Bàn lại với tác giả Bùi Việt Thắng


Trần Thiện Khanh

Sau năm 1986, đổi mới tư duy văn học được xem như đòi hỏi tất yếu. Nhiều vấn đề văn học, được xem xét lại một cách nghiêm túc, khách quan và đầy đủ. Nhà văn được thành thực với chính mình trong cảm xúc, nhận thức, quan niệm, cách thức giải quyết vấn đề. Xu hướng dân chủ trong văn hoá, văn học được đề cao, người cầm bút có nhiều điều kiện hơn trong việc tiếp cận và miêu tả những vấn đề đời sống  nóng bỏng, có ý nghĩa thời sự và muôn thuở của con người, xã hội. Đổi mới rõ rệt nhất trong văn học là tư tưởng, quan niệm. Các tác giả nữ xuất hiện ngày càng nhiều, họ nỗ lực tìm tòi,đổi mới lối viết và đạt những thành đáng kể. Thị hiếu và cách đọc văn ngày càng đa dạng, phức tạp và không ổn định.

Nhiều tác giả đang tìm tòi, thể nghiệm cách viết, không ít cây bút  bứt phá, vượt thoát khỏi những giới hạn vô hình trong hành trình tìm đường và hình thành phong cách cá nhân. Tính sử thi nhạt dần trong đời sống các thể loại. Tính đối thoại được gia tăng trong cơ cấu nghệ thuật của nhiều thể tài, giữa các ý thức của mỗi nhân vật. Thi pháp huyền thoại quay trở lại trong nhiều sáng tác văn xuôi sử dụng phương thức kể chuyện ngôi thứ nhất, biểu hiện bằng sự xuất hiện của yếu tố kì ảo. Xu hướng ảo hoá như một sự phản ứng trước cách cảm thụ nghệ thuật theo lối mòn, chứng tỏ trí tưởng tượng phong phú của nhà văn, đồng thời thể hiện thái độ của anh ta đối với cuộc  sống thực tại .

Cánh đồng bất tận xuất hiện trên văn đàn năm 2005, để khẳng định tác giả của nó là một người tài năng và giàu bản lĩnh như thế. Đọc văn theo lối mòn, chắc chắn sẽ không tìm thấy ở “Cánh đồng bất tận” một năng lượng thẩm mỹ đáng kể nào đó .

Đòi hỏi Nguyễn Ngọc Tư phải viết theo một vài kiểu mẫu, hướng ngòi bút vào miêu tả “cánh đồng mẹ” (1), không được viết về “cánh đồng chết”, thiết nghĩ như một điều phi lí trong bối cảnh văn chương hiện nay . Không nên bắt Nguyễn Ngọc Tư chỉ được xây dựng hình ảnh “ cánh đồng”  như một biểu tượng bền vững. Bởi “ biểu tượng không nắm được vận động trong chỉnh thể của nó” ( V..Lênin).

Tôi không cho rằng,viết “Cánh đồng bất tận”, Nguyễn Ngọc Tư tỏ ra “bối rối, thiếu bình tĩnh….non nớt,chưa đủ bản lĩnh nghệ thuật… thiếu  một sự tự chuẩn bị toàn diện về mặt kinh nghiệm sống, kinh nghiệm nghề nghiệp, và quan trọng nhất là một nền văn hoá cần thiết ” như ông Bùi Việt Thắng khẳng định .

Ông Bùi Việt Thắng thiếu khách quan khi  qui kết Nguyễn Ngọc Tư “ thấy cây mà không thấy rừng”. Nhân vật người cha đâu chỉ có lòng hận thù,xét riêng những tình tiết cuối truyện,  phẩm chất tốt đẹp của nhân vật đó bộc lộ khá rõ.  Bùi Việt Thắng cắt đứt mối liên hệ giữa tư tưởng nhà văn với thế giới quan, giữa sáng tác văn học và thực tế , khi ông nhấn mạnh Nguyễn Ngọc Tư thiếu “kinh nghiệm”, “ chưa đủ bản lĩnh nghệ thuật ” . Bùi Việt Thắng đề cập đến một “cách viết khôn ngoan”- “ chuyển từ đối đầusang đối thoại” , nhưng đó, cơ bản không phải lối viết của cây bút giàu bản lĩnh và am hiểu thực tại vốn phức tạp  này. Độc giả không thể đem kinh nghiệm còn khá nghèo nàn của mình về đời sống, nghệ thuật biến thành “ tầm nhìn” của nhà văn .

