Về sự đọc (2/2)


Roland Barthes

3. Sự Ham muốn

 

  Có Ham muốn gì trong sự đọc? Sự Ham muốn không thể gọi tên và (trái với Yêu cầu) không thể tự nói ra. Tuy nhiên, điều chắc hắn là có một thứ tình dục (érotisme) của sự đọc (trong sự đọc, ham muốn ở cùng với đối tượng của nó, đó là định nghĩa về tính dục). Về tình dục của sự đọc, có lẽ không có ngụ ngôn nào thuần khiết hơn là cái tình tiết trong cuốn Đi tìm thời gian đã mất trong đó, Proust cho ta thấy Người trần thuật trẻ tuổi ru rú trong các căn phòng ở Combray để đọc sách (để không nhìn thấy người bà của mình đau khổ khi nghe người ta đùa cợt bằng cách nói rằng chồng bà đi uống rượu cô-nhắc…):“Tôi nức nở khóc vừa leo lên chỗ cao nhất của ngôi nhà bên cạnh phòng nghiên cứu, nằm dưới nóc nhà, trong một căn phòng nhỏ ngát mùi hương cây đuôi diều, ở bên ngoài là cây lý đen dại mọc giữa những viên đá tường cũng tỏa hương, một nhành hoa của nó đang vắt ngang qua cánh cửa sổ hé mở. Căn phòng này vốn được dùng cho những việc vừa đặc biệt hơn vừa bình thường hơn, mà từ đây, người ta có thể nhìn ngắm cả ngày cho đến tận cái tháp phòng ngự Roussainville-le-Pin, từ lâu tôi đã dùng nó như là chỗ trú ẩn, chắc chắn bởi vì đó là căn phòng duy nhất mà người ta cho phép tôi khóa chặt cửa, cho phéptôi chiếm giữ để được yên tĩnh tuyệt đối để đọc, để mơ mộng, để khóc lóc và để khoái trá”.

Như vậy, sự đọc mong muốn dường như được đánh dấu bằng hai nét đặc trưng cơ bản. Bằng cách tự khép mình để đọc, làm cho sự đọc trở thành một trạng thái hoàn toàn tách biệt, lén lút, ở cái nơi mà toàn bộ thế giới bị gạt bỏ, người đọc – người hành động đọc – tự đồng nhất với hai chủ thể người khác – nhưng thực ra lại gần gũi với nhau – hai chủ thể người này đều ở trong tình trạng cũng đòi hỏi một sự tách biệtmãnh liệt, đó là chủ thể say mê và chủ thể thần bí. Đặc biệt là Thérèse d’Avila đã làm cho sự đọc trở thành cái thay thế cho bài điếu văn tinh thần. Còn chủ thể say mê, như chúng ta đã biết, được đánh dấu bằng một sự triệt thoái khỏi thực tại, nó tự truất quyền ra khỏi thế giới bên ngoài. Điều này khẳng định rằng chủ thể-người đọc là một chủ thể hoàn toàn bị gạt ra khỏi quyển sổ của Trí tưởng tượng. Mọi sự tiết kiệm vui thú của nó là ở chỗ chăm chút mối quan hệ tay đôi của nó đối với sách vở (tức là Hình ảnh), bằng cách tự đóng cửa để chỉ có hai người (người đọc với sách vở) với nhau, người đọc dán chặt vào sách, chúi mũi vào nó như thể đứa trẻ dính chặt vào người mẹ, như Người tình tựa vào gương mặt tình nhân. Căn phòng có mùi hương cây đuôi diều chính là cái hàng rào của Tấm gương, nơi đây đã làm nảy sinh sự hòa hợp thần thánh giữa chủ thể và Hình ảnh – tức là sách.

Nét đặc trưng thứ hai hình thành nên sự đọc mong muốn, chính là điều mà đoạn văn về căn phòng đọc sách trên đây đã nói với chúng ta một cách tường minh. Đặc trưng ấy như sau: bên trong sự đọc, tất cả mọi cảm xúc của thân xác đều bị trộn lẫn, bị cuộn tròn: sự mê hoặc, sự khiếm khuyết, sự đau khổ, sự khoái trá. Sự đọc sản sinh ra một thân xác đảo lộn, nhưng không bị chia cắt (vì nếu không như vậy thì sự đọc không thuộc về Trí tưởng tượng). Tuy nhiên, có cái gì đó bí ẩn hơn trong đoạn văn của Proust dành cho việc đọc và việc lý giải: sự đọc – sự khoái trá đọc – có một mối tương quan nào đó với giai đoạn hậu môn (analité)[1]. Đây là một phép hoán dụ liên kết sự đọc, chất cặn bã và – như chúng ta đã biết – tiền bạc với nhau.

