Sự viết bắt đầu: những cái chết được dự báo


Phùng Gia Thế

“Cái chết của tác giả” được R. Barthes viết năm 1968, năm đánh dấu bước chuyển từ chủ nghĩa cấu trúc sang hậu cấu trúc luận và giải cấu trúc. Hẳn không phải ngẫu nhiên, sau đấy, năm 1969, M. Foucault cũng tuyên cáo về “cái chết của chủ thể” trong “Một tác giả là gì?”.

Về tư tưởng, luận đề chống tác giả của Barthes xuất phát từ thái độ thù địch công khai của ông với mọi thứ quyền uy được thiết tạo bởi chủ nghĩa tư bản và xã hội tư sản (trong đó có quyền uy của cá nhân, cá tính tự trị). Điều này cũng có nghĩa, cho dù không phải là nhà triết học, Barthes cũng đã thể hiện một sự phê phán đối với một tư tưởng hệ. Trong kiến giải của mình, Barthes khẳng định: “Tác giả” là một nhân vật của thời kì hiện đại, được sản sinh ra từ cuối Trung cổ, cùng với chủ nghĩa kinh nghiệm Anh, chủ nghĩa duy lí Pháp và đức tin cá nhân của cải cách tôn giáo, xã hội ấy đã phát hiện ra “uy lực của con người cá thể”, hay, như người ta thường nói, theo một cách cao nhã hơn: của “cá nhân con người”. Theo lô-gic đó, khi đi vào văn học thì “chính tư tưởng thực chứng – bản tổng kết, tinh hoa của ý thức hệ tư sản, đã trao vai trò tối cao cho “con người” tác giả”. Thế là, điều này dẫn đến một hiện trạng: trong đời sống văn chương, tác giả đã thống trị một cách ngang nhiên “trong các bộ lịch sử văn học, các tiểu sử văn học, các cuộc phỏng vấn trên báo chí, thậm chí, trong ý thức của giới văn chương, có những người còn luôn bận tâm thống nhất làm một con người và tác phẩm của mình trong nhật kí hay hồi kí”. Huyền thoại về quyền uy của tác giả khiến cho “toàn bộ các sách giáo khoa về lịch sử văn học và việc giảng dạy văn học được tổ chức xung quanh phạm trù tác giả”. Nghiên cứu văn học trở thành nghiên cứu con người tác giả: “tiếng nói của con người ấy”, cuộc đời, nhân cách, thị hiếu, cảm xúc… của anh ta. Thật phi lí khi “người ta luôn kiếm tìm lời giải thích cho tác phẩm trong con người đã tạo ra nó”. Và, nghĩa của một văn bản, theo đây, rốt cuộc sẽ là điều mà tác giả của văn bản ấy muốn nói, muốn “gửi gắm”. Trong sự quá trớn như thế, việc tìm “chủ ý của tác giả” trở thành “chuẩn mực mang tính sư phạm và hàn lâm truyền thống về nghĩa văn chương”; và lắm khi, như A. Compagnon nói, còn đẩy diễn giải văn chương vào tình cảnh bi đát: “quyền của người sống đã bị uy quyền của người chết bắt làm con tin”, thậm chí, đồng nhất hóa nghĩa của văn bản với chủ ý của tác giả còn có nguy cơ hủy hoại sự diễn giải (Bản mệnh của lí thuyết). Vì tác giả được phong thánh, hay tự nó phong thánh cho nó, nên, lịch sử văn học và việc nghiên cứu văn học nói chung đã bị thu hẹp lại, “tập trung một cách tàn bạo vào tác giả”.

Tuy nhiên, luận đề “tác giả đã chết” không phải là lời tuyên cáo giản đơn chỉ để hạ bệ tác giả bởi những lí do trên. “Cái chết của chủ thể”, “cái chết của tác giả”, “sự khủng hoảng cá tính”… hay nói rộng ra: “sự giải nhân cách hóa”, là “một sự xác định chung về hiện tượng khủng hoảng cá nhân trong triết học, mĩ học và phê bình văn học của chủ nghĩa cấu trúc, hậu cấu trúc và hậu hiện đại” (I. Ilin). Trong nhãn quan của các nhà lí thuyết hậu cấu trúc và hậu hiện đại thì ý thức và kinh nghiệm cá nhân luôn là sự tái tạo và là sản phẩm nhân tạo của các cơ chế bên trên cá nhân: giai cấp, gia đình, văn hóa và đặc biệt là “ý thức ngôn ngữ”. Họ cho rằng, chính ngôn ngữ quyết định tư duy và mọi hoạt động của con người, chứ không phải con người điều khiển (làm chủ) ngôn ngữ. Chủ nghĩa hậu hiện đại cũng xoá sổ niềm tin rằng ngôn ngữ có thể qui chiếu thực tại. Và vì sự hiểu biết của con người về thế giới chỉ có thể đạt được qua ngôn ngữ, bằng ngôn ngữ nên sự hiểu biết ấy không phải là sản phẩm của thế giới như nó hiện hữu, mà là kết quả của sự “diễn dịch” các văn bản. Thế giới khi ấy trở thành một văn bản, trong đó ý thức của chủ thể cũng chỉ là một tổng số của các văn bản mà thôi. Có thể nói, với việc đồng nhất ý thức con người với văn bản và với lí thuyết liên văn bản, tư duy hậu hiện đại đã phá hủy tận gốc quan niệm phương Tây hiện đại vẫn xem chủ thể là trung tâm vũ trụ và cá nhân là một tồn tại duy lí, độc lập với khách thể. Quan điểm xem cá nhân không thể tồn tại độc lập, trong quá trình tư duy, mà luôn bị chi phối một cách vô thức bởi những cấu trúc ngôn ngữ và các diễn ngôn văn hóa thời đại đã dẫn đến sự phủ định quyền lực của cá tính. Tính chủ thể tự trị, tính độc sáng của cá nhân theo đây chỉ còn là một ảo tưởng.

Viết, theo Barthes, không phải là hành vi tác động trực tiếp lên thực tại nữa, mà là việc hiện thực hóa nhiệm vụ “trình tấu lại biểu tượng”, và khi ấy, sự đứt gẫy sẽ tất yếu diễn ra, “tiếng nói bị đứt gẫy, đánh mất nguồn gốc, tác giả khởi sự chết và sự viết bắt đầu”. Với Barthes, nhà văn chính là kẻ, hẳn là đích đáng nhất, “chịu để mất cái cấu trúc của bản thân và của thế giới trong cấu trúc của ngôn ngữ”. Và, một khi nói và viết trong tác phẩm không phải do tác giả, mà do ngôn ngữ thì độc giả sẽ không còn nghe thấy tiếng nói của tác giả, mà thay vào đó là tiếng nói của văn bản, cái tiếng nói được tổ chức tương ứng với các mã văn hóa của thời đại mình, của nền văn hóa mình. Tác giả không phải là quá khứ của cuốn sách, cũng không phải người bú mớm cho nó với những tư duy, đau khổ, trải nghiệm vì nó, mà trở thành “người viết” (hay “người ghi”). “Người viết”, “người ghi” sinh thành cùng lúc với văn bản của mình, anh ta “dạo trên một cánh đồng không có khởi nguồn, hoặc ít nhất không có khởi nguồn nào khác ngoài bản thân ngôn ngữ, mà ngôn ngữ, lại là thứ, đến lượt mình, không ngừng chất vấn bất cứ khởi nguồn nào” (“Cái chết của tác giả”).

Sự viết với Barthes, như thế, chẳng qua là sự “viết lại”, hay nói giản dị hơn, theo cách của chúng ta, đó là sự “độn văn”. Văn bản trở thành “một không gian nhiều chiều trong đó nhiều lối viết khác nhau cùng hòa trộn, đụng độ, trong đó không có lối viết nào là hoàn toàn mới mẻ”. Và khi ý thức của tác giả bị đánh đồng với văn bản, mà “mỗi văn bản đều là liên văn bản” (Barthes), “không có văn bản ngoài liên văn bản” (Grivel), thì cũng khi ấy, cá nhân đánh mất tính chủ thể tự trị, trở thành “một sự trưng bày tính chất lắp ghép của bất cứ ý thức nào, kể cả ý thức của bản thân”. Viết, theo đó sẽ chịu áp lực bởi ý thức ngôn ngữ, bởi các công thức viết có trước, bởi quyền lực đằng sau các kiểu diễn ngôn và bởi đặc trưng thể loại của lời nói. Về “cái chết của chủ thể”, theo cơ chế này, M. Foucault nói: “Mối tương tác giữa những kí hiệu ở đây không phải là căn cứ vào cái được biểu đạt, mà chỉ là căn cứ vào cái biểu đạt để cấu thành, từ đó đã sáng tạo ra một không gian có thể vĩnh viễn đánh mất chủ thể viết… Chủ thể viết đã đánh mất những kí hiệu cá nhân độc đáo, tiêu chí của nhà văn đến mức chẳng qua là sự vắng mặt cái tính chất có một không hai của họ, họ phải đóng vai trò đã chết rồi trong trò chơi viết lách của mình” (“Một tác giả là gì?”). “Không gì tồn tại ngoài văn bản” (Derrida), mà đằng sau văn bản, chẳng có gì, ngoại trừ các văn bản khác. Ranh giới giữa “cái của mình” với “cái của người khác” theo đây biến mất. Văn bản được tạo ra là sự viết chồng lên các văn bản cũ. Mọi điều hóa ra đã được nói đến vào một lúc nào đó rồi. Có thể nói, với cái nhìn liên văn bản, các nhà hậu cấu trúc luận và hậu hiện đại không những phế truất tác giả như một phạm trù nghiên cứu chính của văn học, mà còn phế truất tính chủ thể tự trị và uy quyền của nó. Khái niệm “liên văn bản” (do J. Kristeva đề xuất năm 1967), như ai nấy đều biết, vừa là một phạm trù thế giới quan vừa là phương tiện phân tích văn bản hoặc miêu tả đặc trưng tồn tại của văn học. Và, với cách đọc liên văn bản, tính chủ thể tự chủ của cá nhân bị hòa tan trong một văn bản bất tận. Nói như J. Kristeva, tác giả của mọi loại văn bản hay các loại văn bản đều “biến thành một không gian trống rỗng của dự phóng trò chơi liên văn bản”. Theo nghĩa nguyên khởi và đích đáng nhất của từ này, liên văn bản là “cơ chế vận hành của hiện thực được văn bản hóa, nằm ngoài ý muốn của tác giả văn bản – do tâm thức của thế kỉ XX sinh ra. Chính trong thế kỉ này liên văn bản đã trở thành quan niệm trung tâm về một bức tranh thế giới xác định, cụ thể là quan niệm xem thế giới như một văn bản…” (L.P. Rjanskaya).

Khi cái “tôi” đụng độ với văn bản, Barthes viết, thì “tự thân đã là vô số văn bản khác và vô số mã bất tận, đúng hơn là những mã đã mất… Tính chủ quan thường được đánh giá như là sự toàn vẹn nhờ đó cái “tôi” làm cho văn bản trở nên đầy đủ thật ra là sự toàn vẹn giả tạo; đó chỉ là dấu vết của tất cả những mã tạo thành cái “tôi” này. Như vậy, tính chủ quan của tôi rốt cuộc chỉ là sự tầm thường của những khuôn mẫu” (S/Z). Bản chất của sự viết, theo Barthes, “chỉ là sự phỏng lại một cử chỉ suốt đời có trước, không bao giờ mới mẻ được”. Viết, kể cả trong trường hợp người viết muốn phô bày “nội giới” của mình chăng nữa, thì cũng chỉ là “quá trình diễn dịch đến vô tận một cuốn từ điển làm sẵn, nơi mà các từ muốn được hiểu cũng không thể không thông qua các từ khác, cứ thế đến vô tận”. Trong Độ không của lối viết, Barthes cũng từng nhấn mạnh điều này khi ông cho rằng “những lối viết khả dĩ của một nhà văn nào đó hình thành dưới áp lực của Lịch sử và Truyền thống”, “[…] đúng lúc mà Lịch sử chung đề xuất – hay áp đặt – một cục diện mới của hành ngôn văn học, thì lối viết vẫn còn đầy ắp những kí ức về những cách dùng trước đây, vì hành ngôn không bao giờ vô tư: các từ có một trí nhớ thứ hai còn kéo dài một cách bí ẩn giữa những ý nghĩa mới” […], và người viết “không còn có thể phát triển lối viết tự do […] mà không dần bị cầm tù trong những từ của người khác và thậm chí những từ của chính mình. Một sự tồn dư ngoan cố, lưu lại từ tất cả các lối viết của tôi, át mất giọng nói hiện tại của các từ tôi đang dùng”. Như thế là, bản thân tác giả không phải Thượng Đế hay một sứ thần mang thông điệp của Thượng Đế. Cái được biểu đạt trong văn bản mất dạng. Văn bản chỉ còn là “một dải ngân hà cái biểu đạt”, và như thế, tác giả cũng không thể gói ghém một thần khải nào trong đó. Anh ta chỉ là đại từ của một hành động phát ngôn. Cái nội giới của anh ta, suy cho cùng là một vựng tập ẩn chứa đầy những ngộ nhận, hàm hồ, chắp vá, thậm chí cả xuyên tạc về thế giới.

Có thể nói, với quan niệm coi thế giới là văn bản và dưới cái nhìn, cách đọc liên văn bản thì văn bản văn học đã trở thành – nói theo Barthes – “một chiếc camera ghi những tiếng vọng” mà ở chính nơi ấy “chất chứa bao sự bất hòa âm, sự lẫn lộn và hỗn loạn giữa “cái tôi” với “kẻ khác”, giữa văn bản và văn cảnh, “của mình” và “của người”, giữa các kiểu diễn ngôn, nhân vật, tác giả và độc giả khác nhau” (L.P. Rjanskaya). Nói tóm lại, mỗi văn bản đều như là “một tấm vải mới được dệt bằng những trích dẫn cũ”, và chính nó, như Barthes nói, là “một cái hố đen chôn vùi mọi bản thể, trước tiên là bản thể của người cầm bút viết”.

Leave a Reply