 Tôi không tán thành quan điểm cho rằng, chỉ  có sự “đối thoại” mới là đối tượng miêu tả đích thực của văn chương thế kỉ XXI. Bùi Việt Thắng khá cứng nhắc trong việc đánh giá động cơ của con người , khi hoàn tan “sự hận thù” trong một môi trường đối thoại lí tưởng mà ông tưởng tượng ra – cái “đối thoại siêu thực”, phi hiện thực .

 Văn bản “Cánh đồng bất tận” từ trong cấu trúc nghệ thuật của nó, đã mang tính chất một cuộc đối thoại. Đối thoại với cách nhìn, với cách đánh giá, cách giải quyết vấn đề tồn tại trong hiện thực hiện nay .

  Tác phẩm văn học nào cũng thế thôi, muốn neo đậu vào cuộc đời thực,chạm tới những vấn đề nhức nhối, bức thiết của xã hội, đặt ra vấn đề thân phận con người.  Với một sức viết dẻo dai, Nguyễn Ngọc Tư bứt ra từ cuộc sống, một rừng quả đắng, hiến dâng cho khách đọc đã quen với vị ngọt ngào. Chị đã phơi bày những góc khuất ; tái hiện một môi trường sống khắc nghiệt,với biết bao con người tha hoá, băng hoại đạo đức; giải phẫu cái điều vô lí mà con người cứ phải chấp nhận như cái có lí nhất. Tình tiết nào cũng tươi rói, ngồn ngộn chất sống . Rõ ràng, các nhân vật được sáng tạo ra trong  “Cánh đồng bất tận” “không phải giành được từ trong không khí” (Gorki) mà xuất phát từ sự quan sát, hiểu biết rộng về đời sống hiện thực, nên khá gần gũi với con người của thời hiện đại.

Từ Ngọn đèn không tắt, Ông ngoại đến Biển người mênh mông, Giao thừa,Nước chảy mây trôi…  Cánh đồng bất tận,nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Ngọc Tư đã bắt đầu chín, đặc biệt  khi chị tập trung  tả “ khuôn mặt khác của cuộc sống”. Nếu không có một vốn sống dày dặn, dưới ngòi bút của Nguyễn Ngọc Tư, nỗi đau se thắt, u uất của thân phân con người đâu hiện ra tự nhiên và cảm động nhường ấy .

Nếu nhà phê bình quen tiếp xúc với lối viết hiền lành,anh ta sẽ bị “sốc” trước cách viết góc cạnh; quen với cảm hứng sử thi, dễ bỏ qua tinh thần thẳng thắn nhìn thẳng vào sự thực, một bản lĩnh nghệ thuật của nhà văn .

Tác phẩm “Cánh đồng bất tận”, theo tôi có dáng vóc một tiểu thuyết hiện thực, pha lẫn yếu tố kì ảo viết về thân phận con người bị bỏ rơi, héo hắt trên một cánh đồng hoang liêu nhất. “ Cánh đồng”  trong “Cánh đồng bất tận”, đâu chỉ là hình ảnh cụ thể của thiên nhiên, không gian sinh tồn của vài mảnh đời bấp bênh, trôi nổi, mà còn có ý nghĩa biểu tượng .Bất tận là cái triền miên của mưa nắng, nhọc nhằn, cái tiếp nối không giới hạn của kiếp người nhắm mắt làm đĩ, vì “đói rã ruột”, là cái chán chường không thèm phản ứng chống lại của kiếp người chứng kiến nhiều cái oái oăm, trớ trêu. Bất tận nỗi đau, nỗi nhục, sự hận thù. Bất tận sự vô lí. Dục vọng của con người, sự nhận chịu bị chà đạp giày xéo cũng bất tận nốt !

Nguyễn Ngọc Tư, quan tâm đến phép ứng xử của con người khi bị ném vào cánh đồng bất tận. Đúng là trong cảm quan của tác giả, mỗi người đều có cách riêng để tồn tại, để hiểu biết,nếm trải và hoàn thành nhiệm vụ của bề trên. Nhưng đừng vội cho rằng, nhà văn bi quan, bóp méo sự thực. Mọi tác phẩm văn học, đều có quyền hư cấu. Sự hư cấu của Nguyễn Ngọc Tư, ở đây , không đến mức quá phi lí .

