Bài thơ “Những con mèo” của Baudelaire (phần 1/2)


Roman Jakobson và Claude Lévi-Strauss

Les Chats – Beaudelaire

1Les amoureux fervents et les savants austères
2Aiment également, dans leur mûre saison,
3Les chats puissants et doux, orgueil de la maison,
4Qui comme eux sont frileux et comme eux sédentaires.

5Amis de la science et de la volupté
6Ils cherchent le silence et l’horreur des ténèbres;
7L’Erèbe les eût pris pour ses coursiers funèbres,
8S’ils pouvaient au servage incliner leur fierté.

9Ils prennent en songeant les nobles attitudes
10Des grands sphinx allongés au fond des solitudes,
11Qui semblent s’endormir dans un rêve sans fin;

12Leurs reins féconds sont pleins d’étincelles magiques,
13Et des parcelles d’or, ainsi qu’un sable fin,
14Étoilent vaguement leurs prunelles mystiques.[1]

          Nếu người ta tin tưởng vào mục tiêu phẩm “Con mèo Trot” của Champfleury là nơi mà bài sonnet của Baudelaire được xuất bản lần thứ nhất (Le Corsaire, số ngày 14/11/1847) thì bài thơ trên đây ít ra là được viết vào tháng 3/1840, và trái với khẳng định của một số nhà chú giải – văn bản trên tờ Le Corsaire và văn bản trong tập thơ Hoa Ác trùng khít từng từ một với nhau.

          Trong cách phân bố vần, nhà thơ đi theo sơ đồ aBBa CddC eeFgFg (trong đó những câu thơ có vần dương[2] được ký hiệu bằng những con chữ in hoa và những câu thơ vần âm được ký hiệu bằng con chữ in thường). Chuỗi vần này được chia làm ba nhóm câu thơ, gồm hai khổ 4 câu và một khổ 6 câu gồm hai khổ 3 câu, chúng tạo thành một đơn vị chắc chắn, vì cách sắp xếp vần trong những bài sonnet, như Grammont đã chỉ ra, đều bị chi phối “bởi cùng những quy tắc như nhau trong tất cả các khổ 6 câu”.

          Việc chia nhóm các vần, trong bài sonnet trên đây là hệ quả của ba quy luật: 1) hai vần bằng không thể đi với nhau; 2) nếu hai câu kề cận thuộc hai vần khác nhau thì một trong hai câu phải có vần âm, còn câu kia có vần dương; 3) cuối các khổ kề cân, các câu vần âm và vần dương luân phiên nhau: 4sédentaire – – 8fierté – – 14mystiques[3]. Theo chuẩn cổ điển, các vần âm luôn luôn kết thúc bằng một âm tiết câm và các vần dương luôn luôn kết thúc bằng một âm tiết đầy đủ, nhưng sự khác biệt của hai lớp vần này còn ở cách phát âm hiện hành là loại bỏ âm e câm[4] của âm tiết cuối, nguyên âm cuối đều có các phụ âm đi sau trong tất cả các vần âm của bài sonnet (austères – sédentaires, ténèbres – funèbres, attitudes – solitudes, magiques – mystiques), trong khi đó những vần dương của nó đều kết thúc ở nguyên âm (saison – maison, volupté – fierté, fin – fin).

          Mối quan hệ chặt chẽ giữa cách chia nhóm các vần và sự lựa chọn các phạm trù ngữ pháp đều làm nổi bật vai trò quan trọng của ngữ pháp cũng như của vần trong cấu trúc của bài sonnet.

          Tất cả các câu thơ đều kết thúc bằng danh từ, hoặc là thực thể từ [5] (8), hoặc là tính từ (6). Tất cả thực thể từ này đều thuộc giống cái. Danh từ kết thúc ở số nhiều trong tám câu có vần âm là những câu dài hơn, hoặc có một âm tiết theo chuẩn truyền thống, hoặc có một phụ âm sau nguyên âm theo cách phát âm hiện tại, trong khi những câu ngắn hơn có vần dương đều kết thúc bằng một danh từ số ít ở trong sáu trường hợp.

          Trong hai khổ 4 câu, các vần dương được tạo bởi các thực thể từ, còn các vần âm thì được tạo bởi các tính từ, trừ từ khoá 6ténèbres vần với 7funèbres. Sau này ta sẽ trở lại vấn đề chung về mối quan hệ giữa hai câu đang bàn (tức câu 6 và 7 – LTP). Còn về hai khổ 3 câu, 3 câu của khổ thứ nhất đều kết thúc bằng các thực thể từ , còn 3 câu của khổ thứ hai đều kết thức bằng các tính từ. Như vậy, vần nối hai khổ 3 câu, tức là vần đồng âm duy nhất (11sans fin – – 13sable fin) làm cho thực thể từ giống cái đối lập với một tính từ giống đực – và trong số những vần dương của bài sonnet, chỉ có một tính từ duy nhất và là ví dụ duy nhất thuộc giống đực.

          Bài sonnet gồm ba câu phức được giới hạn bởi một dấu chấm, đó là dấu chấm ở hai khổ 4 câu và ở toàn bộ hai khổ 3 câu. Theo số lượng các mệnh đề độc lập và hình thái động từ có ngôi, ba câu này thể hiện một sự phát triển theo cấp số cộng: 1) chỉ một động từ có ngôi (verbum finitum[6]) duy nhất (aiment); 2) hai động từ có ngôi (cherchent, eût pris); 3) ba động từ có ngôi (prennent, sont, étoilent). Mặt khác, trong các mệnh đề phụ thuộc, mỗi câu trong số ba câu nói trên chỉ có một động từ có ngôi: 1) qui… sont; 2) s’ils pouvaient; 3) qui semblent.

          Sự tam phân của bài sonnet bao hàm một sự tương phản giữa các đơn vị chia đoạn hai vần và ba vần. Nhưng nó được cân bằng nhờ sự lưỡng phân chia bài thơ thành hai cặp đoạn thơ, nghĩa là hai cặp khổ 4 câu và hai căp khổ 3 câu. Cái nguyên lý nhị nguyên này đến lượt nó dù được tổ chức ngữ pháp của văn bản nâng đỡ, nhưng bản thân nó cũng chứa đựng một sự tương phản, lần này là giữa đoạn đầu bốn vần với đoạn thứ hai ba vần, giữa hai đoạn đầu mỗi đoạn 4 câu và hai đoạn thứ hai mỗi đoạn 3 câu. Việc sáng tác bài thơ chính là dựa trên độ căng giữa hai cách xếp đặt và giữa các yếu tố đối xứng và phi đối xứng của chúng.

