Suy ngẫm về phương pháp luận nghiên cứu văn học


Köpeczi Béla* – Bonyhai Gábor**

I

Hiện nay khoa học văn học – cũng giống như các khoa học xã hội khác – đang cố gắng nhằm làm rõ vị trí của mình trong hệ thống các tri thức khoa học, làm rõ quan hệ của mình với các khoa học khác, nhằm phát hiện các cơ sở của những phương pháp của mình và để hiểu rõ hơn nguồn gốc của chính mình, tức là: tự nghiên cứu mình sâu hơn, kỹ hơn. Sự bối rối về phương pháp luận ngày càng tăng trong hai thập kỷ gần đây đã gây nên quá trình tự quan sát sôi nổi về lôgíc – phương pháp luận và về nguồn gốc. Những cách nhìn và cách tiến hành mới được đưa ra với yêu cầu khoa học, những cố gắng liên kết nhiều ngành khoa học đã đưa đến kết quả là nhiều mặt yếu và nhiều vấn đề phương pháp luận của khoa học văn học “truyền thống” trở nên rõ rành rành, những cơ sở của nó trở nên có vấn đề, song vẫn chưa tạo ra được cái phương pháp khoa học và cái hệ thống khái niệm đã được nói đến rất nhiều, hơn thế nữa những khái niệm mới và những kỹ thuật mô tả mới đang du nhập vào khoa học văn học đã kéo theo những vấn đề mới, và sự thông báo, trao đổi thông tin hiện nay khó khăn hơn bất cứ lúc nào trước đây. Trong tình hình này một câu hỏi nổi lên như một nhu cầu tất yếu là thực ra thì tính khoa học có chăng những chuẩn cứ có thể áp dụng phổ biến, khái niệm khoa học của chúng ta có quá một chiều chăng, đến nỗi chỉ có hiệu lực đối với các khoa học tự nhiên chính xác, hoặc giả ngược lại chăng, sai lỗi ở ngay trong khoa học văn học, vì nó không biết đáp ứng những tiêu chuẩn bắt buộc một cách phổ biến của tính khoa học, bởi đối tượng và mục đích của nó ngay từ đầu đã khiến cho nó không thể nào đáp ứng được?

Bản thân câu hỏi này không mới chút nào: xuýt soát một thế kỷ rưỡi nay nó đã là vấn đề trung tâm của phương pháp luận khoa học, trong những thời kỳ có sự thay đổi cách nhìn về phương pháp luận, bao giờ vấn đề này cũng được nêu lên một cách sắc nhọn, kịch liệt. Sự soát xét lại về phương pháp luận đầu tiên, được thực hiện tự giác và triệt để, của khoa học văn học, là do chủ nghĩa thực chứng đưa lại. Thuyết thực chứng của ngành văn học sử lấy làm dĩ nhiên là tính khoa học đồng nghĩa với việc ứng dụng các phương pháp khoa học tự nhiên chính xác, do đó nó đã thử xây nền móng cho phương pháp luận của văn học sử trên phạm trù của quy luật và quan hệ nhân quả. Xuất phát từ khái niệm khoa học được chấp nhận một cách giáo điều như thế và từ quan điểm phương pháp luận một chiều, phiến diện đó, nó đã cấu tạo nên, trên cơ sở lý thuyết, cái đối tượng hợp với phương pháp đó, cái “con người” được hiểu một cách tự nhiên chủ nghĩa. Ảnh hưởng phản hồi đã không phải đợi lâu. Các nhà lý luận của trường phái lịch sử tinh thần đã chỉ ra rằng sự xác định đối tượng này là sai lầm một cách cơ bản, và họ đã coi đối tượng thật của các khoa học nhân văn là cái tinh thần tạo ra những quá trình khách thể hoá (objektivaciók). Để đối lập với phương pháp khoa học, họ đưa ra khoa tường giải học (hermeneutika), phương pháp để hiểu, như phương pháp đặc thù của các “khoa học tinh thần”. Thế là trường phái lịch sử tinh thần đã cố điều chỉnh phương pháp cho phù hợp với đối tượng. Cách xác định đối tượng của nó, bất chấp hệ thuật ngữ duy tâm, vẫn chứa đựng những tình tiết mà về mặt bản thể học (ontológia) đến hôm nay cũng còn đứng vững. Bởi thực chất nó có nghĩa là đối tượng của các khoa học nhân văn, ngay trong hình thức biết đến đầu tiên, đã không đơn giản là có tính nhận thức, mà còn có tính phát tín hiệu (không đơn thuần có tính thực tiễn, mà còn có tính ký hiệu học), nghĩa là có mang ý nghĩa và giá trị do ý thức làm chức năng truyền đạt chú giải, cung cấp cho, và chỉ tồn tại đối với ý thức này. Song le lịch sử tinh thần từ khởi đầu đã đối xử ghẻ lạnh với chính các quá trình khách thể hóa (với “tinh thần đã được khách thể hóa), tức là với thứ nguyên biểu hiện có tính ký hiệu học (với “cái chở ký hiệu”, với “phương tiện ký hiệu”). Bởi thế khoa học văn học của trường phái lịch sử tinh thần đã đánh mất đặc trưng khoa học về nghệ thuật vốn dĩ đã không lấy gì làm mạnh lắm của nó, và cái ”tinh thần thời đại” thể hiện trong tất cả mọi thứ, đã trở thành đề tài trung tâm của nó. Nhưng có điều đáng chú ý là lịch sử tinh thần cũng đã không thể vừa lòng với việc mô tả cái tinh thần “đã được hiểu” thông qua các cá thể và các quá trình khách thể hóa, của một số thời kỳ, mà nó đã cảm thấy cần thiết phải có một sự tiếp bước như thế nào đó thì mới có thể tạo cho hoạt động của nó một màu sắc khoa học hơn. Và bởi chưng nó đã đồng nhất quy luật với các quy luật khoa học tự nhiên, mà do thế nó đã coi phạm trù này là không thể ứng dụng vào lịch sử, cho nên nó đã theo một phương pháp có vẻ khoa học đã trở nên khét tiếng hơn là nổi tiếng với cái tên “loại hình học lịch sử tinh thần”. Chả là vì loại hình học (tipológiai), vốn là một công cụ hợp pháp của khoa học, trong tay các nhà sử học tinh thần đã thực sự được dùng để thanh toán hoàn toàn tính lịch sử và đã đưa đến một thứ chủ nghĩa cấu trúc phi lý trong thực tế đã bảo đảm tự do vô hạn độ cho cả những cấu trúc – “lịch sử” võ đoán nhất.

