong(avant-garde). Xin nói lại: họ là khán giả, họ quan trọng – họ nắm quyền sinh sát văn nghệ.

Vậy chứ tâm lý họ là tâm lý gì và tại sao lại có chuyện biến chuyển tâm lý lạ như vậy – đột ngột đến cỡ ấy?

Thì ra khí hậu xã hội (climat social) đã đóng một vai chính trong vấn đề biến chuyển tâm lý ấy. Hai cuộc chiến tranh và viễn ảnh một cuộc tự sát chung đã làm họ không tin tưởng ở giá trị của thứ tự có sẵn – ordre établi – dù là thứ tự văn hóa. Họ tìm cái mới để tìm những giây phút lạ cho tâm hồn – lối thoát của một vài giờ cũng vẫn là lối thoát. Đồng thời tiềm thức của họ cũng phản ứng lại những giá trị văn nghệ (valeurs artistiques) truyền thống đã không làm đủ vai trò xã hội và lịch sử (mission sociale et historique) của văn nghệ. Tiềm thức họ nói với họ: tưởng đâu nghệ thuật truyền thống và cổ điển đã tham dự vào việc xây dựng một xã hội có công lý và thái bình! Nào ai có dè: ai cũng như ai… gì cũng như gì! Tiềm thức nói kín đáo quá nói nhỏ quá cho nên chủ quan không nghe hết lời “tâm sự” của tiềm thức. Một sớm, thói quen văn nghệ tiền phong thành một phong trào và đóng vai trò của nó: lôi cuốn. Thời trang (mode) và sự “a dua” (snobisme) can thiệp vào nữa… Đã vậy, sự khủng hoảng về tâm hồn, sự xao xuyến (angoisse metaphysique) nấp trong chỗ sâu nhất xa nhất của tâm hồn lại được những vở kịch tiền phong giải quyết cho một phần lớn.

Và đồng thời, một trong những phương diện tâm lý chủ quan cũng đã góp phần cho kịch tiền phong phi lý và bí hiểm ấy nảy nở vùn vụt một cách dễ dàng. Những dân tộc Âu Mỹ là những dân tộc thừa thãi về… dân chủ, về văn minh… họ có dư không thời gian – nếu có thể nói vậy – và có dư cả tiềm lực nhân sinh – tiềm lực chìm cũng như tiềm lực nổi – để hưởng thụ, để thưởng ngoạn về nghệ thuật… Con người dư dật và thừa thãi… thường sắm đồ trang sức và xa xỉ phẩm: Francoise Sagan hay Ionesco… hay những bức tranh lập thể và phi hình dung (non figuratif), đối với họ có thể là những món đồ xa xỉ phẩm về văn nghệ: một cuốn Bonjour tristesse hay một vở kịch đầu voi đuôi chuột Les chaises của Ionesco chẳng hạn lấp những chỗ trống trong tâm hồn những kẻ dư ăn dư mặc ăn không ngồi rồi… Cũng nên hiểu là sự phong phú tràn trề, sự phèn phỡn, sự giàu sang quá giới hạn… cũng gây khủng hoảng cho tâm hồn. (Tâm lý này hiện đương diễn ra ở Âu Mỹ trong giới trí thức). Ấy là chưa nói rằng người Âu châu chẳng hạn có thể coi như là đã thuộc về những dân tộc đi gần hết giai đoạn trưởng thành biện chứng của lịch sử một quốc gia. Một trong những đặc tính của cái giai đoạn ấy là sự trưởng thành, sự già lão, sự thừa thãi… triệu chứng của một sự sa đọa… nào đó sắp tới. Những dân tộc ấy, trong sự diễn tiến lịch sử, cần “ngoại hiện” những sự đòi hỏi, những nhu cầu kín đáo hay là bộc lộ. Tất cả những phát hiện của nghệ thuật phi lý có thể chỉ là sự thỏa mãn của nhữngđòi hỏi ấy…

Ai công kích Hégel hay nói về biện chứng lịch sử thì cứ công kích, tôi thấy Hégel vẫn là một uy tín lớn về trí thức của lịch sử.