 Thế giới nhân vật trong “Cánh đồng bất tận” khá đa dạng. Có con người bé bỏng bị khước từ mọi cách sống lương thiện, buộc phải “đem hết những bản năng hoang dã của mình để giành lại miếng ăn” . Có nhân vật không đất sống, muốn trốn tránh cái “thế giới người” để che giấu sự khác thường của cuộc sống gia đình mình. Không hiếm nhân vật, biết mình không thể thoát được sự sắp đặt, dồn đuổi, cam chịu dấn thân tha hoá và im lặng mênh mông .

 Ở “Cánh đồng bất tận”, hầu hết con người khao khát được giao tiếp, dù với con vật hay với ma. Hai đứa trẻ cố gắng học cách yêu thương đàn vịt, chúng đắm đuối “với loại ngôn ngữ mới….chấp nhận người ta nhìn mình như những kẻ điên” để không phải nghe tiếng  tim mình cào xé, nhức buốt. Chị Sương mong đàn vịt hiểu và chấp nhận mình . Nhân vật “tôi”,  tiếc đàn vịt bị vùi lấp, bởi chúng đã “thấu được tim mình” .

Miêu tả dòng tâm trạng của hai đứa trẻ khi chứng kiến cảnh gia cầm giãy giụa, gào thét, quả thật Nguyễn Ngọc Tư đã góp thêm một tiếng nói, một cách nhìn táo bạo trước một hiện thực cuộc sống tàn nhẫn . Câu chuyện được triển khai từ điểm nhìn của người trong cuộc,từ tầm nhìn của hai đứa trẻ, trở nên sâu sắc và thấm thía hơn nhiều, so với cách kể theo ngôi thứ ba .

Nguyễn Ngọc Tư đi xa hơn chuyện dịch cúm gia cầm. Trang văn của chị nặng trĩu yêu thương,khi kể về thân phận những đứa trẻ bị bỏ rơi, bị đối xử tàn nhẫn, thô bạo. Nhà văn cố gắng chỉ ra sự phụ thuộc tự nhiên của con người vào những điều kiện tự nhiên xã hội cụ thể, tâm thức về “cánh đồng mẹ” như Bùi Việt Thắng đề cập, không hề mờ nhạt trong trang văn Nguyễn Ngọc Tư . Song, giá trị của văn phẩm không toát lên từ đó. Cách đặt vấn đề mang vẻ riêng như thế, phần nào giúp chúng ta thức tỉnh,nghiêm khắc nhìn  thẳng vào cuộc sống đương diễn ra quá trình đô thị hoá mạnh mẽ.

 Ông Bùi Việt Thắng yêu cầu ngôn ngữ của một cây bút có chất giọng Nam Bộ phải được “quốc gia hoá” ,chứ không được sử dụng “từ ngữ quá đặc thù vùng miền”(tr135), những nhà văn sử dụng nhiều phương ngữ là “thiếu sự lao động nghiêm túc, kĩ lưỡng”; khi miêu tả nhà văn không được đặt  “trời đất, thần Phật” và “rắt rít” cạnh nhau, ngang nhau. Hoá ra, Bùi Việt Thắng đã xoá nhoà cá tính sáng tạo của chủ thể thẩm mỹ, ông muốn mọi tác phẩm phải giống nhau như đúc khuôn, ngay cả về hệ từ vựng và ngữ pháp. Đòi hỏi của Bùi Việt Thắng  có phần ảo tưởng.

Cánh đồng bất tận” có ngôn ngữ, giọng điệu, sắc thái, cấu trúc riêng của mình, không thể cô lập “Cánh đồng bất tận” khỏi ảnh hưởng của phương ngữ Nam Bộ như Bùi Việt Thắng cố gắng làm. Không nên đo thế giới của Nguyễn Ngọc Tư bằng kích thước ngôn ngữ khác. Chế tạo một ngôn ngữ đặc biệt, hoặc đem cách diễn đạt của ai  đó gán cho Nguyễn Ngọc Tư, bắt buộc chị làm theo, là ý đồ không thể thực hiện được. Ý tưởng về một ngôn ngữ thống nhất và duy nhất đối với sáng tác văn chương  của Bùi Việt Thắng như một điều không tưởng, trên thực tế xa rời sáng tác văn học nghiêm túc nhất.

Chú thích:

(1) Bùi Việt Thắng: Bài học văn chương từ cánh đồng bất tận. Tạp chí Nghiên cứu văn học số 7-2006, tr 132 .

Nguồn:  Tạp chí Nghiên cứu văn học số 8 -2006

Leave a Reply