Và bây giờ – nếu không rời khỏi căn phòng đọc sách – một câu hỏi đặt ra: có những khoái cảm đọc khác hay không? Có một loại hình học về những khoái cảm đó không? Đối với tôi, dường như ít ra cũng có 3 loại khoái cảm đọc, hay nói chính xác hơn, có ba con đường qua đó Hình ảnh đọc có thể hấp dẫn chủ thể đọc. Theo con đường thứ nhất, sự đọc có một mối tương quan mang tính bái vật đối với văn bản đọc. Nó thích thú với những từ, với một số từ, với một số sắp xếp từ nào đó. Trong văn bản, những bãi biển, những vùng đất biệt lập được vẽ nên với sự mê hoặc mà chủ thể-đọc bị nhấn chìm và mất hút trong đó. Đó là loại đọc ẩn dụ hay mang tính thi ca. Để thưởng thức khoái cảm này, có cần một trình độ văn hóa ngôn ngữ lâu dài hay không? Điều đó không chắc lắm, ngay cả đứa trẻ thơ lúc còn mới bập bẹ, cũng nhận biết tính kích dục của từ, một thói quen bằng miệng và âm thanh dành cho xung năng. Theo con đường thứ hai, đối lập với con đường thứ nhất, người đọc dù sao cũng bị kéo ra khỏi cuốn sách bởi một sức mạnh bao giờ cũng ít nhiều được ngụy trang, nó giống như sự hồi hộp. Cuốn sách dần dần bị gạt bỏ và niềm vui thú lại nằm trong sự xói mòn nóng vội và kích thích. Tất nhiên, vấn đề chính yếu ở đây là niềm khoái lạc mang tính hoán dụ của mọi trần thuật, mà không nên quên rằng bản thân sự hiểu biết hay tư tưởng có thể được kể ra và bị cơn hồi hộp khuất phục. Và vì khoái cảm này gắn bó một cách rõ ràng với sự giám sát cái đang diễn ra và với việc khám phá ra điều bị che giấu, cho nên người ta có thể giả định rằng nó có một mối tương quan nào đó với việc nghe một vở kịch nguyên gốc. Tôi muốn tạm đình chỉ, tôi không còn chờ đợi, đó là hình ảnh thuần khiết của sự hưởng thụ, ở chỗ nó không thuộc về sự thỏa mãn. Vả chăng, cần phải tra vấn ngược lại những ngăn chặn, những sự chán ngấy của sự đọc: tại sao ta không tiếp tục đọc nữa? Tại sao Bouvard khi quyết định quan tâm đến Triết học về Lịch sử lại không thể “đọc hết bài Discours nổi tiếng của Bossuet[2]? Đó là lỗi của Bouvard hay của Bossuet? Có hay không các cơ chế hấp dẫn phổ quát? Có hay không cái logic tính dục của Tự sự? Lý thuyết Phân tích cấu trúc ở đây cần phải đặt vấn đề về Khoái cảm, đối với tôi dường như kể từ nay, nó đã có phương tiện để làm việc đó. Cuối cùng, có cuộc phiêu lưu thứ ba của sự đọc (tôi gọi phiêu lưu là cái cách mà Khoái cảm đến với người đọc). Có thể nói, đó chính là cuộc phiêu lưu của Sự viết. Sự đọc là cái dẫn truyền sự Ham muốn viết (bây giờ đây, chúng ta chắc chắn rằng có một niềm vui thú đối với sự viết, mặc dù niềm vui thú ấy vẫn còn bí ẩn đối với chúng ta); hoàn toàn không phải chúng ta mong muốn viết như là tác giả mà việc đọc ông ta làm cho chúng ta vui thích; điều mà chúng ta mong muốn đó chẳng qua là cái ham muốn mà người viết đã có khi viết, hoặc là chúng ta mong muốn cái ham muốn mà tác giả đã có đối với người đọc khi anh ta viết; chúng ta mong muốn cái sự hãy yêu tôi vốn tồn tại trong mọi sự viết. Đó chính là điều mà nhà văn Roger Laporte đã nói rất rõ ràng: “Một sự đọc thuần khiết mà không đòi hỏi một sự viết khác nào, đối với tôi là cái gì đó khó hiểu… Đọc Proust, Blanchot, Kafka, Artaud không làm cho tôi thèm khát viết về những tác giả đó (tôi nói thêm, như họ) mà chẳng qua là thèm viết thôi.” Trong bối cảnh này, sự đọc thực sự là một hoạt động sản xuất, không phải sản xuất ra những hình ảnh nội tâm, những dự phóng, những ảo ảnh, mà theo đúng nghĩa, nó sản xuất ra lao động: sản phẩm (được tiêu thụ) bị đảo ngược thành hoạt động sản xuất, thành sự hứa hẹn, sự ham muốn sản xuất, và cái chuỗi ham muốn đó lại bắt đầu diễn ra. Mỗi sự đọc đối với sự viết mà nó sinh ra, có giá trị đến vô tận. Sự vui thú sản xuất phải chăng là mang tính tinh hoa chủ nghĩa, và chỉ dành cho những nhà văn ảo mà thôi? Trong xã hội của chúng ta, cái xã hội tiêu thụ chứ không phải sản xuất, cái xã hội đọc, xem và nghe chứ không phải là xã hội viết, nhìn ngắm và lắng nghe, tất cả được tạo ra để ngăn chặn câu trả lời: những người viết không chuyên bị phân tán, lén lút, bị nghiền nát bởi hàng nghìn câu thúc, thậm chí là ở bên trong.

Đó là vấn đề văn minh. Nhưng đối với tôi, tôi tin tưởng sâu sắc và bền vững rằng không bao giờ ta có thể giải phóng sự đọc nếu như đồng thời, ta không giải phóng sự viết.

 

4. Chủ thể

 

Trước khi có sự kiện lý thuyết Phân tích cấu trúc, người ta đã tranh luận rất nhiều về các quan điểm khác nhaumà trong đó một tác giả được đặt vào để kể một câu chuyện – hay đơn giản là phát ngôn một văn bản. Cách thức móc nối người đọc vào lý thuyết Tự sự hay nói rộng hơn, vào Thi pháp học, có lẽ là xem bản thân người đọc chiếm giữ một điểm nhìn (hay nhiều điểm nhìn kế tiếp). Nói cách khác, là đối xử người đọc như là một nhân vật, làm cho người đọc trở thành một trong số những nhân vật (cho dù không bắt buột là nhân vật được ưu đãi) của sự hư cấu và/hoặc của Văn bản. Điều này đã được chứng minh bằng bi kịch Hy Lạp: người đọc là nhân vật ở trên sân khấu (cho dù là bí mật), là người duy nhất nghe/hiểu[3] được điều mà mỗi nhân vật trong số các cặp đối thoại không nghe/ hiểu được; hành động nghe/hiểu của anh ta là hành động kép (và vì thế tiềm ẩn tính đa dạng). Nói cách khác, vị trí đặc thù của người đọc chính là trò thay chữ (paragramme[4]), giống như điều đã ám ảnh Saussure (nhà bác học này có trở nên điên khùng hay không khi mình hoàn toàn chỉ là người đọc hay không?): sự đọc “thực sự”, tức sự đọc thừa nhận sự khẳng định của mình, có lẽ là một sự đọc “điên loạn” không phải là vì nó khám phá ra những ý nghĩa đâu đâu (tức là những “điều trái với lẽ phải”), cũng không phải vì nó “mê sảng” mà ở chỗ nó xuyên thấu sự đa dạng đồng thời của các ý nghĩa, các điểm nhìn, các cấu trúc, như là một không gian trải rộng, nằm ở bên ngoài những luật lệ cấm chỉ sự mâu thuẫn (“Văn bản” là sự thừa nhận cái không gian đó).

Sự tưởng tượng của người đọc toàn bộ – nghĩa là người đọc hoàn toàn đa dạng, có tính chất của trò thay chữ – có lẽ có ích ở chỗ nó cho phép thoáng nhận ra điều mà ta có thể gọi là sự Nghịch lý của người đọc. Người đọc thường thừa nhận rằng đọc tức là giải mã những con chữ, những từ, những nghĩa, những cấu trúc. Điều đó là không thể chối cãi nhưng bằng cách tích lũy những điều đã giải mã, bởi vì sự đọc có quyền năng vô tận, bằng cách tháo dỡ cái khóa an toàn của ý nghĩa và không kiểm soát sự đọc (đây là cái thiên hướng về mặt cấu trúc của nó), người đọc bị nắm giữ trong một sự đảo lộn biện chứng. Cuối cùng, anh ta không giải mã mà anh ta đứng trên mã; anh ta không đọc hiểu mà anh ta sản xuất, anh chất các ngôn ngữ thành đống, anh ta để cho chúng đi qua bất tận, không mệt mỏi: anh ta chính là sự đi ngang qua ấy.