Trái lại người Á Đông là người còn thiếu… nhiều: thiếu những đòi hỏi căn bản về dân chủ trên phương diện chính trị – tôi trừ Trung cộng và Nhật Bản là hai trường hợp riêng – thiếu máy lạnh, máy vô tuyến truyền hình, thiếu những máy nguyên tử… thiếu nhiều lắm. Họ vội vàng hấp tấp lo lấp những chỗ trống… họ lo tìm cho đời họ, cho dân tộc họ, cho cá nhân họ… cái mà người ta có thừa thãi, cái mà chính họ chưa có. Công đâu, hơi đâu, thì giờ đâu, mà… sắm xa xỉ phẩm, hưởng thụ xa xỉ phẩm, thưởng ngoạn những đồ trang sức… trừ những kẻ đã giàu có trên lưng dân tộc rồi! Ionesco, Jean Genêt, v.v. mà có qua được đến đây cũng khó có đất đứng – ấy là chưa nói rằng người Á Phi chưa có một tâm lý “dư dật” để phù hợp với sự thưởng ngoạn nghệ phẩm phi lý… thì nghệ phẩm phi lý không thể có đất để trưởng thành…

Ở Việt Nam “gió” tiền phong ấy chưa “thổi” tới: thoại kịch thông thường ở đây mà còn chưa phát sinh được – huống là thoại kịch tiền phong!! Thật ra, kẻ viết bài này đã đọc nhiều kịch tiền phong, tin tưởng rằng giá có “truyền nhiễm được… đến đây, chúng cũng sẽ có số phận của một cái thai chưa thành hình đã… chết. Vì…

Vì không có gì cụ thể và chứng minh bằng diễn ra đây vài đoạn đối thoại của kịch tiền phong, độc giả sẽ tự tìm lấy câu trả lời của băn khoăn vậy.

Ông Martin: Bánh là một cái cây to trong khi mà bánh là một cây to, và một cây sên ẽ phát sinh từ một cây sên, sáng nào cũng vậy, vào buổi bình minh.
Bà Smith: Chú tôi sống ở nhà quê nhưng cái đó nào có ăn nhập gì đến bà mụ.
Ông Martin: Giấy để mà viết, còn con mèo là để bắt chuột cống. Miếng phó mát là để cào…
Bà Smith: Xe hơi đi lanh lắm, nhưng con sen nó ấu ăn ngon hơn.
Ông Smith Nào, đừng có làm mặt thộn thế kia, bà nên hôn cái anh chàng phiến loạn

Bà Smith: Ồ, suối gì mà suối như vậy, suối gì mà suối như vậy, suối gì mà suối như vậy, suối gì mà suối như vậy, suối gì mà suối như vậy, suối gì mà suối như vậy kìa… thác nước gì mà…
Ông Martin: Trời đất ơi, suối gì mà hàng dây suối như vậy – hàng dây suối như vậy, hàng dây suối như vậy – hàng dây suối như vậy, hàng dây suối như vậy – hàng dây suối như vậy – dài dằng dặc không biết cơ man nào là thác nước và suối…
Bà Smith: Những con chó có bọ chó, những con chó có bọ chó.
Bà Smith: Những con chuột có lông mày, những lông mà không có chuột.
Bà Martin: Đừng đụng đến giày ký long của tôi.
Ông Martin: Đừng có rục rịch giày ký long.
Ông Smith: Rờ con ruồi đi, đừng cho sự rò mó nó hỉ mũi.
Bà Martin: Con ruồi rục rịch.
Bà Smith: Cái miệng của bà phải hỉ đi.
Ông Martin: Để cho cái đập ruồi nó hỉ mũi, để cho cái đập ruồi nó hỉ mũi.

Những câu đối thoại ấy trích trong kịch phẩm La cantatrice chauve của Ionesco. Đầu voi đuôi chuột. Đầu ngô mình sở. Ngây ngây ngô ngô. Ngớ nga ngớ ngẩn. Nhân vật điên không ra điên, khùng không phải khùng… nói những câu như của người loạn trí, và nói với nhau như hai người đau thần kinh… đối thoại với nhau… Cái kiểu nói như vậy diễn trong hai giờ, ba giờ – khán giả Âu Mỹ cứ chịu khó… coi như thường. Coi kịch. Nghe kịch…Thưởng ngoạn kịch… Mô Phật!