          Ta nhận thấy một kết cấu song hành cú pháp rõ ràng một mặt giữa cặp khổ 4 câu và mặt khác, giữa cặp khổ 3 câu. Khổ 4 câu thứ nhất cũng như khổ 3 câu thứ nhất gồm hai mệnh đề mà mệnh đề thứ hai – là mệnh đề liên hệ và được mở đầu bởi cùng một đại từ qui – ôm lấy câu thơ cuối của đoạn thơ và gắn với một thực thể từ giống đực số nhiều, làm bổ ngữ trong mệnh đề chính (3Les chats, 10Des… sphinx). Khổ 4 câu thứ hai (cũng như khổ 3 câu thứ hai) chứa hai mệnh đề phụ thuộc mà mệnh đề thứ hai, đến lượt nó là mệnh đề phức hợp, ôm lấy hai câu thơ cuối của khổ thơ (7-8 và 13-14) và gồm một mệnh đề phụ thuộc, gắn với mệnh đề chính bằng một liên từ. Trong khổ 4 câu, mệnh đề này là mệnh đề điều kiện (8S’ils pouvaient); mệnh đề của khổ 3 câu là mệnh đề so sánh (13ainsi qu’un). Mệnh đề thứ nhất là mệnh đề đặt ở sau (postposée), còn mệnh đề thứ hai là mệnh đề chêm xen.

          Trong văn bản của tờ Corsaire (1847), cách chấm câu của bài sonnet tương ứng với cách phân chia nói trên. Khổ 3 câu đầu tiên kết thúc bằng một dấu chấm, giống như khổ 4 câu thứ nhất. Trong khổ 3 câu thứ hai và khổ 4 câu thứ hai, cả hai câu thơ cuối đều nằm sau một dấu chấm phẩy.

          Hình thái ngữ nghĩa của chủ ngữ ngữ pháp càng củng cố cái kết cấu song hành giữa hai khổ 4 câu và giữa hai khổ 3 câu:

hinh 1

          Các chủ ngữ trong khổ 4 câu thứ nhất và khổ 3 câu thứ nhất đều chỉ thực thể động vật, còn một trong hai chủ ngữ trong khổ 4 câu thứ hai và tất cả chủ ngữ của khổ 3 câu thứ hai đều là những thực thể từ chỉ bất động vật: 7L’Érèbe, 12Leur reins, 13des parcelles, 13un sable. Ngoài ra, từ những tương ứng ngang, ta nhận thấy một sự tương ứng có thể được gọi là tương ứng dọc, nó làm cho toàn bộ hai khổ 4 câu đối lập với toàn bộ hai khổ 3 câu. Trong khi đó, tất cả bổ ngữ trực tiếp trong hai khổ 3 câu đều là những thực thể từ chỉ bất động vật (9les nobles attitudes,14leur prunelles), chỉ có bổ ngữ trực tiếp trong khổ 4 câu thứ nhất mới là thực thể từ chỉ động vật  (3Les chats) và các bổ ngữ của khổ 4 câu thứ hai bao gồm đại từ les tương ứng với những con mèo ở câu trước, cùng với các thực thể từ chỉ bất động vật (6le silence et l’horreur). Về phương diện tương quan giữa chủ ngữ và bổ ngữ, bài sonnet cho thấy hai tương ứng mà ta có thể gọi là tương ứng chéo: một đường chéo đi xuống liên kết hai khổ thơ bên ngoài (khổ 4 câu mở đầu và khổ 3 câu kết thúc) và đối lập chúng với đường chéo đi lên nối liền cả hai khổ thơ bên trong. Trong các khổ thơ bên ngoài, bổ ngữ nằm trong cùng một lớp ngữ nghĩa với chủ ngữ: đó là những từ chỉ động vật  trong khổ 4 câu thứ nhất (amoureux, savants – chats) và các từ chỉ bất động vật trong khổ 3 câu thứ hai (reins, parcelles – prunelles). Ngược lại, trong các khổ thơ bên trong, bổ ngữ nằm trong lớp ngữ nghĩa đối lập với chủ ngữ: trong khổ 3 câu thứ nhất, bổ ngữ bất động vật đối lập với chủ ngữ động vật (ils [= chats] – attitudes), còn trong khổ 4 câu thứ hai, cũng tương quan này (ils [= chats] – silence, horreur) luân phiên với tương quan của bổ ngữ động vật với chủ ngữ bất động vật (Érèbe – les [= chats]).

            Như vậy, mỗi khổ trong bốn khổ thơ đều giữ tính chất cá biệt của nó: giống động vật vốn chung cho chủ ngữ và bổ ngữ trong khổ 4 câu thứ nhất thì chỉ thuộc về chủ ngữ trong khổ 3 câu thứ nhất; trong khổ 4 câu thứ hai, giống động vật này là đặc trưng hoặc của chủ ngữ, hoặc của bổ ngữ; và trong khổ 3 câu thứ hai, giống động vật không thuộc về chủ ngữ hay bổ ngữ nào.

            Mở đầu và kết thúc của bài sonnet cho thấy nhiều tương ứng nổi bật trong cấu trúc ngữ pháp của chúng. Ở phần kết thúc cũng như ở phần mở đầu mà không ở đâu khác, người ta tìm thấy hai chủ ngữ chỉ có một vị ngữ và một bổ ngữ trực tiếp duy nhất. Mỗi chủ ngữ này, cũng như bổ ngữ, đều có từ hạn định (Les amoureux fervents, les savants austères – Les chats puissants et doux; des parcelles d’or, un sable fin – les prunelles mystiques), và hai vị ngữ, vị ngữ đầu và vị ngữ cuối của bài sonnet, là những vị ngữ duy nhất có kèm theo trạng từ, cả hai đều phái sinh từ tính từ và gắn với nhau bằng một vần thông:2 Aiment également – 14Étoilent vaguement. Vị ngữ thứ hai của bài sonnet và vị ngữ áp chót đều là những vị ngữ duy nhất có một động từ (verbe copule) và một thuộc ngữ (attribut). Ca hai trường hợp, thuộc ngữ này được vần trong câu (rime interne) làm nổi bật: 4Qui comme eux sont frileux; 12Leurs reins féconds sont pleins. Nói chung, cả hai khổ ngoài là hai khổ duy nhất có nhiều tính từ nhất: 9 tính từ trong khổ 4 câu và 5 tính từ trong khổ 3 câu, trong khi hai khổ trong chỉ có 3 tính từ mà thôi (funèbres, nobles, grands).

