Bão rừng của Nguyễn Văn Xuân


Tam Ích

Cuốn Bão rừng in rất đẹp hình như ra đời vào năm 1957. Tác giả của nó là Nguyễn Văn Xuân, một tác giả có một bút pháp rất vững – đối với những người trẻ tuổi viết văn vào thời ấy, cái thời ông Ngô Đình Diệm mới chấp chính được vài ba năm. Có thể nói là họ Nguyễn tham dự vào thế hệ bậc thầy,đó là tôi nói thật – ngày nay thì đã hơi khác, dĩ nhiên! Người đưa nó ra đời và đề tựa cho nó là nhà văn Lưu Nghi, người đã có vị trí trong văn giới, một người tinh đời và can đảm dám làm một việc không biết dẫn người bỏ tiền… in sách đi tới sự phá sản nào… Nói phá sản là nói đúng – vì văn chương hay,ở một hoàn cảnh lịch sử nào đó, gặp những tình thế văn hóa nào đó…, thường thiếu thị trường… Chuyện ấy lịch sử văn học đã để nhiều bài học – chẳng phải bây giờ mới có, hay là chuyện tôi bày đặt…

Ông Ngô Đình Diệm chỉ đi chơi không thôi cũng đã nằm trên trang nhất của tờ báo – cùng một lúc nữ ca sĩ cải lương tầm thường nhất đi ngoài đường gặp xe đạp làm trầy ngón chân út… cũng chiếm một hai cột lớn trên trang nhất bên cạnh cuộc kinh lý vụn của ông Tổng thống… Riêng cuốn Bão rừngcủa Nguyễn Văn Xuân thì khi ra đời, vỏn vẹn chỉ có một vài hàng giới thiệu con con trong một xó tối tăm nhất của trang tư một tờ báo hằng ngày… Giữa lúc ấy thì có một số nhà văn nhà thơ đương giận chế độ và đương tủi thân – tủi chung, tủi riêng: trong đó có tôi. Chúng tôi không viết – thêm vào đó một trường hợp: tôi bệnh hoạn cho nên đã lười lại lười thêm. Cuốn Bão rừng bị thiệt thòi… đã thiệt thòi lại thiệt thòi thêm, ít người nói đến…

Sao mà nó buồn thế: khí hậu văn chương trong văn hóa tiêu sơ đến thế kia à!

Ngày nay, anh Vũ Hạnh cho mượn cuốn Bão rừng để tôi đọc lại. Đọc lại rồi và thấy sách của Nguyễn Văn Xuân vẫn có giá trị của nó. Bài này xin viết để nói về cái giá trị ấy…

Bão rừng là một cuốn tiểu thuyết phóng sự. Về phương diện tiểu thuyết thì không có gì là ghê gớm – nhưng về phóng sự thì quả tình nếu Vũ Trọng Phụng còn sống, Phụng cũng đã phải ngả nón trước giá trị một nghệ phẩm. Nói nghệ phẩm là dùng đúng danh từ: nó gây được hương vị tuyệt đối chua chát về nhân sinh, nó lột trần thực tại, nó không giấu giếm cái u ám của đời sống và không tô điểm cái nhớp nhúa của lòng người như cổ kim danh sĩ thường nắm lấy cớ là sáng tạo hay tái sáng tạo không thời gian và vạn vật: lột trần thực tại tức là dạy cho thiên hạ đừng nên dối mình và dối người… Đồng thời nó làm người ta nhớ tới những bức tranh ấn tượng – quả tình nếu có những cuốn sách tả chân gây được sự nôn mửa… về con người và vềloài người, thì cuốn Bão rừng phải xếp vào hàng đầu những nghệ phẩm thành công… Thành công vì đã đạt đến mức gây được tác dụng của nghệ thuật: xếp sách lại, người đọc bàng hoàng và sợ… bão rừng: bão khắp chốn, bão mọi nơi, bão cùng hết từ trong ra ngoài từ ngoài vào trong, bão dài từ thuở lập địa khai thiên cho đến ngày con người ra trước tòa để nghe lời phán quyết cuối cùng – jugement dernier – … Chẳng hiểu tại sao Tam Ích hèn mọn này chẳng phải tín đồ Công giáo mà lại tin như vậy… Có đáng gì đâu mà cứ viết cả thiên kinh vạn quyển để đề cao cái con người – làm như con người thật tình quý hơn vạn vật vậy…! Mà quý ở đâu kia mới được chứ!