Và kịch như thế, viết làm sao, dựng làm sao, diễn làm sao, rạp nào, khán giả đông hay thưa, phát sinh cách nào, trưởng thành ra sao – tôi đã trình bày ở trên rồi! Quả tình tôi viết bài này là để mời trí thức giới Việt Nam biết qua một câu chuyện văn nghệ ở Âu Mỹ hiện thời ra sao, thế nào, làm gì. Rồi bạn đọc của tôi sẽ phê phán, phán đoán lấy – và sẽ tìm hiểu coi là kịch tiền phong có qua đây như xưa kia trước kia văn thơ lãng mạn, văn thơ tả chân văn chương duy nhiên văn thơ tượng trưng, văn thơ siêu thực… đã hơn một lần theo làn sóng văn hóa Âu Mỹ qua đây – tạo ra Hoàng Ngọc Phách, Xuân Diệu, Huy Cận, Nhất Linh, Khái Hưng, Vũ Trọng Phụng, Xuân Sanh, Đoàn Phú Tứ, v.v. hay chăng! Ai tin được rằng văn thơ kịch Việt Nam sẽ tiến hóa đến… tiền phong thì cứ tin. Tôi – đứng trên cương vị một nhà văn nghệ – tôi xin phép quý bạn cho tôi lạm xưng như vậy – thì tôi không tin… một chút nào!

Huy Cận đã một lần tin… bậy như vậy nên mới viết Kinh cầu tự bằng một lối văn cầu kỳ bí hiểm phi hình dung rồi lớn tiếng nói rằng: “Tôi viết cuốn Kinh cầu tự là may một cái áo rộng thênh thang – độc giả của tôi sau này lớn lên… mặc là vừa!”. Huy Cận có ý cho rằng ngày đó không ai hiểu cái bí hiểm của Huy Cận thì vài ba chục năm sau sẽ… hiểu Kinh cầu tự.

Không ngờ ngày nay Kinh cầu tự của Cận chết theo chất thơ tiền chiến của Cận – người ta quên mất và quên đứt Kinh cầu tự. Và… hoặc là lịch sử vượt lên trên sách Cận. Hoặc là lịch sử rẽ ngã khác…

Cận tính sai một nước cờ văn nghệ – sách Cận hoặc là làm trò cười, hoặc chỉ làm tài liệu… nghèo mà thôi. Hẳn Cận đã “giác” về nghệ thuật Kinh cầu tựcủa mình rồi chứ gì!

Có người gọi kịch tiền phong là kịch phi lý (théâtre de l’absurde). Riêng Ionesco thì gọi kịch của chàng là phi kịch (anti-pièce) nghĩa là kịch tiền phong không nói gì cả, không có nghĩa lý gì cả. Nhưng đồng thời “phi kịch” mà lại dùng hết tất cả kỹ thuật sân khấu – để lên sân khấu – nghĩa là để dựng, để ra đời…

Ý của kịch gia tiền phong là muốn đem những câu nói của chị Năm ngã ba chú Ía, của con sen, của bác phó rèn… của người đổ thùng… nói mỗi ngày, rời rạc, đầu voi đuôi chuột, cũng như… cuộc đời vậy… lên sân khấu. Đó là kịch, đối với họ.

Thực ra Ionesco còn muốn dùng kịch tiền phong để lên án giá trị của ngôn ngữ – vì ngôn ngữ là một lợi khí để chở ý tưởng, nhưng lại là một lợi khí rất thiếu giá trị và tác dụng – chỉ gây hiểu lầm giữa cá nhân và cá nhân, giữa tập thể và tập thể… giữa dân tộc và dân tộc – nhỏ là chuyện xung đột vặt, lớn là chiến tranh giết nhau, vừa giết người vừa học luân lý giáo khoa thư và đọc diễn văn “nhân bản”…!