Các trường phái phi lịch sử và “lấy tác phẩm làm trung tâm” khác nhau, bắt đầu xuất hiện vào quãng giao thời giữa hai thế kỷ, chính ở ba điểm này đã đứng đối địch hẳn với lịch sử tinh thần: họ đã đặt nhiệm vụ hàng đầu là khảo sát các “quá trình khách thể hoá”, các tác phẩm, các cái mang tín hiệu ở các mức độ khác nhau, họ coi quan điểm lịch sử như một điều thứ yếu, hoặc cố tình phủ nhận hẳn quan điểm đó, và lại đưa vấn đề khoa học của phương pháp lên hàng đầu (đối với vấn đề này, các trường phái khác nhau, đã đưa ra những lời đáp hoàn toàn trái ngược nhau). Lịch sử khoa học vẫn chưa làm rõ được mối quan hệ qua lại giữa trường phái hình thái học (morfológiai) và “Stibforschung” Đức, những nhà hình thức chủ nghĩa Nga, trường phái New Criticism (Phê bình mới) Anh và Mỹ, trường phái cấu trúc Tiệp, trường phái hội nhập (integrális) Ba Lan, và các trường phái truyền đạt, diễn giải (interpretácios) Thụy Sĩ, nhưng một điều có vẻ chắc là tuy có những mối quan hệ ảnh hưởng, về cơ bản những trường phái ấy đã độc lập hình thành trong khuôn khổ khoa học văn học của từng dân tộc. Chúng đã được kích thích ra đời trước hết bởi sự thay đổi cách nhìn chung của thời đại, và trong trường hợp này, trường hợp kia là bởi các khoa học anh em – ngôn ngữ học, khoa học âm nhạc, khoa học về nghệ thuật – và chưa phải cuối cùng là bởi sự định hướng của triết học theo các trung tâm phi lịch sử và “cái mang tín hiệu”. Do đó bất chấp sự giống nhau về cơ bản, giữa các trường phái ấy vẫn có những sự khác biệt quan trọng: ở trường phái hình thái học Đức có thể cảm thấy quan hệ khởi đầu của nó với lịch sử tinh thần (những thử nghiệm theo loại hình học, việc lấy những vấn đề tâm lý vào v.v…), chủ nghĩa hình thức Nga và chủ nghĩa cấu trúc Tiệp được gắn với khoa học ngôn ngữ bởi những mối giây đặc biệt bền chắc (và đồng thời cũng gắn với cả văn học tiền phong chủ nghĩa đương thời nữa!), trường phái New Criticism (Phê bình mới) và các trường phái truyền đạt, chú giải Thụy Sĩ đặc biệt nhấn mạnh việc lấy tác phẩm làm trung tâm (đồng thời lại bướng bỉnh phủ nhận khả năng tồn tại của mọi loại khoa học văn học). Song nhờ những nét chung đã nói mà tất cả các trường phái trên đều được những xu hướng cấu trúc – ký hiệu học, lý thuyết trao đổi thông tin, ngôn ngữ học và toán học mới nhất coi như tiền thân của họ về một khía cạnh nào đó – cũng như các “hậu duệ” hiện nay sở dĩ bị phê phán ngày càng nhiều, chính là vì đã triệt để theo đuổi đến cùng những cố gắng có tính chất quyết định chung của các tiền bối.

Một trong những đặc thù lạ lùng, nhưng thường xuyên bộc lộ, của tình hình phương pháp luận hiện nay là các lời phê phán chống lại những phương pháp cấu trúc – ký hiệu học, phần lớn đều dựa vào những lý lẽ mà một thời lịch sử tinh thần đã nêu lên để chống lại thuyết thực chứng. Giữa nhiều tội trạng khác, họ lên án ký hiệu học cấu trúc và những khảo sát theo xu hướng ngôn ngữ học hoặc khoa học trao đổi thông tin là áp đặt các phương pháp khoa học lên đối tượng của khoa học văn học. Sự hiểu lầm này có nguyên do là trong ý thức của ngay cả một công chúng trong ngành tương đối rộng cũng nghĩ về chủ nghĩa cấu trúc và ký hiệu học như một cái gì được quy định bởi những khẩu ngữ nhắc đi nhắc lại đã đến nhàm chán trong các bài viết để tuyên truyền – “tính chuẩn xác”, “sự chính xác”, “tính khoa học”, “sự mô tả”, “chủ nghĩa thực nghiệm”, “các phương pháp toán học”, “thống kê học”, “đo lường”, v.v… Chẳng có gì lạ là khi nghe những khẩu ngữ này, ai nấy đều nghĩ đến các khoa học tự nhiên chính xác, và cho là có mối quan hệ bản chất giữa chủ nghĩa thực chứng thế kỷ XIX với ký hiệu học cấu trúc hiện nay. Thực ra hai cái này trái ngược hẳn nhau cả về đối tượng, lẫn phương pháp: sở dĩ ký hiệu học có khả năng thống nhất các khuynh hướng mới của khoa học văn học, chính là vì những khuynh hướng đó, giống như quan niệm khởi thủy của lịch sử tinh thần, đều nhấn mạnh tính đặc thù của đối tượng, là cái mà các khuynh hướng đó coi là có tính phát tín hiệu, là một tồn tại ký hiệu học. Chủ nghĩa thực chứng đã thử khảo sát các yếu tố cấu thành thực tế của quan hệ ký hiệu tạo nên cơ sở của các đối tượng có tính phát tín hiệu (nhà văn hoặc nhà sáng tạo khác, cái “thực tế” mà các tác phẩm “nói đến”, những đối tượng thực tế của các ký hiệu, những phương diện vật chất của cái mang ký hiệu) như những sự vật có thể sờ mó được: nó mô tả cuộc sống cụ thể, thực nghiệm của các nhà sáng tác và những điều kiện sinh sống của họ, mô tả phương diện vật chất của các thành phần ngôn từ hoặc của cái mang ký hiệu khác v.v… và những gì có thể mô tả được, rồi tìm cách khiên cưỡng nhét thứ đó vào tương quan phụ thuộc với các sự vật thực tiễn (tự nhiên hoặc nói chung là vật chất) khác, rồi bằng một cách nào đó áp dụng các quy luật tự nhiên có hiệu lực đối với các sự vật này, hoặc công thức phương pháp luận của các sự vật này vào những thứ trên, tức là nó đã tìm cách áp dụng phương pháp mô tả và phương pháp xây dựng quy luật (nhân quả). Điều đặc trưng là cố gắng này đã dẫn tới những kết quả quan trọng ngôn ngữ học (những quy luật phát triển âm thanh), trong văn bản học (textológia) và trong việc viết tiểu sử; ngược lại chẳng hạn như khi nó định phát hiện “các quy luật phát triển” của văn học, nó đã bị thất bại hoàn toàn. Dĩ nhiên ký hiệu học hiện đại hiểu rõ tầm quan trọng của cái mang tín hiệu và bỏ nhiều công sức khảo sát nó, nhưng không tiếp cận nó như một tồn tại thực tế – chẳng hạn như một vật vật lý – mà hẳn hoi coi nó như một trong số những yếu tố cấu thành cốt yếu của quan hệ trao đổi thông tin, và trong những mô tả về nó; phạm trù hoặc công thức phương pháp của quan hệ nhân quả và quy luật tự nhiên không đóng bất kỳ một vai trò nào. Bởi thế những thuật ngữ “có tính chất kinh nghiệm” và “mô tả” cũng có nghĩa hoàn toàn khác nhau ở chủ nghĩa thực chứng và ở ký hiệu học: cái trước coi những khái niệm tạo nên về các sự vật có thể nhận thức là có tính chất kinh nghiệm, và coi những luận đề xây dựng từ các khái niệm như thế là có tính mô tả, trong khi đó cái sau (ký hiệu học – ND) gọi những mô hình lập nên từ những hệ thống phát tín hiệu (chẳng hạn như ngôn từ, thi cú, trang phục, v.v…) tồn tại thật là sự mô tả và gọi bản thân phương pháp này là “có tính chất kinh nghiệm”. Như thế chúng ta có thể khẳng định rằng trong vấn đề tính đặc thù của đối tượng ký hiệu học không đi theo chủ nghĩa thực chứng, mà nhất trí với lập trường khởi thủy của lịch sử tinh thần. Về mặt phương pháp nó không phủ nhận tính chất luận nghĩa (nó coi “việc giải mã các thông điệp” là một loại quá trình hiểu), nhưng – trái ngược với lịch sử tinh thần – nó mong muốn đạt tới một sự hiểu có thể kiểm tra. Do đó nó cố gắng mô hình hóa đối tượng phát tín hiệu của nó sao cho nghĩa từ phía cái chở ký hiệu mà đi, rồi tiến về phía những người sử dụng ký hiệu, giữa chừng nó coi bản thân cái chở ký hiệu cũng là cái có nhiều tầng nhiều lớp, và là một hệ thống nhiều bậc thang của các thông tin “chở” và “được chở”. Như vậy hình ảnh lý tưởng của nó về phương pháp luận không phải là cái khoa học tự nhiên được gọi là chính xác, mà là khoa học ngôn ngữ, khoa học này vì chưng bản thân cũng nghiên cứu các đối tượng phát tín hiệu, hiển nhiên không thể nào lại là tấm gương phương pháp luận “bóp méo đối tượng” đến mức độ như vật lý hay hóa học, tất nhiên phải giả thiết là bản thân nó cũng không lạc vào các nẻo đường sai lầm thực chứng chủ nghĩa, tự nhiên chủ nghĩa.

