“Phê bình là diễn ngôn về một diễn ngôn. Đó là ngôn ngữ thứ sinh hoặc siêu ngôn ngữ, nó hành nghề trên ngôn ngữ nguyên sinh (hay ngôn ngữ – đối tượng)” – Roland Barthes.

Tag: giải kiến tạo

Chủ nghĩa Hậu hiện đại phương Tây và phương Đông

S. Kornev

Chủ nghĩa hậu hiện đại đem lại cho con người phương Đông cơ hội chiến thắng văn hóa Tây phương trong chính mình, chiến thắng tính duy lý Tây phương đã bóp méo ý thức hắn, nhờ chính thuốc trị Tây phương. Không tốn quá nhiều thời gian, dưới mặt nạ “cuộc trình diễn hậu hiện đại”, logic học tự nhiên của phương Đông đã được phát sáng.

Như vậy, hậu hiện đại có hai bộ mặt – Đông và Tây. Cái ở phương Tây là sự tự hủy, thì ở phương Đông lại là sự giải phóng và sự trở về mình. Đọc tiếp

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

Lý thuyết và phê bình văn học đương đại: từ cấu trúc luận đến giải cấu trúc

Nguyễn Minh Quân

Cấu Trúc Luận – Ngôn Ngữ Kiến Tạo Thế Giới

Cấu trúc luận (structuralism) là một phong trào tri thức bắt nguồn ở Pháp trong những năm đầu của thập niên 1950 và lần đầu tiên được đưa vào ứng dụng thực tiễn thông qua công trình nghiên cứu của nhà nhân chủng học Claude Lévi-Strauss. Nhưng chính Roland Barthes mới là người tiên phong ứng dụng những nguyên lý của chủ thuyết này vào việc nghiên cứu và phê bình văn học cũng như văn hoá hiện đại Pháp. Một số công trình phê bình văn học của Roland Barthes tiến hành trong hai thập niên 1960 và 1970 như S/Z (24), Textual Analysis of a Tale by Edgar Allen Poe và The Facts in the Case of M. Valdemar (25), theo sau công trình nghiên cứu văn hoá Mythologies(xuất bản năm 1957), đã tạo nên một tầm ảnh hưởng sâu rộng của cấu trúc luận tại Paris cũng như thế giới. Một số nhà khoa bảng và nghiên cứu Anh-Mỹ đã đến Paris thụ huấn các khoá ngắn hạn về lý thuyết cấu trúc luận và quay về nước mở các khoá giảng dạy tương tự tại các trường đại học danh tiếng của Anh Quốc lẫn Hoa Kỳ. Chính các nhà khoa bảng và nghiên cứu này đã du nhập và truyền bá tinh thần của cấu trúc luận đến các độc giả nói tiếng Anh thông qua việc giới thiệu cũng như chuyển dịch các luận văn về các đề tài cấu trúc luận lưu hành tại Paris; trong số đó bao gồm: Structuralist Poetics (Thi Pháp Cấu Trúc Luận) của Jonathan Culler (Hoa Kỳ, 1975) (26);Structuralism in Literature: An Introduction (Cấu Trúc Luận trong Văn Học: Dẫn Nhập) của Robert Scholes (Hoa Kỳ, 1974) (27);Structuralism and Semiotics (Cấu Trúc Luận và Ký Hiệu Học) của Terence Hawkes (Anh Quốc, 1977) (28); ngoài ra còn phải kể đến hai nhà khoa bảng có tiếng tăm tại Anh: Giáo Sư Frank Kermode (University College, London), người đã hết sức nhiệt tình giới thiệu và mở các cuộc hội thảo chuyên đề về các công trình nghiên cứu văn học của nhà phê bình – ký hiệu học Roland Barthes; và Giáo Sư văn chương Anh David Lodge (Birmingham University) đã tìm cách kết hợp phương pháp truyền thống (phê bình thực hành của Richards) và lý thuyết cấu trúc luận vào việc nghiên cứu và phê bình văn học tại Anh, cố gắng này của Lodge được đúc kết trong cuốn Working with Structuralism (xuất bản năm 1980).

Sự ra đời của cấu trúc luận được xem như một cuộc cách mạng triệt để về lý thuyết phê bình văn học, vì sự xuất hiện của nó đồng nghĩa với sự lật đổ các quan niệm truyền thống có tính cách nguyên lý tồn tại trước đó. Từ Plato cho đến các nhà phê bình mới Hoa Kỳ, trực tiếp hoặc gián tiếp, nhiều hoặc ít, loài người đã tin rằng một tác phẩm văn học là con đẻ của công trình sáng tạo của tác giả, diễn tả bản ngã của chính tác giả; văn bản là môi trường, nơi người đọc có thể chia sẻ những cảm nhận về khía cạnh tinh thần và nhân bản từ tư tưởng và tình cảm của tác giả và sau hết, một bài thơ, một cuốn tiểu thuyết hay một vở kịch được xem như thành công nếu nó thể hiện được sự thật của đời sống nhân loại, nói khác đi nó là hiện thân của thế giới hiện thực xung quanh chúng ta. Cấu trúc luận đã phá bỏ tất cả các quan niệm trên bằng sự tuyên xưng cái chết của tác giả; tác giả hay người viết chỉ làm công việc viết lại những gì đã có từ trước chứ không thể dùng văn bản để diễn tả chính nội tâm hay bản ngã của mình, những gì được viết ra bởi tác giả là sự sắp xếp phối trí lại những gì đã hiện diện trong thế giới ngôn ngữ và văn hoá xuất hiện trước đó. Vì vậy, văn bản xuất hiện hôm nay thuần tuý là một dạng khác của văn bản đã tồn tại từ trước trong một mạng lưới chằng chịt nối kết với các văn bản khác, và sau cùng giải trình ngôn ngữ văn học tồn tại trong văn bản không bao giờ là sự phản ánh của hiện thực. Cấu trúc luận phủ nhận toàn thể các hình thức lý thuyết phê bình văn học, trong đó chủ thể con người được xem như xuất xứ hay nguồn gốc gợi cảm cho ý nghĩa của một văn bản: văn học thực sự đoạn tuyệt hẳn với nhân loại để bước vào văn bản. Đọc tiếp

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

Giải cấu trúc luận theo cách hiểu của tôi

Lã Nguyên

Giải cấu trúc luận theo cách hiểu của tôi là bài giảng chuyên đề của PGS.TS La Khoắc Hòa. Bài giảng này gồm 5 phần sau đây, chúng tôi giới thiệu phần thứ nhất gồm 4 mục đầu: 1. Giải cấu trúc luận có quá trình hình thành, phát triển lâu dài, là hiện tượng phức tạp(tr.2); 2. Những luận điểm xuất phát của hậu cấu trúc luận, giải cấu trúc luận, hậu hiện đại như một hệ hình thế giới quan (tr.3); 3.Đối tượng phân tích giải cấu trúc là gì?(tr.11); 4. Mục đích phân tích giải cấu trúc là gì?(tr.15); 5. Thực hành phân tích giải cấu trúc (17); - Huyền thoại chính trị và giải cấu trúc nghệ thuật của nó (Iu.V.Satin- tr.18); Chủ thể phát ngôn như là điểm tựa định hướng giá trị (Lã Nguyên – tr.40)

1.     Giải cấu trúc luận có quá trình hình thành, phát triển lâu dài, là hiện tượng phức tạp Đọc tiếp

Từ khóa (chủ đề) do độc giả đề xuất:

Giải kiến tạo là gì?

Ngô Tự Lập

Giải kiến tạo (Deconstruction) là khái niệm trung tâm trong toàn bộ tư tưởng và sự nghiệp của nhà triết học Pháp Jacques Derrida, đồng thời cũng là một trong những khái niệm quan trọng nhất của trào lưu tư tưởng hậu hiện đại cuối thế kỷ XX.

Sâu xa mà nói, “Deconstruction” được hình thành từ khái niệm “social construct” (Kiến tạo xã hội), một khái niệm thực ra đã thấy có ở Marx trong câu nói nổi tiếng “Con người là tổng hòa các quan hệ xã hội”. Các nhà triết học Pháp hậu 1968 như Jacques Lacan, Luis Althusser, Roland Barthes, Michel Foucault… và chính Derrida (xin lưu ý rằng tất cả các tác giả vừa kể trên đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của chủ nghĩa Marx) đã phát triển khái niệm này và cho rằng toàn bộ đời sống xã hội, bao gồm không chỉ triết học, luật pháp, khoa học…mà cả chủng tộc, giới tính và thậm chí ham muốn của con người cũng chỉ là sản phẩm do xã hội kiến tạo ra (social construct). Chẳng hạn, quan niệm rằng đàn ông là mạnh mẽ và sâu sắc, còn đàn bà là yếu ớt, nông cạn (“đàn ông nông nổi giếng thơi/ Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu”) chẳng qua là hệ quả của xã hội nam quyền. Tương tự như vậy, chúng ta cũng có thể nói rằng các cặp đối lập như văn minh/dã man, dân gian/bác học, chuyên nghiệp/nghiệp dư…chỉ là kết quả của những quan hệ quyền lực trong những bối cảnh lịch sử nhất định. Nói tóm lại, toàn bộ xã hội loài người chỉ là tập hợp các kiến tạo xã hội hoặc đôi khi cũng được gọi là kiến tạo văn hoá (cultural constructs). Đọc tiếp

Jonathan Culler: Giải cấu trúc chống lại các dự định lý thuyết có hệ thống

Jonathan Culler. Sinh năm 1944, giáo sư ngành Anh ngữ và văn học so sánh tại Đại học Cornell (Mỹ). Các tác phẩm quan trọng: Structuralist Poetics: Structuralism, Linguistics, and the Study of Literature, 1975, The Pursuit of Signs: Semiotics, Literature, Deconstruction, 1981, On Deconstruction: Theory and Criticism after Structuralism, 1982, The Literary in Theory: Cultural Memory in the Present, 2006.

 * Đọc tiếp

Jacques Derrida, người “giải kiến tạo tư duy”

Catherine Halpern

Triết gia Jacques Derrida vốn là một kẻ gây rối. Ông là một người không nhiều người hiểu, thậm chí bị gièm pha tại Pháp, nơi ông trở nên nổi tiếng nhờ có lập trường chính trị rõ ràng, nhờ công khởi xướng giải kiến tạo luận, một lý thuyết cố gắng làm cho cái tiềm ẩn trong văn bản nổi lên bề mặt. Mặc dù thế, trên bình diện quốc tế, ông rất được nhiều người quan tâm.

Mùa xuân năm 1992, Trường Đại học danh tiếng Cambridge rối loạn cả lên. Nguyên nhân: trao bằng tiến sĩ danh dự cho Jacques Derrida. Một phong trào chống đối ông đã dấy lên ngay tại nơi mà triết lý phân tích và tư duy logic rất được coi trọng. Vụ việc vượt qua khuôn viên trường đại học để rồi được đăng tải trong Times ngày 9 tháng 5 năm 1992. Nhiều giảng viên đại học có uy tín, trong đó có triết gia người Mỹ Wil­lard Quine, ký một bức thư ngỏ nhằm thay đổi kết quả biểu quyết và gây trở ngại cho người mà theo họ không phải là một triết gia thực thụ. Những kẻ chống đối ông giải thích rằng nếu như Derrida có chút uy tín, thì chủ yếu là ở trong các khoa văn và điện ảnh. Derrida dường như không tôn trọng “các quy chuẩn về tính rõ ràng và chính xác” cần có trong triết học và ông sử dụng những lời lẽ pha trò theo kiểu những người theo chủ nghĩa đađa. Văn phong mù mờ của ông chỉ là một cách giấu diếm một cách khéo léo những luận điểm trống rỗng và tầm thường của mình. Thật không may cho những kẻ chống Derrida: ngày 12 tháng 6, triết gia người Pháp được đích thân Hoàng tử Philip, Viện trưởng Viện đại học, trao phần thưởng danh giá đó. Đọc tiếp