Tôi nhớ như đâu đó đã có một kịch gia tiền phong viết câu này về kịch tiền phong: C’êtait une condamnation du langage, véhicule très imparfait de ce que nous voudrions exprimer” Ý câu Pháp văn ấy là kịch tiền phong lên án ngôn ngữ – vì ngôn ngữ chở ý tưởng người ta một cách… bất túc, một cách… xuyên tạc! Ấy vậy thì đối thoại kịch có đầu voi đuôi chuột – thì có gì là lạ… Nào!

Té ra kịch tiền phong lại là một lợi khí phản ứng của nhà văn hóa – nhà văn nghệ, và kịch gia… Phản ứng lại tác dụng tai hại của… ngôn ngữ trong lịch sử tiến hóa của loài người: tan vỡ cá nhân, tan vỡ tập thể… và đồng thời tan vỡ vì hiểu lầm, hiểu lầm nên tan vỡ. Chỉ vì ngôn ngữ…

Té ra ý Ionesco, Beckett, v.v. lại là ý cao, ý xa, ý cực vi, ý cực diệu – ý rất siêu hình… chẳng phải là chuyện… lập dị như thiên hạ tưởng một tí nào!

Ông Lão Đam, cái ngày ổng nói rằng đạo mà gọi được bằng tên – nghĩa là bằng ngôn ngữ – thì không phải là đạo nữa, là ổng đã đưa ngôn ngữ ra… tòa rồi!

Và Thái tử Tất Đạt Đa bao nhiêu năm tu hành không nói một câu nào là suốt bao nhiêu năm người đã đưa ngôn ngữ… ra vành móng ngựa rồi!

Mà nào phải chỉ có các bực thánh mới nhìn xéo giá trị của ngôn ngữ đâu! Bỏ hàng thánh hiền xuống hàng phàm phu, chúng ta có Jean Luc Godard, một nhà dàn cảnh điện ảnh Pháp tên tuổi vào bực nhất và thuộc loại “hiện đại” nhất… cũng đã thiếu… thiện cảm với ngôn ngữ, và thường nói bóng gió xa xôi về cái đẹp của… im lặng (như của thiền Phật giáo chẳng hạn). Jean Collet, nói về chàng Godard, một nghệ sĩ mà có kẻ cho là thiên tài và có kẻ lại cho là láo, một nghệ sĩ cho ra đời những nghệ phẩm điện ảnh gây sóng gió như ở Bataille d’Hermani ngày xưa… đã viết: “Et pourtant, on ne peut pas mieux montrer que les mots nous trahissent, que la vie ne peut se réduire au langage, que l’essentiel est ailleurs” – ý muốn nói rằng ngôn ngữ thường… phản phúc, đời sống không phải chỉ ở cái miệng… và người ta phải tìm cái cần yếu ở chỗ khác…

Tôi sực nhớ xưa kia đã đọc một cuốn sách, còn nhớ một câu ý nói: một vạn sự tan vỡ của nhân sinh đều do sự hiểu lầm – malentendu – mà phát sinh. Mà sở dĩ có hiểu lầm chỉ vì có ngôn ngữ.

Té ra Phật giáo Thiền tông thật đã đi trên con đường cao nhất – cực vi cực diệu – của Phật giáo, của hình nhi thượng của tất cả mọi hệ thống triết học siêu tại hay nội tại.

Họ ngồi… Tuyệt đối họ không nói.

Nguồn: Lá Bối xuất bản lần thứ nhất, in tại nhà in Đăng Quang, 734a Phan Thanh Giản – Sài Gòn. Giấy phép số 481 TBTTCH/BC3/XB Sài Gòn ngày 22 tháng 2 năm 1967, ngoài những bản thường in thêm 100 bản đẹp dành riêng cho tác giả, nhà xuất bản và thân hữu. Thư từ, liên lạc về Nxb xin gửi cho Từ Mẫn, bưu điện xin đề tên cô Cao Ngọc Thanh. Giá 120 đồng. Bản điện tử do talawas thực hiện.

Leave a Reply