Nguyễn Văn Xuân là người thoát được cái “ngục” nhỏ đi trên con đường “Trung châu rộng chúng ta đi bao giờ cho hết” (trang 324) là Nguyễn Văn Xuân hai mươi tuổi. Tôi tưởng Nguyễn Văn Xuân viết lại một cuốn Bão rừng khác… để tỏ rằng đường “trung châu” không có rộng rãi gì đâu mà tấp tểnh chân thấp tấp tểnh chân cao.

Trong Bão rừng có một người xưng là tôi. Hãy giả tỉ như tôi đây là tác giả… Tôi ấy còn trẻ, một hôm tôi ấy đi kiếm ăn trên đồn điền cao su, làm thư ký cho bà chủ một đồn điền có một ông chồng người Pháp – một đứa con hoang ngu dốt đẻ vào những phút dại dột của xác thịt thực dân. Ấy thế là con người trí thức tiểu tư sản có một dung tích lớn chất văn nghệ trong dòng máu ấy được chứng kiến hết: tất cả những cái bỉ ổi của tâm hồn một số người, tất cả những cái nhớp nhúa của cái tính-bản-thiện-ôi-là-thiện của thầy Mạnh Tử, tất cả các bi đát thương tâm của những nạn nhân của chế độ đồn điền thực dân – bất kỳ ở hình thức nào, nấp dưới bất kỳ tĩnh từ tốt đẹp nào – tất cả một xã hội thối nát phiến thể, loạn thể, biến thể… được Nguyễn Văn Xuân dùng một bút pháp rất nhiều văn ảnh và văn nghệ tính, vẽ ra hết. Cố nhiên trong truyện cũng có một tấm tình – sao lại tấm nhỉ – giữa cái ông tôi ấy và một cô gái… nhưng mà rồi cũng chẳng đâu tới đâu… Tôi ấy phải tam khoanh tứ đốm bảy lọc năm lừa mới thoát được cái cõi nhớp nhúa ấy, về đến “trung châu” là… sẽ quên mối tình chứ gì! Ấy chẳng qua là tác giả cũng phải lồng vào đấy một chuyện tình cho có vẻ… tiểu thuyết một tí… Không lẽ không có một chút yêu đương!

Trên chỗ cao nhất của đồn điền có một ông Tây và bà vợ ông Tây có đồn điền và có tiền… có cả quyền vốn mua được bằng tiền. Ở chỗ nửa lưng chừng “hệ thống”, có anh bếp chị bồi – và thêm vào đó người xưng tôi biết chữ Tây chữ ta, đã qua một chút sách thánh hiền, đã suy tưởng về đời sống… Trên thì mấy người biết chữ này phụng sự ông chủ bà chủ đồn điền, dưới thì họ “cai trị cả một xã hội phu phen ăn mặc như súc vật”! Cũng như ngày xưa, lớp sĩ phu trên thờ vua dưới cai trị dân. Cũng như bất kỳ ngày nào trong lịch sử… hỡi ôi!

Chúng sinh cứ nhân cái bức tranh ấy làm hai, làm ba, làm một nghìn lẻ… một, chúng sinh sẽ thấy đó là hình ảnh toàn diện các xã hội nhược tiểu, bán khai, hạ phát triển (sous-développé) sống dưới một chính thể nào đó, sống trên cái trái đất mênh mang này – chỗ nào có trồng tỉa được, chỗ nào có mỏ sắt mỏ than, chỗ nào nhà máy to lớn, chỗ nào có trên thì ông bà chủ, dưới có công nhân phu phen, giữa có trí thức tiểu tư sản phụng sự, chỗ nào có kẻ trên và người dưới, kẻ có tiền và kẻ đầu tắt mặt tối, kẻ cai trị và kẻ chịu một bề – và ở suốt giải lịch sử loài người từ ngày ăn lông ở lỗ cho đến ngày có nguyên tử lực?

Mà thật là khôi hài! Cái giai cấp trí thức tiểu tư sản này vác cái xác đi phụng sự kẻ có quyền và có tiền, nhưng lại hay phản ứng lắm! Người có tiền và có quyền thì họ có súng có ống để bảo vệ quyền lợi họ – người nghèo xác xơ thì họ có sức mạnh chung để phòng thủ chính họ trong lịch sử. Cái giai cấp… lưng chừng này – bị chê giống cục phân – chẳng có sức mạnh quái gì cả; họ chỉ có một lợi khí: là châm biếm, chửi đổng và báo thù vặt… Này nhá, Nguyễn Văn Xuân kể rằng:

“Anh bồi nhổ một bãi nước bọt vào cái đĩa, lấy ngón tay xoa cho mỏng ra, để anh bếp thản nhiên múc đồ ăn đổ vào. Rồi cũng mượn đúng cái bộ mặt lương thiện, nhanh nhẹn như hồi nào, kính cẩn bưng cái đĩa đồ ăn ấy lên cho vợ chồng lão chủ đang ngồi đợi. Vợ chồng lão chủ ăn ngay tức khắc là khen ngon đáo để… Vì cái món ăn ấy nấu bằng lứa bắp đầu mùa…”.

Tôi coi đến đoạn này thấy bi đát một cách rất khôi hài, vừa buồn vừa giận – buồn giận đến chảy nước mắt… Chuyện nó nói thế thì tác giả kể ra như thế – nhưng nhờ giọng văn ý văn, từ văn, thể văn… và văn mạch của Nguyễn Văn Xuân, chuyện đã đi thẳng vào lòng người và đánh thức dậy hết cáimặc cảm và bất lực của một số người không có khí giới – chỉ còn một lợi khí muôn thuở có chữ có nghĩa có mười năm kinh sử như Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Văn Xuân… thì dùng văn và thơ mà mắng tạt vào mặt, đập xéo vào lục phủ ngũ tạng lũ hắn… còn không đi thì tam trường không học lớp đệ nhất, không qua Âu Mỹ du học… thì chỉ còn một cách là dở những ngón… vặt: chẳng làm cái thá gì ai, nhưng cũng vơi được một phút căm hờn… phải thế chăng?

Ngày xưa thì hẳn giữa người quân tử và kẻ tiểu nhân có biên giới tinh thần rõ ràng… Ngày nay thì thế cờ luân lý đã lật ngược.

Vàng thau lẫn lộn đen trắng mập mờ, một số người đã bị dồn vào cái thế báo thù… vặt tránh sự dồn ép rất “Freudien”… Thôi, kẻ yếu thì dùng lợi khí của kẻ yếu vậy; biết đâu nó đã chẳng tham dự gần xa vào việc làm lịch sử… Nó trừu tượng và cực tế cực vi nên không ai… ý thức đó mà thôi.

Cuốn sách của họ Nguyễn đã làm thêm được một việc trừu tượng tố cái cái nhớp nhúa núp sau lầu son gác tía, vàng bạc kiêm cương… để áp đảo chúng sinh, để làm mặt ăn trên ngồi cao… Cái nhớp nhúa trong tâm hồn con người mới thật là cái nhớp nhúa – còn quần áo rách, cơm hẩm và mái nhà tranh, kể cả thân thế những người trẻ tuổi khủng hoảng ngày nay đi xe hơi hai trăm cây số một giờ, uống những ly rượu đắng để quên cái bi đát của đời sống, chửi đổng để phản ứng lại cái nhân sinh thiếu nhân và nghĩa – đôi khi lại chứa những tâm hồn thẳng, trong trắng, nhân đạo… lành… đáng quý: cái trong sạch và đạo đức của tâm hồn mới thật là cái trong sạch theo nghĩa chính vậy.

Cuốn sách của họ Nguyễn còn làm một việc phụ nữa – phụ mà lại hóa ra chính. Là làm cho người ta nghĩ nhiều. Nhiều lắm.

Rừng của Nguyễn Văn Xuân là rừng cao su – rừng cao su làm ra cao su… Cũng như hầm đá nào đó là hầm đá từ đó phát sinh chất xi măng mầu nhiệm…cũng như mỏ sắt cho chất sắt… Bao nhiêu nguyên liệu của trời đất, con người khai thác để xây dựng ra bao nhiêu cái đẹp lớn cái đẹp nhỏ có cái tên gọi là nền văn minh để cho mỗi ngày mỗi người mỗi trầm trồ mỗi chiêm bái… Thì ra cái mà loài người gọi là nền văn minh – dùng chữ nền là đúng lắm! – vật chất của loài người chỉ là một cái đĩa cổ tráng men lóng lánh trên đó con người nhổ nhiều bãi máu và nước mắt – và vài giọt nước bọc – rồi “mượn đúng cái bộ mặt lương thiện, kính cẩn bưng cái đĩa ấy” lên ngang miệng… chính mình ăn rồi khen ngon đáo để! Vậy xin hỏi rằng cái Vạn lý trường thành của Tần Thủy Hoàng, một trong bảy kỳ quan của vũ trụ mà ngày sau loài người chiêm ngưỡng một trong những gia tài văn minh lịch sử, để lại cho ngàn đời sau, là cái gì nào? Là cái mồ chôn cả trăm cả ngàn “đống xương vô định ” cao vun vút – cả trăm ngàn bãi xương máu bãi đau thương… chứ gì nữa! Ủa! Ấy thế mà người ngàn sau – kể cả xã hội học gia, tư tưởng gia, sử gia… – vẫn “mượn đúng cái bộ mặt lương thiện kính cẩn…”. Ấy! Đối với người Âu Tây, người Á Đông chúng ta hãnh diện về cái Vạn lý trường thành to lớn ấy lắm đó…!

Thôi, ông bạn Nguyễn Văn Xuân cho phép tôi mượn văn ảnh chua chát trên, thêm vào một chút kích thước khác, tô thêm một chút màu sắc… khác, hình dung một luận cứ lịch sử và nhân sinh. Đa tạ. Tôi bạc đầu vẫn chưa hiểu nổi con người hơn vạn vật ở đâu, quý hơn vạn vật thế nào…

Thánh hiền cần phải viết lại mớ sách…

Anh Lưu Nghi nên tìm cách cho tái bản cuốn Bão rừng của Nguyễn Văn Xuân. Giá trị tượng trưng của nó lớn lắm! Nó nên có vị trí xứng đáng của nó trong “lâu đài” văn hóa. Văn hóa đang ngổn ngang: thi hành ném tứ tung, cũng nên có người chịu khó sắp, chịu khó xếp – xếp cho chính mình ở chứ cho ai ở vào đấy… mà lười kia chứ hở trời!

Nguồn: Lá Bối xuất bản lần thứ nhất, in tại nhà in Đăng Quang, 734a Phan Thanh Giản – Sài Gòn. Giấy phép số 481 TBTTCH/BC3/XB Sài Gòn ngày 22 tháng 2 năm 1967, ngoài những bản thường in thêm 100 bản đẹp dành riêng cho tác giả, nhà xuất bản và thân hữu. Thư từ, liên lạc về Nxb xin gửi cho Từ Mẫn, bưu điện xin đề tên cô Cao Ngọc Thanh. Giá 120 đồng. Bản điện tử do talawas thực hiện.

Leave a Reply