Như vậy khoa học văn học ký hiệu học – cấu trúc không bị đe dọa bởi nguy cơ của chủ nghĩa thực chứng khoa học tự nhiên, mà bị đe dọa hơn nhiều bởi chủ nghĩa ngôn ngữ học và “chủ nghĩa lôgíc” (logicizmus). Lưu ý đến những xu hướng chủ đạo trong khoa ngôn ngữ học hiện đại, điều đó có nghĩa là việc khảo sát các hệ thống đồng bộ khác nhau được đưa lên hàng đầu, nghiên cứu thi pháp có tính chất mô tả chiếm phần nặng hơn, những vấn đề của “ngôn ngữ” văn học thu hút sự chú ý khỏi vấn đề tính độc nhất của sự biểu hiện nghệ thuật, trong thực tế không đi nổi từ khâu khảo sát các cái chở tín hiệu ở các mức khác nhau, và các hệ thống “ngôn ngữ” của chúng, tới khâu phát hiện những nội dung tư tưởng của các thành phẩm và những mối tương quan về lịch sử tư tưởng, về lịch sử xã hội của những nội dung tư tưởng đó, và như thế sự đánh giá trở nên không thể có được. Công cụ mô tả đặc trưng của ngôn ngữ học ngày nay, mô hình cấu trúc theo kiểu duy danh luận (nominalisztikus), ngày càng tỏ ra ít thích hợp hơn khi chúng ta đi từ các cấp độ bên ngoài của cái chở tín hiệu về phía những lớp ngữ nghĩa học sâu hơn, và rút cục nó trở nên hoàn toàn không sử dụng được khi vấn đề là nắm bắt những yếu tố cấu thành khác và cái môi trường thực tế lịch sử của quá trình trao đổi thông tin văn học, điều có vẻ chắc là mô hình ký hiệu học, hoặc mô hình lý thuyết thông tin của “sự nhận thức tín hiệu” và của sự giải mã, không phản ánh những quá trình hiểu của con người thật trong đời, mà bắt chước chúng trong một hệ thống (cơ học) có tính chất hoàn toàn khác. Các khái niệm thuộc về ngôn ngữ học, lý thuyết ký hiệu, lý thuyết thông tin trong khoa học văn học chỉ trên cơ sở sự tương đồng (analógia) mới có nghĩa, thậm chí đôi khi trở thành có tính chất ví von, bóng gió, và như thế cũng sẽ trở nên đáng ngờ ngay cả những chuẩn mực thuộc lý thuyết chứng minh và những chuẩn cứ (kriténium) tính khoa học mà ngôn ngữ học, thông qua các khái niệm và các mô hình, ít nhiều đáp ứng được: những yêu cầu về sự xác lập khái niệm chính xác, tính tương đương, tính hoàn toàn, tính có thể thẩm tra, v.v…

Dĩ nhiên nguy cơ của chủ nghĩa thực chứng mới không phải là nhỏ ở những nơi mà người ta diễn đạt các vấn đề trong khoa học với yêu cầu triết học. Chủ nghĩa thực chứng mới cấu thành từ nhiều loại xu hướng (machizmus – tức chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán theo trường phái E. Mach – ND), chủ nghĩa thực chứng lôgíc, triết học phân tích, v.v…) có những nguyên tắc đã trở nên sáo mòn mà ta có thể phát hiện thấy đặc biệt ở các phân tích của phái cấu trúc “thuần khiết”. Chẳng hạn như cái quan niệm không muốn đưa các hiện tượng đã mô tả vào bất cứ mối liên hệ nào với thực tế, và từ bỏ những đòi hỏi về thế giới quan của khoa học. Chẳng hạn như cách hình dung cho rằng trong lý thuyết khoa học ta có thề bằng lòng với sự phân tích kết cấu lôgíc của khoa học, với sự phân tích ngôn ngữ khoa học. Hùa theo vào đây còn có quan điểm cho rằng các định đề của lôgíc và của toán học không hề có dính dáng gì tới kinh nghiệm và rốt cuộc chúng chỉ hoạt động như những quy tắc ngôn ngữ. Sẽ không đúng nếu ta giả thiết rằng thuyết ngôn ngữ của Nhóm Viên hoặc của Wittgenstein đã không có ảnh hưởng gì đối với ngôn ngữ học và đối với khoa học văn học, ngay cả về phương diện triết học đi nữa, mặc dù ảnh hưởng này xuất hiện dưới các dạng khác nhau.