Hơn nữa, đó chính là cái tình huống của chủ thể người, ít ra như nhận thức luận phân tâm học cố sức để hiểu điều đó. Chủ thể không còn là cái chủ thể tư duy của triết học duy tâm, mà nó đi ra khỏi mọi sự thống nhất, rồi bị mất hút trong sự bất tri kép về cái vô thức và về ý thức hệ của mình để chỉ giữ lại cái vòng quay ngựa gỗ là các ngôn ngữ. Do đó, tôi muốn nói rằng người đọc đó chính là cái chủ thể toàn bộ, còn phạm vi đọc là cái phạm vi của tính chủ quan tuyệt đối (theo nghĩa duy vật mà cái từ duy tâm cũ kỹ từ nay có thể có được): mọi sự đọc có một chủ thể, nó chỉ bị tách ra khỏi chủ thể này bởi những trung gian hiếm hoi và nhỏ bé, đó là việc học chữ, học một số nghi thức tu từ học. Vượt qua rất nhanh những trung gian ấy, chủ thể được tìm thấy trong cái cấu trúc cá thể của riêng nó: hoặc thèm muốn, hoặc đồi bại, hoặc hoang tưởng, hoặc tưởng tượng, hoặc loạn thần kinh – và tất nhiên, nó cũng được tìm thấy trong cái cấu trúc lịch sử của nó: nó bị tha hóa bởi ý thức hệ, bởi tập quán của mã.

Nói như vậy là để chỉ ra rằng ta không thể hy vọng một cách hợp lý vào một Khoa học về sự đọc, vào một Tín hiệu học về sự đọc, trừ phi ta hiểu rằng một ngày kia – đây là sự mâu thuẫn trong từ ngữ – có thể có một Khoa học về sự Bất tận (Inépuisement), về sự Chuyển di vô hạn. Sự đọc, đó quả thật là cái năng lượng, cái hành động sẽ nắm bắt trong văn bản này, trong quyển sách này, “cái không để cho các phạm trù của Thi pháp học làm cạn kiệt”. Sự đọc tóm lại là sự mất mát to lớn thường trực màvì thế, cái cấu trúc – vốn được lý thuyết Phân tích cấu trúc miêu tả một cách kiên nhẫn và có ích – sẽ bị sụp đổ, bị rạn nứt, bị mất hút, y như là mọi hệ thống logic rốt cuộc không gì có thể khép lại – bằng cách giữ nguyên vẹn điều cần phải gọi là sự vận động của chủ thể và của lịch sử: sự đọc có lẽ là nơi màcấu trúc trở nên điên đảo.

Viết cho Hội nghị Viết ở Luchon, 1975.

 In trong Le Francais aujourd’hui, 1976.

Lý Thơ Phúc dịch từ nguyên tác tiếng Pháp Sur la lecture in trong cuốn Le bruissement de la langue, Seuil, 1984, pp 37-48,của Roland Barthes. (24/10/2012)


[1]Nguyên tác: Analité. Từ này được định nghĩa: “Caractère d’ensemble du stade anal” (Larousse Multidico) (Tính chất chung của giai đoạn hậu môn). Giai đoạn hậu môn là một thuật ngữ của Freud chi giai đoạn khoái cảm tình dục nằm giữa giai đoạn miệng và giai đoạn dương vật (trong khoảng 2-4 tuổi).

[2] Paris, Gallimant, “Bibl. de la Pléiade”, p. 819.

[3] Động từ entendre trong tiếng Pháp có hai nghĩa: nghe và hiểu. Có lẽ ở đây, R. Barthes dùng cả hai nghĩa này trong ngữ cảnh này.

[4] Từ paragramme theo các từ điển thông thường như Larousse, có nghĩa là một cách chơi chữ bằng cách dùng con chữ này để thay cho chữ khác, ở đây tạm dịch là lối/trò thay chữ. Trang web http://www.philo5.com/Textes-references/RhetoriqueDorne_135Definitions_070502.htm cung cấp một định nghĩa khác, rõ hơn: “Faute (volontaire ou non) d’orthographe ou de prononciation qui consiste à substituer une lettre ou un son à un autre : Ce type est un vrai casse-nouilles. [pourcasse-couilles]”. (lỗi chính tả hay lỗi phát âm (cố ý hay không) bằng cách thay thế một chữ hay một âm bằng một chữ hay âm khác, ví dụ casse-nouilles – casse-couilles)

Nguồn: Bản dịch giả gửi http://phebinhvanhoc.com.vn. Copyright © 2012 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply