Cần quan tâm nhiều hơn đến công tác di sản văn học*


Lại Nguyên Ân 

Trong giới văn học chúng ta, ngành lý luận phê bình gồm có ba chuyên ngành vừa tách biệt vừa liên can chặt với nhau: lý luận (lý thuyết văn học), phê bình (bình luận về văn học đương thời) và nghiên cứu (nghiên cứu lịch sử văn học). Tuy vậy, hoạt động của giới nhà văn chúng ta thường chỉ chú trọng phê bình, xem nhẹ hai lĩnh vực còn lại, nhất là nghiên cứu văn học, do quan niệm rằng đây thuộc phạm vi của các nhà nghiên cứu ở các viện hoặc các khoa văn trường đại học.

Quả là đối với giới nhà văn thì mạch đập chính của đời sống văn học là những tác phẩm mới được công bố trên báo, nhất là in thành sách, và những phản hồi của dư luận đối với các tác phẩm mới ấy. Do vậy, phê bình dễ được xem là hoạt động thường ngày của đời sống văn học, dù rằng những người sáng tác thường xuyên không thỏa mãn với những phản hồi mà phê bình đem lại về các tác phẩm của họ.

Đời sống văn nghệ vốn đa dạng. Nhịp sống thường ngày không chỉ có việc phản hồi với sự ra mắt các sáng tác mới, mà còn thường xuyên có sự đọc lại, đọc mới những cái đã từng có, ‒ những tác phẩm đã từng xuất hiện sẽ có lúc được nhắc lại, những tác giả đã từng góp mặt trong văn học các thời kỳ…

Chính giới nhà văn hội viên gắn với Hội nhà văn Việt Nam cũng gồm nhiều thế hệ, trong đó có đến vài thế hệ đã đóng xong vai trò của mình trong sự phát triển văn học; sáng tác của họ, con đường văn học của họ, đã đến lúc trở thành đối tượng cần được khảo cứu, mô tả, nhận định dưới góc độ tiến trình văn học sử; rồi chính tổ chức hội nhà văn như là nhân tố tổ chức hàng loạt hoạt động văn học, hỗ trợ cho sự ra đời và định hình những tên tuổi, những phong cách, những mảng văn học,… cũng đã đến lúc trở thành đối tượng của những nghiên cứu, khảo sát, mô tả, ghi nhận…

Nhìn rộng ra, chúng ta, những nhà văn, nhà phê bình nghiên cứu Việt Nam, đương nhiên phải chịu trách nhiệm hàng đầu đối với tất cả những gì đã từng được các tác gia người Việt ở mọi thời kỳ lịch sử viết ra, ‒ có thể gọi chung đó là di sản văn học của người Việt. Trong di sản này, có những tác phẩm đang được hậu thế ghi nhớ và sử dụng, lại cũng có không ít những tác phẩm của không ít tác giả đã không có được sự may mắn ấy, do rất nhiều loại nguyên nhân, mà hậu quả là những tác phẩm ấy đã không còn vẹn toàn, đã và đang bị mất mát, thất lạc, rất cần được tìm lại, văn bản và lai lịch tác phẩm cần được xác minh, tác quyền, tiểu sử và nhân thân tác giả cần được minh định để khỏi bị lầm lẫn.

Nếu khu vực trứ tác bằng chữ Hán chữ Nôm hiện đã có cơ quan chuyên trách của nhà nước là Viện Hán Nôm, thì khu vực trứ thuật và sáng tác bằng chữ Quốc ngữ ‒ tính đến nay cũng đã có chiều dày thời gian gần 150 năm, lại trải qua nhiều biến động xã hội gây bất lợi cho sự bảo tồn các dạng hiện vật chứa đựng tác phẩm ‒ là khu vực chưa có cơ quan chuyên trách. Do vậy, có hàng loạt tác gia, tác phẩm, hàng loạt hoạt động văn học, báo chí, xuất bản từng diễn ra sôi động trên những vùng miền nhất định trong những thời gian xác định, ‒ thì nay đã hoặc đang dần dần mất dấu.

Ngay những hoạt động viết văn, làm báo, in sách của văn nghệ sĩ thời kháng chiến 9 năm ở Việt Bắc hay ở bưng biền Nam Bộ, thời làm báo viết văn dọc Trường Sơn và các chiến trường Quảng Đà, Cực Nam Trung Bộ, Nam Bộ giai đoạn 1954-75, tính đến nay chỉ còn được biết trong khá ít sách vở tài liệu.

Tôi từng có lúc viết báo than phiền: những cái tên như “Nhà xuất bản Giải phóng”, “Nhà xuất bản Văn nghệ giải phóng” hoàn toàn không hề tìm thấy trong bộ “Từ điển Bách khoa Việt Nam” (4 tập, 1995-2005, cả bản sách in giấy lẫn bản hiện có trên mạng internet). Mà đây có lẽ chỉ là một ví dụ ngẫu nhiên, bởi không khó để mỗi chúng ta đụng chạm hàng ngàn những ví dụ tương tự.

Thay vì than thở, có lẽ nên bắt tay vào hành động.

Một vài dấu hiệu đáng khích lệ là mối quan tâm đến di sản dường như đang ít nhiều tăng lên trong giới nhà văn. Không ai khác, chính trong giới chúng ta đã có sự tìm tòi để làm rõ tác quyền thực sự, tác giả thực sự của những bài thơ khúc ca mà một thời gian dài từ khi xuất hiện vẫn được coi là “của tác giả dân gian”, là “dân ca mới, dân nhạc mới” (thơ “Em tắm”, lời ca “Núi Mường Hung dòng sông Mã”, thơ “Bóng cây Kơ-nia”, v.v…). Không ai khác, chính trong giới chúng ta đã và đang diễn ra việc tìm lại di sản sáng tác, trứ thuật của nhiều tác gia đã quá cố.

Tuy vậy, thiết nghĩ chúng ta chưa thể hài lòng với một vài kết quả dù sao cũng còn là nhỏ bé so với những gì đã mất mát.

Nhân hội thảo này, tôi xin đề nghị mấy việc sau:

1/ Hội nhà văn Việt Nam nên tiến tới có một Hội đồng về di sản văn học;

2/ Nên sớm đưa Bảo tàng văn học vào hoạt động, tức là khai trương đón công chúng vào xem các trưng bày chung và trưng bày chuyên đề;

3/ Cùng trên hướng này, Hội nhà văn nên tổ chức biên tập và xuất bản một tạp chí “Di sản văn học”, có thể ban đầu chỉ 2 kỳ/năm trên sách giấy, nhưng nên mở tạp chí này trên mạng internet, tập trung vào nội dung tìm lại di sản, thông tin về các nguồn tư liệu có thể khai thác, diễn đàn trao đổi giữa các nhà nghiên cứu, sưu tầm, nhà văn, thân nhân các tác gia, chủ nhân các kho sách báo tư nhân, v.v… nhằm trợ giúp cho việc làm thông thoáng các thông tin về những tác phẩm, tác giả đang bị rơi vào lãng quên…

Những hoạt động kể trên tất nhiên cũng đòi hỏi một kinh phí nhất định, song, bên cạnh đó cần triển khai hoạt động này theo hướng xã hội hóa, chẳng những để có nguồn kinh phí hoạt động mà còn là để đưa hoạt động tìm tòi và bảo tồn di sản văn học về với cộng đồng.

08/5/2013

*. Tham luận tại hội thảo “Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động lý luận phê bình văn học trong tình hình hiện nay” do Hội nhà văn Việt Nam tổ chức, Tam Đảo, 4&5/06/2013

Leave a Reply