II

Hiện nay những cuộc tranh luận về phương pháp luận được nuôi dưỡng bằng một loạt những điều đối lập cổ truyền và mới nẩy sinh; lẫn lộn rất lung tung với nhau trong một số lập trường. Quan điểm lịch sử và phi lịch sử, chủ nghĩa cấu trúc và khoa luận nghĩa, tính có phương pháp và trực giác chủ nghĩa, tính phi giá trị và sự đánh giá, yêu cầu phổ thông hóa và yêu cầu độc nhất hoá, v.v… đứng đối diện với nhau, đó là chỉ mới kể những đối lập chính. Trong tình hình này đáng lý khoa học văn học mácxít cũng phải tỏ rõ lập trường trong những vấn đề phương pháp luận đặc thù, nếu được như vậy thì sẽ có ý nghĩa quan trọng đặc biệt. Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, bằng việc định nghĩa các phạm trù cơ bản của mỹ học và bằng việc làm sáng tỏ các quan hệ giữa lịch sử, xã hội và nghệ thuật, đã tạo ra cho khoa học văn học, như một khoa học xã hội, cái thế khoa học. Nhưng khoa học văn học mácxít chưa xây dựng được phương pháp luận riêng biệt của mình để mô tả toàn diện và để đánh giá quá trình trao đổi thông tin. Bất luận thế nào sự tiếp cận cũng không thể phiến diện: không thể tự hạn chế vào một yếu tố cấu thành nào đó của quá trình trao đổi thông tin văn học: vào tác phẩm, vào tác giả, vào người đọc, hay chỉ vào bối cảnh thực tế (kontektus) xã hội – lịch sử hoặc triết học của quá trình này, mà phải khảo sát chúng trong tính độc lập tương đối và trong mối tương quan của chúng với nhau. Đặc biệt cần hết sức thận trọng khi chúng ta thử phát hiện tính quy định xã hội của những hiện tượng nghệ thuật, và chúng ta rút ra từ đó những hệ quả cho lý luận khoa học. Nếu chúng ta không chú ý thường xuyên đến những biến cách phức tạp diễn ra trong hệ thống của ý thức xã hội, sẽ dễ dàng có biểu hiện chẳng hạn như cho rằng xã hội học văn học là ngành khoa học “mácxít” hơn phong cách học (stilisztika). Thế nhưng chủ nghĩa Mác không phải là thuyết xã hội học thuần túy, và cách phân ngôi thứ kiểu đó cho các ngành khoa học chỉ có lợi cho cách nhìn phiến diện, phản biện chứng. Với nguyên tắc tính lịch sử, tình hình cũng giống như vậy. Tính lịch sử mácxít không đồng nghĩa với lịch sử chủ nghĩa hoặc thời khắc học trình bày các sự việc thuần túy theo trình tự thời gian, tức là lịch sử văn học (hoặc lịch sử ngôn ngữ) không thể ngay từ đầu đã đứng gần quan điểm mácxít hơn việc khảo sát các hệ thống đồng thời, chỉ thuần túy vì nó khảo sát những quá trình trong thời gian. Trong thời gian cũng là giả dối cái quan niệm cho rằng nhà nghiên cứu lịch sử và văn học đương nhiên đại biểu cho những quan điểm của chủ nghĩa Mác, trong khi những bộ môn như thi pháp học chẳng hạn là một thứ khoa học hỗ trợ có tính chất kỹ thuật nào đó mà những kết quả của nó chỉ trở nên có giá trị nếu chúng thúc đẩy việc nghiên cứu lịch sử văn học. Mặc dù sự kết hợp hữu cơ của lịch sử văn học và thi pháp học là một yêu cầu, một mong mỏi mà chúng ta không thể từ bỏ, nhưng để thỏa mãn yêu cầu, mong mỏi đó, không nhất thiết chỉ mình thi pháp học hôm nay cần thay đổi. Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử có khả năng bảo đảm những khung triết học cho một khoa học văn học tránh được những sai sót về phương pháp luận, những sự phiến diện của các xu hướng nói đến từ nãy tới giờ (chủ nghĩa thực chứng, lịch sử tinh thần, chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa cấu trúc, v.v…), cởi bỏ sự đối lập giữa tính khách quan với sự đánh giá, và bổ sung những tiêu chuẩn bắt buộc chung của sự trao đổi thông tin khoa học, song chúng ta chỉ sử dụng được khả năng này nếu không tỏ thái độ khước từ những suy tư về phương pháp luận, sự tự thẩm tra về nguồn gốc lịch sử, sự phê bình và những cuộc tranh luận.