            Như chúng tôi đã chỉ ra, chỉ có ở phần mở đầu và phần kết thúc của bài thơ, các chủ ngữ mới cùng một lớp với bổ ngữ: cả hai đều thuộc giống động vật trong khổ thơ 4 câu đầu tiên và thuộc giống bất động vật trong khổ 3 câu thứ hai. Những động vật  với chức năng và hoạt động của chúng nổi trội trong khổ mở đầu. Dòng thứ nhất chỉ có tính từ. Trong số những tính từ này, có hai dạng thực thể từ hoá được dùng làm chủ ngữ – Les amoureux les savants – cho thấy gốc gác động từ của chúng: văn bản mở đầu bằng “ceux qui aiment” và “ceux qui savent”. Ở dòng cuối cùng của bài thơ lại có sự trái ngược: động từ ngoại động Étoilent dùng làm vị ngữ, được phái sinh từ một thực thể từ. Thực thể từ này có quan hệ họ hàng với loạt danh từ chung bất động vật và cụ thể nổi bật trong khổ 3 câu này và làm cho chúng khác với ba khổ trước đó. Ta nên chú ý sự đồng âm giữa động từ nói trên với các bộ phận đang bàn: /etsɛlǝ/ – /e de parsɛlǝ/ – /etwa/. Cuối cùng, các mệnh đề phụ thuộc mà hai khổ thơ chứa đựng trong các câu thơ cuối của chúng, mỗi mệnh đề có một động từ nguyên thể đi với động từ (infinitif adverbal), và cả hai bổ ngữ bổ ngữ này đều là những động từ nguyên thể duy nhất của bài thơ: 8S’ils pouvaient… incliner; 11Qui semblait s’endormir.

            Như chúng ta đã thấy, không phải sự lưỡng phân của bài sonnet và sự phân chia thành 3 khổ thơ dẫn đến tính cân bằng của các bộ phận cùng kích thước (isométrique). Nhưng nếu ta chia 14 câu thơ thành hai phần bằng nhau thì câu thơ thứ bảy sẽ kết thúc nửa thứ nhất của bài thơ và câu thơ thứ tám sẽ đánh dấu sự bắt đầu của nửa thứ hai. Hơn nữa, điều có ý nghĩa là chính hai câu thơ ở giữa này có cấu tạo ngữ pháp khác biệt rõ rệt nhất với phần còn lại của bài thơ.

            Như vậy, về nhiều mặt, bài thơ chia làm ba phần: cặp câu ở giữa và hai nhóm cùng kích thước, tức là sáu câu trước và sáu câu sau cặp câu giữa đó. Như vậy ta có một khổ thơ 2 câu xen giữa hai khổ 6 câu.

            Tất cả dạng nhân xưng của động từ và đại từ và tất cả chủ ngữ của các mệnh đề chứa động từ đều ở số nhiều trong toàn bộ bài sonnet, ngoại trừ trong câu thơ thứ bảy – L’Erèbe les eût pris pour ses coursiers funèbres – có chứa một danh từ riêng duy nhất của bài thơ, và trường hợp duy nhất trong đó động từ nhân xưng (verbum finitum) và chủ ngữ của nó cả hai đều ở số ít. Ngoài ra, đó cũng là câu thơ duy nhất trong đó đại từ sở hữu (ses) ở số ít.

          Ngôi thứ ba là ngôi duy nhất được dùng trong bài sonnet. Thời động từ duy nhất là thời hiện tại, ngoại trừ ở câu thứ bảy và câu thứ tám nhà thơ chú ý đến hành động tưởng tượng (7eût pris) xuất phát từ một tiền đề không có thực (8S’ils pouvaient).

          Bài sonnet có xu hướng rõ nét là cung cấp cho mỗi động từ và thực thể từ một từ hạn định. Tất cả dạng động từ đều kèm theo một yếu tố bị chi phối (thực thể từ , đại từ, động từ nguyên thể) hay là một thuộc ngữ. Tất cả các động từ ngoại động đều chỉ chi phối các thực thể từ (2-3Aiment… Les chats; 6cherchent le silence et l’horreur; 9prennent… les… attitudes; 14Étoilent… leur prunelles). Đại từ dùng làm bổ ngữ trong câu thơ thứ bảy là ngoại lệ duy nhất: les eût pris.

          Ngoại trừ những bổ ngữ cho danh từ không bao giờ đi với bất cứ từ hạn định nào trong bài sonnet, các thực thể từ (bao gồm các tính từ thực thể từ hoá) luôn luôn được xác định bằng các tính ngữ (épithète) xác định (ví dụ: 3chats puissants et doux) hoặc bằng các bổ ngữ danh từ (5Amis de la science et de la volupté). Trong câu thơ thứ bảy, người ta còn tìm thấy ngoại lệ duy nhất: L’Erèbe les eût pris.

          Tất cả 5 tính ngữ trong khổ 4 câu thứ nhất (1fervents, 1austères, 2mûrs, 3puissants, 3doux) và 6 tính ngữ trong hai khổ 3 câu (9nobles, 10grands, 12féconds, 12magiques, 13fin, 14mystiques) đều là tính từ phẩm chất, trong khi khổ 4 câu thứ hai không có tính từ nào khác là tính ngữ hạn định trong câu thơ thứ bảy (coursiers funèbres)

            Cũng chính câu thơ thứ bảy đã làm đảo lộn cái trật tự động vật-bất động vật vốn chi phối tương quan giữa chủ ngữ và bổ ngữ trong các câu thơ khác của khổ 4 câu này, và trong toàn bộ bài sonnet, nó là câu thơ duy nhất theo trật tự bất động vật-động vật.

            Ta thấy rằng nhiều tính chất đặc biệt nổi bật đã làm cho câu thơ thứ bảy hay hai dòng cuối của khổ 4 câu thứ hai khác với những câu thơ còn lại của bài sonnet. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng xu hướng làm nổi bật hai câu thơ giữa của bài sonnet đang cạnh tranh với nguyên lý chia ba bất đối xứng –đối lập toàn bộ khổ 4 câu thứ hai với khổ 4 câu thứ nhất và khổ 6 câu cuối cùng, và bằng cách đó, tạo nên một khổ trung tâm khác biệt ở nhiều phương diện với các khổ ngoại vi. Như vậy, chúng tôi đã nhận xét rằng câu thơ thứ bảy là câu thơ duy nhất có chủ ngữ và vị ngữ ở số ít, nhưng nhận xét này có thể mở rộng ra: những câu thơ của khổ 4 câu thứ hai là những câu thơ duy nhất có chủ ngữ hoặc bổ ngữ ở số ít ; và, nếu trong câu thứ bảy, số ít của chủ ngữ (L’Érèbe) đối lập với số nhiều của bổ ngữ (les) thì nhứng câu thơ bên cạnh đảo ngược tương quan đó bằng cách sử dụng số nhiều cho chủ ngữ và số ít cho bổ ngữ (6Ils cherchent le silence et l’horreur des ténèbres; 8S’ils pouvaient… incliner leur fierté). Trong những khổ khác, bổ ngữ và chủ ngữ đều ở số nhiều (1-3Les amoureux… et les savants… Aiment… Les chats ; 9Ils prennent… les… attitudes; 13-14Et des parcelles… Étoilent… leurs prunelles). Cần lưu ý rằng, trong khổ 4 câu thứ hai, số ít của chủ ngữ và bổ ngữ trùng với bất động vật và số nhiều trùng với động vật . Tầm quan trọng của phạm trù số đối với Beaudelaire là đặc biệt đáng kể vì vai trò của nó trong những quan hệ đối lập vận luật của bài sonnet.

          Hơn nữa, cấu trúc vần của khổ 4 câu thứ hai cũng khác với cấu trúc của những vần khác của bài thơ. Trong số những vần âm, vần âm của khổ 4 câu thứ hai, ténèbres – funèbres, là vần duy nhất tập hợp hai từ loại khác nhau. Ngoài ra, tất cả các vần của bài sonnet, trừ các vần của khổ 4 câu đang bàn, đều có một hay nhiều âm vị giống nhau đứng ngay trước hay cách quãng âm tiết mang trọng âm, thường được trang bị một phụ âm chêm[7]: 1savants austères – 4sédentaires, 2mûre saison – 3maison, 9attitudes – 10solitudes, 11un rêve sans fin – 13un sable fin, 12étincelles magiques – 14prunelles mystiques. Trong khổ 4 câu thứ hai, hai cặp 5volup8fier, 6nèbres 7funèbres đều không có tương ứng nào trong âm tiết đứng trước vần của nó. Mặt khác, các từ cuối của câu thứ bảy và thứ tám đều có hiện tượng lặp âm đầu: 7funèbres – 8fierté, và câu thứ sáu nối với câu thứ năm: 6nèbres lặp lại âm tiết thứ hai của 5volup và vần trong câu (rime interne) – 5science – 6silence – làm tăng thêm quan hệ tương tự của hai câu. Như vậy, bản thân vần cho thấy một sự lỏng lẻo nào đó trong sự liên kết giữa hai phần của khổ 4 câu thứ hai.

          Chính những nguyên âm mũi đóng một vai trò nổi bật trong kết cấu ngữ âm của bài sonnet. Những nguyên âm “như tính mũi bao trùm lên trên” này, theo cách nói thích đáng của Grammont[8], đều có tần suất cao trong khổ 4 câu thứ nhất (9 âm mũi, mỗi dòng có từ 2-3 âm) và đặc biệt là trong khổ 6 câu cuối (21 âm mũi, có xu hướng tăng dần trong khổ 3 câu thứ nhất – 93 – 104 – 116: “Qui semblent s’endormir dans un rêve sans fin” – và xu hướng giảm dần trong khổ 3 câu thứ 2 – 125 – 133 – 141). Ngược lai, khổ 4 câu thứ hai chỉ có ba âm mũi: mỗi câu một âm, trừ câu 7 là câu thơ duy nhất của bài sonnet không có âm mũi. Mặt khác, trong khổ 4 câu thứ hai, vai trò ngữ âm nổi bật chuyển từ nguyên âm đến các âm vị phụ âm, đặc biệt là các phụ am lỏng. Chỉ có khổ 4 câu thứ hai mới cho thấy có quá nhiều âm vị lỏng: cả thảy là 24 âm, trong khi chỉ có 15 âm lỏng trong khổ 4 câu thứ nhất, 11 trong khổ 3 câu thứ nhất và 5 trong khổ 3 câu thứ hai. Số âm /r/ hơi cao hơn số âm /l/ trong hai khổ 4 câu, nhưng lại hơi thấp trong các khổ 3 câu. Câu thơ thứ 7 là câu chỉ có 2 âm /l/ nhưng lại chứa 5 âm /r/, nghĩa là nhiều hơn tất cả dòng thơ khác của bài thơ: L‘Erèbe les eût pris pour ses coursiers funèbres. Theo Grammont, chính do sự đối lập với /r/ mà /l/ “tạo nên cái ấn tượng một âm thanh không rít kèn kẹt, không gay gắt, thô ráp mà ngược lại nó lướt đi, nó tuôn chảy,… nó trong suốt”.

          Tính chất chối tai của mọi âm /r/ và đặc biệt là âm r tiếng Pháp, trong mối tương quan với tính chất vuốt (glissando) của âm /l/ được minh hoạ một cách rõ ràng trong sự phân tích âm học gần đây của Mlle Durant[9] về hai âm lỏng này. Và việc lùi lại của những âm /r/ trước những âm /l/ đi kèm theo một cách thuyết phục việc chuyển từ giống mèo trong thực tế đến những thay hình đổi dạng một cách phi thường của chúng[10].

            Sáu câu đầu của bài sonnet được liên kết bằng nét đặc trưng lặp lại: một cặp đối xứng gồm những yếu tố kết hợp được nối với nhau bằn liên từ et: 3Les amoureux fervents et lé savants aust ères; 3Les chats puissants et doux; 4Qui comme eux sont frileux et comme eux sédentaires; 5Amis de la science et de la voupté, sự lưỡng phân của những từ hạn định, rồi việc tạo thành sự đối ngẫu tréo (chiasme) với sự lưỡng phân các yếu tố bị hạn định trong câu thơ tiếp theo – 6le silence et l’horreur des ténèbres – kết thúc những kết cấu lưỡng phân đó. Kết cấu chung của hầu hết những câu thơ của “khổ 6 câu” này sau đó không xuất hiện nữa. Các yếu tố đăt kề cận mà không có liên từ là một biến thể của cùng một sơ đồ đó : 2Aiment également, dans leur mûre saison (bổ ngữ trường hợp song song); 3Les chats…, orgueil… (thực thể từ đặt cạnh một thực thể từ khác).

            Các cặp yếu tố kết hợp và các vần (không chỉ là các vần ngoài và nhấn mạnh các tương quan ngữ nghĩa, như 1austères – 4sédentaires, 2saison – 4maison mà còn nhất là các vần trong) được dùng để gắn chặt những câu thơ có sự mở đầu đó với nhau: 1amoureux – 4comme eux – 4frileux – 4comme eux; 1fervents – 1savants – 2également – 2dans – 3puissants; 5science – 6silence. Như vậy, tất cả các tính từ đặc trưng cho các nhân vật của khổ 4 câu thứ nhất là những từ vần với nhau, ngoại trừ tính từ: doux. Một hình thái từ nguyên kép liên kết những từ mở đầu của ba câu: 1Les amoureux – 2Aiment – 3Amis góp phần vào sự thống nhất của cái “khổ thơ giả” 6 câu đó, khổ thơ này mở đầu và kết thúc bằng mọt cặp câu mà các nửa câu đầu đều vần với nhau: 1fervents – 2également; 5science – 6silence.

            Les chats, bổ ngữ trực tiếp của mệnh đề bao gồm cả ba câu thơ đầu của bài sonnet, trở thành chủ ngữ ẩn trong các mệnh đề của ba câu thơ tiếp theo (4Qui comme eux sont frileux; 6Ils cherchent le silence), cho ta thấy bản phác thảo chia khổ 6 câu giả này thành hai khổ 3 câu giả. “Khổ thơ hai câu” ở giữa thâu tóm sự biến hình của những con mèo: từ bổ ngữ (lần này là hiểu ngầm) ở câu thơ thứ bảy (L’Érèbe les eût pris), đến chủ ngữ ngữ pháp, cũng được hiểu ngầm, ở câu thơ thứ tám (S’ils pouvaient). Ở mặt này, câu thứ tám gắn vào câu tiếp theo (9Ils prennent).

            Nói chung, những mệnh đề phụ thuộc ở phía sau tạo nên một sự chuyển tiếp giữa mệnh đề phụ thuộc và câu sau. Như vậy, chủ ngữ ẩn “chats” của câu thứ chín và câu thứ mười bị thay thế bằng sự chuyển dẫn sang ẩn dụ “con nhân sư” trong mệnh đề liên hệ của câu thứ mười một (Qui semblent s’endormir dans un rêve sans fin) và do đó, gắn câu thơ này với các khổ thơ dùng làm chủ ngữ ngữ pháp trong khổ 3 câu cuối cùng. Mạo từ bất định vốn hoàn toàn xa lạ với mười câu thơ đầu có 14 mạo từ xác định, là mạo từ duy nhất được chấp nhận trong bốn câu cuối của bài sonnet.

            Như vậy, nhờ những chuyển dẫn mơ hồ của hai mệnh đề liên hệ, tức là mệnh đề trong câu mười một và câu bốn, bốn câu kết thúc cho phép ta nhận ra đường viền của một khổ 4 câu tưởng tượng “vờ như” tương ứng với khổ 4 câu thực sự mở đầu bài sonnet. Mặt khác, khổ 3 câu cuối cùng có cấu trúc hình thức dường như được phản ánh trong ba dòng đầu của bài sonnet.

            Chủ ngữ động vật không bao giờ được biểu đạt bằng một thực thể từ, mà bằng những tính từ được thực thể từ hoá trong dòng đầu của bài thơ (Les amoureux, les savants) và bằng các đại từ nhân xưng hay liên hệ trong các mệnh đề sau này. Các sinh vật người chỉ xuất hiện trong mệnh đề thứ nhất, trong đó chủ ngữ kép chỉ định chúng nhờ vào các vị từ được thực thể từ hoá.

            Những con mèo, được gọi tên trong nhan đề bài sonnet, chỉ có mặt với tư cách là danh từ trong văn bản duy nhất có một lần – trong mệnh đề thứ nhất, trong đó những con mèo dùng làm bổ ngữ trực tiếp: 1Les amoureux… et les savants… 2Aiment… 3Les chats. Không chỉ từ “chats” không còn xuất hiện trở lại trong suốt bài thơ mà ngay đến cái âm đầu xuýt /ʃ/ chỉ trở lại trong một từ duy nhất: 6/ilʃɛrʃǝ/ . Bằng sự láy âm, nó đã chỉ ra hành động đầu tiên của giống mèo. Cái âm xuýt vô thanh này, gắn bó với tên của nhân vật chính của bài sonnet, đã bị tránh né một cách cẩn thận trong phần còn lại của bài thơ.

            Ngay từ câu thơ thứ ba, những con mèo trở thành chủ ngữ ẩn và là chủ ngữ động vật cuối cùng của bài sonnet. Thực thể từ chats trong các vai chủ ngữ, bổ ngữ, bổ ngữ danh từ, được thay thế bằng các đại từ hồi chỉ 6,8,9ils,7 les, 8,12,14leur(s); và các thực thể từ đại từ tính ils les chỉ quan hệ với những con mèo mà thôi. Những hình thái phụ (trạng từ) chỉ được bắt gặp trong hai khổ trong, tức khổ 4 câu thứ hai và khổ 3 câu thứ nhất. Trong khổ 4 câu mở đầu, hình thái tự trị 4eux tương ứng được dùng 2 lần và chỉ liên quan đến những nhân vật người của bài sonnet, trong khi đó khổ 3 câu cuối không chứa một thực thể từ đại từ tính nào.

            Hai chủ ngữ của mệnh đề mở đầu của bài sonnet chỉ có một vị ngữ và một bổ ngữ. Như vậy, Les amoureux fervents et les savants austères kết thúc dans leur mûre saison bằng cách tìm ra bản sắc của mình trong một sinh vật trung gian, tức là con vật bao hàm những nét tương phản của hai thân phận con người nhưng đối lập với nhau. Hai loại người đối lập nhau như là cảm giác/trí tuệ và vai trò trung gian là do những con mèo thực hiện. Do đó, vai trò chủ ngữ được đảm nhiệm một cách hàm ngôn bởi những con mèo vừa là những nhà bác học, vừa là những tình nhân.

            Hai khổ 4 câu trình bày một cách khách quan nhân vật con mèo, còn hai khổ 3 câu thì lại thực hiện sự thay hình đổi dạng của nó. Tuy nhiên, khổ 4 câu thứ hai khác về cơ bản với khổ 4 câu thứ nhất và nói chung, với tất cả các khổ thơ khác. Cách nói nước đôi: ils cherchent le silence et l’horreur des ténèbres đã gây ra sự hiểu nhầm gợi ra trong câu thơ thứ bảy và được bộc lộ trong câu thơ tiếp theo. Tính chất không bình thường của khổ 4 câu này, nhất là sự lệch chuẩn của phần sau và của câu thơ thứ bảy nói riêng, đã được nhấn mạnh bằng những nét đặc trưng trong cấu trúc ngữ pháp và ngữ âm của nó.

            Sự tương cận ngữ nghĩa giữa L’Érèbe (“miền tối tăm tiếp giáp với Địa ngục”, tức là sự thay thế bằng ẩn dụ đối với “quyền năng bóng tối” và đặc biệt là đối với Érèbe, “người em của Bóng Đêm”) với mối thiện cảm của những con mèo đối với l’horreur des ténèbres, được xác minh bởi sự tương tự ngữ âm giữa /tenEbrǝ/ và /erEbǝ/, gần như đã thắng yên cương cho những con mèo, nhân vật chính của bài sonnet, vào cái công việc khủng kiếp của những ngựa thần âm phủ (coursiers funèbres). Phải chăng trong câu thơ bóng gió L’Erèbe les eût pris pour ses coursiers funèbres, có một ước muốn tuyệt vọng hay một sự thừa nhận giả dối? Ý nghĩa của đoạn thơ này từng bị các nhà phê bình tra vấn, đến nay vẫn cứ có tính chất lưỡng nghĩa như vậy.

          Từng khổ 4 câu và 3 câu đều ra sức gán cho những con mèo sự đồng nhất hoá mới. Nhưng nếu khổ 4 câu thứ nhất gắn những con mèo với hai loại thân phận con người, thì bằng vào lòng kiêu hãnh, chúng đã gạt bỏ được sự đồng nhất hoá mới được nêu lên trong khổ 4 câu thứ hai, ở đây chúng được gắn với thân vật loài vật: thân phận của những con tuấn mã được đặt trong cái khung huyền thoại. Trong suốt bài thơ, đây là sự tương đương duy nhất bị loại bỏ. Kết cấu ngữ pháp của đoạn này rõ ràng là tương phản với kết cấu nữ pháp của các đoạn khác, đã phản bội lại tính cách khác thường của nó: thức điều kiện phi thực tại, thiếu các tính ngữ phẩm chất, có một chủ ngữ bất động vật ở số ít, không có từ hạn định và chi phối một bổ ngữ động vật ở số nhiều.

          Có hai cách dùng từ nghịch lý bóng gió liên kết các khổ thơ. 8S’ils POUVAIENT au servage incliner leur fierté, – nhưng chúng không thể làm được điều đó bởi vì chúng 3PUISSANTS (mạnh mẽ) thực sự. Chúng không thể bị 7PRIS (bị nắm giữ) một cách thụ động để đóng vai chủ động mà bản thân chúng 9PRENNENT (nắm giữ) một cách tích cực vai thụ động, bởi vì chúng cứ khăng khăng tĩnh tại, ở yên một chỗ.

          8Leur fierté (niềm kiêu hãnh của chúng) đã định trước cho chúng 9nobles attitudes 10Des grands sphinx (những thái độ tôn quý của những con nhân sư vĩ đại). Những 10 sphinx allongés (con nhân sư nằm dài) và những con mèo bắt chước chúng 9en songeant (mơ màng) được liên kết với nhau bằng sợi dây chơi chữ giữa hai động tính từ duy nhất của bài sonnet: /ãsâɀã/ và /alOâɀe/. Những con mèo dường như được đồng nhất với những con nhân sư, đến lượt mình 11semblent s’endormir, nhưng sự so sánh huyễn hoặc đồng hoá những con mèo ở yên một chỗ (và một cách hàm ngôn, tất cả những ai giống như chúng 4comme eux) với sự bất động của những sinh vật siêu nhiên, đã đạt được giá trị của một sự biến hình. Những con mèo và những người được đồng nhất với chúng cùng ở trong những quái vật huyền thoại đầu người mình thú. Như thế, sự đồng nhất hoá bị loại bỏ được thay thế bằng một sự đồng nhất hoá mới cũng mang tính chất huyền thoại tương tự.

          6En songeant (khi mơ màng), những con mèo được đồng nhất hoá với những con nhân sư vĩ đại 10grands sphinx và một chuỗi chơi chữ gắn với những từ khoá này và tổ hợp các nguyên âm mũi với các âm thắt môi răng, càng làm cho sự biến hình mạnh thêm: 9en songeant /ãsâ…/ – 10grands sphinx /…ãsfɛâ…/ – 10fond /foâ/ – 11semblent /sã…/ – 11s’endormir /sã…/ – 11dans un /.ãzœâ/ – 11sans fin /sãfɛâ/. Âm mũi cao /ɛâ/ và những âm vị khác của từ 10sphinx /sfɛâks/ tiếp tục có mặt trong khổ 3 câu cuối: 12reins /.ɛâ/ – 12pleins /..ɛâ / – 12étincelles /..ɛâs…/ – 13ainsi /ɛâs/13qu’un sable /kœâs…/.

          Ta đã đọc trong khổ 4 câu: 3Les chats puissants et doux, orgueil de la maison. Có nên hiểu là những con mèo, tự hào vì nơi ở của mình là hiện thân của niềm kiêu hãnh ấy, hay có phải ngôi nhà tự hào vì những cư dân thuộc giống mèo của mình, giống như Érèbe khăng khăng bắt chúng làm nô lệ? Dù thế nào đi nữa thì 3maison (ngôi nhà) vốn hạn chế những con mèo trong phạm vi khổ 4 câu đầu tiên, cũng biến thành một sa mạc mênh mông, fond des solitudes (tận cùng những nỗi cô đơn), và nỗi sợ hãi cái lạnh làm cho những con mèo 4frileux (co ro) đến gần những tình nhân 1fervents (say mê) (chú ý phép chơi chữ /fɛrvã/ – /frilø/) tìm thấy một bầu khí hậu thích hợp trong nỗi cô đơn khốn khổ (như những nhà bác học) của cái sa mạc nóng bỏng (giống như những tình nhân say mê) bao quanh những con nhân sư. Trên bình diện thời gian, 2mûre saison (mùa chín) vần với 3la maison trong khổ 4 câu thứ nhất và gần với nó bằng ý nghĩa, đã tìm thấy một sự trái ngược rõ ràng trong khổ 3 câu đầu tiên: hai nhóm này rõ ràng song hành với nhau (2dans leur mûre saison 11dans un rêve sans fin) và đối lập với nhau vì nhóm này gợi nên những ngày đang qua và nhóm kia gợi lên sự vĩnh cửu. Mặt khác, trong bài sonnet, không có những kết cấu có dans hay bất cứ giới từ đi với động từ nào khác.

          Phép màu của những con mèo thống trị ở hai khổ 3 câu. Sự biến hình diễn ra cho đến cuối bài sonnet. Nếu trong khổ 3 câu đầu, hình ảnh những con nhân sư nằm dài trong sa mạc chập chờn giữa tạo vật và ảnh tượng của nó, thì ở khổ 3 câu sau, những động vật  biến mất sau những mảnh vật chất. Phép đề dụ thay thế những con mèo-nhân sư bằng những bộ phận thân thể của chúng: 12leurs reins, 14leurs prunelles. Chủ ngữ ẩn trong những khổ bên trong lại trở thành bổ ngữ trong khổ 3 câu cuối cùng: những con mèo xuất hiện trước hết như là bổ ngữ hàm ẩn của chủ ngữ – 12Leurs reins féconds sont pleins – rồi, trong mênh đề cuối cùng của bài thơ, không còn gì hơn là một bổ ngữ hàm ẩn của đối tượng: 14Étoilent vaguement leurs prunelles. Như vậy, những con mèo dường như gắn với đối tượng của động từ ngoại động trong mệnh đề cuối của bài sonnet, và với chủ ngữ trong mệnh đề áp chót vốn là mệnh đề thuộc ngữ. Như vậy có một sự tương ứng kép đã được xác lập, một mặt là tương ứng với những con mèo, bổ ngữ trực tiếp trong mệnh đề thứ nhất của bài thơ, mặt khác là tương ứng với những con mèo – chủ ngữ của mệnh đề thứ hai cũng là mệnh đề thuộc ngữ.

          Nếu, ở phần đầu của bài sonnet, chủ ngữ và bổ ngữ đều thuộc về lớp động vật thì ở mệnh đề cuối cùng hai yếu tố đó đều thuộc vè lớp bất động vật. Nói chung, tất cả thực thể từ của khổ 3 câu cuối là những danh từ cụ thể thuộc lớp này: 12reins, 12étincelles, 13parcelles, 13or,13 sable, 14prunelles, trong khi đó trong các khổ trước, tất cả danh từ chung bất động vật, trừ những từ bổ nghĩa cho danh từ, đều là những danh từ trừu tượng: 2saison, 3orgueil, 6silence, 6horreur, 8servage, 8fierté, 9attitudes, 11rêve. Giống cái bất động vật chung cho chủ ngữ và bổ ngữ của mệnh đề cuối – 13-14des parcelles d’or… Étoilent… leurs prunelles cân bằng với chủ ngữ và bổ ngữ của mệnh đề đầu, cả hai đều là giống đực động vật – 1-3Les amoureux… et les savants… Aiment… Les chats.Trong bài sonnet, 13parcelles là chủ ngữ duy nhất ở giống cái, và nó tương phản với giống đực ở phần kết thúc của cùng một câu thơ, 13sable fin, đây là cái ví dụ duy nhất về giống đực trong các vần dương của bài sonnet.

          Trong khổ 3 câu cuối cùng, những mảnh vật chất sau cùng lần lượt có vị trí của bổ ngữ và chủ ngữ. Chính những mảnh sáng chói này đã được một sự đồng nhất hoá mới, sự đồng nhất hoá cuối cùng của bài thơ, gắn với 13sable fin (cát mịn) và biến đổi thành những vì sao.

          Vần nổi bật gắn hai khổ 3 câu là vần đồng âm duy nhất của bài sonnet. Nó là vần dương duy nhất đặt hai bộ phận diễn ngôn khác nhau nằm kề với nhau. Có một sự đối xứng cú pháp nào đó giữa hai từ vần với nhau, bởi vì cả đều kết thúc các mệnh đề phụ thuộc, trong đó một mệnh đề hoàn chỉnh và một mệnh đề tỉnh lược. Sự tương ứng chẳng những không bị hạn chế ở âm tiết cuối của câu thơ mà còn làm cho cả hai dòng thơ xích lai với nhau một cách chặt chẽ: 11/sãblǝ sãdOrmir dãnzœâ rɛvǝ sã fɛâ/ – 14/parsɛlǝ dɔr ɛsi kœâ sablǝ fɛâ/. Không phải ngẫu nhiên mà đích xác là cái vần liên kết hai khổ 3 câu này gợi nên un sable fin (hạt cát mịn màng) bằng cách nhắc lại cái môtip sa mạc, trong đó khổ 3 câu thứ nhất đặt những con nhân sư nằm trong un rêve sans fin (giấc mơ vô tận).

          3La maison (ngôi nhà) hạn chế phạm vi của những con mèo trong khổ 4 câu đầu tiên, lại bị loại bỏ trong khổ 3 câu đầu tiên, nơi thống trị của những cô đơn hoang mạc là ngôi nhà đích thực trái ngược với những con mèo-nhân sư. Đến lượt mình, cái “không phải là nhà” này bị thay thế bằng hằng hà sa số những con mèo (những con mèo này, cũng như tất cả những nhân vật của bài sonnet, đều được đối xử như những pluralia tantum[11]). Có thể nói, chúng trở thành căn nhà của những căn nhà không phải là nhà bởi vì chúng nhốt kín trong con ngươi của mình cát của những sa mạc và ánh sáng của những vì sao.

          Đoạn kết lấy lại chủ đề mở đầu của những tình nhân và những nhà bác học liên kết nhau trong Les chat puissants et doux. Câu thơ đầu của khổ 3 câu dường như đưa ra câu trả lời cho câu thơ mở đầu của khổ 4 câu thứ hai. Những con mèo là 5Amis… de la volupté, 12Leurs reins féconds sont pleins. Ta có thể tin rằng đây chính là sức mạnh sản sinh (force procréatrice), nhưng tác phẩm của Beaudelaire sẵn sàng đón nhận những giải pháp lưỡng nghĩa. Phải chăng đây là sức mạnh của riêng vùng thắt lưng hay là những tia lửa điện trong bộ lông của con vật ? Dù gì đi nữa, chúng cũng được gán cho một khả năng huyền bí. Nhưng khổ 4 câu thứ hai mở ra bằng hai bổ ngữ phối hợp : 5Amis de la science et de la volupté, và khổ 3 câu cuối cùng lại liên quan đến không chỉ 1amoureux fervents mà còn 1savants austères.

          Khổ 3 câu cuối cùng làm cho các hậu tố của nó vần với nhau nhằm nhấn mạnh mối liên hệ ngữ nghĩa chặt chẽ giữa 12étinCELLES, 13parCELLES d’or 14prunELLES của những con mèo-nhân sư với những tia lửa MagIQUES xuất phát từ con vật và những con ngươi MystIQUES được soi sáng từ bên trong, và mở to ra theo nghĩa ẩn. Như phơi bày sự tương đương giữa các hình vị, cái vần chỉ có ở bài sonnet này lại không có phụ âm tựa (consonne d’appui) và sự láy phụ âm đầu /m/ đặt hai tính từ này nằm kề bên nhau. 6L’horreur des ténèbres (sự hãi hùng bóng tối) tiêu tan đi do sự nhân đôi ánh sáng này. Ánh sáng này được phản chiếu trên bình diện ngữ âm bằng sự nổi bật của những âm vị có âm sắc sáng rõ trong hệ nguyên âm mũi của khổ cuối (7 âm ngạc trên 6 âm mạc), trong khi đó ở những khổ trước, các âm mạc chiếm một số lượng lớn (16 trên 0 ở khổ 4 câu thứ nhất, 2 trên 1 ở khổ 4 câu thứ hai và 10 trên 5 ở khổ 3 câu thứ nhất).

          Cùng với ưu thế của phép đề dụ ở cuối bài sonnet, đem cái bộ phận thay thể cái toàn thể của con vật và đem cái toàn thể vũ trụ thay thế con vật là một bộ phân hữu cơ của nó, các hình ảnh cố ý tìm cách biến mất trong sự thiếu rõ ràng. Mạo từ xác định nhường chỗ cho mạo từ bất xác định và việc nhà thơ gọi tên cho phép ẩn dụ động từ – 14Étoilent vaguement – đã phản ánh một cách tuyệt vời chất thơ của đoạn cuối. Sự tương hợp giữa các khổ 3 câu và khổ 4 câu tương ứng (song hành ngang) là rất ấn tượng. Nếu ở những giới hạn chật hẹp của không gian (3maison) và của thời gian (2mûre saison) được khổ 4 câu thứ nhất áp đặt, thì khổ 3 câu thứ nhất đáp lại bằng việc lùi ra xa hay hủy bỏ những biên giới ấy (10fond des solitudes, 11rêve sans fin). Tương tự, ở khổ 3 câu thứ hai, ma lực của thứ ánh sáng lan tỏa từ những con mèo, đã chiến thắng 6l’horreur des ténèbres (sự hãi hùng bóng tối) mà khổ 4 câu thứ hai suýt nữa đã rút ra những hậu quả dễ đánh lừa.

(còn nữa)

Người dịch: Lý Thơ Phúc

(Từ bản tiếng Pháp: Roman Jakobson, Lévi-Strauss Claude, “Les Chats” de Charles Baudelaire trong L’Homme, 1962, tome 2 no 1, pp. 5-21

và bản tiếng Anh: Chapiter 11: Baudelaire’s “Les Chats” trong Roman Jakobson, Language in Literature, edited by Krystyna Pomorska & Stephen Rudy, The Belknap Press of Harvard University Press, 1987, pp. 180-197)



[1] Những tình nhân say mê, những nhà bác học khốn khổ
Thường cùng yêu trong mùa chín cuộc đời,
Những con mèo mạnh và hiền, kiêu hãnh trong nhà,
Cũng như họ co ro, như họ ở yên một chỗ. 


Bạn của khoa học và của lạc thú
Chúng đi tìm của đêm tối, cái yên lặng và hãi hùng ;
Âm cung có thể cho chúng ta những ngựa thần âm phủ,
Nếu chúng chịu uốn niềm tự hào sống nô lệ khom lưng. 


Khi nghĩ ngợi chúng có những dáng điệu oai nghiêm, cao quý
Của những con nhân sư nằm dài trong khoảng mênh mông vắng vẻ,
Như đang ngủ yên trong một giấc mộng ngàn năm ; 


Lưng chúng óng ánh những hào quang kỳ dị,
Và những vẩy nhỏ vàng như những hạt cát mịn màng,
Long lanh mơ hồ trong đôi con ngươi huyền bí.

(Bản dịch của Vũ Đình Liên)

 

[2] Vần (rime) là sự lập lại các âm vị nằm ở cuối câu thơ. Trong thơ Pháp, người ta phân biệt: 1) vần nghèo: lập lại cùng một nguyên âm (battu/pattu); 2) vần đủ: lặp lại một nhóm nguyên âm và phụ âm (final/Bancale); 3) vần giàu: lặp lại ít nhất 3 âm vị (porte/morte…). Ngoài ra còn có: 1) vần âm: là vần kết thúc bằng một e câm (mouette, delire, heure…); 2) vần dương: là vần kết thúc bằng những âm khác (ardeur, vision, mourir). Về phân bố vần, ta có: 1) vần bằng phẳng: AA BB CC; 2) vần chéo: AB AB CDCD; 3) vần ôm: ABBA CDDC và 4) vần lặp (lặp lai ít nhất 3 lần: AAAB (LTP)

[3] Những con số ở đầu mỗi từ là số thứ tự câu thơ có chứa những từ ấy (LTP)

[4] Âm e caduc, còn gọi là e câm (e muet), thường ở cuối từ. Tuy nhiên, việc hiện thực hoá âm này trong phát âm tiếng Pháp tuân thủ theo một số quy luật khá phức tạp (xin tham khảo http://www.projet-pfc.net/le-francais-explique/le-e-muet/quest-ce-que-le-e-muet-.html) (LTP)

[5] Thực thể từ (substantif) có chức năng như danh từ trong câu, nhưng ý nghĩa của nó có khi rộng hơn danh từ, nó có thể là một từ loại khác (tính từ, động từ, hạn định từ…) được dùng trong câu như một danh từ. Trong bài thơ Những con mèo của Baudelaire, có 8 thực thể từ và 6 tính từ được phân bố ở cuối câu thơ (các tính từ là: austères, sédentaires, funèbres, fin, magiques, mystiques) (LTP)

[6] Tức là verbe personnel (động từ chia theo ngôi), đối lập với verbe impersonnel (động từ vô nhân xưng/động từ chỉ trống) là động từ được chia chỉ ở ngôi thứ ba (LTP)

[7] Căn cứ vào từ điển Le Petit Robert, chúng tôi dịch “consonne d’appui” là phụ âm chêm. Theo Banville, “phụ âm chêm là phụ âm mà trong hai từ vần với nhau, nếu là vần dương thì nó được đặt ngay trước nguyên âm hay nguyên âm đôi cuối cùng, còn nếu đó là vần âm thì nó được đặt ngay trước nguyên âm áp cuối” (Banville, Petit traité de la poésie française, 1883, t. 56) (LTP)

[8] M. GRAMMONT, Traité de phonique, tr. 388.

[9] M. DURAND, “La spécificité du phonème. Application au cas de R/L”, Journal de Psychologie, LVII, 1960, các trang 405-419.

[10] Câu này bản tiếng Anh dịch có hơi khác: Sự tích tụ của những âm /r/ phản ánh một cách thuyết phục sự liên tưởng viển vông những con mèo với Erebus, tiếp theo sau là sự đi ngược lên một cách tương phản từ những giống mèo có trong thực tế đến những thay hình đổi dạng phi thường của chúng.

[11] Tiếng Latin trong văn bản, có nghĩa danh từ chỉ ở số nhiều.

Nguồn: Bản dịch giả gửi Phê bình văn học.Copyright © 2012-2014 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply