Giới tính, tính dục và tính hành diễn tính dục (Gender, Sex, and Sexual Performativity)


Judith Butler*

Nếu giới tính là một sự kiến thiết, phải có chăng một “Tôi” hoặc một “Chúng tôi” diễn hành hoặc trình diễn sự kiến thiết đó? Làm sao có thể có một hoạt động, một sự kiến thiết, mà không giả thiết trước một tác nhân đi trước và trình diễn hoạt động đó? Làm sao chúng ta tính đến cái động cơ và sự định hướng mà không có một chủ thể như thế? Như một người đáp lời, tôi xin gợi ý rằng phải có một sự ngờ vực nhất định hướng về ngữ pháp để quan niệm lại vấn đề trong một ánh sáng khác. Vì nếu giới tính được kiến thiết, nó không nhất thiết phải được kiến thiết do một cái “tôi” hoặc một “chúng tôi” đứng trước sự kiến thiết đó trong bất cứ nghĩa nào về không gian hoặc về thời gian của “sự trước” (before). Thực vậy, chẳng rõ có thể có một “tôi” hoặc một “chúng tôi” chưa bị quy thuận, lệ thuộc vào giới tính, nơi sự phân định giới tính là, trong số nhiều điều khác, những tương quan phân biệt hoá nhờ đó những chủ thể phát ngôn đi vào hiện hữu. Lệ thuộc vào giới tính, nhưng được chủ thể hoá bằng giới tính, cái “tôi” chẳng đi trước cũng chẳng theo sau tiến trình về sự phân định giới tính này, nhưng là thứ chỉ hiện xuất bên trong và như khuôn đúc về chính những tương quan giới tính.

Điều này đưa chúng ta quay lại sự phản đối thứ hai, là thứ cho rằng đường lối kiến thiết đó đóng trước sự tác nhân, đoạt trước sự tác nhân của chủ thể, và thấy chính mình giả thiết trước chủ thể mà nó gọi vào chất vấn. Để cho rằng tự chủ thể được sản sinh trong và như một khuôn đúc theo giới tính về những tương quan là không thanh toán với chủ thể nhưng chỉ là tra hỏi những điều kiện về sự hiện xuất và sự điều động của nó. “Hoạt động” của việc phân định giới tính này không thể, nói một cách nghiêm ngặt, là một hành vi hoặc biểu lộ của con người, một sự chiếm đoạt cố tình, và chắc chắn không là một vấn đề mang lấy mang lấy một mặt nạ; nó là cái khuôn đúc qua đó mà tất cả sự cố ý đầu tiên trở thành khả dĩ, là điều kiện văn hoá khiến nó thành sự. Theo nghĩa này, cái khuôn đúc về những tương quan giới tính đi trước sự hiện xuất của cái “nhân tính”. Hãy xem sự chất vấn y khoa (bất kể sự hiện xuất gần đây của siêu âm đồ) chuyển một bé sơ sinh từ một “nó” ra một “bé gái” hoặc một “bé trai”, và trong việc gọi tên đó, cô gái được “thành gái”, được đưa vào miền ngôn ngữ và thân thuộc qua sự chất vấn về giới tính. Nhưng “việc hoá gái” đó của cô gái không kết thúc ở đó; ngược lại, việc sự chất vấn thiết lập đó được lặp lại bởi những thẩm quyền đa dạng và suốt qua những khoảng cách đa dạng về thời gian để tái củng cố hoặc tranh thủ hiệu ứng nhập tịch này. Việc gọi tên đồng thời là sự đặt định về một ranh giới, và cũng là sự in sâu được nhắc lại của một quy củ.

Những sự gán ghép hoặc chất vấn như thế góp phần vào trường thuyết ngôn và quyền lực kia vốn dàn dựng, định giới hạn, và duy trì cái định chất là “nhân tính”. Chúng ta thấy điều này rõ nhất trong những ví dụ về những kẻ bị rẻ rúng kia do dường như không được định giới một cách đúng đắn; chính cái nhân tính của họ bị đặt thành vấn đề. Thực vậy, sự kiến thiết về giới tính vận hành qua những phương cách loại trừ (exclusionary), như thế cái nhân tính không chỉ được sản sinh qua và chống lại cái phi nhân tính, nhưng qua một tập hợp những sự cản trước, những xoá bỏ triệt để, nói một cách nghiêm ngặt, chúng bị từ chối khả tính của việc lên tiếng về văn hoá. Do vậy, cho rằng những chủ thể con người được kiến thiết thì không đủ, vì sự kiến thiết của nhân tính là một sự vận hành sai biệt sản sinh ra cái nhiều “nhân tính” hơn và cái ít “nhân tính” hơn, cái phi nhân tính, cái không thể nghĩ bàn về nhân tính. Những địa điểm bị loại trừ này đến định ranh giới cái “nhân tính” như cấu tạo phần bên ngoài của nó, và ám ảnh những ranh giới đó như khả tính dai dẳng về sự ngắt lìa và lên tiếng lại của chúng.[1]