Trong mối tương quan này, vấn đề mục đích, chức năng của khoa học văn học, cái vấn đề động chạm thật trực tiếp đến vấn đề của tính khoa học và các phương pháp của tính khoa học, trở nên quan trọng đặc biệt. Bởi chưng các loại hoạt động của con người không chỉ do đối tượng và phương pháp, các công cụ quyết định tính chất, mà còn do cả mục đích nữa. Mục đích của khoa học nói một cách thật chung, là sự nhận thức, và cái mục đích này, ở một mức độ nhất định, quyết định những yêu cầu lôgíc và nhận thức luận đối với các phương pháp và các công cụ. Trong trường hợp của khoa học văn học, mục đích hay nói đúng hơn: quan hệ với nhau giữa các mục đích, không hoàn toàn nhất quán. Ở đây chúng tôi chỉ nêu một trong số những vấn đề liên quan tới điều này, có lẽ là vấn đề quan trọng nhất: quan hệ giữa mục đích, chức năng nhận thức nội tại với mục đích, chức năng hướng dẫn giáo dục của khoa học văn học. Vị trí các khoa học xã hội, trước hết là của khoa học văn học về phương diện này khác hẳn vị trí của các khoa học tự nhiên: không ai chờ vật lý học diễn đạt những bài khoa học của nó bằng một ngôn ngữ đại chúng và hầu như không cần đào tạo trước, không cần gắng sức cũng có thể hiểu, trong khi đó rất nhiều ý kiến bài bác ngôn ngữ chuyên môn của khoa học văn học, cho rằng phàm cái gì đã có nghĩa thì cũng có thể nói lên bằng ngôn ngữ thường ngày, “một cách đại chúng”. Nhưng đồng thời trước mặt khoa học văn học cũng lại có yêu cầu nhận thức ngày càng sâu hơn, có cơ sở vững vàng hơn và có hệ thống hơn, mà công cụ không thể thiếu để thực hiện yêu cầu này là việc xây dựng khái niệm chính xác về lôgíc, về phương pháp luận. Nhiều dấu hiệu chỉ ra rằng quan hệ giữa mục đích nhận thức và mục đích giáo dục trong khoa học văn học khác với lĩnh vực khoa học tự nhiên: trong trường hợp của khoa học văn học cần phải phân biệt giữa việc dạy với khả năng có thể dạy của khoa học, hay nói cách khác là của đối tượng của khoa học. Việc dạy văn có hai lĩnh vực quan trọng cần phải kết hợp với nhau về mặt giáo khoa: dạy lịch sử văn học (ở đây các quan điểm giáo dục thế giới quan ảnh hưởng đặc biệt mạnh mẽ) và dạy thẩm mỹ, phát triển trình độ thẩm mỹ. Để làm hai việc đó, việc dạy khoa học văn học cần thiết đến đâu?

Hiển nhiên là việc dạy văn học (và nói chung là việc dạy các nghệ thuật) theo ý nghĩa thẩm mỹ, thực chất đã bắt đầu từ nhà trẻ và về nguyên tắc không bao giờ cần kết thúc cả. Trong công việc này khoa học văn học và khoa học nghệ thuật có thể hỗ trợ nhiều, nhưng bản thân nó với tư cách một khoa học, không trở thành mục đích chính của việc dạy học. Để phát triển trình độ thẩm mỹ, về nguyên tắc không cần thiết phải dạy mỹ học như một khoa học, cũng giống như trình độ ngôn ngữ được hình thành không cần có kiến thức về khoa ngôn ngữ học hoặc triết học ngôn ngữ. Tuy nhiên trong thực tế tình hình vẫn là sự đào tạo càng tiến lên thì việc dạy khoa học càng có vai trò lớn hơn. Chẳng hạn ngay ở trường phổ thông cấp I, II chúng ta đã không chỉ dạy nói đúng, “văn phong đẹp” thuần túy qua việc nêu dẫn chứng, như ở nhà trẻ, mà ở trình độ giáo khoa thích hợp chúng ta còn dạy cả khoa ngôn ngữ học nữa, rồi lên trung học (cấp III) việc dạy khoa học càng mở rộng, cuối cùng lên cấp cao đẳng và đại học thì những kiến thức cơ bản của khoa học nói về khoa học cũng được đưa vào chương trình giảng dạy, chúng ta giải đáp những câu hỏi về phương pháp luận của khoa học, chúng ta giới thiệu những vấn đề lý thuyết. Việc dạy văn mà không tiến bước theo tinh thần này lên những trình độ ngày càng cao hơn, mà hầu như dừng lại ở trình độ lôgíc của việc dạy mỹ học cho tuổi mẫu giáo, chỉ đơn thuần tăng cường trình độ cần phải tiếp thụ (làm cho có khả năng lựa chọn giá trị đúng đối với những đối tượng mỹ học ngày càng cao cấp), thì sẽ không đạt được mục đích, bởi vì dạy văn như thế là mâu thuẫn với sự phát triển tự nhiên của ý thức con người, sẽ tạo nên một sản phẩm nhân tạo méo mó của ý thức “phát triển” không theo hướng tự giác ngộ. Song điều này, chúng tôi nhắc lại, không hề có nghĩa là để hình thành trình độ thẩm mỹ phát triển, cần phải đào tạo học sinh thành nhà triết lý chuyên môn hoặc thành nhà phê bình văn học chuyên nghiệp, cũng như không có nghĩa là trong việc thưởng thức tác phẩm ở trình độ cao phải có vai trò cấu thành trực tiếp của sự hiểu biết khái niệm khoa học. Chức năng của thuật ngữ chuyên môn trong khoa học văn học không phải là để chúng ta bắt học sinh trung học hoặc học viên các lớp bổ túc đọc nhằm mục đích truyền thụ kiến thức khoa học cơ bản (hoặc được diễn giải ở trình độ cơ bản) cần thiết cho việc giáo dục thẩm mỹ.

Nhận định này mọi người đều đã biết, đã chấp nhận cả, hễ bàn về thuật ngữ chuyên môn của văn bản học, của lịch sử văn học hoặc là của mỹ học lý thuyết đi nữa, ý kiến tranh cãi xoay xung quanh việc phân tích tác phẩm, việc kiến giải: nhiều người cho rằng những cái này không thể có tính chuyên môn nhiều hơn hay ít hơn, không thể nói với quần chúng hẹp hơn hay rộng hơn, mà hầu như phải trực tiếp hiểu được đối với tất cả mọi người. Thế nhưng công tác truyền bá kiến thức bao giờ cũng truyền đạt những kiến thức mới ở một trình độ cao hơn chút ít so với trình độ “đại chúng” của đương thời, tất nhiên là với những cách điệu giáo khoa thích hợp. Khoa học văn học cũng chỉ như vậy mới có thể trở thành đối tượng và công cụ của việc truyền bá kiến thức; điều này cũng đúng với cả việc phân tích tác phẩm, việc kiến giải, dù rằng không nghi ngờ gì nữa là hai việc này có thể trở nên thú vị một cách trực tiếp hơn đối với quần chúng rộng rãi so với chẳng hạn văn bản học, hoặc công tác nghiên cứu ảnh hưởng của lịch sử văn học, bởi đối tượng của chúng là bản thân tác phẩm hoặc quá trình tiếp nhận là cái liên quan trước hết với người đọc. Nhưng ngay cả việc kiến giải cũng không phải chỉ là “nghệ thuật thứ cấp”, mà nó cũng có những chức năng nhận thức, và nếu như sắp xếp được nó một cách thích hợp vào tổng hệ thống của khoa học văn học thì những chức năng nhận thức này còn được đưa lên hàng đầu nhiều hơn nữa. Chừng nào chưa làm được việc đó, chừng đó việc kiến giải tác phẩm và việc phân tích tác phẩm sẽ còn có vẻ như một công cụ phụ của khoa học sư phạm, hệ quả là sẽ còn tỏ ra không thể nào hòa hợp được với bất cứ việc xây dựng khái niệm khoa học và với bất cứ bộ thuật ngữ chuyên môn như thế nào. Khi các chức năng nhận thức được đưa lên hàng đầu thì ngược lại, sẽ khiến cho việc dùng các khái niệm được xây dựng một cách khoa học và thuật ngữ trở nên cần thiết, bởi một sự nhận thức ngày càng sâu hơn, tách bạch rạch ròi hơn, chính xác hơn chỉ có thể thực hiện được bằng hỗ trợ của những khái niệm ngày càng chuẩn hơn: công tác nghiên cứu khoa học, như một hoạt động tập thể do từ bản chất của nó, chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở những quan điểm chung và với những phương tiện trao đổi thông tin chung. Nói chung ngay kho văn phạm và kho biện thuyết cổ đại cũng đã dùng những thuật ngữ không hề lưu lại trong giới khoa học, tuy thế người ta vẫn đã dùng chúng trong việc dạy ngữ pháp và dạy văn. Vấn đề chỉ là lúc nào thì đáng xây dựng và ứng dụng những thuật ngữ mới. Nếu là trường hợp phát kiến khoa học mới, quan điểm mới thì việc làm đó hẳn hoi là đáng, nhưng chúng ta cũng nên khước từ cái thói thường hay xuất hiện là nhìn thấy cái mới trong việc thay đổi thuật ngữ ngay cả khi những thuật ngữ cũ đã diễn đạt chính xác hiện tượng được mô tả. Việc xây dựng thuật ngữ có mục đích tự thân – và rất nhiều khi có mùi vị khoa học – là một trong số những biểu hiện của các thái độ khoa học giả hiệu mà chúng ta có thể coi như hiện tượng đồng hành tiêu cực của những cố gắng liên môn khoa học tất yếu ngày nay. Mặt khác dĩ nhiên việc hình thành hệ thống khái niệm của khoa học văn học chính là do kết quả của những phát hiện khoa học mới – và không chỉ của ngôn ngữ học – mà trở nên cần thiết một cách hiển nhiên, nhưng cũng giống như trong toán học, trong vật lý học hay trong hoá học, ở đây cũng cần chú ý sao cho về góc độ này chúng ta chỉ đưa ra những kiến thức cần thiết nhất cho mọi lúc, phù hợp với các cấp khác nhau của giảng dạy và văn hóa quần chúng.

Việc phân tích tác phẩm không tồn tại tự thân và cũng không chỉ phục vụ sự nhận thức văn học như một sản phẩm đặc thù, mà thông qua nhận thức văn học, nó còn phục vụ việc nhận thức thế giới và con người nữa, và cần phải lựa chọn các phương tiện một cách phù hợp với mục đích này.

III

Lịch sử của lý luận văn học ở lớp ngoài cùng, là lịch sử của những cuộc tranh luận về phương pháp, ẩn sau những cuộc tranh luận về phương pháp là những quá trình, những tương quan và những đối lập về tư tưởng, về lịch sử khoa học, về triết học và về lịch sử nghệ thuật. Trong số những đối lập thì có ý nghĩa trung tâm là đối lập giữa quan điểm lịch sử và quan điểm phi lịch sử, hoặc nói cách khác là những biến thái khác nhau của đối lập này, trước nhất là dước hình thức đối lập giữa lịch sử văn học và thi pháp. Do đó trong khoa học văn học chúng ta chỉ có thể làm rõ một cách thỏa đáng quan hệ giữa quan điểm lịch sử và quan điểm phi lịch sử, nếu chúng ta nghiên cứu lịch sử của ngành khoa học này với tinh thần phê phán, trước hết là xét đến những cuộc tranh luận về phương pháp ở thế kỷ XIX và XX. Trong thời gian gần đây sự quan tâm tới lịch sử khoa học văn học quả thật đã tăng lên, và ở nước ta cũng đã ra đời một vài công trình về lịch sử khoa học. Nhưng điều nổi bật là cả công tác nghiên cứu ở nước ngoài lẫn công tác nghiên cứu trong nước ta đang khảo sát khoa học văn học của từng dân tộc, hay nói cách khác là những trường phái, những xu hướng của các nền khoa học văn học ấy, một cách khá biệt lập với nhau, chỉ từng dịp lẻ tẻ mới nhìn sang các khoa học văn học dân tộc khác. Dĩ nhiên trước mắt tình hình này là tất yếu, một phần vì sự nghiên cứu đến một trình độ nhất định lịch sử của khoa học văn học dân tộc, việc thu nhập tài liệu, v.v… là tiền đề cho khoa văn học so sánh, phần khác vì khoa học văn học, hơi giống văn học, nói cho cùng là phát triển trong các khuôn khổ của dân tộc. Song chính vì hoàn cảnh ấy đang khiến cho “lý luận văn học so sánh” trở nên cần thiết. Trong lịch sử của khoa học văn học chỉ thông qua sự so sánh rõ nét tương đối sắc và chi tiết những trào lưu có quy mô dân tộc nhất định, những xu hướng độc lập hay không độc lập với nhau nhưng bất luận thế nào vẫn nhằm về một hướng giống nhau, v.v… Không còn nghi ngờ gì nữa, trước hết là do sự quốc tế hóa ngày càng tăng hiện nay của khoa học văn học mà việc nghiên cứu những mối liên quan như thế này về lịch sử khoa học trở nên thời sự và cần thiết; và chủ yếu là do cái ảnh hưởng khổng lồ mà trường phái hình thức Nga được phát hiện lại trong hai thập kỷ qua đã tác động đến khoa học văn học của hầu như tất cả các dân tộc.

Sự thiếu lịch sử khoa học so sánh đang gây khó khăn cho việc đánh giá lịch sử khoa học vốn dĩ phức tạp. Những công trình về phê bình phương pháp và về lịch sử khoa học thường không mấy khi để lộ cho biết là trong số các kết quả của các thời kỳ hoặc của các xu hướng, cái gì đã tỏ ra có giá trị lâu dài, cái gì có hiệu lực. Ngày nay, khi sức hấp dẫn của tư tưởng khoa học cấu trúc, theo chủ nghĩa khoa học tự nhiên đang giảm đi trông thấy, khi sự quan tâm với những vấn đề của tính lịch sử và các vấn đề của lý luận hiểu ngày càng tăng lên, có thể dễ dàng xảy ra chuyện chúng ta rơi vào thái cực ngược lại và vứt bỏ hết tất cả mọi thành quả của ký hiệu học cấu trúc. Vấn đề sẽ được nhìn theo một cách khác nếu như chúng ta thử đưa những lý luận cổ điển và hiện đại của ký hiệu học vào mối tương quan về lịch sử và về lý luận với các quan điểm của những đại diện xuất sắc nhất của lịch sử tinh thần như Dilthey, Spranger, Litt, v.v… và chúng ta coi những triết gia như E. Cassirer hoặc N. Hartmann là người chuyển đạt lý luận giữa hai khuynh hướng đó, bởi như thế chúng ta sẽ có thể đánh giá cả trường phái lịch sử tinh thần lẫn ký hiệu học một cách tinh tường hơn, chúng ta sẽ có thể xác định được một sự liên tục nào đó, chúng ta sẽ có thể phát hiện những giá trị bền vững, và  chúng ta sẽ có thể thấy rõ ràng hơn là khoa học văn học mácxít có thể khai thác cái gì có lợi trong số những kết quả của hai khuynh hướng đó1

   Lê Xuân Giang dịch

(Tạp chí Helikon số 4/1976, tr.477-484)

Chú thích:

(*) GS.VS – Viện Văn học Hungary.

(**) TSKH – Viện Văn học Hungary.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học số 10/2005.Copyright © 2012 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Leave a Reply