Hình thái học trong từ láy tiếng Việt



Nguy
ễn Thiện Giáp

 

Phan Ngọc là một nhà văn hóa tài hoa. Ông học rộng, biết nhiều, cần mẫn làm việc để cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau: văn học, văn hóa học, nghệ thuật học, ngôn ngữ học, dịch thuật,…

Xã hội biết đến ông trước hết như một dịch giả tài ba, đã để lại nhiều dịch phẩm nổi tiếng từ nhiều ngôn ngữ khác nhau: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng Hán,…, như:

–    Truyện Làng Nho, NXB Văn học, Hà Nội, 1961.

–    Tuyển tập Kịch Seakspear (đồng dịch giả), NXB Văn học, Hà Nội, 1964.

–    Chiến tranh và hòa bình (đồng dịch giả), NXB Văn học, Hà Nội, 1985.

–    Hồng Lâu Mộng (đồng dịch giả), NXB Văn học, Hà Nội, 1970.

–    Trn trụi giữa bầy sói (đồng dịch giả), NXB Văn học, Hà Nội, 1985.

–    Devit Coperphin, NXB Văn học, Hà Nội, 1985..

–    Xapactacut, NXB Lao động, Hà Nội, 1983.

–    Olive Tuyt, NXB Văn học, Hà Nội, 1980.

–    Văn Tâm Điêu Long, NXB Văn học, Hà Nội, 1997.

Giới Ngôn ngữ học nể trọng sự uyên bác, sắc sảo của ông qua công trình Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á (viết chung với Phạm Đức Dương – Viện Đông Nam Á, Hà Nội, 1983). Năm

1998, với công trình Bản sắc Văn hóa Việt Nam (NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội), ông đã tạo một dấu ấn mới trong lĩnh vực văn hóa học. Cuốn Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều (NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1985) đã làm xôn xao văn đàn một thời và cũng chính nhờ tác phẩm này ông đã nhận được Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ năm 2000.

Ở tuổi 87, thật bất ngờ, ông lại cống hiến cho đời một công trình thú vị: Hình thái học trong từ láy tiếng Việt.

Tôi đã hứng thú đọc một mạch bản thảo này từ đầu chí cuối và miên man nghĩ về triết lí sống của tác giả trong những dòng ở cuối sách: “Mơ ước của đời tôi là sống một cuộc sống rất nhỏ bé nhưng có trách nhiệm,…”. Thật ra sự nghiệp của ông chẳng nhỏ bé tí nào, chính tự đặt mình vào một góc nhỏ để suy ngẫm và sáng tạo nên ông đã thành công.

Tiêu đề bản thảo rất ngôn ngữ học, cái ngành khoa học mà người đời chưa biết đến bao nhiêu, thấy cái gì của nó dường như cũng khó, học và làm cái gì với nó cũng vất vả và khổ ải. Nhưng đấy chỉ là cái nhìn bề ngoài của những người chưa bước vào ngôn ngữ học. Có bước vào rồi mới thấy nó thú vị và chẳng thiếu những điều kì diệu. Bằng chứng là từ đầu chí cuối ta đều bắt gặp những tiếng reo vui của tác giả khi “thức nhận” được những điều ông cảm thấy thích thú.

hinh thai hoc

Hình thái học trong từ láy tiếng Việt được viết như một tùy bút khoa học.

Trong Từ điển tiếng Việt (NXB Đà Nẵng, 2000), mục tùy bút được định nghĩa như sau: “Thể kí ghi lại một cách tương đối tự do những cảm nghĩ của người viết, kết hợp với việc phản ánh thực tế khách quan”. Kể ra mọi so sánh đều khập khiễng, nhưng đọc bản thảo này ta thấy sự tự do của những cảm nghĩ thật sâu đậm.

Công trình này đã ghi lại được những suy nghĩ, trăn trở suốt cuộc đời của tác giả về những vấn đề then chốt của tiếng Việt: vấn đề chữ Nôm, vấn đề chữ Quốc ngữ, vấn đề cải cách chữ Quốc ngữ, vấn đề hệ thống ngữ âm tiếng Việt, vấn đề hình thái học trong tiếng Việt, vấn đề cấu trúc của từ láy trong tiếng Việt, quy luật phù trầm và từ Hán Việt.  Mỗi vấn đề trên đây đều đã được nhiều người nghiên cứu và cũng đã có nhiều chuyên luận về chúng. Nhân bàn về Hình thái học trong các từ láy tiếng Việt , tác giả đã bộc lộ quan điểm riêng của mình về từng vấn đề.

Hiện nay không phải không có người tỏ ra nuối tiếc chữ Nôm, nhưng tác giả thể hiện quan điểm của mình một cách rõ ràng: “Người Việt Nam phải bỏ chữ Nôm theo chữ Quốc ngữ bởi vì làm cách nào có thể dùng chữ Nôm để giáo dục quần chúng vốn không có điều kiện học nhiều, để cùng nhau xây dựng đất nước, giành lại độc lập dân tộc? (…). Một nét bất biến của văn hóa Việt Nam là nó hết sức thiết thực, nên nó quyết tâm sử dụng một văn tự gốc phương Tây để giải phóng Việt Nam” (tr. 9-10).

Về chữ Quốc ngữ, tác giả dành một mục giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp của Alexandre de Rhodes và khẳng định “chữ Quốc ngữ là đóng góp chung của các giáo sĩ công giáo Pháp và Bồ Đào Nha”. Ông cũng cho biết “khi đạo Phật được truyền sang Việt Nam, thực tế cái phương ngữ để truyền bá đạo Phật chưa có chữ viết, nên đạo Phật được truyền miệng bằng tiếng Việt”. Vì thế, ở ta không có hệ chữ viết phiên âm theo văn tự Ấn Độ như các nước khác ở Đông Nam Á.

Tác giả “không nói gì” trước vấn đề cải tiến chữ Quốc ngữ, nhưng đã trình bày chỗ mạnh và chỗ yếu của chữ Quốc ngữ, một vài điểm khác lạ của chữ Quốc ngữ và đã thí nghiệm về việc phiên âm theo âm vị học. Phải chăng, theo tác giả, nếu đặt vấn đề cải cách chữ Quốc ngữ thì nên phiên âm theo cách như tác giả đã làm với bản Tuyên ngôn độc lp.

Về hệ thống âm vị tiếng Việt, tác giả cũng thể hiện một quan điểm riêng của mình, không hoàn toàn giống với quan điểm được phổ biến rộng rãi của giáo sư Đoàn Thiện Thuật trong cuốn Ngữ âm tiếng Việt (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003), chẳng hạn, tác giả cho / w / cũng là một âm đầu). Về cách đọc các phụ âm đầu, tác giả theo cách gọi của “Hội truyền bá chữ Quốc ngữ” chứ không theo cách gọi thông thường là bê, xê, dê, đê,…

Về luật phù trầm – cái quy luật được nhiều người nói đến khi miêu tả cấu tạo từ tiếng Việt, chính nhờ tác giả mà chúng ta biết được người khởi xướng ra nó là cụ Bùi Kỉ, một trong những người đặt nền móng cho Việt ngữ học.

Về từ Hán Việt, theo tác giả, “tuy số từ gốc Hán Việt nhiều nhưng nếu các em hiểu được nghĩa của khoảng 200 âm tiết Hán Việt thường dùng, thì đã có khả năng giải thích chu đáo trên hai ngàn âm tiết Hán Việt quen thuộc”. Ông đã giới thiệu cách dạy âm tiết Hán Việt trong công trình Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt.

Về hình thái học trong từ láy tiếng Việt, chủ đề chính của công trình này, tác giả viết: “Về thực chất, công trình này chỉ chứng minh tiếng Việt là một ngôn ngữ, và nhất định nó có chính tố, phụ tố như mọi ngôn ngữ. Làm sao tiếng Việt lại có thể là một ngôn ngữ trong đó các âm tiết đều trơ khấc chẳng liên quan gì với nhau về ngữ âm và ngữ nghĩa? Vậy tôi phải tìm ra cái bất biến là sự tồn tại của chính tố và phụ tố trong tiếng Việt” (tr. 89). Cảm hứng để bàn về vấn đề này xuất phát từ sự chưa đồng tình với những nhận định sau đây của Đoàn Thiện Thuật: “Trong tiếng Việt, đơn vị ngữ âm có khả năng “đóng vai trò hình vị hay từ” là âm tiết. Đơn vị nhỏ hơn âm tiết lại không có khả năng ấy”; “các âm vị của chúng ta có một cương vị âm vị học đơn thuần, trong khi các âm vị của các ngôn ngữ Ấn – Âu có một cương vị kép: cương vị âm vị học và cương vị hình thái học”. Ông đã cố gắng đi tìm ranh giới hình thái học đi qua âm tiết tiếng Việt. Cái xu hướng này không phải chỉ có mình ông. Một số nhà Việt ngữ học như L.C. Thompson, Hồ Lê, Trần Ngọc Thêm, Phi Tuyết Hinh,.. cũng đã làm.

Đóng góp của Phó Giáo sư Phan Ngọc là dựa vào cuốn Từ điển từ láy tiếng Việt do Hoàng Văn Hành chủ biên (NXB Giáo dục, 1995), liệt kê ra những cấu tạo mà phần được coi là láy lại có các vần – a, -ang, -ác, -ai, -ao/au, -am, -an, -ap, -at. Tác phong khoa học thể hiện rất rõ ở những số liệu thống kê khá cụ thể , rõ ràng.

 

Lập luận của tác giả là các âm tiết theo quy luật phù trầm (cùng bổng hoặc cùng trầm), phần vần của âm tiết được lặp lại, theo tác giả có ý nghĩa quan hệ. Thí dụ: Dn dà /zần zà/ : “dần” là chính tố như trong “làm dần” (làm thủng thẳng, không vội) / “dà” là hậu tố chỉ nhấn mạnh và kéo dài: họ “dần dà” quen với công việc. ba hoa: “hoa” là chính tố như trong “hoa chân múa tay” chỉ khoe khoang. “ba” là tiền tố. Nó nói năng “ba hoa”, chỉ nói khoác quá khiến người nghe khó chịu.

Trong tiếng Việt có tồn tại các hình vị nhỏ hơn âm tiết hay không là một vấn đề còn đang tranh cãi. Vì thế, chúng ta có thể ghi nhận cách lập luận và những tư liệu mà tác giả tích lũy được để người sau tiếp tục suy ngẫm. Một điều dễ thấy là tính tùy bút, tự do thể hiện cảm nghĩ của mình, ít bị ràng buộc vào những khái niệm ngôn ngữ học được nhiều người chấp nhận của tác giả. Tác giả không bận tâm phân biệt từ ghép và từ láy trong tiếng Việt (Cuốn Từ điển từ láy tiếng Việt đã thu thập nhiều đơn vị không phải là từ láy), cũng chưa nói rõ cái gì là hình thái học, là chính tố, là phụ tố. Muốn coi một yếu tố nào đó là từ hay hình vị thì nó phải có nghĩa, nhưng thế nào là ý nghĩa?

Bất cứ người cầm bút nào cũng mong có được cái gọi là “phong cách cá nhân” trong các bài viết của mình, nhưng không mấy ai đạt được. Về mặt này thì tác giả Phan Ngọc đã thực  sự để lại một dấu ấn cá nhân trong lòng người đọc. Trong đầu ông đầy ắp ý tưởng, trong tim ông nhiệt huyết tràn đầy, nên văn ông tràn đầy tự tin, hăng say, cuốn hút, đồng thời cũng không hiếm những giây phút quá hồn nhiên. Có người nhận xét (không phải với công trình này) sao ông phung phí ý tưởng của mình đến thế. Dường như viết cái gì ông cũng lóe lên những ý tưởng mới mẻ và táo bạo. Có ý tưởng thì được chứng minh đầy đủ, có ý tưởng thì chỉ khơi khơi kích thích suy nghĩ của người đọc.

Nhưng khoa học là sự tiếp nối. Tác giả rất đúng khi viết: “Nếu như có nhiều công trình nghệ thuật do một nghệ sĩ hoàn tất từ đầu chí cuối, thì các công trình khoa học thường mang tính tập thể: Người mở đầu chỉ có thể giới thiệu cách làm và một số dẫn chứng bênh vực lí thuyết. Phần còn lại thuộc các nhà khoa học trẻ tuổi hơn”. Nhân đây, tôi muốn nói lời tri ân của một cán bộ trẻ với học giả Phan Ngọc rằng: chính cách viết tài hoa, nghệ sĩ của ông khiến những người trẻ tuổi đã học được nhiều điều khi đọc tác phẩm của ông.

Leave a Reply