Đề tựa tập thơ Việt âm mới được lựa chọn lại


Lý Tử Tấn

Nước Việt ta, từ khi lập quốc đến nay, có nhiều nhà thơ nổi tiếng với đời. Như các vua Thánh Tông, Nhân Tông, Minh Tông, Nghệ Tông triều Trần (1) và các vị khác như Chu tiên sinh tên hiệu là Tiều An, ông họ Phạm ở Hiệp Thạch, ông họ Lê ở Lương Giang, ông họ Nguyễn hiệu là Giới Hiên, hai anh em ông họ Phạm hiệu là Kính Khê (2), đều có các tập thơ riêng lưu truyền ở đời. Sau vì binh lửa, số còn lại chỉ được một vài trong hàng trăm hàng ngàn bài mà thôi.

Ông Phan Phu Tiên, người làng Đông Ngạc, hồi làm quan ở Viện Quốc sử đã có ý định tập hợp thơ của vua tôi mấy đời gần đó để những kẻ có học đời sau được biết. Ông bèn sưu tầm rộng rãi những bài thơ bị mất mát, lại lượm lặt thêm cả những bài ghi công trạng khắc vào vách đá của các vua Thái Tổ, Thái Tông triều hiện nay (3) cùng là tác phẩm của các vị có tên tuổi và các vị túc nho, được tất cả mấy trăm bài, đặt tên là Việt âm. Sắp sửa cho in thành sách thì gặp lúc ông Phan phải ra làm Phủ sứ nên việc không thành.

Quan Thị ngự sử trước đây là ông Chu Xa, người ở Yên Phong, nuối tiếc và hoàn thành chí hướng đó của ông Phan. Ông còn lượm lặt rộng thêm thơ của các vị ra làm quan và không làm quan từ xưa tới nay, của các vị người nước Nam làm quan ở phương Bắc hoặc của người phương Bắc sang sứ nước Nam mà ông Phan chưa sưu tập, rồi họp lại thành sách, tất cả được hơn 700 bài, bảo tôi soát lại và đính chính. Tôi thưa rằng phép làm thơ thật khó lắm thay! Thơ luật chỉ có năm mươi sáu chữ, thơ tuyệt cú lại chỉ có hai mươi tám chữ, mà đủ cả mọi thể cách. Muốn thơ cổ kính, thanh đạm thì lại gần với thô cứng, muốn đẹp đẽ thì lại gần với lòe loẹt; hào phóng thì dễ tới chỗ buông thả, thật thà thì dễ tới chỗ quê mùa. Cho nên lời, ý giản dị đầy đủ, mạch lạc thông suốt, chất phác mà vẫn nhã, mới lạ mà không trúc trắc, trung hậu nhưng không thô kệch, cao siêu mà vẫn có giọng ôn hoà, đó là những điều rất khó có thể đạt được. Bởi vậy không thể chỉ hạn chế trong một lệ và cũng không thể chỉ lấy ở một thể. Nay tập thơ này đều đã lựa chọn những bài thật là hay của các bậc tiền bối cho nên không cần nói lại làm gì nữa. Còn như đối với những sáng tác của nhân sĩ đương thời, bài nào lấy được thì lấy, bài nào không lấy được thì bỏ. Nếu những bài nào ý tứ nhàn nhã, luật thơ tề chỉnh thì cũng chọn vào, ngõ hầu không phải thở than về việc bỏ sót mất hạt châu giữa biển cả, để đợi các bậc quân tử sau này cân nhắc, lựa chọn thêm. Mong rằng không đến nổi đáng chê cười.

 

                                    Ngày lành tháng Năm, niên hiệu Diên Ninh năm thứ sáu (1495).

     NGUYỄN TẤN, tự là Tử Tấn, hiệu là Ông  già Chuyết Am, ở Mi Lăng, giữ các chức Đại phu thông phụ, học sĩ Viện Hàn lâm,nhập thị Kinh diên, viết lời tựa.

 PHẠM TÚ CHÂU dịch

…………………………………………………………………………………………..

1)  Nguyên văn là Trình, do đời Lê kiêng chữ Trần, nên đổi thành chữ này.

(2)  Tức Chu Văn An, Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát, Nguyễn Trung Ngạn, và hai anh em Phạm Tông Mại, Phạm Tông Ngộ. Kính Khê là tên hiệu Phạm Tông Mại.

(3)  Tức triều Lê

Leave a Reply