Như một kết quả của sự tái công thức hoá này về tính hành diễn, (a) tính hành diễn giới tính không thể được lập thành lí thuyết cách li với sự thực hành cưỡng bách và lặp lại của những chế độ tính dục quy tắc; (b) việc tính về sự tác nhân được điều kiện hoá bởi bởi chính những chế độ kia của thuyết ngôn/ quyền lực (discourse/ power) không thể bị hoà trộn với chủ nghĩa duy ý chí hoặc chủ nghĩa cá nhân, càng ít hơn với chủ nghĩa tiêu thụ, và không hề tiền giả thiết một một chủ thể chọn lựa; (c) cái chế độ của dị tính vận hành bao quanh và phác hoạ “tính vật thể” của tính dục, và “tính vật thể” (materialily) đó được hình thành và duy trì qua và như một sự vật thể hoá của những quy củ quy tắc vốn là thành phần những quy củ của bá quyền dị tính; (d) sự vật thể hoá của những quy củ đòi hỏi những tiến trình đồng hoá kia do đó những quy củ được giả định hoặc được chiếm hữu, và những sự đồng hoá này đi trước và khiến có thể sự hình thành của một chủ thể, nhưng không phải, nói một cách nghiêm ngặt, được trình diễn bởi một chủ thể; và (e) những giới hạn của chủ nghĩa kiến thiết được phơi bày ở những ranh giới kia của đời sống thân thể nơi những thân thể bị làm đê nhục hoặc giải chính thức hoá không được đếm xỉa như “những thân thể.” Nếu tính vật thể của tính dục được vạch rõ trong thuyết ngôn, thì sự phân ranh này sẽ sản sinh một vùng “tính dục” bị loại trừ và giải chính thức hoá. Do vậy, nghĩ về cách và với mục đích nào những thân thể được kiến thiết cũng quan trọng như nghĩ về cách nào và với mục đích nào những thân thể không được kiến thiết và, hơn nữa, hỏi xem cách nào những thân thể không được vật thể hoá cung cấp sự “bên ngoài” cần thiết, nếu không phải là sự hỗ trợ cần thiết, cho những thân thể, trong khi thể hiện cái quy củ, mang tính chất như những thân thể quan trọng.

Vậy thì, làm cách nào người ta có thể nghĩ qua vật thể của những thân thể như một loại sự vật thể hoá được cai trị bởi những quy củ quy tắc để đoan chắc những công cuộc của bá quyền dị tính (heterosexual hegemony) trong sự hình thành của cái mang tính chất như một thân thể sống được? Làm cách nào sự vật thể hoá đó của quy củ trong sự hình thành thân thể lại sản sinh một vùng của những thân thể bị làm đê nhục, một trường của biến dạng, mà trong việc không được mang tính chất như là nhân tính trọn vẹn, càng củng cố những quy củ quy tắc đó? Thách thức nào với một bá quyền biểu tượng (a symbolic hegemony) cái cõi miền đã bị loại trừ và bị làm đê nhục có thể sản sinh ra cưỡng bách một sự tái phát biểu triệt để về cái mang tính chất như những thân thể quan trọng, những cách để sống “đời” đáng sống, những đời “sống xứng đáng che chở, những đời sống xứng đáng bảo tồn, những đời sống xứng đáng tiếc thương?…

 

 Hồ Liễu dịch (Sài gòn, ngày 5/3/2013)  

Chú thích:

*Giáo sư về Tu từ học và Văn học So sánh, Đại học California, Berkeley

[1] Để có những tiếp cận khác biệt nhưng  quan hệ với vấn nạn này về loại trừ, đê nhục, và cái sáng tạo của “cái nhân tính”, hãy xem cuốn Những quyền lực của sự kinh hoàng: Một tiểu luận về sự đê nhục(Powers of Horror: An Essay on Abjection), của Julia Kristeva, dịch giả Leon Roudiez (New York: Ấn quán Đại học Columbia, 1982); Đê nhục, U sầu, và Người tình: Tác phẩm của Julia Kristeva (Abjection, Melancholia and Lover: The Work of Julia Kristeva do John Fletcher  và Andrew Benjamin biên tập (New York  và London: Nxb Routledge, 1990); Cái phi nhân tính: Những suy tư về thời gian (The Inhuman: Reflections on Time) của Jean-Francois Lyotard, dịch giả Geoffrey Bennington và Rachel Bowlby (Stanford: Ấn quán Đại học Stanford, 1991).

Nguồn: Bản đăng trên http://phebinhvanhoc.com.vn/ đã được sự đồng ý của dịch giả

Leave a Reply